1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải hệ thống điện thị xã uông bí tỉnh quảng ninh

106 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất khi thực hiện chương trình DSM là thay đổi hình dáng của đồ thị phụ tải, điều hòa nhu cầu tối đa và tối thiểu hàng ngày của năng lượng điện để sử

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

- oOo -

LÊ TRUNG THÀNH

Chuyên ngành: HỆ THỐNG ĐIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

HÀ NỘI 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

Danh mục các hình vẽ, đồ thị 5

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 6

1.1Tớnh cấp thiết của đề tài .6

1.2 Mục đớch của đề tài 7

1.3 Đối tượng nghiờn cứu và phương phỏp nghiờn cứu .7

1.4 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ Lí THUYẾT DSM 9

2.1.Khỏi niệm về DSM : 9

2.2.Quy trỡnh xõy dựng và thực hiện dự ỏn DSM 10

2.3.Cỏc yếu tố ảnh hưởng đến DSM 11

2.4.Mục tiờu và chiến lược của DSM 12

2.4.1 Nõng cao hiệu quả sử dụng điện năng ở cỏc hộ dựng điện 12

2.4.2 Điều khiển nhu cầu sử dụng điện năng phự hợp với khả năng cung cấp điện 15

2.5 Giới thiệu chương trỡnh DSM của một số nước trờn thế giới 18

2.6 Tổng quan cỏc chương trỡnh DSM ỏp dụng ở Việt nam .22

2.6.1 Giới thiệu 22

2.6.2 Tỡnh hỡnh thực hiện chương trỡnh DSM ở Việt Nam 23

2.6.2.1 Giai đoạn chuẩn bị cỏc chương trỡnh DSM trước năm 1998 23

2.6.2.2 Giai đoạn I của chương trỡnh DSM 1998-2002 24

2.6.2.3 Giai đoạn II của chương trỡnh DSM 2002-2006 .25

2.6.2.4 Chương trỡnh quốc gia về quản lý nhu cầu điện năng giai đoạn 29

Chương 3: soạn thảo và phê chuẩn số liệu 36

3.1 Phương pháp luận nghiên cứu phụ tải 36

3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu phụ tải 36

3.3 Soạn thảo và phê chuẩn số liệu 38

Chương 4: phân tích cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải hệ thống 40

4.1 Phương pháp phân tích cơ cấu thành phần phụ tải đỉnh trong ĐTPT của HTĐ dựa trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của các ĐTPT thành phần 40

4.2 Trình bày phương pháp 41

4.2.1 Phương pháp luận 41

4.2.2 Cách lấy số liệu phụ tải 42

4.2.3 Thông tin đặc trưng của đồ thị phụ tải 42

4.2.4 Các giả thiết 43

4.2.5 Xác định các khoảng thời gian công suất đạt cực đại, trung bình và cực tiểu: 44

4.2.5.1 Xác định các thời đoạn T max , T min và T tb của đồ thị phụ tải các ngành nhỏ 44

Trang 3

4.2.5.2 Tính toán T max , T tb , T min của đồ thị phụ tải các khu vực 45

4.2.5.3 Tỷ số P min /P max , P tb /P max của từng khu vực kinh tế 46

4.2.5.4 Tính công suất cực đại, trung bình và cực tiểu cho các khu vực kinh tế .47

4.2.5.5 Tính toán thành phần công suất phụ tải của các khu vực tham gia vào biểu đồ phụ tải tổng 48

4.3 Phân tích cơ cấu thành phần phụ tải của biểu đồ phụ tải hệ thống điện Thị xã Uông Bí-Tỉnh Quảng Ninh: 48

4.3.1 Số liệu thu thập và biểu đồ phụ tải ngày của các khu vực 48

4.3.1.1 Khu vực công nghiệp 48

4.3.1.2 Khu vực thương mại 65

4.3.1.3 Khu vực công cộng 71

4.3.1.4 Khu vực ánh sáng sinh hoạt 83

4.3.2 Tính T max , T tb , T min , K min của từng phụ tải khu vực 85

4.3.2.1 Khu vực công nghiệp 85

4.3.2.1 Khu vực thương mại 90

4.3.2.3 Khu vực công cộng 94

4.3.2.4 Khu vực ánh sáng sinh hoạt 98

Chương 5: kết luận và kiến nghị 103

Tài liệu tham khảo 105

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.3: Công suất phụ tảiKhu vực Công nghiệp- Khối cơ khí chế

Bảng 4.10:Công suất phụ tải Khu vực thơng mại-Khối nhà hàng,

Bảng 4.12Công suất phụ tải Khu vực cụng cộng-Khối cơ quan

Bảng 4.19 :Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại của khu

Trang 5

Bảng 4.20 :Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực tiểu của khu

Bảng 4.25 :Tần suất xuất hiện thời gian công suất cực đại, cực tiểu

Bảng 4.26: Tổng hợp tất cả các thành phần phụ tải của đồ thị phụ

Trang 6

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Trang

Hỡnh 4.10: Biểu đồ phụ tải ngày Khối nhà hàng, dịch vụ 68Hỡnh 4.11: Biểu đồ phụ tải ngày Khu vực thương mại 70Hỡnh 4.12 Biểu đồ phụ tải ngày Khối cơ quan chớnh quyền 72Hỡnh 4.13 Biểu đồ phụ tải ngày: Khối trường học 74Hỡnh 4.14 Biểu đồ phụ tải ngày-Ánh sỏng Cụng cộng 76Hỡnh 4.15 Biểu đồ phụ tải ngày khối Bệnh viện 78

Hỡnh 4.17: Biểu đồ phụ tải ngày khu vực cụng cộng 82Hỡnh 4.18 Biểu đồ phụ tải ngày khu vực ỏnh sỏng sinh hoạt 84

Trang 7

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự thiếu hụt năng lượng là tình trạng thường xẩy ra ở nước ta, cũng giống như nhiều nước khác đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá Mối quan tâm hàng đầu của quốc gia là phải nhanh chóng bù đắp thiếu hụt năng lượng, nhanh chóng cân bằng năng lượng Những kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống cung cấp năng lượng được ưu tiên, năng lượng phải “đi trước một bước”, dẫn đến tỷ lệ so sánh giữa mức tăng trưởng cung cấp năng lượng so với chỉ số mức tăng trưởng thu nhập kinh tế quốc dân (GDP)- thường được gọi là hệ số đàn hồi năng lượng, luôn lớn hơn 1, có khi đến 2 lần Việt Nam từ khi gia nhập vào WTO, nền kinh tế phát triển, đầu tư nước ngoài vào các ngành kinh tế dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn lớn hơn 7%/năm do vậy nhu cầu tăng trưởng điện năng 13%-15%/năm Với tỷ trọng tiêu thụ năng lượng cho ngành công nghiệp chiếm khoảng 41%, dùng cho sinh hoạt đời sống chiếm khoảng 36% so với tổng nhu cầu năng lượng cung cấp cho

cả nước, mức độ phát triển công nghiệp hoá ngày càng cao, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, đòi hỏi tăng nhu cầu năng lượng ngày càng lớn

Với tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng ngày càng cao trong hoàn cảnh nguồn vốn còn hạn chế đã đặt ra cho ngành điện phải giải quyết một vấn đề hết sức khó khăn, mặc dù hiện nay các ngành kinh tế khác cũng đã bắt tay vào đầu tư xây dựng nhà máy điện ( Tập đoàn than- khoáng sản, tập đoàn dầu khí) nhưng chỉ giải quyết được một phần rất nhỏ khó khăn của ngành điện

Với đà gia tăng nhu cầu năng lượng của nước ta, như dự báo vào năm 2005 cho thấy, Việt Nam từ một quốc gia xuất khẩu năng lượng sẽ trở thành quốc gia nhập tịnh năng lượng vào khoảng năm 2020 Ngoài sản phẩm dầu, Việt Nam sẽ phải nhập cả than đá, khí đốt cho sản xuất điện và phải mua thêm điện của các nước láng giềng

Vấn đề nâng cao hiệu suất trong cung cấp năng lượng (khai thác, chuyển hoá,

Trang 8

nghiên cứu và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20, trong khi đó, hiệu suất trong

sử dụng năng lượng cuối cùng (sử dụng năng lượng trong công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt đời sống …) chỉ mới được chú ý đúng mức từ giữa những năm 70’ của thế kỷ trước Tăng hiệu suất sử dụng năng lượng đồng nghĩa với việc làm giảm bớt mức tiêu thụ năng lượng tính trung bình trên một đơn vị giá trị của tổng sản phẩm sản xuất ra ở một quốc gia, giảm đòi hỏi tăng khai thác và cung cấp nhiên liệu để sản xuất năng lượng Sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả còn là giải pháp được đặc biệt chú trọng nhằm giảm lượng phát thải khí cácboníc (CO2, một loại khí nhà kính), bảo vệ tầng ôzôn, giảm chất thải do sản xuất năng lượng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường

1.2 Mục đích của đề tài

Đề tài đưa ra các giải pháp hợp lý nhằm phân tích cơ cấu thành phần phụ tải dựa trên cơ sở những đặc trưng của các đồ thị phụ tải thành phần, kết hợp các phương pháp tính toán, các đặc trưng của đồ thị phụ tải ngày với lý thuyết xác suất và thống

kê đồ thị phụ tải ngày

Trong điều kiện thiếu nguồn thông tin về phụ tải điện, để phân tích cơ cấu thành phần phụ tải đỉnh trong đồ thị phụ tải, người ta thường sử dụng các phương pháp “

So sánh đối chiếu” hoặc “Thống kê, điều tra, đo đạc trực tiếp” tại các nút phụ tải của hệ thống điện Tuy nhiên, độ tin cậy của những kết quả nhận được rất hạn chế Sau khi phân tích được các đặc điểm, cơ cấu thành phần phụ tải để phân tích và đánh giá, tìm ra các giải pháp của các chương trình quản lý nhu cầu điện DSM trong quy hoạch phát triển , nhằm san bằng đồ thị phụ tải như: Chuyển dịch phụ tải, cắt đỉnh đồ thị, lấp đầy phần trũng trong đồ thị phụ tải Để san bằng đồ thị phụ tải của

hệ thống điện, một cách hiệu quả cần phải phân tích được cơ cấu thành phần phụ tải đặc biệt là phụ tải đỉnh trong đồ thị phụ tải

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề án này là các khách hàng sử dụng điện của thị xã

Trang 9

của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, tất cả khách hàng này đều được lắp đặt công

tơ điện tử 3 giá

Phương pháp nghiên cứu là dựa vào những đặc trưng của các đồ thị phụ tải thành phần để xác định được các số liệu yêu cầu rồi thực hiện giải quyết các mục tiêu nghiên cứu

1.4 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu đến việc phân tích cơ cấu thành phần phụ tải trong đồ thị phụ tải thực tế của hệ thống điện Thị xã Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh; qua đó sẽ đưa ra được các kiến nghị và giải pháp DSM ( Demand Side Management ) nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng và tiêu thụ điện năng

Việc nghiên cứu biểu đồ phụ tải các thành phần phụ tải tham gia đỉnh nhằm mục đích phục vụ công tác quy hoạch phát triển hệ thống điện của Thị xã Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh

Trang 10

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT DSM

có thể giảm hàng ngàn MW Ở Mỹ bắt đầu nghiên cứu lại thị trường năng lượng với quan điểm chủ đạo là vấn đề tiết kiệm năng lượng mang tên Demand – Side Management

Nhu cầu quản lý ( DSM ) là lập kế hoạch , thực hiện , giám sát các hoạt động nhằm gây ảnh hưởng đến khách hàng sử dụng điện bằng nhiều cách khác nhau nhằm làm thay đổi hình dạng biểu đồ phụ tải , nghĩa là thay đổi biểu đồ thời gian và kích thước phụ tải Chương trình quản lý nhu cầu ( DSM ) bao gồm : quản lý tải , khách hàng sử dụng mới , chiến lược bảo toàn năng lượng , điện khí hóa , khách hàng tiềm năng , điều chỉnh thị phần

Nhu cầu quản lý ( DSM ) bao gồm những thành phần quan trọng của kế hoạch năng lượng :

-DSM sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng của khách hàng , bất kỳ chương trình nào

có dự định ảnh hưởng đến việc sử dụng điện năng của khách hàng đều được xem là chương trình DSM

-DSM phải đạt được những mục tiêu đã chọn Để tạo thành “ Một sự thay đổi hình dạng trong biểu đồ phụ tải ” chương trình phải đạt được những mục tiêu đã chọn , nghĩa là phải cắt giảm tỷ giá bình quân , cải thiện sự hài lòng của khách hàng , đạt được các mục tiêu có độ tin cậy cao

-DSM đánh giá lại những chương trình nào không phải là DSM Khái niệm này cũng đòi hỏi việc chọn lựa các chương trình DSM , ngoài ra mục đích là làm giảm

sự thay thế của các chương trình không phải DSM như : các đơn vị sản xuất điện ,

Trang 11

cung cấp các thiết bị dự trữ năng lượng Nói cách khác , DSM đòi hỏi xem xét thay thế bằng các thiết bị cung cấp phụ , đó cũng là giai đoạn DSM trở thành một phần của “ kế hoạch hóa nguồn lực tích hợp ”

-DSM xác định nhu cầu khách hàng sẽ như thế nào Dựa trên những định hướng thực tế DSM sẽ xác định nhu cầu khách hàng sẽ ra sao

-DSM chịu ảnh hưởng của hình dạng đồ thị phụ tải Điều này có nghĩa cần đánh giá xem chương trình DSM ảnh hưởng như thế nào đến chi phí và lợi nhuận tính theo hằng ngày , hằng tháng và hàng năm

2.2.Quy trình xây dựng và thực hiện dự án DSM

- Việc hoạch định kế hoạch DSM gồm 5 bước cơ bản sau đây:

1.Đặt mục tiêu :

Bước đầu tiên trong chương trình DSM là thành lập cơ cấu mục tiêu toàn cục Những mục tiêu chiến lược thì khá rộng và thường bao gồm các yếu tố sau : giảm nhu cầu năng lượng , giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu , tăng luồng tiền mặt , cải thiện quan hệ khách hàng và nhân viên , …

Bước thứ hai trong chương trình này là mở rộng mục tiêu làm việc nhằm hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách có những hành động cụ thể Đây là bước làm việc giúp chương trình DSM lựa chọn và cân nhắc việc kiểm tra và đánh giá tình hình

3.Đánh giá và chọn lựa chương trình :

Đây là bước cân đối việc cân nhắc về bên khách hàng , cân nhắc về bên nhà cung cấp và phân tích lợi nhuận nhằm xác định nhu cầu khả thi nhất cho chương trình DSM Trong chương trình DSM , mặc dù có những lúc khách hàng và nhà

Trang 12

cung cấp hoạt động độc lập với nhau nhưng mối quan hệ khách hàng và nhà cung cấp khi thực hiện chương trình DSM được nâng cao nhằm tạo ra lợi ích chung Để đạt được lợi ích chung này thì nhà cung cấp cần phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố như : cách thức hoạt động có thể ảnh hưởng đến việc thay đổi hình dạng tải, những phương pháp có sẵn nhằm thu hút sự tham gia của khách hàng , chi phí và lợi nhuận cho cả nhà cung cấp và khách hàng được ưu tiên thực hiện trước

4.Thực hiện chương trình :

Nhóm dự án DSM bao gồm các đại diện từ các phòng ban , các tổ chức khác nhau với sự điều hành và chịu trách nhiệm chung cho toàn bộ quá trình thực hiện chương trình DSM Một điều rất quan trọng để thực hiện chương trình này là khi thành lập nhóm dự án cần bao gồm những giấy tờ pháp lý và khoảng thời gian thực hiện dự án và thời gian kết thúc dự án Khi đã giới hạn lại các thông tin thì có thể thực hiện thí điểm chương trình DSM Chương trình thí điểm là bước đi tiên phong nhằm xem xét những lợi ích , những hạn chế trước khi thực hiện chương trình Nếu chương trình thí điểm thành công cho một khu vực thì lúc đó sẽ xem xét , đánh giá lại để thực hiện toàn bộ chương trình

5.Giám sát chương trình :

Mục tiêu của việc giám sát này là xác định sự chênh lệch giữa số liệu hiện tại và

số liệu mong muốn đạt đến sau khi thực hiện chương trình nhằm đưa ra những dự kiến cải thiện cho chương trình Quá trình giám sát và đánh giá cũng đưa ra những thông tin chính về nhu cầu khách hàng và các tác động lên hệ thống Từ đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao , quản lý , cung cấp các phương tiện thực hiện nhằm phát triển chương trình

2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến DSM

Một số yếu tố cần xét tới khi xây dựng chương trình DSM: Giá điện, Các yếu tố khuyến khích của chính phủ, các tiêu chuẩn về tiết kiệm điện năng và những tiến bộ của khoa học công nghệ

- Giá điện: Là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất xét tới khi tiến hành xây

dựng bất kỳ dự án DSM nào Do việc xây dựng chiến lược DSM dựa trên

Trang 13

nguyên tắc hiệu quả kinh tế, vì vậy giá điện chính là thước đo việc sử dụng năng lượng hợp lý

- Các yếu tố khuyến khích của chính phủ: Việc xây dựng các chương trình

DSM phải phù hợp với chính sách phát triển của ngành năng lượng Mọi thay đổi trong chính sách sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ cũng như

loại hình các công ty điện lực có liên quan tới DSM

- Các tiêu chuẩn về tiết kiệm điện năng: Khi thực hiện chiến lược nâng cao

hiệu quả sử dụng năng lượng cần phải xây dựng được các cơ chế khuyến khích nâng cao hiệu quả các thiết bị điện, xây dựng các tiêu chuẩn chặt chẽ

về hiệu quả sử dụng thiết bị điện Khi áp dụng các tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng các nhà sản xuất thiết bị điện sẽ phải có chiến lược nâng cao hiệu quả của các sản phẩm đồng thời loại bỏ các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn tiết kiệm điện

- Ảnh hưởng của những tiến bộ khoa học: Sử dụng những thiết bị dựa trên

những tiến bộ của khoa học kỹ thuật mang lại cả thuận lợi và khó khăn với quá trình thực hiện các chương trình DSM Khó khăn bắt nguồn từ những thay đổi trong đồ thị phụ tải hệ thống gây khó khăn khi dự báo nhu cầu phụ

tải

2.4.Mục tiêu và chiến lược của DSM

Hai mục tiêu đồng thời cũng là hai chiến lược quan trọng của DSM là nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng ở các hộ dùng điện và điều khiển nhu cầu sử dụng điện năng sao cho phù hợp với khả năng cấp điện của hệ thống Ta sẽ lần lượt nghiên cứu hai vấn đề đó:

2.4.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng ở các hộ dùng điện

Mục tiêu của chiến lược này là nhằm giảm nhu cầu điện năng của các phụ tải điện nhờ việc sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao, giảm tốn thất điện năng và hạn chế sử dụng năng lượng một cách vô ích Chiến lược này gồm hai nội dung chủ

yếu sau:

a Sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao

Trang 14

Dựa vào việc áp dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ, các thiết bị điện hiện nay đã có hiệu suất cao và tuổi thọ lớn Vì vậy có thể tiết kiệm được một phần điện năng lớn trong sản xuất và sinh hoạt

Thay thế các thiết bị điện dân dụng, công nghiệp có hiệu suất cao thay thế cho các thiết bị cũ , lạc hậu, hiệu suất thấp Thay thế các các dây chuyền sản xuất cũ với công nghệ lạc hậu , tiêu hao nhiều năng lượng bằng các dây chuyền sản xuất mới, hiện đại tiêu tốn ít năng lượng

b Hạn chế tối đa việc sử dụng điện năng vô ích

Sử dụng điện năng vô ích là việc sủ dụng điện năng lãng phí, không có mục đích Hiện nay tình trạng lãng phí trong sử dụng điện năng còn phổ biến, ý thức sử dụng tiết kiệm điện năng còn bị xem nhẹ Chi phí thực hiện giảm thấp nhất phần điện năng này là không lớn nhưng hiệu quả nó mang lại là rất cao

Giảm thiểu sự tiêu hao năng lượng điện vô ích:

Một số giải pháp tiêu biểu để giảm tiêu hao năng lượng điện vô ích thực hiện cho từng khu vực như sau:

- Khu vực nhà ở: Ngoài biện pháp lựa chọn các thiết bị dùng điện có hiệu suất cao, hạn chế thời gian làm việc vô ích có ý nghĩa rất lớn đến lượng điện năng tiết kiệm được Giải pháp cho mục tiêu này là sử dụng các thiết bất phụ trợ: tự động cắt điện khỏi thiết bị dùng điện theo một chế độ định trước (định thời gian, định không gian); lắp thêm các vỏ bọc để giảm thất thoát nhiệt từ các hệ thống trữ nhiệt;

sử dụng các mô hình kiến trúc với hệ thống thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên, các lớp tường bao và cửa phải đủ kín để giảm thất thoát khi sử dụng hệ thống điều hòa nhiệt độ; định chế độ đặt theo từng mùa thích hợp cho hệ thống điều hòa nhiệt độ; hạn chế số lần đóng mở tủ lạnh, tủ đá, tủ kem; cắt bỏ thời gian chờ (stanby) của tivi, video; chuyển từ sử dụng bếp điện sang bếp ga hóa lỏng; hệ thống chiếu sáng thiết kế đủ độ rọi cần thiết v.v

- Khu vực công cộng (công sở, trường học, bệnh viện, khách sạn, khu vui chơi giải trí v.v ): Ngoài các biện pháp nêu trên, ở khu vực này cần chú trọng đến khâu thiết kế công trình xây dựng sao cho tận dụng tối đa ánh sáng và gió tự nhiên;

Trang 15

thể chế hoá các qui định về xây dựng để hỗ trợ cho mục tiêu tiết kiệm năng lượng điện; hệ thống điều hòa nhiệt độ hạn chế sử dụng loại điều hòa cục bộ, nên dùng loại điều hòa trung tâm

- Khu vực công nghiệp: Các biện pháp ở khu vực này rất đa dạng tùy vào từng quá trình công nghệ, có thể kể điển hình một vài dạng như:

Đối với động cơ: Giữ đúng lịch bảo hành – Tránh chạy không tải, non tải, thường xuyên khởi động - Lắp tụ bù

Đối với hệ thống lạnh: Bảo trì đúng qui định - Bảo ôn - Tích trữ lạnh - Cân bằng phụ tải trong hệ thống điều hòa không khí - Thay hệ thống điều hòa cục bộ bằng hệ thống điều hòa trung tâm - Phân cấp máy lạnh

Đối với hệ thống khí nén: Chọn máy nén thích hợp - Hạn chế rò rỉ - Vận hành tối

ưu

Đối với hệ thống chiếu sáng: Sử dụng thiết bị định giờ, khống chế cường

độ sáng - Dùng chao đèn để phát huy khả năng phản xạ - Chiếu sáng không đồng đều theo từng khu vực khác nhau nếu điều kiện cho phép- Tận dụng ánh sáng tự nhiên - Thường xuyên bảo trì, chống bụi bặm

- Khu vực sản xuất, truyền tải phân phối điện năng: Việc giảm tổn thất điện năng là rất khó và phức tạp, cần phải đầu tư nâng cấp, cải tạo các thiết bị, vật tư rất lớn dẫn tới nguồn vốn cần sử dụng là rất lớn

Đối với các nhà máy điện: Hầu hết các nhà máy điện nước ta đã vận hành lâu năm, thiết bị đã cũ và lạc hậu tiêu hao nhiên liêu lớn, vì vậy để giảm bớt phần tiêu tốn nhiên liệu cần đầu tư cải tạo lại các thiết bị, vật tư và cung cách sản xuất

Đối với hệ thống truyền tải: còn thiếu đồng bộ, các hệ thống đường dây và trạm biến áp cũ hiện đã lạc hậu, chắp vá nhiều Một số trạm biến áp truyền tải, đường dây truyền tải đã làm việc trong tình trạng quá tải tại các giờ cao điểm, độ tin cậy thấp Vì vậy việc áp dụng các giải pháp nhằm san bằng đồ thị phụ tải, lựa chọn phương thức vận hành hợp lý cho lưới điện, nâng cấp cải tạo các trạm biến áp và đường dây tải điện đồng thời áp dụng chế độ vận hành kinh tế sẽ cho phép giảm

Trang 16

2.4.2 Điều khiển nhu cầu sử dụng điện năng phù hợp với khả năng cung cấp điện

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất khi thực hiện chương trình DSM là thay đổi hình dáng của đồ thị phụ tải, điều hòa nhu cầu tối đa và tối thiểu hàng ngày của năng lượng điện để sử dụng hiệu quả nhất các nguồn năng lượng, giảm bớt nhu cầu xây dựng các nhà máy điện mới Việc điều khiển các nhu cầu sử dụng điện cho phù hợp với khả năng cung cấp điện được thực hiện bởi các nhà sản xuất và phân phối điện năng Các giải pháp để thực hiện chiến lược này bao gồm:

a Thay đổi đồ thị phụ tải nhằm giảm chênh giữa phụ tải đỉnh và phụ tải thấp nhất

Có 6 phương pháp cơ bản trong việc làm thay đổ hình dạng đồ thị phụ tải được sử dụng trong quá trình thực hiện DSM :

- Peak Clipping – giảm tải đỉnh của hệ thống , phương pháp này là một trong những hình thức cổ điển trong việc quản lý tải , peak clipping được xem như là giảm tải bằng cách kiểm soát tải trực tiếp Kiểm soát tải trực tiếp là phương pháp thông thường bằng cách kiểm soát trực tiếp các bộ phận dịch vụ khách hàng , hoặc các thiết bị của khách hàng Kiểm soát tải trực tiếp được dùng nhằm giảm chi phí hoạt động và giảm chi phí cho nhiên liệu

- Valley filling – nâng cao phần thấp nhất của đồ thị phụ tải lên , thường giá điện trong vùng này thấp hơn so với mức giá trung bình

Trang 17

từ đó đưa ra những hành động cụ thể cho chương trình

- Strategic load growth – Phát triển tải chiến lược

Trang 18

- Flexible Load Shape – Đồ thị phụ tải linh hoạt

Giải pháp này cũng cho phép dịch chuyển nhu cầu sử điện từ thời gian cao điểm sang thời gian thấp điểm Kết quả là giảm chi phí sử dụng điện cho các hộ tiêu thụ trong khi nhà cung cấp điện cũng đạt được mục tiêu san bằng đồ thị phụ tải, tiết kiệm vốn phát triển nguồn và lưới điện Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là xây dựng các nhà máy thủy điện tích năng Điện năng sẽ được phát ra vào giờ cao điểm và được tiêu thụ vào giờ thấp điểm

Đây là giải pháp áp dụng các công nghệ sử dụng năng lượng mới để bổ sung

và thay thế các dạng năng lượng cũ Giải pháp này làm tăng khả năng đáp ứng của

hệ thống điện và mang lại nhiều lợi ích khác vì nó tận dụng được các dạng năng lượng đang còn bỏ phí như: Mặt trời, gió, thủy triều

d Chính sách đối với giá điện năng

Việc áp dụng biểu giá điện năng hợp lý sẽ tạo động lực làm thay đổi đặc điểm tiêu dùng điện và san bằng đồ thị phụ tải của hệ thống điện Các giải pháp DSM đều bị tác động bởi ba loại biểu giá sau:

- Giá thời gian dùng điện: mục tiêu chính của biểu giá này là kích thích hộ tiêu thụ thay đổi thời gian dùng điện cho phù hợp với khả năng cung cấp điện

- Giá cho phép cắt điện khi cần thiết: Biểu giá này được áp dụng để khuyến khích các khách hàng cho phép cắt điện trong thời gian cần thiết, phù hợp với khả năng cung cấp điện kinh tế của ngành điện

Trang 19

- Giá điện cho những mục tiêu đặc biệt: Biểu giá đặc biệt nhằm khuyến khích khách hàng áp dụng DSM hoặc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước

2.5 Giới thiệu chương trình DSM của một số nước trên thế giới

Đánh giá về DSM trên thế giới đã có rất nhiều nước áp dụng thành công để nâng cao hiệu quả tiết kiệm năng lượng, việc thực hiện hiệu quả các chương trình DSM đã làm giảm áp lực tăng thêm các nhà máy phát điện mới, cải thiện tính kinh

tế và độ vận hành ổn định hệ thống, kiểm soát được giá điện, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường

việc áp dụng và sự thành công của các chương trình DSM còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia

Một số chương trình DSM đã được áp dụng và thành công ở một số quốc gia sẽ được tóm tắt sơ lược ở phần dưới đây:

đứng đầu là Bộ trưởng bộ năng lượng sẽ tiến hành xây dựng các chiến lược khung cho ngành năng lượng quốc gia, bao gồm cả DSM Phần lớn ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ đã được tư nhân hóa, nhà đầu tư đồng thời cũng là nhà sở hữu, quản lý các công ty điện lực, và hiện nay họ đã sở hữu ¾ tổng công suất đặt của hệ thống

Hầu hết các công ty điện lực ở Hoa Kỳ sử dụng các chương trình quy hoạch nguồn tối ưu (IRP) và so sánh các lợi ích cho chương trình DSM với chi phí tăng thêm khi xây dựng các tổ máy phát điện

Ở Mỹ, trong một số luật điều chỉnh DSM, các Điện lực được pháp thu hồi lại chi phí đầu tư DSM ở các mức khác nhau cũng như các khoản thất thu gây ra bởi DSM Các chi phí này được thu hồi từ khách hàng thông qua mức độ tiêu thụ điện năng của họ Nếu làm tốt các Điện lực còn được cấp một khoản thưởng dưới hình thức lợi nhuận thêm vì đã thực hiện DSM với lý do là nguồn lực điện ít tốn kém nhất Tác động của cơ chế khuyến khích đối với DSM ở Hoa Kỳ là rất lớn Nhiều

Trang 20

điện lực hiện đang đầu tư 1-2% doanh thu ròng vào DSM Mức đầu tư và mức thu lãi cao đã tạo ra một thị trường DSM ở Hoa Kỳ đạt 2 tỷ USD/năm và đã giảm được nhu cầu sử dụng công suất xuống 5% tương đương 27000MW, cũng như tiết kiệm được 1% tương đương 23000GWh mỗi năm

b Tại các nước thuộc liên minh Châu Âu

(EE-DSM) Hướng dẫn này đòi hỏi các nước là thành viên của EU phải đạt được một lượng tối thiểu hiệu quả năng lượng nhất định thông qua các chương trình EE-DSM

Hướng dẫn về hiệu suất năng lượng-quản lý nhu cầu (EE-DSM) khuyến nghị các nước thành viên EU mỗi năm phải giảm được tiêu thụ năng lượng mức dưới 1%

so với năm trước và phải dành tối thiểu 2% doanh thu của các công ty điện lực để đầu tư vào chương trình DSM

Hiện không có một chính sách có hệ thống nào cho DSM ở Trung Quốc cũng như thực tiễn triển khai Một báo cáo năm 1998 đã phân tích các tiềm năng và hiệu quả chi phí ở Thượng Hải và đánh giá tiềm năng có thể tiết kiệm 6TWh đến năm

2010 và chi phí đơn vị dưới 6 cent/kWh, tránh được lượng công suất mới 2450MW Các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu đã được ban hành, nhưng các tiêu chuẩn này khá thấp so với Hoa Kỳ và Châu Âu

Ấn Độ hiện nay đang phải đối mặt với thiếu hụt công suất đỉnh 13% và xấp

xỉ 10% tổng nhu cầu không thể cung cấp Hiện cũng chưa có chính sách DSM ở Ấn

Độ Có nhiều phân tích về tiềm năng DSM, một số báo cáo đưa ra Ấn Độ có thể tiết kiệm được 25GW công suất và 123TWh điện cho tới năm 2010 Vì vậy Ấn Độ xem DSM như một động lực để có thêm công suất phát cho khách hàng Một số công ty điện lực ở Ấn Độ đã áp dụng DSM nhưng kinh nghiệm và khả năng thực hiện còn hạn chế

Trang 21

Các đơn vị hỗ trợ việc phân tích ở Malaysia đã gợi ý là một chương trình DSM tập trung vào 12 mục tiêu về công nghệ có mức thu hồi vốn dưới 4 năm có thể giảm nhu công suất đỉnh đến 10 đến 50MW trong 5 năm, việc tư nhân hóa và cải tổ ngành điện cùng với thực tế dư thừa công suất đã được ưu tiên DSM hơn

Đã có các chương trình hiệu suất năng lượng Kiểm toán năng lượng trong các tòa nhà bắt đầu tư năm 1980, bao gồm cả việc thiết kế vỏ tòa nhà, chiếu sáng, điều hòa , phân phối điện và quản lý năng lượng Hiện đang tiến hành các công việc thành lập tiêu chuẩn sử dụng năng lượng

nhất: Các hoạt động này có thể mang lại hiệu quả tiết kiệm năng lượng cao nhất trong tất cả chương trình DSM và tiết kiệm năng lượng, trong đó bao gồm:

• Các tiêu chuẩn thực hành năng lượng tối thiểu đối với các thiết bị điện,

đồ dùng điện

• Xây dựng mã năng lượng

• Dán tem năng lượng và cơ chế xếp hạng với các sản phẩm, tòa nhà

- Cơ chế lập quỹ ổn định và thường xuyên đóng vai trò hết sức quan trọng với thành công của chương trình DSM

- DSM và tiết kiệm năng lượng chỉ tách rời nhau về mặt hình thức: Ở một số quốc gia, hai chương trình này được thực hiện bởi các đơn vị khác nhau, các chương trình tiết kiệm năng lượng do các cơ quan của chính phủ thực hiện và các chương trình DSM do các công ty Điện lực thực hiện Sự phân tách chương trình DSM làm cho việc thiết kế và các chính sách thực hiện trở nên phức tạp hơn và nhìn chung đã tạo ra những “xung đột” dẫn tới khó có thể đưa ra một chương trình quốc gia về DSM và tiết kiệm năng lượng tổng thể hiệu quả Vì vậy Chính sách quốc gia cần hợp nhất về DSM và tiết kiệm năng lượng

điện và tự do cạnh tranh cùng với việc triển khai các chương trình DSM trên quy

Trang 22

mô rộng Do đó cần có chính sách phù hợp cho cải tổ quy mô ngành điện và cũng cần có những chính sách khuyến khích triển khai DSM Kinh nghiệm ở các nước thực hiện thành công DSM cho thấy việc xây dựng một chương trình quốc gia về DSM phải gắn liền quy hoạch phát triển điện lực của quốc gia nhằm xác định giải pháp cấp nguồn cho hệ thống điện bằng biện pháp điều chỉnh dịch chuyển biểu đồ phụ tải điện

Các chương trình DSM và tiết kiệm điện năng sẽ không thể triển khai thành công nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cùng với bộ khung pháp lý về DSM và tiết kiệm năng lượng rõ ràng Vì vậy các vấn đề về chính sách cần phải triển khai sớm là:

- Hoàn thiện bộ khung pháp lý cho hoạt động quản lý nhu cầu điện DSM

- Xây dựng cơ chế, chính sách và biểu giá năng lượng phù hợp

- Thành lập quỹ tài chính nhằm bảo đảm thực hiện thành công chương trình DSM

- Ban hành các văn bản hướng dẫn Luật, Nghị định liên quan hoạt động nhu cầu quản lý điện năng DSM

- Xây dựng ban hành các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho các loại thiết bị

sử dụng điện

Cần tạo mối liên kết chặt chẽ hơn các chương trình DSM và các chương trình tiết kiệm năng lượng: Ở nước ta hiện nay, các chương trình tiết kiệm năng lượng do Bộ Công nghiệp quản lý thực hiện tập trung nhiều hơn về xây dựng và phát triển các cơ chế khuyến khích thực hiện tiết kiệm năng lượng như hỗ trợ kiểm toán năng lượng, quy định tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu và quy chế dán tem năng lượng, nâng cao nhận thức chung Còn chương trình DSM hiện nay do EVN thực hiện lại tập trung chủ yếu vào mặt thiết bị-chủ yếu là thiết bị của khách hàng như các thiết

bị chiếu sáng và các thiết bị sử dụng điện Sự thiếu đồng bộ giữa DSM và tiết kiệm năng lượng có thể tạo ra một lỗ hổng với nhiều cơ hội DSM và tiết kiệm năng lượng

có thể bị bỏ qua

Trang 23

Thiết lập thể chế cho các chương trình DSM và tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam: Trước đây, chương trình DSM thường do các công ty điện lực thực hiện bởi các lợi ích tài chính mang lại từ việc giảm nhu cầu phụ tải đỉnh thay cho việc phải thêm nguồn cung mới Giai đoạn hiện nay, khi ngành công nghiệp điện lực đang trong qua trình cải tổ theo hướng phân tách mạnh mẽ các chức năng phát điện, truyền tải

và phân phối điện năng cùng với sự phát triển của thị trường điện, kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình DSM sẽ hết sức cần thiết và mang lại hiệu quả cao

2.6.1 Giới thiệu

Cung cấp năng lượng hiệu quả đang là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, nên việc tổ chức, gây quỹ thực hiện các chương trình quản lý nhu cầu điện (DSM), tiết kiệm điện năng ở các nước đang phát triển ngày càng được quan tâm

Về vấn đề này, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã có Quyết định

số 2447/QĐ-BCN phê duyệt Chương trình quốc gia về DSM, với mục tiêu khuyến khích cũng như đưa ra những biện pháp quản lý bắt buộc, nhằm thực hiện đồng bộ các bước nâng cao nhận thức cộng đồng về DSM, góp phần bảo đảm việc cung cấp điện

DSM được nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1997, với sự trợ giúp của Cty Tư vấn Hagler Bailley (Hoa Kỳ) thông qua Ngân hàng Thế giới (WB) đã hỗ trợ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thực hiện dự án: Đánh giá tiềm năng DSM ở Việt Nam, nhằm xác định tiềm năng DSM để hỗ trợ ngành Điện tìm giải pháp hiệu quả, đáp ứng nhu cầu điện có xu hướng tăng trưởng cao trong tương lai Kết quả dự án cho thấy, DSM có tiềm năng lớn, góp phần giải quyết vấn đề tăng trưởng nhu cầu điện ở Việt Nam Dự án đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam triển khai chương trình DSM tổng thể, gồm 2 đến 3 giai đoạn cho đến năm 2010 và có thể cắt giảm được khoảng 770 MW công suất đỉnh của hệ thống điện quốc gia, tương ứng lượng điện năng hơn 3,55 tỷ kWh

Trang 24

Chương trình DSM có 4 nhóm nội dung gồm:

-Hỗ trợ DSM

-Các dự án trung và dài hạn

-Nâng cao nhận thức về DSM

-Hoàn thiện khung pháp lý về DSM

2.6.2 Tình hình thực hiện chương trình DSM ở Việt Nam

Chương trình DSM đã được chính phủ Việt Nam quân tâm nghiên cứu từ rất sớm, tuy nhiên các chương trình các chương trình được thực hiện bởi các nguồn vốn khác nhau và nhiều đơn vị quản lý khác nhau nên các chương trình DSM được thực hiện từ trước năm 2006 chỉ có tính chất đơn lẻ Chính vì thế hiệu quả của các chương trình này là không cao Kết quả của từng chương trình không được đánh giá

2.6.2.1 Giai đoạn chuẩn bị các chương trình DSM trước năm 1998

Trong giai đoạn này, các nghiên cứu cơ bản nhất là:

- Nghiên cứu “đánh giá tiềm năng DSM ở Việt Nam” do tư vấn Hagler Bailley ( Hoa Kỳ) thực hiện dưới sự tài trợ của Ngân hàng thế giới

- Xây dựng chương trình “ Bảo tồn và hiệu suất năng lượng ” do bộ KHCN&MT chủ trì thực hiện

Trang 25

Nghiên cứu “đánh giá tiềm năng DSM ở Việt Nam” do tư vấn Hagler Bailley ( Hoa Kỳ) thực hiện cho thấy DSM có tiềm năng rất lớn góp phần giải quyết vấn đề tăng trưởng nhu cầu điện năng ở nước ta Dự án khuyến nghị chính phủ Việt Nam triển khai chương trình DSM tổng thể, gồm 2 đến 3 giai đoạn cho đến năm 2010 và

có thể cắt giảm được khoảng 770 MW công suất đỉnh của hệ thống điện quốc gia, tương ứng lượng điện năng hơn 3,55 tỷ kWh

Năm 1998 Bộ KHCN & MT đã tiến hành xây dựng “ Tổng sơ đồ phát triển các chương trình bảo tồn và nâng cao hiệu suất năng lượng ” Chương trình đã đề xuất ra các chương trình hiệu quả năng lượng với sự hỗ trợ cơ bản từ các chính sách

và văn bản pháp luật và từ đó thực hiện các chương trình kiểm toán điện năng, thành lập các trung tâm bảo tồn năng lượng ở các tỉnh, thành phố và xây dựng nột quỹ công cộng nhằm tài trợ cho hoạt động của chương trình hiệu quả năng lượng của các khách hàng tiêu thụ năng lượng Các nghiên cứu trong dự án này chỉ ra rằng chiếu sáng và các hoạt động công nghiệp đóng góp lớn nhất vào tiêu thụ điện và phụ tải đỉnh, hầu hết các cơ sở công nghiệp là doanh nghiệp quốc doanh và làm việc không hiệu quả Nghiên cứu cũng đã đề xuất các thiết bị điện cần được ưu tiên khuyến khích nhằm làm giảm phụ tải tại giờ cao điểm Chương trình đã đóng góp cho kế hoạch nhằm bảo toàn và sử dụng năng lượng hợp lý từ năm 1996-2000

2.6.2.2 Giai đoạn I của chương trình DSM 1998-2002

Dự án được coi là giai đoạn đầu tiên của chương trình DSM, được thực hiện dưới sự tài trợ không hoàn lại của quỹ SIDA ( Thụy Điển) giá trị 29 triệu Curon Thụy Điển tương đương 2,8 triệu USD thông qua Ngân hàng thế giới.Các hoạt động chủ yếu bao gồm:

- Hỗ trợ đánh giá và xây dựng khung đánh giá đối với DSM

- Xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất sử dụng điện cho thiết bị chiếu sáng và động

Trang 26

Ban quản lý dự án DSM đã được thành lập tại Bộ Công Nghiệp chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động của dự án Cho tới nay các nội dung chính của dự án đã được thực hiện:

- Thành lập Ban chỉ đạo của Bộ và EVN về thực hiện chương trình DSM và nâng cao năng lực thực hiện , giám sát và đánh giá hiệu quả chương trình DSM

- Thực hiện một số chương trình thí điểm như: kiểm toán năng lượng, thay thế đèn sợi đốt bằng đèn compact và đèn ống gầy

- Nghiên cứu và ban hành Quy chuẩn xây dựng cho các tòa nhà thương mại bảo đảm tính mỹ quan và hiệu quả năng lượng

- Nghiên cứu và xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về động cơ và thiết bị chiếu sáng có hiệu suất cao

- Nghiên cứu và quản lý phụ tải thí điểm trong khoảng 100 dơn vị thương mại

và công nghiệp lớn

- Chuẩn bị nghiên cứu khả thi cho việc thực hiện giai đoạn 2 cho kế hoạch hành động DSM toàn quốc

công suất đỉnh hệ thống và làm giảm độ chênh lệch giữa công suất vào giờ cao điểm

và công suất vào giờ thấp điểm xuống còn 1,9-2,2 lần

2.6.2.3 Giai đoạn II của chương trình DSM 2002-2006

Giai đoạn II của chương trình do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ ủy thác qua ngân hàng thế giới với tổng số vốn 5,5 triệu USD Dự án gồm 2 phần:

- Dự án tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm, do cục Điều tiết điện lực thuộc Bộ Công nghiệp quản lý thực hiện

- Dự án DSM do EVN thực hiện

a Dự án tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm

Mục tiêu của dự án là thông qua các hoạt động hỗ trợ đào tạo xây dựng năng lực cho các đơn vị trong nước thực hiện các dự án tiết kiệm năng lượng, hỗ trợ kiểm toán năng lượng và hỗ trợ vào đầu tư tiết kiệm năng lượng để thử nghiệm và xác

Trang 27

định mô hình kinh doanh tiết kiệm năng lượng thích hợp mang tính bền vững để từng bước phát triển và nhân rộng với quy mô lớn

Dự án được thực hiện bằng cách giúp các đơn vị cung cấp các dịch vụ tiết kiệm năng lượng Căn cứ vào điều kiện còn hạn chế hiện nay trong nhiều xí nghiệp công nghiệp, dự án sẽ tập trung vào các đối tượng là khách sạn, tòa nhà văn phòng, các đơn vị dịch vụ, thương mại, công nghiệp may mặc, chế biến có khả năng thu xếp tài chính để đầu tư vào tiết kiệm năng lượng Dụ án đưa ra các giải pháp tiết kiệm năng lượng được áp dụng vào các lĩnh vực chiếu sáng, động cơ và máy bơm, các hệ thống điều hòa không khí, thông gió Dự kiến , trên 200 dự án tiết kiệm năng lượng nhỏ sẽ được hỗ trợ đầu tư khuyến khích phát triển để tiết kiệm được khoảng 300GWh trong giai đoạn hoạt động của dự án Dự án được triển khai từ cuối năm

2004 và sẽ kết thúc vào 30/6/2009

Các nội dung cụ thể của dự án bao gồm:

- Chương trình đào tạo cho các đơn vị tham gia dự án: sẽ hỗ trợ một chương trình đào tạo tổng thể để cung cấp những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật, tài chính, kinh doanh dịch vụ tiết kiệm năng lượng cho các đơn vị tham gia dự án Chương trình sẽ đào tạo cung cấp các nội dung về kiểm toán năng lượng, phân tích và giới thiệu các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng cho hệ thống, phân tích tài chính các phương án công nghệ và đầu tư tiết kiệm năng lượng, kỹ năng quản lý

dự án, hoạt động giám sát tiết kiệm năng lượng, tiếp thị, quảng bá dịch vụ Dự án

đã tổ chức thành công 32 khóa đào tạo miễn phí tại 2 miền Bắc và Nam cho các đơn

vị tham gia dự án

- Khoản viện trợ không hoàn lại để hỗ trợ đầu tư tiết kiệm năng lượng và kiểm toán năng lượng cho các thành phần tham gia vào dự án: Sẽ cung cấp khoản viện trợ không hoàn lại cho hơn 200 dự án nhỏ có quy mô từ 10000 USD Mức hỗ trợ sẽ được khuyến khích cao nhất trong năm đầu tiên thực hiện dự án và giảm dần cho đến khi kết thúc dự án với mục đích khuyến khích thị trường phát triển mang tính chất thương mại cũng như đánh giá tính bền vững của dịch vụ tiết kiệm năng lượng trong nước Cục Điều tiết điện lực đã chọn ngân hàng Techcombank hỗ trợ

Trang 28

giải ngân cho dự án, hướng dẫn chi tiết các thủ tục hoạt động của dự án , hỗ trợ mức đầu tư và kiểm toán năng lượng hàng năm

- Hỗ trợ Marketing, thông tin điều hành, giám sát và quản lý dự án: Dự án sẽ cung cấp hỗ trợ cho các hoạt động:

+ Cố vấn quốc tế cho toàn bộ hoạt động của dự án thí điểm

diện dự án, nâng cao nhận thức cho khách hàng tiềm năng về dịch vụ tiết kiệm năng lượng

Kết quả dự án:

Đến tháng 11/2007 đã có 116 dự án nhỏ đủ tiêu chuẩn tham gia vào dự án, trong đó có 64 dự án tiết kiệm năng lượng được phê duyệt và triển khai với tổng mức đầu tư gần 2,7 triệu USD và số tiền tài trợ lên tới 640.000USD Tổng chi phí cắt giảm tiền điện hàng năm của đơn vị tham gia vào dự án đạt mức 1,8 triệu USD/năm

Đánh giá theo cơ cấu ngành: Tiềm năng tiết kiệm trong Công nghiệp khá cao ( trong chiếu sáng, động cơ công suất lớn ) tiết kiệm trung bình khoảng 10% Đối với khối kinh doanh dịch vụ (nhà hàng, khách sạn ) lượng điện năng tiêu thụ sau khi thực hiện chương trình tiết kiệm được khoảng 3-4%

Đánh giá theo công nghệ: Theo các báo cáo về thực hiện dự án cho thấy tiềm năng tiết kiệm điện đối với các thiết bị điều hòa không khí là khá cao mặc dù mức đầu tư không nhiều như các thiết bị khác Phần tiết kiệm điện khi tiến hành với các

Trang 29

thiết bị động cơ điện ( lĩnh vực sản xuất công nghiệp ) ở mức thấp hơn mặc dù mức đầu tư lớn hơn

b Dự án DSM giai đoạn 2

Dự án DSM giai đoạn 2 được xây dựng dựa trên cơ sở thực hiện DSM giai đoạn1 nhằm giúp EVN nâng cao quản lý phụ tải và cải tiến biểu giá điện Chương trình DSM giai đoạn 2 gồm các nội dung:

- Công tơ đo đếm TOU ( Time of use ): EVN tiến hành mua và lắp đặt 5600 công tơ TOU tại cơ sở của khoảng 4000 khách hàng lớn và trung bình góp phần hợp lý hóa mức tiêu thụ điện năng trong giờ cao điểm Kết hợp với các chương trình tư vấn khách hàng để người sử dụng có thể hiểu rõ hơn về biểu giá TOU và xác định các giải pháp để chuyển tải sang giờ thấp điểm

- Chương trình quản lý phụ tải trực tiếp (DLC) thí điểm: EVN phối hợp với Công ty Điện lực TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh để triển khai thí điểm chương trình DLC sử dụng hệ thống quản lý bằng sóng để cắt giảm nhu cầu

sử dụng của khoảng 2000 phụ tải khách hàng ( hệ thống điều hòa, bình nước nóng ) Chương trình cho phép người vận hành HTĐ đóng, cắt một số thiết

bị trong 1 số giờ nhất định trong thời gian cao điểm khi hệ thống thiếu công suất

- Chương trình đèn Compact (CFL): Chương trình thúc đẩy sử dụng bóng đèn Compact CFL, có cùng công suất phát sáng (lumen) với bóng đèn sợi đốt nhưng tiêu thụ chỉ bằng 20% điện năng, giảm đáng kể phụ tải ánh sáng Tuy nhiên giá đèn compact thường cao hơn khoảng 10 lần bóng sợi đốt Trong chương trình này 1 triệu CFL đã được EVN mua và bán trợ giá ( 20%-50%) cho các hộ thông qua các Công ty Điện lực Việc giảm giá sẽ giảm dẫn theo thời gian thực hiện chương trình, kết hợp với các hoạt động quảng bá để nâng cao ý thức quan tâm của mọi người về việc sử dụng bóng đèn CFL nhằm đạt được số lượng lớn người dùng trong tương lai

- Chương trình bóng đèn huỳnh quang gầy ( FTL): Chương trình thúc đẩy sử dụng bóng đèn huỳnh quang hiệu suất cao 36W, với công suất chiếu sáng và

Trang 30

giá thành tương đương như bóng đèn T-12 40W nhưng tiêu thụ ít hơn khoảng 10% Với số lượng hạn chế các nhà sản xuất đèn FTL ở Việt Nam, EVN sẽ trợ cấp tiếp thị cho các nhà sản xuất tham gia hỗ trợ chi phí cho họ trong việc quảng bá tích cực và EVN sẽ thực hiện chiến dịch song song để hướng dẫn khách hàng cách sử dụng

- Các hoạt động phụ trợ: Để hoạt động của 4 chương trình DSM đạt hiệu quả, EVN triển khai một số hoạt động phụ trợ, bao gồm: Giám sát chương trình DSM, đánh giá và xây dựng cơ hội kinh doanh thương mại DSM, nghiên cứu phụ tải, Xây dựng và thực hiện 1 số chương trình DSM thí điểm, phát triển chương trình DSM giai đoạn sau

Các mục tiêu của giai đoạn 2 là đến cuối năm 2007 sẽ giảm 120 MW phụ tải đỉnh và tiết kiệm khoảng 3000GWh điện năng

Kết quả dự án:

Với chương trình công tơ TOU, việc tính toán lượng điện năng tiết kiệm thực

tế là rất khó khăn do thiếu các công tơ 3 giá đo đếm điện năng trước và sau khi áp dụng biểu giá điện theo thời gian Vì thế ước tính hiệu quả lắp mới các công tơ TOU năm 2005 là 45 MW

Với chương trình CFL: Mức giảm tiền điện năng hàng tháng của hộ gia đình giảm khoảng 15% Khách hàng dùng điện dùng điện cắt giảm được 28,5 tỷ đồng/năm Thời gian hoàn vốn sau khi mua đèn là 9 tháng Đa phần khách hàng hài lòng với chất lượng đèn compact của chương trình Đối với EVN sản lượng tiết kiệm 1 năm 45,9 triệu kWh và trong cả tuổi thọ đèn 5,3 năm là 243 triệu kWh Cắt giảm công suất cao điểm 30 MW

2.6.2.4 Chương trình quốc gia về quản lý nhu cầu điện năng giai đoạn

2007-2015

a.Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

- Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được chính phủ phê duyệt ngày 14/4/2006

Mục tiêu tổng quát của chương trình:

Trang 31

Các hoạt động khuyến khích, tuyên truyền cộng đồng, các hoạt động khoa học kỹ thuật và các biện pháp quản lý bắt buộc nhằm thực hiện đồng bộ các hoạt động về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong toàn xã hội

Thông qua các hoạt động của Chương trình, đạt được mục tiêu về tổng mức tiết kiệm năng lượng cụ thể, giảm mức đầu tư phát triển hệ thống cung cấp năng lượng, mang lại lợi ích kinh tế xã hội, góp phần bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng

Mục tiêu cụ thể của chương trình:

Mục tiêu tiết kiệm 3-5% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn quốc từ

2006-2010 và 5-8% trong giai đoạn 2006-2010-2015 so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng và phát triển kinh tế xã hội theo phương án phát triển bình thường, trên cơ sở các nội dung cụ thể sau:

- Hình thành và đưa vào hoạt động có hiệu quả mô hình quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bao gồm các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý trong các doanh nghiệp :

+ Giai đoạn 2006-2010: hoàn thành việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật đồng bộ với các luật và các văn bản dưới luật có liên quan tới vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

+ Xây dựng mô hình quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để áp dụng vào hoạt động thực tế cho 40% số lượng các doanh nghiệp sử dụng năng lượng trọng điểm và mở rộng áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

+ Thực hiện việc quản lý bắt buộc theo Quy chuẩn xây dựng Việt Nam “ Các công trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” đối với 100% các tòa nhà xây dựng từ năm 2006

hành biểu giá năng lượng phù hợp với xu hướng chính sách giá năng lượng của các nước trên thế giới

- Phổ biến rộng rãi các thiết bị có hiệu suất cao, thay thế dần cho các thiết bị

cũ hiệu suất thấp

Trang 32

b Chương trình quốc gia về quản lý nhu cầu điện năng

Mục tiêu cụ thể của chương trình:

-Cắt giảm nhu cầu công suất đỉnh của hệ thống điện quốc gia năm 2010 là 500MW và năm 2015 sẽ là 1200MW thông qua triển khai thực hiện chương trình DSM

- Giai đoạn 2007-2010 sẽ hoàn thành xây dựng và ban hành các luật văn bản pháp luật đồng bộ với các luật và các văn bản dưới luật liên quan đến quản lý nhu cầu điện (DSM)

Nội dung của chương trình:

- Các chương trình hỗ trợ DSM:

+ Chương trình nghiên cứu phụ tải

+ Đánh giá các chương trình DSM đã và đang được thực hiện, đề xuất các chương trình DSM thí điểm mới

- Các dự án DSM trung và dài hạn:

+ Chương trình kiểm soát phụ tải trực tiếp

+ Chương trình công tơ biểu giá theo thời gian

+ Chương trình áp dụng biểu giá cho khách hàng chấp nhận bị cắt điện

+ Chương trình bù công suất phản kháng

- Chương trình quốc gia nâng cao nhận thức về DSM

- Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nhu cầu DSM

Tổ chức thực hiện:

Bộ Công nghiệp là cơ quan chủ trì phối hợp với các Bộ ngành liên quan soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý nhu cầu điện, Cục Điều tiết điện lực là đơn vị đầu mối thực hiện

c Các định hướng cơ bản

Các chương trình DSM giai đoạn từ 2010-2015 sẽ bao gồm chương trình DSM do Cục điều tiết điện lực quản lý, EVN tổ chức thực hiện và các chương trình tiết kiệm điện năng sẽ do Bộ Công nghiệp chủ trì tổ chức Các chương trình DSM

sẽ tập trung chủ yếu vào việc cắt giảm và chuyển dịch phụ tải ra khỏi thời giam vận

Trang 33

hành cao điểm của hệ thống, các chương trình tiết kiệm năng lượng sẽ tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng điện của các thiết bị

Mục tiêu cơ bản của các chương trình DSM:

- Thực hiện các chương trình quản lý phụ tải để cắt giảm nhu cầu công suất đỉnh của hệ thống điện quốc gian năm 2010 khoảng 500MW và năm 2015 là 1200MW

- Ban hành khung các văn bản pháp luật đồng bộ với các Luật và các văn bản dưới luật liên quan tới DSM

- Đẩy mạnh hoạt động khuyến khích, thúc đẩy, tuyên truyền cộng đồng và các biên pháp quản lý bắt buộc nhằm thực hiện đồng bộ việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong toàn xã hội

- Thiết lập cơ cấu tổ chức để thực hiện hiệu quả chương trình DSM nâng cao khả năng về thiết kế, thực hiện và đánh giá các chương trình nghiên cứu và quản lý phụ tải và chuẩn bị các phương án mở rộng cho giai đoạn sau

Để bảo đảm thực hiện được các mục tiêu trên, các chương trình DSM cần phải dựa vào những chương trình DSM thử nghiệm thành công tại Việt Nam và một vài chương trình đã thực hiện hiệu quả ở một số nước trong khu vực Một vài chương trình DSM dự kiến sau:

- Chương trình bóng đèn Compact ( CFL): Trong giai đoạn 2 của chương

trình DSM, chương trình tuy mới thử nghiệm 1 triệu chiếc nhưng đã cho kết quả rất khả quan, cắt giảm được 30MW công suất đỉnh Chương trình CFL sẽ do đơn vị điện lực thực hiện trong 8 năm ( 2008-2015) đấu thầu mua số lượng lớn và phân phối 15 triệu chiếc tới khách hàng sử dụng điện Các khách hàng sẽ được hỗ trợ 0,5USD/CFL Chương trình sẽ tập trung vào các khách hàng ở cả nông thôn và thành thị

- Chương trình đèn tuýp gầy (FTL): Chương trình này sẽ bao gồm việc

triển khai đèn tuýp gầy và chấn lưu hiệu suất cao Chương trình sẽ phối hợp với các nhà sản xuất dán nhãn và tuyên truyền hiệu quả của đèn FTL Chương trình sẽ triển khai 100 triệu đèn FTL và 22 triệu chấn lưu hiệu suất cao trong 8 năm ( 2008-

Trang 34

2015) Các đơn vị điện lực sẽ trợ giá cho khách hàng mua chấn lưu hiệu suất cao thông qua việc trợ giá cho các nhà sản xuất Mỗi chấn lưu hiệu suất cao sẽ được hỗ trợ 1 USD

- Chương trình tủ lạnh hiệu suất cao: Chương trình này chủ yếu dựa trên

tác động của dán nhãn hiệu suất năng lượng, quảng bá hiệu quả tiết kiệm năng lượng cho khách hàng và hỗ trợ một phần nhằm giảm giá tủ lạnh hiệu suất cao trong thời gian đầu Chương trình sẽ triển khai 2,6 triệu tủ lạnh hiệu suất cao trong vòng 8 năm ( 2008-2015) Trong 5 năm đầu của chương trình ( 2008-2012), mỗi tủ lạnh hiệu suất cao sẽ được hỗ trợ 40% số tiền tăng thêm với tủ lạnh thông thường Trung bình mỗi tủ lạnh hiệu suất cao sẽ cho mức tiết kiệm 18W và tổng lượng công suất cắt giảm phụ tải của chương trình tủ lạnh hiệu suất cao vào năm 2015 khoảng 23,4

MW

- Chương trình điều hòa nhiệt độ hiệu suất cao: Chương trình này chủ yếu

dựa trên tác động của dán nhãn hiệu suất năng lượng, quảng bá hiệu quả tiết kiệm năng lượng cho khách hàng và hỗ trợ một phần nhằm giảm giá điều hòa hiệu suất cao trong thời gian đầu Chương trình sẽ triển khai 520 nghìn điều hòa hiệu suất cao trong vòng 8 năm ( 2008-2015) Trong 3 năm đầu của chương trình ( 2008-2010), mỗi điều hoà hiệu suất cao sẽ được hỗ trợ 80% số tiền tăng thêm so với điều hòa thông thường Trung bình mỗi điều hòa hiệu suất cao sẽ cho mức tiết kiệm 400W và tổng lượng công suất cắt giảm phụ tải của chương trình điều hòa hiệu suất cao vào năm 2015 khoảng 72,8 MW

- Chương trình động cơ hiệu suất cao: Chương trình này chủ yếu dựa trên

tác động của dán nhãn hiệu suất năng lượng, quảng bá hiệu quả tiết kiệm năng lượng cho khách hàng và hỗ trợ một phần nhằm giảm giá động cơ hiệu suất cao trong thời gian đầu Chương trình sẽ triển khai 200 nghìn động cơ hiệu suất cao trong vòng 8 năm ( 2008-2015) Trong 3 năm đầu của chương trình ( 2008-2010), mỗi động cơ hiệu suất cao sẽ được hỗ trợ 80% số tiền tăng thêm so với động cơ thông thường Trung bình mỗi động cơ hiệu suất cao sẽ cho mức tiết kiệm 100W và

Trang 35

tổng lượng công suất cắt giảm phụ tải của chương trình động cơ hiệu suất cao vào năm 2015 khoảng 80 MW

- Chương trình nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời: Chương trình

phát triển dựa trên việc sử dụng bình đun nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời của các thành phố lớn trong thời gian qua Chương trình sẽ thực hiện các công tác quảng bá hiệu quả tiết kiệm điện của bình nước nóng cho khách hàng Đối tượng chủ yếu của chương trình là các khách hàng sử dụng nước nóng trong công nghiệp, thương mại ( nhà hàng, khách sạn ) và dân dụng Chương trình dự kiến triển khai

130 nghìn bình đun nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời trong 8 năm ( 2015) Trung bình, mỗi bình đun nước nóng loại 120l sẽ cho hiệu quả tiết kiệm được 1770 kWh/ năm điện năng và tổng lượng công suất cắt giảm phụ tải của chương trình đun nước nóng năng lượng mặt trời vào năm 2015 khoảng 73,5 MW

2008 Chương trình biểu giá điện theo thời gian: Trên cơ sở giá bán lẻ điện do

chính phủ quy định, các đơn vị điện lực sẽ tiến hành mua các công tơ điện tử đo đếm điện năng theo thời gian lắp cho các khách hàng công nghiệp và thương mại Chương trình sẽ lắp đặt công tơ điện tử 3 giá cho khách hàng có công suất sử dụng

từ 25 kVA trở lên hoặc có sản lượng điện sử dụng hàng tháng từ 2000kWh trở lên

Dự kiến tới năm 2015 sẽ mở rộng tới các hộ có mức tiêu thụ hàng tháng từ 1000kWh trở lên và với tổng số 82000 công tơ được lắp mới

- Chương trình điều khiển phụ tải trực tiếp: Điều khiển phụ tải trực tiếp là

khả năng các công ty điện lực có thể điều khiển các thiết bị điện phía khách hàng khi được khách hàng chấp thuận trước Biện pháp này sử dụng các thiết bị có thể đóng hoặc mở các phụ tải nhất định trong thời gian nhất định mà không ảnh hưởng đáng kể tới tiện nghi sử dụng của khách hàng.Chương trình đã được EVN thực hiện thí điểm tại 2 thành phố Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, sử dụng công nghệ điều khiển phụ tải bằng sóng điện từ nhằm cắt giảm nhu cầu điện của các thiết bị điện tham gia vào chương trình trong giờ cao điểm Tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản quy phạm hướng dẫn và thiếu các biện pháp khuyến khích hiệu quả với khách hàng nên các chương trình nói trên chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu chưa có ý nghĩa thực tế

Trang 36

- Chương trình áp dụng biểu giá đặc biệt cho các khách hàng chấp thuận bị cắt điện: Biểu giá được thiết kế cho các khách hàng chấp thuận và cam

kết cắt giảm phụ tải điện vào bất cứ thời điểm nào trong ngày Các khách hàng tham gia chương trình này sẽ được cấp điện với giá thấp hơn Việc áp dụng biểu giá này

sẽ phụ thuộc vào sự chấp thuận của khách hàng, các khách hàng tham gia chương trình sẽ phải cắt giảm phụ tải khi trung tâm điều độ thong báo, nếu không tuân thủ khách hàng sẽ phải chịu phạt với giá điện cao hơn rất nhiều hoăc không được hưởng các hỗ trợ từ chương trình Rào cản chính của chương trình là chi phí sản xuất điện cao của các máy phát tại chỗ và tiền phải trả từ các công ty điện lực Bằng tiền khuyến khích cho khách hàng, các công ty điện lực có thể mang lại lợi nhuận cho khách hàng, để khách hàng tự phát điện Dự kiến tới năm 2015 sẽ có 100 khách hàng công nghiệp, thương mại dịch vụ với mức tiêu thụ > 1.000.000 kWh/năm tham gia, tương đương với số thiết bị điện 500kW/khách hàng

- Chương trình bù công suất phản kháng: Bù công suất phản kháng nhằm

nâng cao hệ số công suất nhằm giảm tổn thất điện năng, tăng hiệu quả sử dụng điện Hiện nay có 2 phương án: Khách hàng có thể trang bị thiết bị bù công suất phản kháng hoặc có thể mua công suất phản kháng của bên bán điện, cách thứ hai các công ty điện lực có thể lắp đặt các thiết bị bù và khoản đầu tư này sẽ tính trong giá điện

Trang 37

Chương 3: soạn thảo và phê chuẩn số liệu

3.1 Phương pháp luận nghiên cứu phụ tải

Để xây dựng biểu đồ phụ tải ta phải tiến hành nghiên cứu phụ tải Nghiên cứu phụ tải là thu thập thông tin cần thiết về khách hàng sử dụng năng lượng nhằm hiểu

rõ loại phụ tải của hệ thống Từ đó đưa ra một cách chi tiết các biểu đồ phụ tải của các thành phần phụ tải theo các ngành, các ngành con trong các ngành lớn, theo các khách hàng sử dụng điện trong mỗi ngành nhỏ và theo công nghệ sử dụng cuối cùng Điều này có nghĩa là các dữ liệu theo khoảng thời gian phải được thu thập tại các hộ sử dụng và các cấp phân loại khách hàng

Trong luận văn này tác giả sẽ dùng phương pháp phân tích phụ tải tiến hành

từ dưới lên, bắt đầu bằng việc xây dựng các biểu đồ phụ tải trung bình ngày của các khách hàng sử dụng cuối cùng, tiếp theo tổng hợp các ngành nhỏ và các ngành lớn lên biểu đồ phụ tải hệ thống

Thông thường, trong thực tế phổ biến là xây dựng các biểu đồ phụ tải ở dạng

“ phụ tải bình thường ” ở đó tất cả các điểm số liệu là được chuẩn hoá bởi một vài hệ

số sử dụng như công suất cực đại, điện năng tiêu thụ cả năm Hệ thống điện Việt Nam luôn thiếu nguồn trầm trọng vào giai đoạn hè trong năm, để đánh giá chính xác cơ cấu thành phần phụ tải đỉnh nhằm san bằng đồ thị phụ tải tác giả thu thập thông tin phụ tải của thị xã Uông Bí-Quảng Ninh trong một ngày bình thường của tháng 07 năm 2010

3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu phụ tải

Việc nghiên cứu phụ tải toàn diện sẽ bao gồm các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn khách hàng - thiết kế mẫu

Bước 2: Lựa chọn công tơ

Bước 3: Thực hiện khảo sát khách hàng, thu thập số liệu

Bước 4: Xây dựng biểu đồ phụ tải của từng ngành, từng thành phần

Trang 38

Hoạt động nghiên cứu phụ tải đòi hỏi số liệu lớn Mục tiêu quan trọng của nghiên cứu phụ tải là cung cấp đầy đủ biểu đồ phụ tải hệ thống từ các ngành con và các hộ sử dụng cuối cùng Trong nghiên cứu phụ tải khách hàng, nghiên cứu khảo sát thị trường là được sử dụng để thu được thông tin về các thiết bị sử dụng, công nghệ của thiết bị và những mẫu sử dụng cuối cùng

Số liệu nghiên cứu khảo sát thị trường cho nghiên cứu phụ tải được thực hiện khi chia lẻ biểu đồ hệ thống theo các loại phụ tải cuối cùng được yêu cầu Việc thu thập các thông tin sử dụng cuối cùng qua khảo sát nghiên cứu thị trường có thể thay cho kiểu thu thập tương tự bằng các bộ truyền dữ liệu hoặc các thiết bị giám sát khác

Sự chính xác các thông tin về sử dụng cuối cùng được thu thập qua khách hàng khảo sát nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào mức độ thiết kế mẫu Số liệu thống

kê càng kém có thể đưa ra kết quả là không có ích, vì vậy gây nguy hiểm toàn bộ nỗ lực liên quan đến nghiên cứu phụ tải Quá trình thiết kế mẫu cho nghiên cứu phụ tải thông thường được thiết lập rõ ràng hiện tượng Mục tiêu của nghiên cứu phụ tải là xác định số lượng, yêu cầu chính xác, đặc tính mẫu và những thành kiến là tiêu chuẩn quan trọng để xem xét

Trong nghiên cứu phụ tải thiết kế mẫu thường là trên cơ sở phân tích sự thay

đổi của số lượng biểu đồ phụ tải chủ yếu Tiếp cận phân lớp mẫu đầu tiên thiết lập

số lượng các lớp trên cơ sở các ngành và các ngành con Sự thay đổi tiêu thụ điện hàng năm của các ngành con, sự tin tưởng khoảng thời gian và sai số tương ứng xác

định cuối cùng kích cỡ thực tế của mẫu

Trong thời gian nghiên cứu phụ tải, biểu đồ phụ tải trung bình ngành và các ngành con được xây dựng bởi các số liệu trung bình theo khoảng thời gian của phụ tải thuộc về các ngành hoặc các ngành con giống nhau

Biểu đồ phụ tải trung bình của ngành ( hoặc các ngành con ) được tiêu chuẩn hoá một số lượng biểu đồ phụ tải chẳng hạn như tiêu thụ điện hàng năm, công suất

đỉnh hằng năm, công suất cực đại trung bình

Trang 39

Số liệu nghiên cứu phụ tải thông thường được thu thập bằng việc lắp đặt các

đo đếm theo thời gian và thực hiện các khảo sát điều tra khách hàng Thu thập, quản

lý và xử lý số liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng số liệu

3.3 Soạn thảo và phê chuẩn số liệu

Tất cả các kết quả phải được đảm bảo sai số tự do của máy móc và con người

để sử dụng cho phân tích Các kiểm tra phê chuẩn số liệu có thể truy cập các sai số này nếu những ảnh hưởng của chúng là không quan trọng Những đặc tính kỹ thuật phải được sử dụng cho soạn thảo và phê chuẩn số liệu

Phê chuẩn số liệu là mục đích đặc biệt cần thiết lập: dữ liệu đầy đủ và chính xác Hai dạng kỹ thuật phổ biến cho phê chuẩn số liệu là giác quan và giải tích

Kỹ thuật giác quan bao gồm điều tra quan sát các dữ liệu bằng việc nhận dạng các dữ liệu không bình thường và các chuỗi dữ liệu bị lỗi Đồ thị số liệu được

vẽ để nhận ra bất kỳ các vần đề trong số liệu ví dụ nhu cầu cao hoặc thấp không bình thường, nhầm chu kỳ, nhầm số liệu điều tra quan sát cung cấp cơ sở chi tiết hơn đánh giá phân tích số liệu Kỹ thuật giải tích làm hợp lý số liệu là ngay thẳng hơn và các sai số dữ liệu nhận dạng đặc biệt hơn

Các ứng dụng giải tích có thể được sử dụng để đánh giá quy mô của số liệu nhầm lẫn Cả hai ứng dụng giải tích và quan sát ( trình bày đồ thị ) có thể được sử dụng để xác định vị trí của số liệu bị nhầm lẫn

Số liệu theo khoảng thời gian có thể được sử dụng để đánh giá tổng tiêu thụ

điện của khách hàng với khoảng thời gian ghi số liệu Giá trị đánh giá của tiêu thụ

điện này sau đó có thể được so sánh với tiêu thụ điện thực tế của khách hàng với các

kỳ giống nhau, có thể đạt được từ các bảng hoá đơn Nếu hai kiểu số liệu các kỳ giống nhau là không thể có được, sự so sánh trên cơ sở tiêu thụ trung bình hàng ngày có thể được sử dụng như một phương pháp khác

Sự chính xác của đánh giá tiêu thụ điện từ số liệu theo khoảng thời gian phụ thuộc lớn vào chính điểm của số liệu ví dụ sự chính xác đánh giá tiêu thụ điện từ số

Trang 40

liệu với khoảng thời gian dài sẽ ít quan trọng hơn với các khoảng thời gian ngắn hơn

Sự chính xác của số liệu cũng có thể được kiểm tra bằng việc ước lượng các thông số biểu đồ phụ tải quan trọng ví dụ công suất đỉnh, công suất trung bình, công suất cực tiểu, độ lệch tiêu chuẩn của công suất trung bình và hệ số phụ tải trung bình Những thông số này của khách hàng là được so với các giá trị tương tự cho các khách hàng khách cùng ngành

Soạn thảo số liệu liên quan đến loại trừ các sai số của bộ dữ liệu Xây dựng lại số liệu và thay thế hầu như được sử dụng phổ biến để đưa ra sai số từ dữ liệu Các sai số có thể được cho phép trong số liệu nếu các ảnh hưởng là không quan trọng

Các kỹ thuật xây dựng lại bộ dữ liệu được sử dụng để thay thế các số liệu nhầm lẫn Các giá trị trung bình và lân cận gần nhất thường được sử dụng để thay thế các số liệu bị lỗi

Tất cả các giá trị bị lỗi với một khoảng thời gian ghi chép có thể được thay thế giá trị trung bình với một chu kỳ giống nhau Các giá trị lỗi thay phiên nhau cho một chu kỳ có thể được thay thế bằng các giá trị với chu kỳ tương tự ở ngày hôm trước hoặc ngày tiếp theo ( giá trị lân cận )

Ngày đăng: 28/02/2021, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w