Hoạch định chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH 1 thành viên thiết bị đo điện giai đoạn 2006 2010 Hoạch định chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH 1 thành viên thiết bị đo điện giai đoạn 2006 2010 Hoạch định chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH 1 thành viên thiết bị đo điện giai đoạn 2006 2010 luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1luận văn thạc sĩ khoa học
Hoạch định chiến lược kinh doanh của
Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện giai đoạn 2006 - 2010
Ngành: quản trị kinh doanh
Hoàng Bắc Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Phan Thị Ngọc Thuận
Hà Nội 2006
Trang 2Lời đầu tiên cho phép tôi được nói những lời cảm ơn tới Phó giáo sư
- Tiến sĩ Phan Thị Ngọc Thuận, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi
hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, gia đình và bạn bè những người đã hết sức giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng chí lãnh đạo cơ quan
đã hết lòng tạo điều kiện cho tôi trong học tập và công tác
Lời cảm ơn tiếp đến tôi xin được gửi đến Ban lãnh đạo Công ty Thiết
bị đo điện, các đồng chí Trưởng, Phó phòng ban đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian tôi thực hiện bản luận văn này
Trang 3Mục lục
Phần 1: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược 4
I Khái quát về ngành sản xuất thiết bị điện Việt Nam 4
Phần II: Phân tích các căn cứ hình thành chiến lược 31
I Giới thiệu về Công ty Thiết bị Đo điện 31
II.2 Phân tích sự ảnh hưởng của các sự kiện chính trị 48 II.3 Phân tích sự ảnh hưởng của các điều kiện xã hội 50 II.4 Phân tích sự thay đổi của luật pháp chính sách 51 II.5 Phân tích sự thay đổi của công nghệ 53 III Phân tích môi trường ngành sản xuất thiết bị điện 54
III.3 Phân tích áp lực của nhà cung ứng 64 III.4 Phân tích áp lực của sản phẩm thay thế 66 III.5 Phân tích đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 66
IV Phân tích nội bộ công ty thiết bị đo điện 67
III Hình thành giải pháp thực hiện chiến lược 81
Phụ lục tham khảo
Trang 4Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
phần mở đầu
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhờ đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế đất nước đã có những bước phát triển nhanh chóng Tỷ
lệ tăng trưởng GDP liên tục tăng trưởng qua các năm và đang đi vào ổn định
và bền vững
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng
định phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác trong bối cảnh hiện nay khi mà xu hướng quốc tế hóa đang ngày càng phát triển, sự khan hiếm các nguồn lực ngày càng gia tăng, nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội luôn biến đổi làm cho môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro trong một môi trường kinh doanh như vậy các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết cách phân tích, nắm bắt xu hướng biến
động của môi trường kinh doanh và tìm ra những nhân tố then chốt Trên cơ
sở đó đề ra cho mình những chiến lược kinh doanh đúng đắn mới có cơ hội tránh được những nguy cơ rủi ro, đảm bảo được sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp mình
Thực tế đã chứng minh, chỉ có những doanh nghiệp nào xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh đúng đắn thì doanh nghiệp đó không ngừng phát triển Ngược lại, những doanh nghiệp không có chiến lược cụ thể hoặc hoạch định chiến lược không đúng thì luôn hoạt động cầm chừng và thụ động trước những biến đổi của môi trường kinh doanh mà không thể phát triển
được, thậm chí có thể phải trả giá đắt cho những quyết định kinh doanh sai lầm của mình Điều này giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của chiến lược kinh doanh đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp không nằm ngoài việc
Trang 5Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
xây dựng và lựa chọn một chiến lược kinh doanh đúng đắn, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện là một đơn vị thành viên của Tổng Công ty Thiết bị kỹ thuật điện (thuộc Bộ Công nghiệp) được thành lập trên cơ sở phân xưởng đồng hồ tách ra từ Nhà máy Chế tạo Biến thế vào ngày
01 tháng 4 năm 1983 Với mặt hàng truyền thống là dụng cụ đo điện mà công tơ đo điện là sản phẩm chủ đạo thì thị trường của Công ty đang ngày một bị thu hẹp Lý do chính là nhu cầu công tơ cơ trên thị trường đang ngày một bão hoà, thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của các Công ty nước ngoài Thực trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Do vậy, để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay và cả trong tương lai thì việc nghiên cứu đề ra các luận cứ xây dựng chiến lược kinh doanh tại Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện là hết sức cần thiết Nhất là trong bối cảnh Công ty đang chuẩn bị sáp nhập với Tổng Công ty để trở thành Công
ty mẹ (cả Tổng Công ty chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình Công ty Công ty con)
mẹ-2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng những lý luận và phương pháp luận xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vào việc nghiên cứu đưa ra chiến lược kinh doanh tại Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vận dụng những lý luận và phương pháp luận xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vào việc nghiên cứu đưa ra chiến lược kinh doanh tại Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện
Phạm vi nghiên cứu là Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện
Trang 6Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
4 Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa vào phương pháp duy vật biện chứng để nghiên cứu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như thống kê, phân tích kinh tế, các mô hình dự báo và cách tiếp cận hệ thống
- Xác lập những luận cứ cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh tại Công ty TNHH 1 thành viên Thiết bị đo điện
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của đề tài gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược
Chương 2: Các căn cứ hình thành chiến lược
Chương 3: Hình thành chiến lược
Trang 7Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
phần 1 cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược
I Khái quát về ngành sản xuất thiết bị điện Việt Nam I.1 Lịch sử hình thành và phát triển
I.1.1 Thời gian trước năm 1985
Trong thời gian này ngành chế tạo thiết bị điện Việt Nam hầu hết tập trung vào các cơ sở Quốc doanh Cơ chế sản xuất theo kế hoạch hoá tập trung bao cấp Sản phẩm thiết bị điện chủ yếu là các loại biến áp phân phối công suất đến 630kVA, điện áp đến 35kV Máy điện quay phần lớn là động cơ điện không đồng bộ 3 pha công suất đến 75kW, điện áp 380V sử dụng trong công nghiệp và nông nghiệp Một số sản phẩm điện dân dụng, khí cụ điện hạ áp như: quạt điện, công tắc, ổ cắm, cầu dao cách ly Thiết bị đo lường, bảo vệ:
đồng hồ ampe, vôn, cầu chì, áp-tô-mát
Phần lớn sản phẩm thiết bị điện trong thời gian này chế tạo theo mẫu mã của các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu Việc đánh giá chất lượng sản phẩm dựa theo TCVN, mà hầu hết trong giai đoạn này TCVN lấy Tiêu chuẩn của khối SEV
Trình độ công nghệ chế tạo lạc hậu, chắp vá
Do cầu vượt quá cung cho nên sản phẩm vẫn được tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà nước
I.1.2 Thời gian từ năm 1986 đến nay
Với cơ chế chính sách xoá bỏ bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường của Đảng và Nhà nước, cùng với các ngành kinh tế khác, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện, từ Trung ương đến địa phương đã sản xuất khá nhiều mặt hàng thiết bị điện, tương đối đa dạng về chủng loại, chất lượng ngày được
Trang 8Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
nâng cao Đã đáp ứng phần nào nhu cầu của thị trường trong nước và một phần nhỏ xuất khẩu
Ngoài những nhà máy, xí nghiệp đã được thành lập trong giai đoạn trước 1985, thời gian này, một số doanh nghiệp trực thuộc các Bộ hoặc các Sở công nghiệp của các thành phố, các tỉnh cũng như Công ty liên doanh, Công
ty TNHH được thành lập Cho đến nay các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện
trong cả nước phân bố như sau:
Tổng số: 49
Trong đó: + Bộ Công nghiệp quản lý: 19 -Tổng Công ty TBĐ: 8
-Tập đoàn Điện lực: 6
- Công ty Gốm sành sứ : 2
-Tập đoàn Than và Khoáng sản: 2
- Tập đoàn Dệt may: 1
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 8
+ Bộ Quốc phòng: 4
+ Tổng công ty Bưu chính viễn thông: 1
+ Sở công nghiệp các Thành phố và Tỉnh: 17
I 2 Các sản phẩm chủ yếu
Nhìn chung, các sản phẩm thiết bị điện do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đã đáp ứng được phần nào yêu cầu trong nước Mức tăng trưởng hàng năm của ngành chế tạo thiết bị điện đạt từ 10 - 12% Các loại sản phẩm chính trong giai đoạn này bao gồm:
Trang 9Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
I.2.1 Nhóm máy điện tĩnh:
- Chủ yếu các loại máy biến áp phân phối 1 pha, 3 pha, máy biến áp trung gian dung lượng đến 10MVA với các cấp điện áp: 6,12,15,22 và 35kV
- Các loại máy biến áp chuyên dùng: Biến áp cung cấp cho hệ thống lọc bụi công suất đến 150 kVA, điện áp 80 kV Các loại biến áp cho lò điện hồ quang dung lượng đến 10MVA, điện áp đến 15 kV và các loại biến áp chỉnh lưu
- Bước đầu sản xuất máy biến áp chuyên tải đến 63 MVA, điện áp 110kV( cho đến nay nhà máy thiết bị điện Đông Anh đã sản xuất 12 máy biến
áp dung lượng 40 MVA - 63 MVA , 110 kV và đang chuẩn bị sản xuất biến áp
125 MVA, 220 kV; công ty Chế tạo biến thế - ABB đang chế thử biến áp 40 MVA, 110 kVvà công ty Cơ Điện Thủ Đức cũng đang tiến hành chế thử )
- Các loại biến áp dân dụng: ổn áp, subvoltor
I.2.2 Nhóm máy điện quay:
- Các loại động cơ không đồng bộ rô to ngắn mạch 1 pha công suất đến 2,2 kW, 3 pha công suất đến 200 kW, rô to dây quấn công suất đến 675 kW
điện áp 380V
- Các loại máy phát điện một chiều công suất đến 15kW , điện áp 110 - 220V
- Các loại máy phát xoay chiều công xuất đến 50 kW, điện áp 400V
- Các loại động cơ không đồng bộ 3 pha rô to dây quấn công suất đến
1000kW, điện áp 3 - 6kV
I.2.3 Nhóm khí cụ điện cao, hạ áp:
- Khí cụ điện trung áp:
+ Cầu dao cách ly điện áp đến 35kV, dòng điện đến 630A
+ Các loại cầu chì rơi, cầu chì ống, dòng điện chịu được đến 100A điện áp đến 35kV
Trang 10Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
+ Các loại chống sét van, chống sét ống điện áp đến 35kV
+ Các loại biến điện áp, biến dòng điện điện áp 35kV
-Khí cụ điện hạ áp
+ cầu dao cách ly dòng điện đến 3000 A
+ áp-tô-mát 1 pha
+ áp-tô-mát 3 pha dòng điện đến 600 A + Khởi động từ dòng điện đến 450 A
+Các loại biến điện áp, biến dòng điện
I.2.4 Nhóm dây, cáp điện và vật liệu điện:
- Cáp XPLE trung và hạ áp
- Dây bọc PVC, dây cáp nhôn A và ACSR
- Dây điện từ, dây đồng dẹt
- Cáp quang
- Dây điện dân dụng
- Các loại sứ cách điện đường dây, sứ cách điện biến áp và cho các thiết
bị điện khác
- Sơn cách điện
I 2.5 Nhóm thiết bị điện dân dụng:
- Công tắc, ổ cắm, cầu chì, quạt điện, balast đèn ống ap tô mát 1 pha
Trang 11Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
I.2.7 Tủ bảng điện phâm phối hoặc tủ trạm biến áp
- Chủ yếu là các tủ điện hạ áp cho các trạm biến áp phân phối
Kết luận : Nhìn lại các doanh nghiệp Việt Nam trước đây và các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất thiết bị điện nói riêng đều hoạt động theo qua điểm sản xuất Sản phẩm làm ra được bao tiêu toàn bộ nên các hoạt động Marketing hầu như là chưa có Chủng loại sản xuất đơn điệu
và chất lượng còn thấp Đến nay, các doanh nghiệp trong ngành đã có những tiến bộ đáng kể Sản phẩm đã dược đa dạng hoá và hàm lượng nội
địa hoá ngày càng được nâng cao Các doanh nghiệp cũng đã nhận ra rằng, cũng như các ngành công nghiệp khác, hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp phải xuất phát từ thị trường Trong đó, xây dựng chiến lược kinh doanh tốt là không thể thiếu được trong sản xuất kinh doanh Chiến lược kinh doanh phải được điều tiết linh hoạt, phối hợp tốt với các chiến lược khác trong chiến lược chung của toàn công ty
Có như vậy thì doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại và phát triển trên thị trường.
II Cơ sở về hoạch định chiến lược
II.1 Một số khái niệm
II.1.1 Khái niệm về chiến lược
Nguồn gốc và sự phát triển của thuật ngữ chiến lược: thuật ngữ chiến lược dù ở phương đông hay phương tây khái niệm này cũng xuất phát từ nghệ thuật quân sự từ thời xa xưa và trong phạm vi quân sự cũng có nhiều quan niệm về chiến lược Theo từ điển Larouse coi “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng” Tác giả Clausewitz cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ chiến đấu ở vị trí ưu thế” Cũng vậy Napoleon đã nói :
Trang 12Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
“Nghệ thuật của chiến tranh là một nghệ thuật đơn giản, nhưng tất cả phải chấp hành”
ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, khi vạch ra kế hoạch và chỉ huy chiến tranh, người ta sử dụng các khái niệm "miếu toán" với
ý nghĩa là chiến lược Từ thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên nhà sử học Tây Tấn tên là Tư Mã Bưu (khoảng năm 306) khi viết sách đã dùng từ "chiến lược"
ở phương Tây, từ chiến lược bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ "stategem" hoặc "stateges" Sau này nhiều nước sử dụng từ chiến lược lý giải với nghĩa chung là "nghệ thuật thống soái" về sau dần dần có nội dung của từ chiến lược ngày nay, khác với chiến thuật và chiến dịch
Nhiều người cho rằng tác phẩm nói về chiến lược thực sự là cuốn "lý luận chung về chiến thuật" do một người Pháp tên là Ghibert viết năm 1772, vì trong cuốn này có nêu ra khái niệm "Đại chiến thuật" và "tiểu chiến thuật", trong đó khái niệm "Đại chiến thuật " có ý nghĩa tương đương với chiến lược ngày nay Còn "tiểu chiến thuật" có ý nghĩa như chiến thuật
Trong một thời gian dài, từ chiến lược chỉ được dùng như là một thuật ngữ quân sự Trong quân sự khái niệm chiến lược mang ý nghĩa so sánh với chiến dịch và chiến thuật Chiến dịch phải phục tùng chiến lược và chiến thuật cũng vậy Trong cuốn "Vấn đề chiến lược trong chiến tranh cách mạng Trung Quốc" Mao Trạch Đông đã khái quát một cách khoa học khái niệm về chiến lược ở góc độ quân sự Ông viết "Vấn đề chiến lược là vấn đề nghiên cứu quy luật toàn cục của chiến tranh", "Phàm là mang tính chất của các phương diện
và các giai đoạn, tất cả đều là toàn cục của chiến tranh"
Theo đà phát triển của đời sống kinh tế xã hội, ở thời kì cận đại từ chiến lược dần được sử dụng vào lĩnh vực chính trị, các khái niệm chiến lược cách mạng, chiến lược chính trị nối tiếp nhau ra đời
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở phương tây người ta lại lưu hành
Trang 13Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
khái niệm chiến lược quốc gia Chiến lược quốc gia là chiến lược ở trên tầm vĩ mô, là chiến lược cao nhất ở tầm quốc gia Nó không những gộp chiến lược chính trị, kinh tế, quân sự thành một khối mà còn có sự chỉ đạo thực tế đối với chiến lược của các lĩnh vực Chiến lược này còn gọi là đại chiến lược
Ngày nay hòa bình và phát triển đã trở thành chủ đề của đời sống kinh
tế thế giới, và do vậy ra đời khái niệm chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vào những năm 1970, do hậu quả của khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa và nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật làm cho việc dự đoán tương lai về các đối thủ cạnh tranh và về sự biến đổi của thị trường ngày càng phức tạp Trong điều kiện đó, việc lập kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp dựa vào phương pháp ngoại suy xu thế đã không đảm bảo được tính mềm dẻo để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng
Do vậy nét đặc trưng cơ bản của tầm nhìn dài hạn đòi hỏi phải hướng tới sự thích ứng mềm dẻo cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của môi trường và trước những thời cơ mới Các nhà quản trị gọi nét đặc trưng này
là mang tính chiến lược
Như vậy thuật ngữ "Chiến lược" xuất phát từ lĩnh vực quân sự Trong quân sự, chiến lược được hiểu là "Nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế được huy động vào chiến tranh nhằm chiến thắng
kẻ thù" ở đây, hai yếu tố cơ bản của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ Tạo
ra được các yếu tố bất ngờ cho đối phương và sức mạnh trong cạnh tranh là yếu tố cơ bản đảm bảo thắng lợi Ngày nay những yếu tố này cũng được coi là những yếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh doanh
II.1.2 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự Trong quân sự hai yếu tố cơ bản của chiến lược là "cạnh tranh và bất ngờ", trong kinh doanh nó cũng được coi là yếu tố cơ bản để chiến thắng, vì thế cho đến nay khi du nhập vào lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế đã làm xuất hiện
Trang 14Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
những thuật ngữ mới trong ngôn ngữ khoa học tại các lĩnh vực này Ngày nay
ta có thể gặp các khái niệm ở mọi nơi như: chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược dân số, chiến lược phát triển ngành, chiến lược phát triển vùng và có những chiến lược tầm vi mô ở các doanh nghiệp: chiến lược phát triển và mở rộng thị trường, chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược kinh doanh
Mặc dù đã trải qua một quá trình dài nghiên cứu và áp dụng song cho
đến nay vẫn tồn tại rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Alain Caules Martinet là tác giả cuốn "chiến lược" người được giải thưởng lớn của Havard expansion năm 1983 cho rằng: "chiến lược của doanh nghiệp nhằm phác họa những quĩ đạo tiến triển vững chắc và lâu dài, xung quanh những quĩ đạo đó có thể sắp xếp những quyết định và hoạt chính của doanh nghiệp"
Nhóm tác giả G.D.Smith, D.Bitrell trong cuốn "chiến lược và sách lược kinh doanh" lại đưa ra quan điểm: "chiến lược đặt ra như là kế hoạch tổng quát dẫn dắt, hướng dẫn công ty đi đến mục tiêu mong muốn, kế hoạch này tạo cơ sở cho các chính sách và các thủ pháp tác nghiệp"
M.Porter lại cho rằng: "chiến lược là nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh tranh" Cũng theo hướng tiếp cận đó, K.Ohmac cho rằng: "mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho một phía,
đánh giá chính xác thời điểm tiến công hay rút lui, xác định đúng đắn ranh giới của sự thỏa hiệp"nhưng suy cho cùng, tất cả các quan niệm trên đều nêu lên nội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh, đó là: "định hướng hoạt động
có mục tiêu của doanh nghiệp cho một thời kỳ dài và hệ thống các chính sách, biện pháp, điều kiện để thực hiện các mục tiêu đề ra"
Trang 15Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
Như vậy có thể hiểu chiến lược kinh doanh bao gồm:
- Mục tiêu và phương hướng đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển vững chắc liên tục trong một thời kỳ dài
- Các chính sách, biện pháp cơ bản quan trọng như: lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, phát triển thị trường và khách hàng
- Trình tự hành động và các điều kiện để thực hiện mục tiêu đề ra
Hoạch định chiến lược kinh doanh thực chất là hướng vào 4 câu trả lời quan trọng:
- Hiện nay doanh nghiệp đang ở đâu?
- Doanh nghiệp muốn đến đâu?
- Doanh nghiệp sẽ đi đến đó bằng cách nào?
- Làm thế nào để kiểm soát được tiến triển của doanh nghiệp?
Vậy, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp
II.2 Quy trình hoạch định chiến lược
II.2.1 Phân tích những căn cứ để xây dựng chiến lược
Trước khi họach định chiến lược kinh doanh, nhà quản trị phải tiến hành một loạt các phân tích giúp cho chiến lược hình thành có căn cứ khoa học Các vần
đề cần thiết phải phân tích để làm căn cứ hế hoạch hoá chiến lược bao gồm:
- Phân tích môi trường kinh doanh
- Phân tích mối đe dọa của đối thủ cạnh tranh
- Phân tích áp lực của các sản phẩm thay thế
- Phân tích quyền lực của khách hàng
Trang 16Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Phân tích quyền lực của nhà cung cấp
- Phân tích nội bộ
II.2.2 Hình thành chiến lược
- Chiến lược cấp doanh nghiệp: Quá trinh tăng trưởng và phát triển đặt
doanh nghiệp đứng trước sự chọn lựa về lĩnh vực kinh doanh và thị trường tiêu thụ Quá trình phát triển của doanh nghiệp có thể bắt đầu từ việc tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh nào đó, sau đó thực hiện phát triển thị trường và tiến hành việc đa dạng hoá sản phẩm
Một quyết định quan trọng khi doanh nghiệp đã phát triển là có đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ hay không? Khi doanh nghiệp chỉ kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ mà không tiến hành đa dạng hóa thì chiến lược của doanh nghiệp chính là chiến lược cạnh tranh (chiến lược cấp kinh doanh)
Khi doanh nghiệp tiến hành đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ thì việc sử dụng các phương pháp phân tích cấu trúc kinh doanh sẽ đưa ra những gợi ý tốt
định hướng hoạt động của các đơn vị kinh doanh
- Chiến lược cấp kinh doanh và chức năng: Để có thể cạnh tranh một
cách hiệu quả, các doanh nghiệp cần nhận dạng được những cơ hội và đe dọa trong môi trường kinh doanh cũng như xây dựng và phát triển năng lực phân biệt nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh Để chọn các chiến lược cạnh tranh trên cơ sở các năng lực phân biệt và lợi thế cạnh tranh, các nhà quản trị cần hiểu nền tảng của chiến lược cạnh tranh, nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh, từ đó gắn nó với các chiến lược đầu tư
Chiến lược cạnh tranh được hỗ trợ và bảo đảm bởi các chiến lược cấp chức năng Việc hình thành và phát triển các chiến lược chức năng phải tạo ra
sự cộng hưởng các chức năng nhằm phát huy và phát triển các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Các chiến lược về marketing, tài chính, sản xuất, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực, hậu cần phải phù hợp với chiến lược
Trang 17Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
cạnh tranh đã chọn Để lập luận và đưa ra các phương án chiến lược, các công
ty trước đây đã sử dụng rất rộng rãi các mô hình cổ điển như BCG, Mc Kinsey nhưng hiện nay được áp dụng phổ biến nhất là mô hình phân tích SWOT
II.3 Phân tích các căn cứ để xây dựng chiến lược
II.3.1 Phân tích môi trường vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời một phần cho câu hỏi: Doanh nghiệp đang phải đối mặt với vấn đề gì?
Mặc dù có rất nhiều vấn đề khác nhau về môi trường vĩ mô có thể bàn
đến, ở đây chỉ đề cập đến năm vấn đề quan trọng có ảnh hưởng nhiều nhất đến bất cứ doanh nghiệp nào Bao gồm: các yếu tố kinh tế, các sự kiện chính trị, các điều kiên xã hội, sự thay đổi của luật pháp chính sách và sự thay đổi của công nghệ Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể từng yếu tố và những tác động của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
II.3.1.1 Phân tích môi trường kinh tế
Nền kinh tế tăng trưởng tốc độ cao sẽ tác động đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì tăng trưởng làm thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng lên nhanh chóng, khả năng thanh toán của họ cũng tăng lên và nhu cầu mua hàng tăng, môi trường kinh tế trở nên hấp dẫn Kinh tế tăng trưởng cao nghĩa là hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tăng (đây cũng là nhân
tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế), khả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp cao (tích tụ từ nội bộ) nhu cầu đầu tư của các loại hình doanh nghiệp tăng (doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất), nhu cầu các sản phẩm mọi mặt tăng và môi trường kinh doanh hấp dẫn, nhiều cơ hội, ít rủi ro, khả năng cạnh tranh ngày càng cao
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ lạm phát tăng, giá cả hàng hóa tăng, sức mua giảm sút, doanh nghiệp tìm mọi cách để giữ khách hàng, do đó
Trang 18Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
sự cạnh tranh trên thị trường sẽ khốc liệt
Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ tạo cho doanh nghiệp có cơ hội thuê được nguồn nhân công rẻ nhưng đi kèm theo đó là sự phát sinh của các dịch vụ cạnh tranh
Đầu tư nước ngoài tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tiếp cận với những công nghệ tiên tiến hơn nhưng cũng cùng với đó là những mối đe dọa từ sự cạnh tranh của hàng hoá cùng loại nhưng có
ưu thế mạnh hơn về chất lượng, giá cả và dịch vụ đi kèm
Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tăng lãi suất là mối đe dọa và giảm lãi suất là cơ hội để mở rộng sản xuất Tỉ lệ lãi suất còn quy định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư Chi phí này là nhân tố chủ yếu khi quyết định tính khả thi của chiến lược
Ví dụ: một công ty có thể bỏ vốn vào một chiến lược mở rộng rất tham vọng bằng nguồn tiền vay Hành động này có thể đưa lại thành công lớn nếu tỉ
lệ lãi suất thấp và được dự đoán là ít biến động Nhưng sẽ là thất bại nếu các
dự đoán đưa ra khả năng tăng mạnh lãi suất
Về tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái là sự so sánh và giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền của các quốc gia khác Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến tính cạnh tranh của sản phẩm do công ty sản xuất trên thị trường quốc tế Khi giá trị của đồng tiền trong nước thấp so với các đồng tiền khác, hàng hóa sản xuất ở trong nước sẽ tương đối rẻ hơn, trái lại hàng hóa sản xuất ở nước ngoài sẽ tương đối đắt hơn Một đồng tiền thấp hay đang giảm giá sẽ làm giảm sức ép từ các công ty nước ngoài và tạo ra nhiều cơ hội
để tăng sản phẩm xuất khẩu Ngược lại khi giá trị đồng tiền trong nước tăng, hàng nhập khẩu trở nên tương đối rẻ hơn và sự đe dọa của các công ty nước ngoài tăng lên Giá trị đồng tiền tăng cũng hạn chế cơ hội xuất khẩu sản phẩm
Trang 19Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
ra nước ngoài, do chi phí sản xuất trong nước tương đối cao
Như vậy, khi tỷ giá hối đoái giảm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên cả trên thị trường trong và ngoài nước vì giá bán của doanh nghiệp thấp hơn đối thủ cạnh tranh Khi tỷ giá hối đoái tăng, giá bán cao hơn
đối thủ cạnh tranh và như vậy làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Về quan hệ giao lưu quốc tế: những thay đổi về môi trường quốc tế có thể xuất hiện cả những cơ hội và những nguy cơ về việc mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước của một công ty Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay mang lại nhiều cơ hội cho công ty các nước đầu tư vào Đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh ngày càng mạnh hơn ở thị trường trong nước
Ngoài những vấn đề đã nghiên cứu ở trên, các nhân tố khác còn có thể
ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ
II.3.1.2 Phân tích sự ảnh hưởng của các sự kiện chính trị đến việc hoạch
định chiến lược của Công ty
Các yếu tố chính trị là nền tảng quy định các yếu tố khác của môi trường kinh doanh Có thể nói đường lối quan điểm nào hệ thống chính trị pháp lý chính sách nào thì sẽ có môi trường kinh doanh đó Có thể nói không có một môi trường kinh doanh nào có thể cách ly quan điểm chính trị cũng như nền tảng pháp luật
Quan điểm đường lối chính trị hoạt động của các cơ quan chức năng nhà nước có thể tạo ra những cản trở đối với hoạt kinh doanh của doanh nghiệp và bên cạnh đó nó cũng tạo được những thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ta
được phép gặp gỡ trao đổi tham quan tìm hiểu học hỏi và tìm kiếm các cơ hội
Trang 20Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
đầu tư thiết lập được những quan hệ hợp tác liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài
II.3.1.3 Phân tích sự ảnh hưởng của các điều kiện xã hội
Các nhân tố văn hoá xã hội ảnh hưởng một cách chậm chạp nhưng rất sâu sắc đến môi trường kinh doanh sự xung đột về văn hoá, xã hội, lợi ích trong quá trình mở cửa và hội nhập…đã đặt các yếu tố này ở vị trí quan trọng trong các yếu tố chung của môi trường kinh doanh hiện nay
Trong thực tế các vấn đề về phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo tín ngưỡng… có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu thị trường các tác
động này cần đặc biệt chú ý trong những lĩnh vực du lịch, chế biến thực phẩm, may mặc, giầy da…trình độ dân trí có ảnh hưởng đến thẩm mỹ thị hiếu mẫu mã chủng loại mầu sắc…
Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi hoặc trình độ dân trí nâng cao thì xuất hiện một mối đe doạ mới, nếu doanh nghiệp không nhanh chóng nắm bắt để thay đổi theo nhu cầu thi trường thì sẽ dẫn đến thất bại nhưng ngược lại doanh nghiệp sẽ không những củng cố được vị trí của mình mà còn thêm được những khách hàng tiềm năng mới Điều này đòi hỏi các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược phải phân tích kịp thời những thay đổi này
II.3.1.4 Phân tích sự thay đổi của luật pháp, chính sách
Hệ thống pháp luật các chính sách chế độ đồng bộ hoàn thiện tạo khuôn khổ pháp lý và giới hạn cho việc bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp nó cũng là điều kiện căn bản để thực hiện nguyên tắc bình đẳng tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trong kinh doanh Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuê mướn,, cho vay, an toàn, quảng cáo, nơi đặt nhà máy, vệ sinh môi trường Các yếu tố về luật pháp bao gồm:
Trang 21Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Các quy định về chống độc quyền
- Các luật về bảo vệ môi trường
- Các sắc luật về thuế
- Các chế độ đãi ngộ đặc biệt
- Các quy định trong lĩnh vực ngoại thương
- Các quy định về thuê mướn và khuyến mãi
Các chính sách của Chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp Sự ổn định được thể hiện ở chỗ: Thể chế, quan điểm chính trị, sự nhất quán trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Vì vậy khi hoạt động kinh doanh trước hết đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm và nắm vững luật pháp Luật pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Các ảnh hưởng đó là:
- Các quy định về giao dịch: Hợp đồng, sự bảo vệ bằng sáng chế, phát minh, bảo vệ nhãn hiệu thương mại, bí quyết công nghệ, các tiêu chuẩn kế toán
- Môi trường luật pháp chung: Luật môi trường, những quy định về sức khoẻ và an toàn
- Luật thành lập doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực kinh doanh
Trang 22Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
II.3.1.5 Phân tích sự thay đổi của công nghệ
Tiến bộ kỹ thuật công nghệ của các nước trên thế giới cần phải được theo dõi nắm bắt để học hỏi, chuyển giao công nghệ hoặc có giải pháp thị trường hợp lý Các tiến bộ công nghệ đó có thể sẽ dẫn tới sự xuất hiện các sản phẩm mới thay thế hoặc làm cho sản phẩm hiện tại có sức cạnh tranh mạnh hơn
Điều đó có thể gây nguy hại cho thị trường việc đổi mới công nghệ diễn ra
đến chóng mặt bởi do tiến bộ khoa học và những ứng dụng của khoa học vào lĩnh vực sản xuất rất thành công
Trong môi trường kinh doanh, các nhân tố kỹ thuật công nghệ ngày càng
có vai trò quan trọng, ngày càng có tính chất quyết định đối với doanh nghiệp
Điều đó được ước định bởi sự ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện của nhân tố này vào quá trình lao động
Các ảnh hưởng của kỹ thuật công nghệ cho thấy các cơ hội và mối đe dọa cần phải được xem xét trong quá trình soạn thảo và thực thi chiến lược Tiến bộ kĩ thuật và công nghệ ảnh hưởng một cách trực tiếp và quyết định đến hai yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường đó là chất lượng và giá bán cuả các sản phẩm đó Do đó, nó có tác
động đến thị trường, nhà cung cấp, khách hàng, quá trình sản xuất và vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Không phải tất cả các lĩnh vực đều ảnh hưởng như nhau khi công nghệ phát triển chỉ có những ngành có hàm lượng công nghệ trong sản phẩm là cao mới chịu nhiều tác động và ngược lại
II.3.2 Phân tích môi trường ngành
Môi trường ngành là nơi các doanh nghiệp trực tiếp có những mối quan
hệ liên kết chặt chẽ và cạnh tranh lẫn nhau, bởi vậy nó có tác động rất lớn đến
sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp Đặc biệt là các doanh nghiệp lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp khác trong ngành Trong nền
Trang 23Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
kinh tế thị trường, công cụ được các Công ty và các nhà kinh doanh sử dụng rộng rãi để phân tích môi trường ngành kinh doanh là mô hình phân tích của Michael Porter như sau:
Mô hình 5 áp lực
II.3.2.1 Phân tích đối thủ cạnh tranh
Sự cạnh tranh giữa các công ty đang hoạt động trong ngành
Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành là yếu tố quan trọng tạo ra cơ hội hoặc mối đe doạ cho các công ty Nếu sự cạnh tranh này là yếu các công
ty có cơ hội để nậng giá nhằm thu được lợi nhuận cao hơn Nếu sự cạnh tranh này là gay gắt sẽ dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt về giá cả, có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của các công ty Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành thường chịu sự tác động tổng hợp của ba yếu tố: cơ cấu ngành, mức độ của cầu và những trở ngại ra khỏi ngành
+ Cơ cấu cạnh tranh ngành: đó là sự phân bố về số lượng quy mô của các công ty trong ngành Có thể phân biệt hai loại cơ cấu chính Thứ nhất ngành phân tán bao gồm số lượng lớn các công ty có quy mô vừa và nhỏ không có công ty nào có khả năng chi phối toàn bộ ngành, thứ hai ngành hợp nhất, bao gồm số lượng ít các công ty có quy mô lớn hoặc trường hợp đặc biệt chỉ có một công ty độc quyền như ngành sản xuất điện
+ Mức độ yêu cầu: tình trạng về cầu trong ngành cũng là một yếu tố tác
động mạnh đến sự cạnh tranh tăng nhu cầu tạo ra cơ hội cho việc mở rộng sản
Các đối thủ tiềm ẩn Người bán Các đối thủ hiện có Người mua
Sản phẩm thay thế
Trang 24Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
xuất làm dịu bớt sự cạnh tranh, cầu tăng lên khi thị trường có thêm những người tiêu dùng mới, hoặc tăng sức mua của những người tiêu dùng hiện tại các công ty có thể tăng doanh thu mà không làm ảnh hưởng đến thị trường của công ty khác như vậy tăng cầu đưa đến cơ hội mở rộng sản xuất cho các công ty Ngược lại, khi cầu giảm có người tiêu dùng từ bỏ thị trường của ngành, hoặc sức mua của những người tiêu dùng hiện tại giảm Khi đó sự cạnh tranh của các công ty trở nên mạnh mẽ hơn, một công ty chỉ có thể đạt đến sự tăng trưởng bằng cách lấy đi thị phần của các công ty khác sự biến động của mức cầu phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của ngành
+ Những trở ngại ra khỏi ngành: những trở ngại ra khỏi ngành đe doạ khi cầu đang có xu hướng giảm xuống nếu như trở ngại này là rất khó vượt qua thì các công ty có thể bị buộc chặt vào nhau mặc dù kỳ vọng về thị trường không có gì hứa hẹn tốt đẹp cả và vì lý do sống còn các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh với nhau rất gay gắt để tồn tại bởi vì việc rút lui ra khỏi ngành là không khả quan bằng việc tiếp tục tồn tại nếu rút lui những máy móc thiết bị đã được
đầu tư sẽ khó có cơ hội sử dụng được vào ngành khác và công ty cũng khó có thể bán được các trang thiết bị này bên cạnh đó là những chi phí cố định rất lớn khi ra khỏi ngành như trả lương cho công nhân chưa hết hợp đồng và còn những quan hệ gắn bó tình cảm đối với ngành như những công ty thuộc gia
đình dòng họ…
II.3.2.2 Phân tích áp lực của khách hàng
Người mua được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranhkhi họ đẩy giá cả xuống thấp hoặc họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tăng lên Ngược lại nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo cho công ty cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn Người mua có thể gây áp lực với công ty đến mức nào phụ thuộc vào thế mạnh của họ trong mối quan hệ với công ty
Theo M.Porter, những yếu tố tạo tạo áp lực cho người mua là:
Trang 25Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Khi ngành cung cấp gồm nhiều công ty nhỏ còn người mua chỉ là số ít công ty nhưng có quy mô lớn
- Khi người mua mua với số lượng lớn, họ có thể sử dụng sức mua của mình làm đòn bẩy để yêu cầu được giảm giá
- Khi người mua có thể lựa chọn đơn đặt hàng giữa các công ty cung ứng cùng loại sản phẩm
Có thể đơn cử một trong những trường hợp thể hiện sức ép trên một ngành người mua có ưu thế là một ngành cung cấp các linh kiện ôtô các cơ sở cung cấp các linh kiện ôtô rất nhiều và qui mô nhỏ Khách hàng của họ là những nhà sản xuất ôtô quy mô rất lớn số lượng của các hãng này là rất ít
II.3.2.3 Phân tích áp lực của nhà cung ứng
Người cung cấp được coi là sự đe dọa với công ty khi họ có thể đẩy được mức giá hàng cung cấp cho công ty lên, ảnh hưởng đến mức lợi nhuận của công ty Các công ty thường phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như vật tư, thiết bị, nguồn nhân lực, và các nguồn lực tài chính Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng
Số lượng tổ chức cung cấp ít, người mua khó lựa chọn cơ sở cung cấp Sản phẩm công ty cần mua có rất ít loại sản phẩm có thể thay thế được Bên cạnh những khó khăn do phía cung cấp gây lên nếu như cung cấp càng ít thì mức độ độc quyền cung cấp càng cao và họ trở thành những tập
đoàn độc quyền cung cấp và giá yếu tố đầu vào là hoàn toàn do họ quyết định vấn đề này sẽ gây cho doanh nghiệp sản xuất rất nhiều những khó khăn trong việc tìm kiếm yếu tố đầu vào cho sản xuất Có thể đơn cử một trong những trường hợp như việc tổ chức dầu mỏ OPEC đã quyết định nâng giá gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn thế giới vào đầu những năm 70 vừa qua cũng như việc những nhân viên trong những nghiệp đoàn của phi công họ gây
Trang 26Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
sức ép lên ban lãnh đạo cũng như chính phủ nước sở tại bằng việc đình công bởi chuyên môn lái máy bay thì không hề phổ biến có rất ít người có khả năng cũng như được đào tạo về chuyên môn này lên họ có thể gây sức ép với giới chủ thực hiện yêu sách của họ
II.3.2.4 Phân tích áp lực của sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các công ty trong những ngành khác nhưng thoả mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giống như các các công ty trong ngành, nhưng thường cạnh tranh gián tiếp nhau có thể ví
dụ như gas và điện nếu giá điện cao thì trong việc nấu nướng sẽ chuyển từ việc
sử dụng điện sang dùng gas và có rất nhiều những ví dụ tương tự như chè và
cà phê, than và điện … Như vậy, sự tồn tại của sản phẩm thay thế hình thành một sức ép cạnh tranh rất lớn, nó giới hạn mức giá một công ty có thể định ra
và do đó giới hạn được mức lợi nhuận của công ty Ngược lại nếu sản phẩm của một công ty có rất ít các sản phẩm thay thế, công ty sẽ có những cơ hội để tăng giá và kiếm được những khoản lợi nhuận lớn hơn
II.3.2.5 Phân tích đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là các công ty hiện không có trong ngành nhưng có khả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó
Đối thủ mới tham gia trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của các công ty trong ngành khi họ đưa năng lực khai thác các sản phẩm mới với mong muốn giành được thị trường do đó các công ty đang hoạt động tìm mọi cách để hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của họ Hiển nhiên là nếu trong một ngành mà có nhiều nhà cung cấp thì thị phần sẽ phải san sẻ cho nhau thông qua cạnh tranh và sẽ khó khăn rất nhiều cho các công ty đang hoạt động Chính vì vậy mà các công ty trong ngành luôn luôn bảo vệ vị trí cạnh tranh của mình Các công ty thường đặc
Trang 27Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
biệt chú ý tới việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài vào
Nhưng nhìn chung việc ra nhập thị trường của những đối thủ tiềm ẩn có những trở ngại nhất định và những trở ngại chính ấy là sự ưa chuộng của sản phẩm: Đó là sự ưa thích của người mua sản phẩm đối với các sản phẩm của các công ty trong ngành Những công ty này củng cố uy tín, hình ảnh, nhãn hiệu thông qua quá trình quảng cáo những chương trình nghiên cưú thị trường
và điểm mạnh của họ thường là chất lượng rất tốt và cả những dịch vụ sau bán hàng
Những đối thủ tiềm ẩn thường không có được những kinh nghiệm cũng như những quan hệ trong lĩnh vực họ dự định tham gia Đặc biệt những kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, phương pháp sản xuất cũng như việc sử dụng lao động, nguyên liệu, vốn một cách hiệu quả và hạn chế được những rủi ro thì đối thủ tiềm ẩn gần như không có gì Bên cạnh đó tình hiệu quả do quy mô sản xuất làm giảm giá thành của sản phẩm thì cần phải có những sự đầu tư rất lớn Trên đây là những khó khăn mà đối thủ tiềm ẩn phải vượt qua nếu muốn tham gia vào thị trường trong ngành
II.3.3 Phân tích nội bộ
Môi trường nội bộ là tổng hợp các yếu tố nội tại trong một doanh nghiệp Bao gồm: Nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển, sản xuất, marketing, tài chính, nề nếp tổ chức chung Các doanh nghiệp cần phải phân tích cặn kẽ các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ các ưu điểm và nhược điểm của mình Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm, phát huy những ưu
điểm để đạt được lợi thế tối đa Thực chất của việc phân tích môi trường nội
bộ doanh nghiệp là phân tích các yếu tố sau:
II.3.3.1 Phân tích năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của 1 đối tượng công nghiệp như của 1 đơn vị máy móc hay thiết bị, của bộ phận hay công đoạn sản xuất, của 1 phân xưởng hay
Trang 28Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
của 1 doanh nghiệp là khả năng tối đa về sản xuất sản phẩm trong một năm và
được đo bằng đơn vị hiện vật (tấn, cái, mét, dài )
Năng lực sản xuất là một đại lượng động, nó thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện sản xuất, chẳng hạn như máy móc thiết bị mua sắm thêm hoặc hiện đại hoá thì năng lực sản xuất sẽ tăng lên hoặc ngược lại khi máy móc thiết bị già cỗi thì năng lực sản xuất sẽ giảm đi Người công nhân nếu được bồi dưỡng nâng cao tay nghề thì năng lực sản xuất của bộ phận cũng tăng lên
II.3.3.2 Phân tích trình độ công nghệ
Hiện trạng trình độ máy móc thiết bị công nghệ có ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp, giá thành, giá bán sản phẩm doanh nghiệp có hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất có chất lượng cao, giá thành hạ và như vậy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao và ngược lại chất lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ là những tiêu chuẩn hết sức quan trọng
Hơn nữa, đánh giá và phân tích hiện trạng năng lực sản xuất mới có thể biết được khả năng của doanh nghiệp giúp cho việc hình thành chiến lược chính xác, có căn cứ Cần đánh giá được trình độ hiện nay của doanh nghiệp
đạt đến mức độ nào so với công nghệ tronbg nước và trên thế giới, qua đó sẽ thấy được đó là những cơ hội hay nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp
II.3.3.3 Phân tích khả năng tài chính cho đổi mới và phát triển
Đối với các công ty kinh doanh, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trọng trong quá trình chuẩn bị thông tin trong xây dựng chiến lược Nội dung đánh giá tập trung vào các vấn đề :
Thực trạng nhu cầu vốn và thực trạng cơ cấu các nguồn vốn trong doanh nghiệp
Trang 29Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
Nhu cầu về nguồn vốn của doanh nghiệp là tổng những nhu cầu chi trả cho các hoạt động mua sắm, đầu tư trang thiết bị và thanh toán các khoản nợ
đến kỳ hạn trả nợ Việc tổng hợp những nhu cầu này sẽ hình thành nên tổng nhu cầu về vốn trong hiện tại của doanh nghiệp và những dự định đầu tư trong tương lai sẽ hình thành lên nhu cầu về vốn trong tương lai của doanh nghiệp Cơ cấu của nguồn vốn trang bị cho công ty là những nguồn gốc hình thành từ những đầu mối khác nhau như ngân hàng, từ các tổ chức tín dụng, từ
sự huy động của cán bộ công nhân viên, nguồn chiếm dụng từ người mua… Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp đây là một chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá về hoạt động sử dụng vốn Thực trạng các chỉ tiêu tài chính tổng hợp đánh giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và là căn cứ cho hình thành chiến lược đầu tư mới phát triển sản xuất
II.3.3.4 Phân tích trình độ tổ chức quản lý
Nguồn nhân lực của một công ty có vị trí quan trọng trong mọi quá trình sản xuất Thông qua hoạt động lao động của con người tác động vào đối tượng sản xuất để hình thành lên giá trị sản phẩm Trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp từ khâu xây dựng, quản lý, thực hiện, tổ chức kiểm tra, đánh giá,
đều do những cán bộ công nhân viên có năng lực của doanh nghiệp thực hiện Khi phân tích đánh giá nguồn lực của doanh nghiệp người ta thường quan tâm tới 3 loại lao động sau:
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp là những người có vai trò quyết định ở mức độ cao nhất Trong suốt quá trình thực hiện chiến lược, họ là người có thể điều chỉnh chiến lược, là người hiểu về chiến lược doanh nghiệp
đang thực hiện một cách rõ ràng nhất Chính vì vậy năng lực của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tính đúng đắn của việc lựa chọn cũng như sự thành bại của chiến lược
Trang 30Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
Tiếp sau phải kể đến các cán bộ quản lý là những người có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý và làm công tác chức năng thực hành sản xuất kinh doanh Đội ngũ này là lực lượng có thể phát hiện ra những thuận lợi cũng như những khó khăn để giúp
đội ngũ lãnh đạo những thông tin để kịp thời đưa ra các liệu pháp khắc phục cũng như tranh thủ những điều kiện có lợi để thực hiện thành công chiến lược
đã lựa chọn
Đội ngũ thứ ba là các thợ cả, nghệ nhân và công nhân có tay nghề cao
Là đối tượng trực tiếp lao động sản xuất thực hiện chiến lược Đội ngũ này thực sự cần thiết phải có những đức tính sáng tạo trong sản xuất cũng như sự cần cù và lòng hăng say lao động
Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực ta thường chú ý tới quy mô, chất lượng, cơ cấu… các loại lao động hiện có của doanh nghiệp Đối với ban lãnh
đạo đặc biệt chú ý tới khả năng tổ chức lãnh đạo thực hiện công việc, sự quyết
đoán, tự chịu trách nhiệm Đối với cán bộ quản lý chú trọng năng lực thực hành, khả năng tổ chức công việc và khả năng thích ứng với môi trường quản
lý mới
Các kết quả đánh giá khả năng phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp sẽ làm cơ sở cho xác định các mục tiêu và chính sách phát triển nguồn nhân lực, cho các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Khi đánh giá cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp cần chú trọng hai vấn đề chính:
Thực trạng của cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp hiện tại trên hai mặt hệ thống tổ chức và quy chế hoạt động Cơ cấu tổ chức được hình thành
và chi phối bởi cơ cấu sản xuất kinh doanh Do vậy việc đánh giá cơ cấu tổ chức phải dựa trên cơ cấu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Khi đánh giá về quy chế và thực tế hoạt động của cơ cấu tổ chức thì cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của công ty để rà xét tính hợp lý của các điều
Trang 31Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
lệ hoạt động nội quy quy chế nội bộ doanh nghiệp, xác định các nội dung các yếu tố bất hợp lý và các vướng mắc trong thực tế về sự chồng chéo trong hệ thống nội quy, tính kém hiệu lực trong hoạt động của bộ máy quản lý và bầu không khí làm việc trong doanh nghiệp
II.4 Phân loại chiến lược và phương pháp hình thành chiến lược
II.4.1 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi tác dụng của chiến lược, ta có thể phân ra các loại hình chiến lược sau:
- Chiến lược chung (chiến lược Công ty): Đây là chiến lược thường đề cập đến những vấn đền quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài
Có thể nói chiến lược chung sẽ quyết định tất cả những vấn đề mang tính sống còn của doanh nghiệp
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: Chủ yếu là các chiến lược như chiến lược cạnh tranh, cạnh tranh bằng giá thấp, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm
và dịch vụ.v.v
- Chiến lược bộ phận: Là các chiến lược chức năng bao gồm: chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống thông tin, chiến lược nghiên cứu phát triển
Ba loại hình chiến lược này liên kết với nhau tạo nên một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của một doanh nghiệp
II.4.2 Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược kinh doanh
Căn cứ vào những cơ sở lập luận cho các chiến lược ta có thể phân ra một số loại hình chiến lược như sau:
- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo họach định chiến lược kinh doanh ở đâykhông dàn trải các nguồn lực mà tập
Trang 32Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
trung cho các hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh dựa trên ưu thế tương đối: Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chỉ đạo chiến lược kinh doanh ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với đối thủ cạnh tranh; thông qua sự phân tích đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh sáng tạo tấn công: Chiến lược này được xây dựng bằng cách nhìn thẳng vào vấn đề phổ biến, đặt ra câu hỏi tại sao phải làm như vậy? Xem xét lại các vấn đề đã được kết luận, tìm ra các khám phá mới để làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình
- Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng: Với chiến lược này cách xây dựng chiến lược ở đây không nhằm vào những nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng tiềm tàng các nhân tố thuận lợi; đặc biệt là tiềm năng sử dụng nguồn lực dư thừa, nguồn hỗ trợ của các lĩnh vực kinh doanh trọng yếu
II.4.3 Căn cứ vào từng giai đoạn phát triển
Mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn như: giai đoạn mới hình thành; giai đoạn phát triển; giai đoạn sung sức và giai đoạn suy yếu Tùy thuộc vào từng giai đoạn có thể vận dụng các chiến lược khác nhau
- Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn mới hình thành: Giai đoạn mới hình thành là giai đoạn doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh hoặc mới hình thành ý tưởng khởi sự Với giai đoạn này các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân như Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân thường có quy mô nhỏ có thể nghiên cứu các chiến lược sau: chiến lược dựa vào nguồn lực tại chỗ, chiến lược dựa vào nhà máy lớn, chiến lược khe hở và chiến lược thị trường cục bộ
Trang 33Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn phát triển: trong giai đoạn này các doanh nghiệp có thể nghiên cứu và áp dụng các chiến lược như
+ Chiến lược tăng trưởng: bao gồm các giải pháp xâm nhập thị trường, giải pháp phát triển thị trường và giải pháp phát triển sản phẩm
+ Chiến lược cạnh tranh: bao gồm các giải pháp giá rẻ, giải pháp khác biệt hoá sản phẩm, dịch vụ; giải pháp tập trung nguồn lực vào thị trường nhất định
- Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn sung sức: đây là là giai đoạn mà doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ nhất Trong giai đoạn này doanh nghiệp có thể lựa chọn các loại hình chiến lược như: chiến lược thương hiệu nổi tiếng, chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, chiến lược liên hợp và chiến lược quốc tế hoá kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn suy yếu: Khi doanh nghiệp phát triển đến một lúc nào đó sẽ có thể xảy ra ba tình huống
+ Tiếp tục phát triển để trở thành doanh nghiệp lớn hoặc tập đoàn doanh nghiệp bằng cách đa dạng hoá kinh doanh, liên hợp và quốc tế hoá kinh doanh + áp dụng chiến lược ổn định kinh doanh
+ áp dụng chiến lược thu hẹp kinh doanh
Trang 34Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
phần 2 phân tích các căn cứ hình thành chiến lược
I Giới thiệu về Công ty Thiết bị đo điện
- Tên tiếng Việt: Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Thiết bị đo điện
- Tên tiếng Anh: ELECTRIC MEASURING INSTRUMENT COMPANY LIMITED
- Tên viết tắt: EMIC CO, LTD
- Địa chỉ: Số 10 phố Trần Nguyên Hãn, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Tp Hà Nội
- Điện thoại: 04.8257979/8257991/9350544 – Fax:
Năm 1987, Nhà máy bắt đầu sản xuất công tơ điện 3 pha
Trang 35Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
Năm 1988, Nhà máy xuất khẩu 3100 công tơ điện 3 pha cho Liên Xô Năm 1991, Nhà máy dần đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm công tơ điện 1 pha để đáp ứng nhu cầu của thị trường
Ngày 01/09/1991, Khách sạn Bình Minh (27 Lý Thái Tổ) đi vào hoạt
động, đây là nguồn cung cấp ngoại tệ để mua sắm vật tư thiết bị đầu tư cho sản xuất
Ngày 27/04/1994, Nhà máy đổi tên thành Công ty Thiết bị đo điện
Kể từ đây, Công ty đã mạnh dạn mở cửa làm việc với các đối tác nước ngoài, đã gặp gỡ và làm việc với nhiều hãng sản xuất công tơ nổi tiếng từ NHật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Thụy Sỹ Công ty đã chính thức chọn hãng LANDIS & GYR của Thụy Sỹ là một hãng sản xuất thiết bị đo nổi tiếng trên thế giới
Ngày 18/02/1995, Công ty đã ký hợp đồng “Hợp tác chuyển giao công nghệ và xuất khẩu sản phẩm” với hãng LANDIS & GYR – Thụy Sỹ, thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất công tơ điện đạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 1996, sản phẩm công tơ điện 1 pha bắt đầu được xuất khẩu sang Philipin
Tháng 2 năm 1999, Công ty trở thành Công ty đầu tiên của Việt Nam
được AFAQ-ASCERT (Pháp) cấp chứng chỉ Hệ thống Quản lý chất lượng ISO
9001
Tháng 12 năm 2001, cơ sở II của Công ty (số 91, ngõ 170, đường Ngô Gia Tự, Đức Giang, Long Biên) đi vào hoạt động
Tháng 2 năm 2002, Công ty được AFAQ-ASCERT (Pháp) và ASCERT (Việt Nam) cấp chứng chỉ Hệ thống Quản lý chất lượng ISO 9001-2000
Tháng 01 năm 2005, Công ty đổi tên thành Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Thiết bị đo điện
Trang 36Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
I.2 Lĩnh vực hoạt động: Thiết kế, chế tạo, sửa chữa, kinh doanh các loại
thiết bị đo điện 1 pha, 3 pha, có dòng điện 1 chiều, dòng điện xoay chiều, có cấp điện áp hạ thế, trung thế và cao thế
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng máy móc
- Kinh doanh dịch vụ khách sạn, cho thuê văn phòng, bất động sản, du lịch
I.3 Nhân sự và cơ cấu của Công ty
I.3.1 Nhân sự
Lao động hiện có tại Công ty: 911 Trong đó:
- Số lao động ký HĐLĐ không xác định thời hạn: 499 người
- Số lao động ký HĐLĐ từ 12 đến 36 tháng: 24 người
- Số lao động ký HĐLĐ dưới 12 tháng: 383 người
Bảng 2.1 Tình hình lao động tại Công ty Thiết bị Đo điện
đây là một thuận lợi cho Công ty trong quá trình phát triển Tuy nhiên bậc thợ bình quân lại chưa phải là cao Hiện nay lượng lao động hợp đồng thời vụ tại EMIC chiếm tới 42% tổng số lao động
I.3.2 Cơ cấu
Trang 37Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
I.3.3 Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban
Phản ánh tình hình lưu chuyển vốn, đảm bảo tài chính thu chi của Công
ty Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty và tư vấn cho Giám đốc
về các vấn đề liên quan đến tài chính Thực hiện các nghiệp vụ kế toán, cân
đối tài khoản
- Phòng Tổ chức: Quản lý toàn bộ nhân sự của Công ty Quản lý các mặt
như điều động, tuyển dụng lao động Chức năng quản lý và lưu trữ hồ sơ, quản
lý nhân sự
- Phòng Công nghệ: Quản lý toàn bộ quy trình công nghệ của Công ty
- Phòng Thiết kế: Nhiệm vụ chính là nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm
mới và cải tiến, phát triển những sản phẩm hiện tại Chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu, sử dụng các nguyên vật liệu mới hiệu quả áp dụng cho các sản phẩm của Công ty
- Phòng Quản lý chất lượng: Kiểm tra, giám định nguyên mẫu nguyên
vật liệu để đảm bảo chất lượng sản phẩm Chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất
sản xuất, kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu sản xuất Lập kế hoạch sản xuất
Trang 38Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
phù hợp với nhu cầu biến động của trong và ngoài nước Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh toàn Công ty
Chịu trách nhiệm tính toán giá thành sản phẩm
Đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất
- Phòng Lao động: Chịu trách nhiệm về công tác huấn luyện, đào tạo
nhân sự toàn công ty Tính toán các định mức lao động Tham mưu cho lãnh
đạo Công ty về tổ chức bộ máy, lương bổng, thi đua khen thưởng
- Phòng Marketing: Lập kế hoạch cho các hoạt động của Công ty về
chính sách giá, sản phẩm, thương hiệu Nghiên cứu thị trường, quảng cáo sản phẩm và bán hàng
- Phòng Hành chính: Quản lý toàn bộ tài sản của Công ty
- Phòng Bảo vệ: Đảm bảo công tác an ninh của toàn Công ty
- Khách sạn Bình Minh: Với chức năng kinh doanh dịch vụ đảm nhận
nhiệm vụ chính là kinh doanh dịch vụ khách sạn, cho thuê văn phòng Là nguồn thu ngoại tệ chính của Công ty
- Xưởng Kỹ thuật số: Chịu trách nhiệm nghiên cứu những sản phẩm kỹ
thuật cao như công tơ điện tử, đồng hồ đo điện kỹ thuật số
- Phân xưởng nguội: Chuyên gia công khuôn mẫu
- Phân xưởng hàn gò: Chịu trách nhiệm về việc gia công lõi từ (đột,
ghép), chế tạo khung công tơ
- Phân xưởng hoá: Chịu trách nhiệm phần sơn tẩm, sấy khung và lõi từ
công tơ…
- Phân xưởng Cơ khí: Gia công các phần phục vụ lắp ráp, định vị (khoan,
ta-rô khung, làm đĩa và bộ số công tơ)
Trang 39Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Phân xưởng Lắp ráp: đây là bộ phận chính trong toàn bộ công đoạn sản
xuất công tơ và các mặt hàng thiết bị điện khác (bao gồm lắp ráp, hiệu chỉnh, kiểm tra chất lượng và đóng gói)
I.4 Giới thiệu về sản phẩm của Công ty
Là một Công ty chuyên sản xuất các thiết bị đo đếm điện nên sản phẩm của Công ty EMIC khá đa dạng Bao gồm:
- Công tơ điện 1 pha và công tơ 3 pha cơ hoặc điện tử một biểu giá hoặc nhiều biểu giá; đa chức năng, đọc chỉ số từ xa bằng sóng Radiô cho các loại công tơ cơ và điện tử;
- Các loại đồng hồ điện tử chỉ thị số: Volmet 1 pha, Volmet 3 pha, Ampemet, tần số kế, Cosị mét…
- Đồng hồ Volmet, Ampemet cơ điện các loại cấp chính xác 2 và 2,5
- Máy biến dòng hạ thế hình xuyến kiểu đúc epoxy tới 600V, 1000V; Dòng điện sơ cấp từ 5A đến 10000A, dòng điện thứ cấp 5A hoặc 1A; cấp chính xác 0,5 hoặc 1 hoặc 3
- Máy biến dòng trung thế kiểu đúc epoxy hoặc ngâm dầu cách điện, loại lắp trong nhà hoặc ngoài trời tới 38,5KV, dòng điện sơ cấp từ 5A đến 5000A Dòng điện thứ cấp 1A; 5A hoặc 1A và 5A Cấp chính xác 0.5 Cấp bảo vệ 5P5-5P10-5P15-5P20-5P30;
- Máy biến áp đo lường trung kế kiểu đúc epoxy hoặc ngâm dầu cách
điện, loại lắp trong nhà hoặc lắp ngoài trời tới 38,5KV, Cấp chính xác 0.5; Cấp bảo vệ 3P, 6P
- Máy biến áp cấp nguồn trung kế kiểu đúc epoxy hoặc ngâm dầu cách
điện, loại lắp trong nhà hoặc lắp ngoài trời tới 38,5KV cho máy cắt đóng lặp lại và các thiết bị khác
Trang 40Đại học Bách Khoa Hà Nội Hoàng Bắc
- Cầu chì rơi (FCO) 6-15kV, 22-27kV và 36KV dòng điện Imax = 200A dung lượng cắt 8,10,12kA Asym
Các sản phẩm của Công ty đạt tiêu chuẩn quốc tế IEC, đạt nhiều huy chương vàng và Chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao phù hợp tiêu chuẩn, cung cấp thoả mãn nhu cầu trong nước và từ năm 1996 đã xuất khẩu sang các nước: Nga, Mỹ, Nicaragua, Mianma, Lào, Campuchia, Philippin, Bănglades, Burtan
Trong các sản phẩm này thì công tơ đo điện 1 pha là sản phẩm chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhất (>70% tổng doanh thu)
Công tơ 1 pha:
Tiêu chuẩn đạt được: TCNN
Công tơ điện 1 pha loại CV là sản phẩm hợp tác kỹ thuật của Công ty Thiết bị đo điện (EMIC) và hãng LANDIS- Thuỵ Sỹ theo tiêu chuẩn quốc tế IEC521, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ và thiết bị hiện đại, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
Công tơ điện 1 pha loại CV có đặc tính và độ tin cậy cao, dùng để đo năng lượng hữu công (kWh) ở lưới điện xoay chiều 1 pha 2 dây hoặc 1 pha 3 dây, đạt cấp chính xác 1 hoặc 2 theo tiêu chuẩn quốc tế, có những đặc trưng sau:
- Dễ hiệu chỉnh, mô men quay lớn, ma sát nhỏ, độ nhạy cao, tổn hao thấp, ảnh hưởng nhiệt độ thấp, độ ổn định cao, chịu quá tải lớn, chịu điện áp cao, cách điện cao, gối đỡ dưới 2 chân kính hoặc gối từ, chống ăn cắp điện: cơ cấu chống quay ngược hoặc bộ số 1 hướng, hình dáng: tròn hoặc vuông
Điện áp danh định: 120V, 220V
Tần số danh định: 50Hz hoặc 60Hz