Theo định nghĩa trong Các quy tắc chung cho hoạt động bao thanh toán quốc tế do FCI ban hành, Hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng theo đó nhà cung cấp có thể hoặc sẽ chuyển nhượng cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
NGUYỄN VĂN NGHIẾN
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Tất cả các trích dẫn, số liệu trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng
HV: Nguyễn Minh Khuê
Trang 3Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung tâm đào tạo sau đại học và các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & Quản lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giảng dạy và giúp đỡ trong quá trình tác giả học tập tại trường và thực hiện luận văn tốt nghiệp Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Văn Nghiến, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình tác giả học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
HV: Nguyễn Minh Khuê
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.2 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán 13
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động bao thanh toán 13
1.2.2 Nhận dạng rủi ro trong hoạt động bao thanh toán 17
1.2.3 Các nguyên nhân rủi ro trong hoạt động bao thanh toán 22
1.2.4 Các biện pháp chủ yếu trong phòng ngừa và hạn chế rủi ro bao thanh
Trang 51.3 Kinh nghiệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro bao thanh toán trên
thế giới và tại Việt Nam
26
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 33
2.1.1 Khái quát về sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức 33
2.2 Hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam
47
2.2.1 Khách hàng đã có doanh số Bao Thanh Toán 48
2.2.2 Khách hàng chưa có doanh số Bao Thanh Toán 49
2.3 Thực trạng bao thanh toán và phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong
hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam
52
Trang 62.3.2 Giai đoạn thí điểm 55
2.4 Đánh giá thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động
bao thanh toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
3.1 Định hướng chiến lược về phát triển bao thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam
87
3.1.1 Chiến lược phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 87
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam
90
3.2 Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh
toán tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
91
3.2.1 Hoàn thiện văn bản quy định nội bộ cho việc thực hiện hoạt động bao
thanh toán của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
91
3.2.2 Xây dựng các tiêu chí lựa chọn người bán và người mua phù hợp 92
3.2.3 Xây dựng các tiêu chí lựa chọn đại lý bao thanh toán phù hợp 94
Trang 73.2.4 Xác định hạn mức bao thanh toán cụ thể của người bán đối với người
mua
95
3.2.5 Xác định mức đảm bảo rủi ro tín dụng đối với người mua 96
3.2.6 Xác định giới hạn tín dụng của đại lý bao thanh toán bên mua 97
3.2.7 Phòng ngừa và hạn chế tranh chấp về hàng hoá 97
3.2.8 Phòng ngừa, hạn chế rủi ro tranh chấp hợp đồng 99
3.2.9 Phát triển hệ thống các Đại lý báo thanh toán trong nước và quốc tế 100
3.2.10 Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ và trang bị công nghệ hiện đại
cho hoạt động bao thanh toán
PHỤ LỤC 112
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu
FCI: Factors Chain International
IFG: International Factors Group
NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM NN: Ngân hàng thương mại Nhà nước
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Sơ đồ 1.1 Các bước thực hiện bao thanh toán 13
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt nam 38
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn giai đoạn 2005 - 2009 39
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng vốn giai đoạn 2008 - 2009 39
Bảng 2.4 Hoạt động tín dụng giai đoạn 2005 - 2009 41
Bảng 2.5 Thanh toán xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2009 43
Bảng 2.6 Kết quả kinh doanh giai đoạn 2005 - 2009 44
Bảng 2.7 Doanh số bao thanh toán giai đoạn 2008 - 2010 58
Bảng 2.8 Tình hình giao dịch với thị trường quốc tế 58
Bảng 2.9 Phân tích mức độ sử dụng các chương trình hiện có 81
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá 89
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thanh toán thương mại ngày nay, phương thức chuyển tiền trả chậm (hay còn gọi là ghi sổ) có xu hướng ngày càng tăng và hiện chiếm tới 80% doanh số thanh toán thương mại Việc người bán chấp nhận người mua trả tiền chậm luôn là một trong những điều kiện thanh toán thuận lợi nhất để bán được hàng, đặc biệt là
để mở rộng thị trường xuất khẩu Người mua nếu được đảm bảo khả năng thanh toán tiền hàng cũng là điều kiện thuyết phục để được đối tác tin cậy giao hàng Tuy nhiên bán hàng trả chậm là phương thức mà người bán phải đối mặt với rủi ro nhiều nhất Sử dụng bao thanh toán do các đơn vị bao thanh toán cung cấp cho phép người bán có đủ khả năng tài chính để chấp nhận cho người mua trả chậm, được đảm bảo rủi ro tín dụng phía người mua, được giảm bớt gánh nặng khi phải theo dõi đòi tiền bán hàng Bao thanh toán ngày càng phát triển như một đòi hỏi tất yếu của nhu cầu thương mại trong nước cũng như quốc tế
Tại Việt Nam, bao thanh toán đã được phát triển như một dịch vụ mới trong ngân hàng và các công ty tài chính từ năm 2004, sau khi Ngân Hàng Nà Nước Việt Nam ban hành quyết định 1096/2004/QĐ – NHNN quản lý các hoạt động bao thanh toán của các định chế tài chính Tuy nhiên, số lượng các giao dịch bao thanh toán thực sự vẫn còn rất khiêm tốn Các tổ chức bao thanh toán Việt Nam (thường là các ngân hàng và các công ty tài chính) vẫn còn coi bao thanh toán như một hoạt động cho vay thông thường và vẫn chưa đưa đầy đủ các tính năng của dịch vụ này khi cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng Bằng cách nào để các tổ chức bao thanh toán Việt Nam có thể phát triển dịch vụ này một cách hiệu quả nhất? Bằng cách nào để các tổ chức bao thanh toán có thể mở rộng mạng lưới khách hàng, tối
đa hóa lợi nhuận từ hoạt động bao thanh toán, đồng thời vẫn có thể quản lý tốt các rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động của hoạt động kinh doanh này? Các định chế tài chính đang cung cấp dịch vụ bao thanh toán hoặc đang có kế hoạch phát triển dịch
vụ này luôn mong tìm được câu trả lời và các giải pháp hữu hiệu để phát triển dịch
Trang 11vụ Bao thanh toán tại đơn vị mình
Triển khai hoạt động bao thanh toán là cần thiết và là hướng đi đúng đắn của ngân hàng Một mặt, với sự tham gia của ngân hàng với tư cách là đơn vị bao thanh toán, các thương nhân có chỗ dựa để lựa chọn phương thức mua bán hàng trả chậm hết sức hiệu quả Mặt khác, bản thân ngân hàng cũng có thêm cơ hội kinh doanh mới, đối phó với nguy cơ suy giảm thu nhập tài trợ thương mại do xu hướng giảm dần của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ
Bao thanh toán là một hoạt động kinh doanh của ngân hàng và vấn đề rủi ro luôn là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào Thực tế cho thấy, lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro phải đối mặt càng lớn Vì thế, vấn đề rủi ro luôn là mối quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nếu không biết được rủi ro nằm ở đâu, không phân tích đo lường được, không đưa ra được các giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro thì cầm chắc sự thất bại Trong cuộc sống hay trên thương trường, ai hiểu biết về rủi ro nhiều hơn sẽ trở thành người chiến thắng
Bao thanh toán là hoạt động mới tại Việt Nam cũng như tại Vietcombank Yêu cầu nghiên cứu phân tích, đánh giá rủi ro để chủ động đưa ra các giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro là đòi hỏi tất yếu để phát triển hoạt động bao thanh toán
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Luận văn: “Phân tích và đưa ra một số giải
pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ”
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
và những giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán tại
- Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro bao thanh toán tại Vietcombank
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế; kết hợp với vận dụng các cơ sở lý luận, quan điểm và chính sách kinh tế, tài chính ngân hàng và định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước để phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
- Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
1.1 Những vấn đề cơ bản về bao thanh toán
1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về bao thanh toán Mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng, có các thông lệ, có nhu cầu tài trợ, nhu cầu kinh doanh và có luật lệ riêng Khi đưa ra các sản phẩm dịch vụ về bao thanh toán, các nhà cung cấp dịch vụ
có thể đưa ra những cái tên khác nhau cho các sản phẩm dịch vụ bao thanh toán khác nhau, hoặc có thể có những loại hình bao thanh toán khác nhau dưới cùng một tên gọi
Theo định nghĩa của Công ước quốc tế UNIDROIT 1988 về bao thanh toán quốc tế, Hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng ký kết giữa một bên (nhà cung cấp hàng hoá/dịch vụ) và một bên khác (đơn vị bao thanh toán) theo đó:
a Nhà cung cấp hàng hoá/dịch vụ có thể hoặc sẽ chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hoá/dịch vụ giữa nhà cung cấp và các khách hàng của nhà cung cấp, loại trừ những giao dịch mua bán cho mục đích tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình;
a Đơn vị bao thanh toán thực hiện ít nhất hai trong các dịch vụ sau: tài trợ cho nhà cung cấp, bao gồm cho vay và ứng trước; theo dõi các khoản phải thu; thu nợ và bảo đảm rủi ro bên mua hàng không thanh toán;
b Thông báo chuyển nhượng khoản phải thu phải được gửi tới các bên mua hàng liên quan
Theo định nghĩa trong Các quy tắc chung cho hoạt động bao thanh toán quốc
tế do FCI ban hành, Hợp đồng bao thanh toán là một hợp đồng theo đó nhà cung cấp có thể hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu (hoặc một phần của khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, với mục đích tài trợ hoặc không, để nhận được ít nhất một trong các dịch vụ sau: Theo dõi khoản phải thu, thu nợ và bảo đảm
Trang 14rủi ro nợ xấu
Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng do NHNN ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của
Thống đốc NHNN, thì: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức
tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.”
Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác về bao thanh toán như:
Bao thanh toán là một hình thức tài trợ thương mại mà nhờ đó, doanh nghiệp bán khoản phải thu của họ (dưới hình thức các hoá đơn) theo giá chiết khấu Nhờ đó doanh nghiệp không phải phụ thuộc vào việc phải chờ đợi một thời gian 30 đến 90 ngày theo điều kiện thanh toán trả chậm từ khách hàng của họ mới có thể chuyển các khoản phải thu này thành tiền mặt Doanh nghiệp được hưởng lợi do có thể đẩy nhanh tốc tộ luân chuyển vốn nhờ bán ngay các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán theo trị giá khoản phải thu trừ đi phí của đơn vị bao thanh toán
Bao thanh toán là việc bán các khoản phải thu của một công ty, với mức giá chiết khấu, cho một đơn vị bao thanh toán là người sẽ đảm nhận rủi ro tín dụng đối với khoản nợ và là người sẽ nhận tiền mặt khi con nợ (tức là người mua hàng) thanh toán khoản nợ, còn được gọi là tài trợ các khoản phải thu
Có thể nói những định nghĩa trên đây là sự mô tả hoạt động bao thanh toán dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng xét về bản chất, quan điểm của hiệp hội FCI về bao thanh toán như sau:
Bao thanh toán là việc bên bán hàng hoặc đơn vị bao thanh toán của bên bán
hàng chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán tất cả các quyền và lợi ích liên quan tới những khoản phải thu ngắn hạn của bên bán hàng phát sinh từ việc mua bán hàng hoá hợp pháp giữa bên bán hàng và bên mua hàng để bên bán hàng được đơn vị bao thanh toán cung cấp các dịch vụ chủ yếu của bao thanh toán như sau:
- Theo dõi các khoản phải thu của bên bán hàng;
- Ứng trước cho bên bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu;
Trang 15- Thu nợ;
- Bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
Để hiểu rõ khái niệm về bao thanh toán, chúng ta cần đi sâu thêm một số nội dung trong khái niệm trên:
Thứ nhất: Khoản phải thu là khoản tiền bên bán hàng được quyền thu từ bên
mua hàng sau khi đã giao hàng cho bên mua hàng theo đúng quy định tại hợp đồng mua bán đã ký kết Việc chuyển nhượng khoản phải thu bao gồm việc chuyển nhượng toàn bộ các quyền và lợi ích liên quan đến khoản phải thu Khoản phải thu phải là ngắn hạn (thông thường có thời hạn thanh toán dưới 180 ngày) Khoản phải thu trong bao thanh toán gắn với phương thức thanh toán ghi sổ hoặc nhờ thu D/A
Thứ hai: Theo dõi các khoản phải thu là việc đơn vị bao thanh toán mở sổ
ghi chép toàn bộ các khoản phải thu từ người mua của người bán theo đúng hợp đồng bao thanh toán đã ký kết: Chi tiết các hoá đơn, ngày đến hạn, các khoản nào
đã được thanh toán, thời hạn thanh toán, thời hạn trả chậm, các khoản còn treo, các báo có, các khoản thanh toán Định kỳ theo yêu cầu của khách hàng, đơn vị bao thanh toán gửi bảng kê xác nhận tình trạng các khoản phải thu cho khách hàng, nhờ
đó khách hàng có thể có đầy đủ thông tin chính xác để kiểm soát việc thực hiện giao dịch của mình cũng như của người mua
Thứ ba: Ứng trước là việc đơn vị bao thanh toán cho người bán vay tới 90%
trị giá hoá đơn khi xuất trình với lãi suất cho vay ngắn hạn Khi đơn vị bao thanh toán thu được tiền từ phía người mua, đơn vị bao thanh toán sẽ thu khoản nợ này và trả phần chênh lệch còn lại cho người bán Người bán không cần phải đợi đến hạn thanh toán theo hợp đồng mới nhận được tiền Nhờ đó có điều kiện quay vòng vốn
và đảm bảo đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh Tuỳ theo thoả thuận, cũng
có trường hợp đơn vị bao thanh toán ứng trước cho người bán ngay từ khi có đơn hàng để người bán có vốn lưu động để thu mua hoặc sản xuất hàng chứ không nhất thiết chỉ ứng trước sau khi người bán giao hàng Cũng tuỳ từng đối tượng và từng trường hợp, đơn vị bao thanh toán có thể ra điều kiện chỉ ứng trước khi người bán hàng chấp thuận cả dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
Trang 16Thứ tư: Thu nợ là việc đơn vị bao thanh toán thực hiện theo dõi và đòi nợ
thay người bán, như tự động tạo thư thông báo cho người mua khi sắp đến hạn thanh toán, gọi điện thoại khi cần thiết hay cử các nhân viên chuyên nghiệp trong công tác đòi nợ để thực hiện thay người mua Điều này hết sức hữu hiệu trong trường hợp người mua và người bán ở các địa phương hay các quốc gia khác nhau Hơn nữa trong trường hợp người mua chây ỳ không trả nợ hoặc có các tranh chấp, đơn vị bao thanh toán tại nước người mua sẽ quen thuộc với các vấn đề pháp lý ở địa phương đó hơn người bán và có thể thay người bán thực hiện các thủ tục để khởi kiện nhằm đòi được tiền cho người bán Điều này sẽ được thoả thuận rõ ràng trong hợp đồng Bao thanh toán
Thứ năm: Đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua tức là nếu người mua không
thanh toán, đơn vị bao thanh toán thông thường sẽ thanh toán 100% trị giá khoản phải thu được đảm bảo khi người mua bị vỡ nợ, hoặc sau 90 ngày kể từ ngày khoản phải thu đến hạn với điều kiện không có tranh chấp giữa người mua và người bán Thời hạn này cũng có thể thay đổi tuỳ theo thoả thuận Thông thường, nếu bao thanh toán trong nước thì thời hạn này có thể ngắn hơn Mục đích của thời hạn này
là để đơn vị bao thanh toán có điều kiện về thời gian để thực hiện việc thu nợ từ người mua Trong trường hợp chấp nhận cung cấp dịch vụ đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua, đơn vị bao thanh toán bên mua thông báo trước hạn mức của từng người mua cho người bán và chỉ chấp nhận đảm bảo rủi ro đối với các khoản phải thu trong hạn mức đó mà thôi Hạn mức này thường được duy trì ổn định, thậm trí không có thời hạn và chỉ thay đổi khi tình trạng tài chính của người mua có biến động Vì vậy, với thông tin này, người bán cũng có thể điều chỉnh được quan hệ của mình với người mua để đảm bảo an toàn cho chính mình
Thứ sáu: Phân biệt bao thanh toán với một số hoạt động tương tự:
Tài trợ khoản phải thu: tương tự dịch vụ ứng trước trong bao thanh toán nhưng khác ở chỗ có thể tài trợ trước giao hàng và có kỳ hạn cụ thể, thường là 6-24 tháng
Bảo hiểm tín dụng: tương tự dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua nhưng
Trang 17khác ở chỗ không cần chuyển nhượng khoản phải thu, mức độ bảo đảm chỉ từ 90% giá trị khoản phải thu và thời điểm thực hiện nghĩa vụ là khi bên mua phá sản hoặc chậm thanh toán 180 ngày
70-1.1.2 Phân loại
1.1.2.1 Căn cứ vào địa bàn hoạt động của người mua và người bán
Bao thanh toán trong nước: là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua,
bán hàng, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối
Bao thanh toán quốc tế (Xuất - Nhập khẩu): là việc bao thanh toán dựa trên
hợp đồng xuất- nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
1.1.2.2 Căn cứ vào số lượng các đơn vị bao thanh toán tham gia vào giao dịch bao thanh toán
Bao thanh toán trực tiếp: Một đơn vị bao thanh toán có thể cung cấp dịch vụ
theo dõi khoản phải thu, ứng trước, thu nợ, đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua hàng cho bên bán hàng
Bao thanh toán gián tiếp: Có hai đơn vị bao thanh toán tham gia: đại lý bao
thanh toán bên bán cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng là bên bán hàng, đại lý bao thanh toán bên mua cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng là đại lý bao thanh toán bên bán Với tư cách là đại lý bao thanh toán bên bán, đại lý có thể cung cấp cho bên bán các dịch vụ như theo dõi khoản phải thu, ứng trước, giao dịch với đại lý bao thanh toán bên mua để cung cấp dịch vụ thu nợ, đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua Với tư cách là đại lý bao thanh toán bên mua, đại lý bao thanh toán bên mua có thể cung cấp cho đại lý bao thanh toán bên bán các dịch
vụ như thu nợ, đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua hàng Như vậy, đại lý bao thanh toán bên bán không trực tiếp mà thông qua đại lý bao thanh toán bên mua để cung cấp cho bên bán dịch vụ thu nợ hay đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua
1.1.2.3 Căn cứ vào các dịch vụ bao thanh toán chính được cung cấp
Bao thanh toán có truy đòi khoản cho vay ứng trước: là việc bao thanh toán
trong đó đơn vị bao thanh toán cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ cho vay ứng
Trang 18trước dựa trên trị giá khoản phải thu Đồng thời, trong mọi trường hợp, đơn vị bao thanh toán được quyền đòi lại bên bán hàng số tiền mà họ ứng trước đó
Bao thanh toán miễn truy đòi khoản cho vay ứng trước: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ cho vay ứng trước dựa trên trị giá khoản phải thu Đồng thời, trong mọi trường hợp, đơn vị bao thanh toán không được quyền đòi lại bên bán hàng số tiền mà họ đã ứng trước đó
Bao thanh toán có bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán (hoặc đại lý bao thanh toán bên bán giao dịch với đại lý bao thanh toán bên mua hàng để đại lý bao thanh toán bên mua hàng) cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
Bao thanh toán không có đảm bảo rủi ro bên mua hàng: là việc bao thanh
toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán hàng giao dịch với đơn vị bao thanh toán bên mua hàng để đơn vị bao thanh toán bên mua hàng cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ thu nợ đơn thuần mà không có bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
Bao thanh toán có bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua hàng: là việc bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán cung cấp cho
bên bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua hàng Theo đó, trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên mua hàng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho đơn vị bao thanh toán bên bán đối với khoản phải thu được chuyển nhượng, đến ngày thứ 100 kể từ ngày đáo hạn của khoản phải thu, đơn vị bao thanh toán bên bán có trách nhiệm thanh toán 100% trị giá khoản phải thu cho bên bán hàng
Bao thanh toán không có bảo đảm rủi ro tín dụng đại lý bên mua hàng: là
việc bao thanh toán trong đó đơn vị bao thanh toán bên bán không cung cấp cho bên bán hàng dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua hàng Theo đó, bên bán hàng chịu mọi rủi ro trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên mua hàng không hoàn thành nghĩa vụ của mình với bên bán hàng
Trang 191.1.3 Các bên tham gia hoạt động
1.1.3.1 Bên bán hàng
Bên bán hàng là tổ chức có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua hàng và được quyền thụ hưởng khoản tiền hàng do bên mua trả theo đúng quy định tại hợp đồng mua, bán hàng hoá dịch vụ
1.1.3.2 Bên mua hàng
Bên mua hàng là tổ chức được nhận hàng hoá từ bên bán hàng và có nghĩa
vụ phải thanh toán các khoản phải thu quy định tại hợp đồng mua bán hàng hoá dịch
vụ
1.1.3.3 Đơn vị bao thanh toán
Đơn vị bao thanh toán hay còn gọi là đại lý bao thanh toán là tổ chức cung cấp dịch vụ bao thanh toán Tuỳ từng loại hình bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán có thể là một hoặc hai tổ chức Đối với bao thanh toán gián tiếp, có hai đơn vị bao thanh toán: đơn vị bao thanh toán bên bán hay đại lý bao thanh toán bên bán và đơn vị bao thanh toán bên mua hay đại lý bao thanh toán bên mua Đơn vị bao thanh toán bên bán sẽ cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng là người bán hàng Đơn vị bao thanh toán bên mua sẽ cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng
là đơn vị bao thanh toán bên bán
1.1.4 Các bước cơ bản trong quy trình
1.1.4.1 Bước chuẩn bị
Thoả thuận giữa người mua và người bán: Hợp đồng mua bán hay hợp đồng
xuất nhập khẩu: Người mua và người bán ký hợp đồng mua bán hàng hoá dịch vụ trong đó thoả thuận sử dụng phương thức mua bán thanh toán trả chậm dưới 180 ngày (Phương thức ghi sổ hay nhờ thu trả chậm D/A - Document Against Acceptance)
Thoả thuận giữa đại lý bao thanh toán bên bán và đại lý bao thanh toán bên mua: Hợp đồng đại lý bao thanh toán: Đối với Bao thanh toán hệ hai đại lý, hai đại
lý cần ký hợp đồng đại lý bao thanh toán nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa hai đại
lý trong quá trình cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng Nội dung thoả
Trang 20thuận thường bao gồm một số vấn đề cơ bản như: Tên, địa chỉ giao dịch của đại lý; Thoả thuận áp dụng các quy định hay thông lệ nào, thường là thoả thuận áp dụng các quy tắc hiệp hội và những thoả thuận riêng nếu có; Thoả thuận phương thức giao dịch giữa hai đại lý
Thoả thuận giữa đại lý bao thanh toán bên bán và người bán: Hợp đồng Bao
thanh toán Hợp đồng khung: Người bán và đại lý bao thanh toán thiết lập mối quan
hệ ban đầu về việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bao thanh toán, hai bên ký với nhau hợp đồng bao thanh toán khung Nội dung gồm một số vấn đề cơ bản như: Tên, địa chỉ giao dịch, phương thức giao dịch; Hạn mức bao thanh toán; Các điều khoản chung về việc ứng trước, lãi suất, thu nợ, đảm bảo rủi ro bên mua, tranh chấp giữa bên mua và bên bán; Quyền và nghĩa vụ giữa hai bên Hợp đồng chi tiết: Khi người bán đã xác định cụ thể người mua, thường là hai bên người bán và người mua đã có đơn hàng chi tiết, người bán thông báo cho đại lý thông tin về người mua, đại lý chấp nhận thực hiện bao thanh toán, hai bên ký với nhau hợp đồng bao thanh toán chi tiết Nội dung thoả thuận cụ thể về việc đại lý cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho người bán đối với một người mua xác định như tên, địa chỉ của người mua, loại hình bao thanh toán, hạn mức, phí, lãi và tuân thủ các quy định đã nêu trong hợp đồng khung
Thoả thuận giữa đại lý bao thanh toán bên mua và người mua: Cam kết
thanh toán: Khi đại lý bao thanh toán bên mua cung cấp dịch vụ bao thanh toán công khai cho bên bán/đại lý bao thanh toán bên bán, người mua ký cam kết thanh toán trong đó chấp nhận đại lý bao thanh toán là chủ nợ hợp pháp duy nhất của toàn
bộ các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán đã được bao thanh toán Đồng thời bên mua cam kết sẽ thanh toán các khoản phải thu đó cho đại lý Bao thanh toán bên mua thay vì thanh toán trực tiếp cho người bán
1.1.4.2 Bước thực hiện
Gồm các bước như sau:
1 Bên bán giao hàng cho bên mua;
2 Bên bán xuất trình chứng từ tại Đại lý bao thanh toán bên bán;
Trang 213 Nếu chứng từ đầy đủ và hợp lệ, Đại lý BTT bên bán thông báo cho Đại lý BTT bên mua Trường hợp Hợp đồng bao thanh toán giữa Đại lý BTT bên bán và bên bán có thoả thuận điều khoản ứng trước và bên bán có nhu cầu, Đại lý BTT bên bán làm thủ tục ứng trước cho bên bán;
4 Đại lý BTT bên mua tiến hành các thủ tục thu nợ từ bên mua khi đến hạn;
5 Bên mua thanh toán tiền hàng cho Đại lý BTT bên mua, Đại lý BTT bên mua chuyển tiền cho đại lý BTT bên bán;
6 Đại lý BTT bên bán thanh toán cho bên bán sau khi đã tất toán khoản ứng trước, lãi và phí bao thanh toán
Sơ đồ 1.1 Các bước thực hiện bao thanh toán
1.1.5 Vai trò của bao thanh toán
1.1.5.1 Vai trò đối với người bán
Bao thanh toán giúp khách hàng có thêm nguồn tài chính mới và không bị giới hạn bởi thiếu tài sản thế chấp, hỗ trợ việc tăng doanh số bán hàng, giảm rủi ro
do ngân hàng thực hiện kiểm tra tín dụng đối với người mua, nhất là người mua mới, ngân hàng gánh vác rủi ro do khách hàng không thanh toán (bao thanh toán miễn truy đòi), ngân hàng cung cấp dịch vụ theo dõi các khoản phải thu Bao thanh toán giúp người bán tăng tính cạnh tranh vì có thể bán trả chậm, khuyến khích
Trang 22người mua mua nhiều hơn, có thể bán chịu dài hạn hơn để tăng doanh số, giảm chi phí hành chính do ngân hàng quản lý các khoản nợ chưa thanh toán và cung cấp báo cáo
1.1.5.2 Vai trò đối với người mua
Người mua có thể nhận được tài trợ cho khoản mua mới, có thể mua trả chậm, mua hàng mà không cần mở thư tín dụng: Thông thường người bán yêu cầu người mua cung cấp thư tín dụng ngân hàng, hoặc ứng trước tiền mặt, hoặc trả tiền mặt ngay khi nhận hàng Như vậy, người mua sẽ phải tìm nguồn tài chính Nhờ bao thanh toán, người bán có thể sẵn sàng hơn trong việc bán cho người mua không cần
mở thư tín dụng hoặc ứng trước tiền mặt, tức là họ có thể đáp ứng thời hạn trả chậm
mà người mua cần Người mua cũng tiết kiệm được chi phí mở thư tín dụng và chi phí tài trợ vì các chi phí này do người bán chịu
1.1.5.3 Vai trò đối với ngân hàng
Tạo cho ngân hàng những cơ hội cho vay mới: Khoản phải thu là tài sản thế
chấp cho ngân hàng Các khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thế chấp Các khoản phải thu có tính thanh khoản, không giống như tài sản cố định
Đa dạng hoá danh mục đầu tư: Nhiều quốc gia, nhiều ngành; Danh mục đầu
tư gồm nhiều khoản tín dụng tương đối nhỏ; Danh mục đầu tư có tính thanh khoản cao do các khoản phải thu đều ngắn hạn; Có thể đi vào thị trường rộng hơn để mở rộng kinh doanh; Người vay bán hàng cho nhiều người mua ở nhiều nước khác nhau; Thâm nhập tốt vào các công ty nhỏ và vừa
1.2 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
Rủi ro hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến Rủi ro trong hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại là những vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động bao thanh toán và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Để hiểu rõ hơn về rủi ro trong hoạt động bao thanh toán, chúng ta đi sâu phân tích mối quan hệ giữa bao thanh toán và các phương thức thanh toán chủ yếu
Trang 23được sử dụng giữa người mua và người bán
Trong thương mại, người bán luôn quan tâm đến việc có thu được tiền bán hàng đầy đủ và đúng hạn hay không, còn người mua thì quan tâm đến việc có nhận được hàng đầy đủ, đúng hạn và đảm bảo chất lượng theo theo yêu cầu hay không Xuất phát từ quan hệ tiền hàng giữa người mua và người bán, cấp độ rủi ro trong thanh toán giữa người mua và người bán là trái chiều nhau Phương thức thanh toán
an toàn nhất đối với người bán cũng đồng thời là phương thức rủi ro nhất đối với người mua Dưới giác độ của người bán, có thể sắp xếp các phương thức thanh toán
cơ bản được sử dụng trong thương mại theo mức độ an toàn từ thấp đến cao như sau: Ghi sổ - Nhờ thu - Tín dụng chứng từ - Ứng trước
Ghi sổ (Open Account):
Về cơ bản, đây là hình thức thanh toán gối đầu và thường sử dụng khi giao hàng định kì Điều khoản Open Account liên quan đến thoả thuận tín dụng giữa người mua và người bán hàng hoá dịch vụ trong đó hàng hoá được gửi đi trước khi thanh toán Người mua được trả chậm một khoảng thời gian sau khi gửi hàng Thoả thuận này ở một số nước là phổ biến trong thương mại nội địa, ít phổ biến hơn trong thương mại quốc tế, và thường được sử dụng cho các khách hàng có uy tín trong thanh toán và có khả năng tín dụng tốt Người bán áp dụng phương thức thanh toán trả chậm nên hiểu biết người mua của họ và có khả năng thích ứng với các điều kiện kinh tế, chính trị ở nước người mua Tuỳ theo loại tiền sử dụng, người bán còn có thể đối mặt với rủi ro lên xuống thất thường của tỷ giá Ví dụ, nếu người bán đưa ra điều khoản “net 30 days after shipment” thì có nghĩa là người mua phải thanh toán
nợ trong vòng 30 ngày kể từ sau ngày gửi hàng Thoả thuận này là một hình thức của Open Account vì người mua không phải thanh toán cho đến khi hàng đã được gửi Khi thoả thuận về việc trả chậm được sử dụng, tất cả các rủi ro tín dụng chuyển sang người bán vì họ đã gửi hàng trước khi được thanh toán Thoả thuận tín dụng này còn đòi hỏi người bán phải đầu tư một số vốn hoạt động lớn vì sự trì hoãn dòng tiền phát sinh khi thanh toán chậm Người bán còn phải gánh chi phí mua hàng hay chi phí sản xuất hàng hoá trong một khoảng thời gian dài nhất so với tất cả các
Trang 24phương thức thanh toán khác Trong giao dịnh với nước ngoài, trả chậm là phương thức thanh toán thuận lợi nếu người mua được xác định là tốt, có ghi nhận về việc thực hiện thanh toán tốt trong suốt thời gian dài, hoặc đã được kiểm tra kỹ về khả năng tín dụng Với phương thức thanh toán trả chậm, người xuất khẩu đơn giản chỉ cần lập hoá đơn cho khách hàng thoả thuận thanh toán với điều kiện trả chậm Một
số công ty lớn ở nước ngoài chỉ mua hàng với điều kiện trả chậm
Nhờ thu (Collection)
Thanh toán bằng phương thức nhờ thu giúp hạn chế rủi ro cho cả người bán
và người mua, người bán sớm nhận được tiền hàng, vì ngân hàng đóng vai trò trung gian thu tiền hàng từ người mua thanh toán cho số hàng người bán đã giao Độ rủi
ro đối với người bán cao hơn vì người bán không có sự đảm bảo thanh toán của ngân hàng như trong phương thức tín dụng chứng từ nhưng anh ta có thể kiểm soát hàng hóa thông qua ngân hàng nhờ thu Người bán sẽ yêu cầu người mua thanh toán cho hối phiếu theo một trong hai cách sau:
D/P (documents against payment): trả tiền thì giao chứng từ Ngân hàng nhờ thu chỉ giao chứng từ khi người mua thanh toán hối phiếu
D/A (documents against acceptance): chấp nhận thanh toán thì giao chứng từ D/A có nghĩa là người xuất khẩu đã cấp tín dụng cho người nhập khẩu Thời hạn cho vay chính là kì hạn của hối phiếu hay còn gọi là kì hạn trả chậm D/A đòi hỏi người mua phải chấp nhận hối phiếu, ví dụ kí cam kết thanh toán vào thời điểm xác định trong tương lai Khi người mua đã chấp nhận hối phiếu, anh ta có thể nhận chứng
từ và lấy hàng Đối với người bán, độ rủi ro của điều kiện D/A cao hơn điều kiện D/P Trong điều kiện D/P, thông qua ngân hàng người bán vẫn kiểm soát hàng hóa cho đến khi người mua thanh toán Trong điều kiện D/A, người mua chỉ chấp nhận hối phiếu, cam kết thanh toán khi đến hạn, tiếp nhận chứng từ và lấy hàng
Tín dụng chứng từ (Documentary credit)
Thư tín dụng là một cam kết bằng văn bản của ngân hàng phát hành , được
Trang 25phát hành theo yêu cầu của người mua hàng cam kết trả tiền cho người thụ hưởng nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng Đối với người mua, ngân hàng đại diện cho người mua thanh toán, người mua nhận chứng từ và có quyền sở hữu hàng hoá Đối với người bán, có thể dựa vào cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành thay vì phải trông chờ vào khả năng hay thiện chí thanh toán của người mua Người bán cũng không thể nhận được tiền hàng trừ phi tuân thủ tất cả các điều kiện của thư tín dụng
Ứng trước (Advance payment)
Đây là phương thức an toàn nhất đối với người bán nhưng lại kém hấp dẫn nhất đối với người mua Người mua thống nhất giá hàng với người bán và gửi cho người bán tiền hàng cùng với đơn đặt hàng cố định trước khi hàng hóa được giao Phương thức thanh toán này sẽ được sử dụng khi: Người mua không thể hoặc không muốn mở LC, hoặc người mua có khả năng trả tiền ngay và có thể được hưởng chiết khấu do trả tiền ngay, hoặc một người mua hàng từ một công ty bán hàng qua đường bưu điện Người nhập khẩu có thể thỏa thuận với ngân hàng để thực hiện việc trả trước thông qua ngân hàng Rủi ro đối với người mua là 100%, nhưng bù lại người mua có thể được giảm tiền hàng do thanh toán trước
Phân tích trên đây cho thấy, trừ phương thức ứng trước, các phương thức thanh toán khác đều phát sinh khoản phải thu đối với người bán Điều đó cũng đồng nghĩa với khả năng phát sinh rủi ro không thu được tiền đối với người bán hàng Với phương thức nhờ thu hay thư tín dụng, bản thân trong đó đã có sự tham gia của ngân hàng làm trung gian giảm bớt mức độ phụ thuộc của người bán vào khả năng hay thiện chí thanh toán của người mua Tuy nhiên sự cam kết hay bảo đảm của ngân hàng chỉ thực sự có ở phương thức tín dụng chứng từ và nhờ thu D/P Việc bán hàng trả chậm theo hình thức ghi sổ hay D/A là những phương thức an toàn nhất đối với người mua hay nói cách khác là hấp dẫn nhất đối với người mua Tuy nhiên, có nhiều rủi ro đối với việc bán hàng trả chậm như đã trình bày trên đây Việc thiếu các chứng từ và các kênh ngân hàng có thể gây khó khăn trong việc phải theo đuổi việc đòi tiền Người xuất khẩu còn có thể phải thu tiền ở nước ngoài, sẽ
Trang 26khó khăn và tốn kém Sự có mặt của bao thanh toán chính là sự tham gia của các tổ chức tín dụng để giải quyết những vướng mắc này
Như vậy, bao thanh toán phát sinh từ nhu cầu chia sẻ rủi ro trong mua bán hàng trả chậm thanh toán bằng phương thức ghi sổ hoặc D/A của khách hàng với đơn vị bao thanh toán Do đó, khi ngân hàng thực hiện hoạt động bao thanh toán, bên cạnh các rủi ro phổ biến trong kinh doanh của ngân hàng thương mại như rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi xuất, rủi ro thanh khoản… thì ngân hàng còn phải chấp nhận đối mặt với những rủi ro của khách hàng chuyển sang cho ngân hàng thông qua sử dụng các dịch vụ trong bao thanh toán Bên cạnh đó, tại Việt Nam, bao thanh toán là hoạt động mới và rủi ro lớn nhất trong việc đưa một sản phẩm dịch vụ mới ra thị trường là sản phẩm đưa ra không được thị trường chấp nhận (không bán được hàng) hay còn gọi là rủi ro về doanh số Với mục đích nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động bao thanh toán, các nội dung tiếp theo của Luận văn sẽ tập trung phân tích những nét đặc thù của rủi ro trong các dịch vụ bao thanh toán cung cấp
1.2.2 Nhận dạng rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
1.2.2.1 Căn cứ vào các dịch vụ của bao thanh toán
Rủi ro trong dịch vụ ứng trước: Rủi ro quan trọng nhất trong chức năng ứng
trước là rủi ro tín dụng, đó là khả năng xảy ra tổn thất của đơn vị bao thanh toán khi không thu hồi được đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi số tiền đã ứng trước cho bên bán Rủi ro tín dụng phát sinh trường hợp: Khi xảy ra tranh chấp thương mại, bên mua hàng không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho đến khi tranh chấp được giải quyết và bên bán hàng phải hoàn trả cho đơn vị bao thanh toán số tiền đã được ứng trước cho khoản phải thu đó Nếu bên bán hàng không có khả năng hoàn trả đầy đủ, đơn vị bao thanh toán sẽ gặp tổn thất Như vậy nếu hạn chế được tranh chấp thương mại và quản lý khách hàng bên bán tốt thì ngân hàng sẽ phòng ngừa và hạn chế được rủi ro này
Rủi ro trong dịch vụ đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua: Loại hình rủi ro trong
chức năng này là rủi ro bảo lãnh Có thể là bảo lãnh cho bên mua hàng hoặc bảo
Trang 27lãnh cho bên bán hàng Rủi ro bảo lãnh cho bên mua hàng phát sinh trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên mua hàng cung cấp dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng Nếu nên mua hàng phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, đơn vị bao thanh toán bên mua sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mình là thanh toán cho đơn
vị bao thanh toán bên bán 100% giá trị khoản phải thu được chuyển nhượng (trừ đi phí bao thanh toán và các phí khác theo thoả thuận)
Rủi ro bảo lãnh bên bán hàng xảy ra trong trường hợp đơn vị bao thanh toán bên xuất khẩu phối hợp với đơn vị bao thanh toán bên nhập khẩu cung cấp cho bên xuất khẩu dịch vụ đảm bảo rủi ro tín dụng bên nhập khẩu Theo quy định về bao thanh toán quốc tế hiện đang áp dụng trong FCI, khi xảy ra tranh chấp thương mại giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu trong thời gian cho phép là 180 ngày sau ngày đến hạn của khoản phải thu, đơn vị bao thanh toán bên nhập khẩu có quyền truy đòi lại đơn vị bao thanh toán bên xuất khẩu số tiền đơn vị bao thanh toán bên nhập khẩu
đã thanh toán khi thực hiện nghĩa vụ bảo đảm rủi ro tín dụng Khi đó đơn vị bao thanh toán bên xuất khẩu sẽ phải truy đòi lại từ bên xuất khẩu để thanh toán cho đơn
vị bao thanh toán bên nhập khẩu Nếu bên xuất khẩu mất khả năng thanh toán, đơn
vị bao thanh toán sẽ phải thực hiện nghĩa vụ này Như vậy, về bản chất, bảo lãnh bên bán chính là bảo lãnh về việc giao hàng đúng thoả thuận của bên bán Nếu bên bán không thực hiện tốt nghĩa vụ giao hàng của mình, tranh chấp sẽ xảy ra và đơn
vị bao thanh toán bên bán sẽ phải hoàn trả tiền cho bên mua Nếu không đòi được tiền từ bên bán, tổn thất sẽ xảy ra
Rủi ro trong dịch vụ thu nợ: Khi phát sinh khoản phải thu, đơn vị bao thanh
toán bên bán chuyển nhượng khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán bên mua Đơn vị bao thanh toán bên mua thực hiện thu nợ từ người mua theo uỷ quyền của đơn vị bao thanh toán bên bán Nếu không thu được nợ hoặc thu nợ chậm, đơn vị bao thanh toán sẽ mất uy tín với khách hàng của mình và thất thu chi phí hoạt động Rủi ro cũng có thể xảy ra ở khâu thực hiện thanh toán khoản tiền thu được nếu thanh toán nhầm hoặc thanh toán chậm
Trang 28Rủi ro trong dịch vụ theo dõi khoản phải thu:
Rủi ro khoản phải thu: Khoản phải thu là cơ sở để cung cấp dịch vụ bao thanh toán, vì vậy nếu bản thân khoản phải thu đã không phù hợp thì kéo theo hệ luỵ đến toàn bộ các giao dịch về sau Những rủi ro có thể là khoản phải thu giả mạo, khoản phải thu không được phép chuyển nhượng, khoản phải thu có điều kiện thanh toán dây dưa, khoản phải thu của loại hàng hoá dễ gây ra tranh chấp, khoản phải thu hết hiệu lực
Rủi ro chuyển nhượng khoản phải thu: Thủ tục chuyển nhượng khoản phải thu đảm bảo quyền và lợi ích liên quan gắn liền với khoản phải thu đó Vì vậy nếu thủ tục chuyển nhượng khoản phải thu không hợp pháp, hợp lệ sẽ dẫn đến rủi ro chuyển nhượng vô hiệu
Rủi ro quản lý phải thu:Kể từ khi nhận chuyển nhượng các khoản phải thu, đơn vị bao thanh toán phải có trách nhiệm quản lý các khoản phải thu và thông báo định kỳ cho khách hàng theo thời hạn đã thoả thuận Việc quản lý khoản phải thu bao gồm cả quản lý hồ sơ khoản phải thu cũng như quản lý tình trạng của khoản phải thu Nếu công tác thống kê lưu trữ không tốt cũng dẫn đến rủi ro mất mát hồ
sơ Nếu việc theo dõi khoản phải thu không khoa học sẽ dẫn đến những chậm chễ hoặc sai sót khi thông báo tình trạng khoản phải thu, vi phạm cam kết đối với khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín của đơn vị bao thanh toán cũng như phải gánh chịu các tổn thất phát sinh
1.2.2.2 Căn cứ theo giai đoạn phát sinh
Rủi ro trong khâu chuẩn bị cung cấp dịch vụ: Rủi ro chủ yếu trong khâu
chuẩn bị cung cấp dịch vụ bao gồm rủi ro khách hàng, rủi ro đối tác và rủi ro pháp
lý bởi nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị bao thanh toán ở khâu chuẩn bị cung cấp dịch
vụ là tìm kiếm khách hàng và đại lý bao thanh toán phù hợp, đánh giá chính xác khách hàng và đại lý bao thanh toán để xác định các hạn mức tối ưu cũng như ký kết các điều khoản thoả thuận thích hợp
Rủi ro trong khâu thực hiện dịch vụ: Rủi ro chủ yếu trong khâu thực hiện
cung cấp dịch vụ là rủi ro khoản phải thu, rủi ro tín dụng, rủi ro thu nợ bởi đây là
Trang 29giai đoạn ngân hàng nhận chuyển nhượng khoản phải thu và thực hiện các hoạt động ứng trước, đảm bảo rủi ro tín dụng và thu nợ theo các điều khoản cam kết trong các thoả thuận đã ký kết
1.2.2.3 Căn cứ theo vai trò tham gia của đơn vị bao thanh toán
Rủi ro đối với đơn vị bao thanh toán bên bán:
Rủi ro tín dụng: Đơn vị bao thanh toán bên bán ứng trước cho bên bán khi xuất trình hoá đơn thuộc hợp đồng Bao thanh toán đã ký Số tiền ứng trước được hoàn trả khi thu được tiền từ người mua/ đại lý bao thanh toán bên mua Trường hợp không thu được tiền, nếu là ứng trước có truy đòi thì người bán phải hoàn lại tiền ứng trước cho đại lý Trường hợp khoản phải thu có tranh chấp dẫn đến không thu được tiền thì cũng có thể thu hồi tiền từ người bán Người bán cũng có thể tự động thanh toán các khoản ứng trước bằng các nguồn khác mà không cần phải chờ nguồn thu bán hàng Như vậy rủi ro xảy ra khi người bán không có khả năng thanh toán
Rủi ro phối hợp cung cấp dịch vụ thu nợ: Đơn vị bao thanh toán gặp rủi ro mất uy tín đối với người bán hàng nếu không chọn được đại lý bao thanh toán bên mua làm tốt công tác thu nợ, khiến cho việc thu nợ chậm hoặc không dàn xếp được với người mua khiến cho tranh chấp xảy ra
Rủi ro cung cấp đảm bảo rủi ro tín dụng đơn vị bao thanh toán bên mua: Rủi
ro xảy ra khi đơn vị bao thanh toán bên mua hàng đã thu được nợ từ bên mua hàng Tuy nhiên, đơn vị bao thanh toán bên mua hàng bị phá sản/mất khả năng thanh toán/không thanh toán cho đại lý bao thanh toán bên bán khoản tiền đã thu được đó
để trả cho bên bán hàng
Rủi ro đối với đơn vị bao thanh toán bên mua:
Rủi ro thu nợ: Khi phát sinh khoản phải thu, đơn vị bao thanh toán bên bán chuyển nhượng khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán bên mua Đơn vị bao thanh toán bên mua thực hiện thu nợ từ người mua theo uỷ quyền của đơn vị bao thanh toán bên bán Nếu không thu được nợ hoặc thu nợ chậm, đơn vị bao thanh toán bên mua sẽ mất uy tín với khách hàng của mình là đơn vị bao thanh toán bên
Trang 30bán và thất thu chi phí hoạt động Rủi ro cũng có thể xảy ra ở khâu thực hiện thanh toán cho đơn vị bao thanh toán bên bán khoản tiền thu được nếu thanh toán nhầm hoặc thanh toán chậm
Rủi ro đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua: Đơn vị bao thanh toán bên mua cam kết thanh toán thay cho bên mua vào ngày thứ 90 kể từ ngày đáo hạn của khoản phải thu nếu bên mua không có khả năng thanh toán hoặc không thanh toán khoản phải thu với điều kiện không có bất kỳ tranh chấp nào về hàng hoá giữa bên mua hàng và bên bán hàng hay bất kỳ bên thứ 3 nào khác
Rủi ro từ đại lý bao thanh toán bên bán: Bên cạnh rủi ro do bên mua hàng phá sản/mất khả năng thanh toán/không thanh toán cho mình những khoản bên mua hàng phải trả cho bên bán hàng, đơn vị bao thanh toán bên mua có thể bị mất khoản phí bao thanh toán phải thu từ đơn vị bao thanh toán bên bán hàng nếu đơn vị bao thanh toán bên bán hàng bị phá sản/mất khả năng thanh toán/không thanh toán cho đại lý bao thanh toán bên mua khoản phí bao thanh toán mà đại lý bao thanh toán bên mua được hưởng từ việc cung cấp dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng bên mua hàng
Rủi ro đối với đơn vị bao thanh toán cả hai bên mua và bán: Bên bán hàng
đề nghị đơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh toán các khoản phải thu Nếu chấp nhận, đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng ký kết hợp đồng bao thanh toán, thông báo cho bên mua hàng Bên bán hàng chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán, chứng từ bán hàng và các chứng từ liên quan khác đến khoản phải thu cho đơn
vị bao thanh toán Đơn vị bao thanh toán chuyển tiền ứng trước cho bên bán hàng theo hợp đồng bao thanh toán nếu có điều khoản ứng trước Đơn vị bao thanh toán theo dõi, thu nợ từ bên mua hàng, tất toán tiền với bên bán hàng theo quy định trong hợp đồng và giải quyết các vấn đề phát sinh khác nếu có Như vậy tuỳ theo dịch vụ cung cấp, đơn vị bao thanh toán sẽ phải chấp nhận rủi ro đối với cả đơn vị bao thanh toán bên bán và đơn vị bao thanh toán bên mua, những rủi ro đến từ cả người bán và người mua
Trang 311.2.3 Các nguyên nhân rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
1.2.3.1 Các nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân thuộc về môi trường kinh tế, chính trị: Những thay đổi chính
sách và những đặc thù trong hoạt động thương mại, tài chính, ngân hàng, môi trường công khai minh bạch về tài chính, hoạt động phòng chống rửa tiền trong và ngoài nước, các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế là những nhân tố quan trọng tác động tới sự đa dạng, tính phức tạp và mức độ rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
Nguyên nhân thuộc về môi trường pháp lý: Mức độ hoàn thiện của môi
trường pháp lý, sự phù hợp giữa luật pháp trong nước và quốc tế, sự thống nhất giữa các văn bản pháp lý, sự rành mạch về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia sẽ tác động lớn tới các rủi ro mang tính thuân thủ và rủi ro tranh chấp trong hoạt động bao thanh toán
Nguyên nhân thuộc về đối tác (đại lý bao thanh toán): Khả năng tài chính,
mức độ chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ và uy tín của đại lý bao thanh toán sẽ góp phần tích cực chia sẻ và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động bao thanh toán của đơn vị bao thanh toán
Nguyên nhân thuộc về khách hàng: Sự am hiểu của khách hàng trong lĩnh
vực ngành nghề kinh doanh, trình độ quản lý hoạt động kinh doanh, khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh, uy tín của khách hàng trong quan hệ với bạn hàng, với ngân hàng là những nhân tố then chốt và tác động trực tiếp tới rủi
ro trong hoạt động bao thanh toán
1.2.3.2 Các nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân thuộc về vị thế và uy tín của ngân hàng: Ngân hàng có tiềm lực
về tài chính, có uy tín và kinh nghiệm trong hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế sẽ có điều kiện tiếp cận cũng như lựa chọn đối tác và khách hàng tốt Đặc biệt trong hoạt động bao thanh toán quốc tế, các tiêu chuẩn thành viên tham gia hiệp hội bao thanh toán, các tiêu chí đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh và chất lượng dịch vụ của đơn vị bao thanh toán được quy định và là những căn cứ quan trong để các thành viên chọn lựa đối tác cùng chia sẻ, gánh vác rủi ro trong hoạt
Trang 32đọng bao thanh toán cung cấp cho khách hàng
Nguyên nhân thuộc về chính sách của ngân hàng: Vị trí, vai trò của bao
thanh toán trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ ảnh hưởng tới chính sách của ngân hàng trong phát triển hoạt động này Mức độ ưu tiên về nguồn vốn tín dụng, về lãi suất, về khả năng cung ứng ngoại tệ, chính sách khách hàng đối với hoạt động bao thanh toán trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới doanh thu-chi phí của hoạt động bao thanh toán Các chính sách phòng ngừa và hạn chế rủi ro hoạt động bao thanh toán của ngân hàng là một bộ phận không tách rời của chính sách quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng
Nguyên nhân thuộc về đội ngũ nhân viên ngân hàng: Con người luôn là yếu
tố then chốt tác động tới rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động bao thanh toán nói riêng Rủi ro liên quan tới yếu tố con người chủ yếu là rủi ro về trình độ và rủi ro về đạo đức Sự am hiểu kỹ thuật nghiệp vụ về thanh toán, về chứng từ, về phân tích đánh giá khách hàng, am hiểu luật pháp và các thông lệ trong
và ngoài nước, khả năng giao dịch đàm phán của các cán bộ ngân hàng là những nhân tố quyết định phần lớn tới chất lượng dịch vụ cũng như an toàn của hoạt động bao thanh toán Rủi ro về đạo đức thể hiện ở hành vi gian lận của con người kết hợp với việc lợi dụng các điểm yếu trong hệ thống và quy trình giao dịch
Nguyên nhân thuộc về quy trình giao dịch bao thanh toán của ngân hàng:
Quy trình giao dịch hay quy trình nghiệp vụ là chuỗi các công việc được sắp xếp thực hiện theo một trật tự nối tiếp hay song song bởi hai hay nhiều hơn các cá nhân
để đạt đến một mục đích chung theo yêu cầu hoàn thành một giao dịch Một trong những mục đích quan trọng của việc xây dựng quy trình nghiệp vụ cũng là để hình thành nên các chốt kiểm soát để phòng ngừa và hạn chế rủi ro hoạt động Quy trình chặt chẽ và hợp lý sẽ dung hoà giữa yêu cầu thuận lợi cho tác nghiệp và cung ứng dịch vụ với yêu cầu phòng ngừa hạn chế rủi ro
Nguyên nhân thuộc về trình độ công nghệ thông tin: Công nghệ thông tin
ngày nay đóng vai trò quan trọng như một nguồn lực không thể thiếu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong xử lý giao dịch tác
Trang 33nghiệp cũng như trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh là một trong những nhân tố quan trọng để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, quyết định tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh
1.2.4 Các biện pháp chủ yếu trong phòng ngừa và hạn chế rủi ro bao thanh toán
Thứ nhất: Xây dựng mô hình tổ chức hoạt động bao thanh toán phù hợp với
cơ chế phân cấp ủy quyền của đơn vị bao thanh toán Hiện nay, trên thế giới có 3
mô hình tổ chức hoạt động bao thanh toán cơ bản là mô hình có phòng bao thanh toán độc lập trong ngân hàng thương mại, mô hình trong đó bao thanh toán là một chức năng của phòng tài trợ trong ngân hàng thương mại, hoặc mô hình công ty bao thanh toán độc lập hay trực thuộc ngân hàng Khi tham gia hoạt động bao thanh toán, các đơn vị phải xác định tổ chức theo mô hình nào và quan trọng là cơ cấu tổ chức hoạt động phải phù hợp với cơ chế phân cấp ủy quyền của đơn vị để đảm bảo phù hợp với chính sách quản lý rủi ro của đơn vị Chính vì vậy, đối với các đơn vị muốn tham gia hiệp hội FCI, một trong những điều kiện để xét duyệt thành viên là đơn vị phải trình lên được mô hình hoạt động bao thanh toán dự kiến với cơ cấu tổ chức đầy đủ, phân cấp ủy quyền rõ ràng
Thứ hai: Xác định các giới hạn phù hợp với chính sách quản lý rủi ro tín dụng có tính đến đặc thù của hoạt động bao thanh toán Như trên đã phân tích, rủi
ro tín dụng là một trong những rủi ro lớn nhất của đơn vị bao thanh toán Cho dù bao thanh toán nằm trong hoạt động của ngân hàng thương mại hay công ty tài chính độc lập thì vẫn phải xác định các giới hạn tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng để giảm thiểu rủi ro tín dụng Tuy nhiên, các giới hạn tín dụng trong bao thanh toán có đặc thù khác các hoạt động tín dụng thông thường của ngân hàng thương mại ở chỗ đây là loại hình tín dụng cấp cho người bán nhưng dựa trên khả năng thanh toán của người mua Vì vậy cần tập trung vào biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng bên mua
Thứ ba: Xây dựng quy trình nghiệp vụ bao thanh toán rõ ràng, đầy đủ và thường xuyên kiểm tra tính tuân thủ Đây là biện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro
Trang 34tác nghiệp của hầu hết các hoạt động ngân hàng Nhưng đối với hoạt động bao thanh toán thì càng cần thiết và có vai trò hết sức quan trọng bởi bao thanh toán là hoạt động hỗn hợp của tín dụng, bảo lãnh, thanh toán, kế toán thương mại Nếu quy trình không đầy đủ, không thiết lập được các chốt kiểm tra ngay trong các khâu xử
lý nghiệp vụ thì sẽ dẫn đến chồng chéo và có những lỗ hổng cho rủi ro
Thứ tư: Thiết lập mạng lưới đại lý bao thanh toán tin cậy Thực hiện bao
thanh toán hai đại lý là một trong những biện pháp để chia sẻ rủi ro của đơn vị bao thanh toán Vì vậy, chất lượng của đại lý bao thanh toán có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ rủi ro trong hoạt động bao thanh toán Vì vậy, bên cạnh việc hỗ trợ các thành viên các tiêu chí lựa chọn đại lý, hiệp hội FCI thường xuyên tạo điều kiện và khuyến khích các thành viên coi trọng việc xây dựng, duy trì và định kỳ kiểm tra mạng lưới đại lý của mình
Thứ năm: Đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và sử dụng công nghệ thông tin hiện đại Như trên đã phân tích, để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
hoạt động mua bán hàng trả chậm, khách hàng đã chuyển giao công tác theo dõi, thu nợ, đảm bảo rủi ro tín dụng bên mua…cho đơn vị chuyên nghiệp hơn là các tổ chức tài chính thông qua sử dụng các dịch vụ bao thanh toán Điều đó cũng đồng nghĩa với yêu cầu vượt trội về đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp cũng như hệ thống công nghệ thông tin hiện đại trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Phương pháp đào tạo nhân viên bao thanh toán chủ yếu tập trung đào tạo về kỹ năng như kỹ năng phân tích tài chính, kỹ năng thu nợ, kỹ năng kiểm tra chứng từ cũng như kiến thức
về các thị trường xuất nhập khẩu Hệ thống công nghệ thông tin sử dụng trong bao thanh toán bên cạnh yêu cầu về tính bảo mật dữ liệu cao còn phải có sự tương thích với hệ thống kế toán doanh nghiệp và theo dõi sự khớp đúng giữa các dữ liệu thương mại và các dữ liệu tài chính
Trang 351.3 Kinh nghiệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro bao thanh toán trên thế giới
và tại Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hiệp hội bao thanh toán
Trên thế giới có rất nhiều hiệp hội bao thanh toán quốc gia cũng như quốc tế Hầu hết các đơn vị bao thanh toán nếu không phải là thành viên của hiệp hội bao thanh toán trong nước thì cũng là thành viên của hiệp hội bao thanh toán quốc tế hoặc cả hai Điều này dễ hiểu bởi tham gia hiệp hội bao thanh toán cũng là một trong những biện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro Trong số các hiệp hội bao thanh toán quốc tế thì FCI là hiệp hội có doanh số bao thanh toán lớn nhất, thị phần bao thanh toán lớn nhất thế giới, số lượng thành viên nhiều nhất Một trong những
lý do để có được thành công đó là do FCI đã xây dựng được cho các thành viên một môi trường rất tốt để hợp tác phát triển an toàn, bền vững Kinh nghiệm của FCI trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho các thành viên của mình có thể thấy một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất: FCI tích cực hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và tư vấn với cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm ban hành các văn bản pháp lý liên quan tới hoạt động bao thanh toán tại các quốc gia có thành viên để hạn chế rủi ro do vấn đề xung đột pháp lý giữa luật quốc gia và luật quốc tế
Thứ hai: FCI có một hệ thống các quy tắc điều chỉnh hoạt động bao thanh toán giữa các thành viên của hiệp hội như Điều lệ FCI, các quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế, thoả thuận đại lý giữa các thành viên FCI, Quy tắc trọng tài FCI, Quy tắc giao dịch giữa các thành viên trong mạng edifactoring.com Điều lệ FCI quy định chung về bộ máy tổ chức, các chức năng và hoạt động của hiệp hội Các quy tắc chung về bao thanh toán quốc tế (GRIF- General Rules for International Factoring) của FCI: Bộ quy tắc hiện nay ra đời từ 01/07/2002 thay thế cho bộ quy tắc Code of International Factoring cũ, điều chỉnh hoạt động bao thanh toán giữa các thành viên của FCI.Thoả thuận đại lý: Các đại lý bao thanh toán thiết lập giao dịch với nhau trên cơ sở ký thoả thuận đại lý để thống nhất các quy tắc giao dịch
Trang 36Về nguyên tắc các bên có thể thoả thuận với nhau việc tuân thủ hay không tuân thủ, hay sửa đổi các quy tắc của FCI Tuy nhiên trong thực tế, các quy tắc của hiệp hội được xây dựng trên cơ sở thống nhất ý kiến của các thành viên nên hầu như không
có các thoả thuận khác Quy tắc trọng tài FCI quy định trình tự áp dụng trong tài: Khi có tranh chấp giữa hai thành viên, FCI sẽ đứng ra phân xử dựa trên các quy tắc của hiệp hội, nếu cần thiết, tranh chấp sẽ được giải quyết theo phán quyết của tổ trong tài FCI Trên thực tế chưa có sự ghi nhận nào về việc một toà án hay trong tài thương mại thế giới thụ lý các vụ tranh chấp bao thanh toán quốc tế Cho đến nay, hiệp hội vẫn là nơi duy nhất các đại lý bao thanh toán tìm được sự phân xử hợp lý
Thứ ba: FCI tạo lập hệ thống giao dịch điện tử cho hoạt động bao thanh toán giữa các thành viên để tạo thuận lợi cho các thành viên trong xử lý giao dịch bao thanh toán, đồng thời đảm bảo cho giao dịch nhanh chóng, an toàn, vừa bảo mật được số liệu trong hiệp hội, vừa chia sẻ được thông tin giữa các thành viên, tạo sự minh bạch về số lượng cũng như chất lượng giao dịch của các thành viên Trang Web: www.edifactoring.com là mạng thông tin liên lạc riêng của hiệp hội Mạng này cho phép các thành viên của hiệp hội trao đổi thư từ điện tử giao dịch với nhau, thống kê chất lượng dịch vụ của các thành viên, báo cáo tập trung, xem tình trạng tài khoản bao thanh toán Ngoài ra mạng cũng cho phép bên thứ ba (người xuất khẩu, nhập khẩu) có thể tiếp cận vào mạng
Thứ tư: FCI tạo lập diễn đàn chung cho các thành viên để chia sẻ các kinh nghiệm phòng ngừa hạn chế rủi ro thông qua các tình huống, các trường hợp thực tế xảy ra Tại diễn đàn này, các thành viên cũng có cơ hội được tiếp cận với những chuyên gia tư vấn hàng đầu của hiệp hội về các vấn đề liên quan tới các quy định pháp lý cũng như các kỹ năng quản lý, phân tích, đánh giá, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bao thanh toán
Thứ năm: Các điều kiện quy định chặt chẽ đối với các thành viên của hiệp hội cũng chính là một bước sàng lọc để lựa chọn những đơn vị bao thanh toán tốt nhất cho hiệp hội Khi gia nhập FCI, mọi thành viên đều trải qua giai đoạn thử thách
3 năm với tư cách là thành viên không chính thức Các khóa đào tạo và các yêu cầu
Trang 37tham dự đào tạo đối với các thành viên cũng là nhằm tạo dựng cho tất cả các thành viên đều có một đội ngũ nhân viên bao thanh toán có kiến thức và có kỹ năng để hoạt động tốt
1.3.1.2 Kinh nghiệm của quốc gia
Trong số các quốc gia tham gia hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI thì Trung quốc là một điển hình về tốc độ phát triển hoạt động bao thanh toán và có sự khởi đầu khá giống với Việt nam Bao thanh toán được cung cấp trong phạm vi hoạt động của các ngân hàng thương mại
Năm 2001, Trung quốc có 2 ngân hàng bắt đầu tham gia FCI là Bank of China và Bank of Communication cung ứng dịch vụ bao thanh toán Khi đó khái niệm về bao thanh toán còn hết sức mới mẻ đối với các doanh nghiệp cũng như đối với hệ thống ngân hàng Bank of China là ngân hàng đi đầu trong nghiên cứu khảo sát nhu cầu về bao thanh toán và đưa sản phẩm bao thanh toán đến với khách hàng tại thị trường này Ở giai đoạn này, Trung quốc cũng bắt đầu vào WTO, các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ và Châu Âu cũng đang chuyển hướng sử dụng phương thức thanh toán ghi sổ thay vì sử dụng phương thức quen thuộc là L/C theo yêu cầu của các thị trường này Khi đó doanh số bao thanh toán của Trung quốc mới chỉ đạt 1,2 triệu EUR Đến năm 2005 doanh số đã đạt tới 5,8 triệu EUR và năm 2006 là 14,3 triệu, năm 2007 đạt 32,9 triệu với 14 ngân hàng
có hoạt động bao thanh toán, trở thành một quốc gia tiêu biểu về phát triển hoạt động bao thanh toán
Để đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững như vậy, không thể không nói đến những biện pháp tích cực được đưa ra cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro hoạt động bao thanh toán
Thứ nhất: Về chính sách vĩ mô:
Năm 2000, Luật Hợp đồng mới của Trung quốc được quốc hội ban hành đã khuyến khích phát triển bao thanh toán tại Trung quốc bởi nó giúp làm rõ những vấn đề còn chưa rõ ràng về mặt pháp lý xung quanh việc chuyển nhượng khoản phải thu, bảo vệ cho đơn vị bao thanh toán để mở đường cho phát triển hoạt động này
Trang 38Năm 2007, Trung quốc ban hành Luật Tài sản Luật này cho phép công nhận khoản phải thu hiện tại hoặc tương lai được sử dụng làm tài sản đảm bảo của người
đi vay Tháng 10/2007, quy chế về đăng ký thế chấp khoản phải thu có hiệu lực Ngân hàng Trung ương Trung quốc đã xây dựng và quản lý tập trung hệ thống đăng
ký qua mạng Những nhà cho vay, sau khi ký hợp đồng nhận thế chấp khoản phải thu sẽ đăng ký để bảo vệ quyền lợi của mình, phòng ngừa rủi ro người đi vay có thể
sử dụng vào việc khác hoặc khoản phải thu giả mạo Có thể nói đây là bước tiến quan trọng trong chính sách quản lý rủi ro hoạt động bao thanh toán của hệ thống ngân hàng Trung quốc
Thứ hai:Về chính sách của các ngân hàng hoạt động bao thanh toán:
Một điểm nổi bật thể hiện sự nhìn xa trông rộng của các ngân hàng trong công tác phòng ngừa hạn chế rủi ro để phát triển bền vững, đó là sự đầu tư xứng đáng vào yếu tố con người Liên tục trong các năm 2004, 2005, một số lượng lớn cán bộ của các ngân hàng thương mại cũng như ngân hàng Trung ương Trung quốc được gửi đi đào tạo tại các khóa đào tạo chuyên nghiệp của hiệp hội FCI, IFG, cũng như thực tập tại các đơn vị bao thanh toán tầm cỡ thế giới nhằm tiếp thu những chuẩn mực quốc tế cũng như kinh nghiệm hàng đầu của thế giới về bao thanh toán Liên tục trong các năm đó, Trung quốc luôn được ghi danh và trao các giải thưởng của hiệp hội về thành tích xuất xắc dẫn đầu của các học viên Trung Quốc, là tấm gương về tinh thần học hỏi và cầu thị Điều này không chỉ giúp đưa Trung quốc sớm hòa nhập với làng bao thanh toán thế giới mà còn tạo một hình ảnh chuyên nghiệp, an tâm cho các đối tác khi hợp tác với các ngân hàng Trung quốc
1.3.1.4 Kinh nghiệm của đơn vị bao thanh toán
Xét về kinh nghiệm hoạt động bao thanh toán, công ty First Capital U.S.A(FC) không phải là một công ty có bề dày lịch sử trong hoạt động bao thanh toán Tập trung vào hoạt động bao thanh toán là một bước đột phá mới, được những nhà đầu tư và quản lý công ty quyết định vào năm 2003 trong định hướng phát triển của công ty FC mới chỉ tham gia thành viên FCI từ 1/1/2007, có nghĩa là còn sau cả VCB, lại hoạt động tại một quốc gia đã có rất nhiều các đơn vị bao thanh toán có
Trang 39tên tuổi Tuy nhiên, sự tăng tốc của FC trong hoạt động bao thanh toán, nhất là bao thanh toán nhập khẩu (là loại hình bao thanh toán có nhiều rủi ro nhất đối với đơn vị bao thanh toán) là hết sức ấn tượng Doanh số bao thanh toán của FC trong 6 tháng đầu năm 2007 là 2,6 triệu EUR, năm 2007 là 123 triệu EUR và 6 tháng năm 2008 là
110 triệu EUR Các khách hàng của FC chủ yếu là tại các nước châu Á, các nước đang phát triển là những nước mà kinh nghiệm hoạt động bao thanh toán còn chưa nhiều
Như vậy, có thể nhìn thấy điểm đặc thù trong hoạt động bao thanh toán của
FC là nhằm vào những mảng hoạt động, những thị trường mới có nhiều rủi ro để kinh doanh Điều này là tất yếu đối với một công ty muốn phát triển đột phá nhưng
ra nhập thị trường sau
Với đặc thù kinh doanh như vậy, công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro của
FC là đặc biệt quan trọng Kinh nghiệm của FC có thể thấy một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất: FC coi trọng hai yếu tố then chốt trong hoạt động là đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp cộng với tiềm lực tài chính mạnh Đầu tư cho FC là một nhóm các nhà đầu tư cá nhân mạnh về tài chính Số lượng nhân viên và đội ngũ quản lý của FC không nhiều những mỗi vị trí, mỗi người đều là những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực mình phụ trách, được tuyển chọn từ các công ty bao thanh toán với một chế độ đãi ngộ thỏa đáng
Thứ hai: FC xem đại lý của mình không chỉ là khách hàng mà còn là đối tác chia sẻ rủi ro với mình, đại lý có tốt thì mới hạn chế được rủi ro Vì vậy, FC không chỉ chọn đại lý bao thanh toán mà quan trong hơn là đào tạo, hướng dẫn cho đại lý bao thanh toán của FC Các thị trường trọng tâm mà FC giao dịch bao thanh toán trong đó có Việt Nam là những nơi mà hoạt động bao thanh toán chưa phổ biến, vì vậy sự hiểu biết của đơn vị bao thanh toán ở đó cũng như của khách hàng chưa nhiều, mức độ rủi ro cao FC thường xuyên gặp gỡ các đại lý bao thanh toán, thiết lập mối quan hệ thâm thiết, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo và hỗ trợ hết sức nhiệt tình cho đại lý bao thanh toán, cùng với đại lý tổ chức hội thảo nghiệp vụ cho cả
Trang 40khách hàng của họ Ngay như VCB, trong quá trình xây dựng quy chế quản lý, quy trình hoạt động bao thanh toán nếu có vướng mắc gì cần hỏi thì FC luôn sẵn sàng chia sẻ với một thái độ thể hiện rất có trách nhiệm Từ đó tạo dựng được lòng tin với đại lý cũng như tăng sự hiểu biết và kinh nghiệm cho đại lý
1.3.2 Tại Việt Nam
Việt nam cũng không nằm ngoài phương hướng chung toàn cầu Ngày 06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã ban hành Quy chế hoạt động Bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Ngày 28/06/2005 quy định về việc
cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn đối với hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước ban hành theo công văn số 676/NHNN-CSTT
Nhiều ngân hàng thương mại đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán cho các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt nam Năm
2005, ngân hàng ACB và Vietcombank đã chính thức công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc tham gia hiệp hội FCI và cung cấp dịch vụ mới này Techcombank và Sacombank đã trở thành thành viên cộng tác của hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI Ngoài ra, các ngân hàng như Habubank, Ngân hàng Đầu tư
và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam cũng đã bắt đầu quan tâm Trong số các thành viên của Việt Nam tham gia hiệp hội FCI, thực tế hiện nay chỉ có Vietcombank và ACB là thực sự có giao dịch bao thanh toán quốc tế Doanh
số bao thanh toán trong nước và quốc tế của Việt Nam năm 2005 là 2 triệu EUR, năm 2006 là 2,6 triệu EUR, năm 2007 là 4,3 triệu EUR, năm 2008 là 5,6 triệu EUR
và năm 2009 là 5,9 triệu EUR
Là hoạt động mới nên ở Việt Nam, hầu hết việc chia sẻ kinh nghiệm phòng ngừa và hạn chế rủi ro chỉ trong phạm vi nội bộ các ngân hàng mà chưa có diễn đàn chung cho các ngân hàng hoạt động bao thanh toán Việt Nam cũng chưa có Hiệp hội bao thanh toán quốc gia nên hoạt động bao thanh toán trong nước chưa có sự hợp tác giữa các ngân hàng mà chỉ thực hiện cho khách hàng nội bộ Thực tế, các ngân hàng hoạt động bao thanh toán tại Việt nam chủ yếu học hỏi kinh nghiệm quốc