1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá năng lực tích hợp công nghệ và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cho giáo viên khoa điện ở một số trường cao đẳng nghề trong tỉnh vĩnh phúc

108 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người giáo viên không những cần nâng cao kỹ năng sử dụng công cụ dạy và học của công nghệ, mà còn cần nắm vững cơ sở lý luận của việc vận dụng công nghệ, thay đổi thái độ tích cực trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO GIÁO VIÊN KHOA ĐIỆN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Ngô Tứ Thành

Bộ môn: Lý luận và phương pháp dạy học Viện: Sư phạm kỹ thuật

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO GIÁO VIÊN KHOA ĐIỆN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CAO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

ợc gửi lời c m ơ hâ thà h ến t p thể thầy, cô giáo trong Việ S phạm kỹ thu t, Việ Đ ện, Việ Đào tạo sa ại họ , r ờng Đại học Bách khoa Hà Nộ ã úp ỡ và tạo mọ ều kiện tốt nhất về chuyên môn, tài liệu, thiết bị ể t h ứu, thực hiện và hoàn thành

lu ày

Đặc biệt, t hâ thà h m ơ PGS S Ngô Tứ Thành –

gi ng viên Việ S phạm kỹ thu t, tr ờ Đại học Bách khoa Hà Nộ ã h ớng

Tác gi xin bày tỏ lòng c m ơ Ba G m h ệ , ã h ạo các khoa, các thầy

ô o tro Khoa Đ ện-Đ ện tử tại 2 r ờ Cao ẳng nghề Cơ khí ô nghiệp à tr ờ Cao ẳng Kinh tế kỹ thu t Vĩ h Phú ã tạo ều kiệ úp ỡ tác gi trong quá trình nghiên cứu và lấy số liệu ể hoàn thiện lu

y ã rất nỗ lực và cố gắng, song lu khô tr h khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì v y, t mo h ợc những ý kiế ó óp của Hộ ồng chấm lu tốt nghiệp và bạ ọ ể lu ợc hoàn thiện

hâ thà h m ơ !

Tác giả luận văn

Trần Thị Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

PHẦN II: NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 10

1.2.1 Đánh giá 10

1.2.2 Tích hợp 11

1.2.3 Công nghệ thông tin và tích hợp công nghệ thông tin trong dạy học 12

1.2.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) 12

1.2.3.2 Tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học 13

1.2.4 Năng lực 14

1.2.4.1 Khái niệm năng lực 14

1.2.4.2 Năng lực chuyên môn của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp 15

Trang 5

1.2.6 Đánh giá năng lực và đánh giá năng lực tích hợp công nghệ trong hoạt động

dạy học 18

1.3 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học 19

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học 22

1.5 Chuẩn năng lực công nghệ thông tin dành cho giáo viên 23

1.5.1 Khung năng lực ICT của giáo viên do UNESCO đề xuất 23

1.5.2 Chuẩn về kĩ năng công nghệ dành cho giáo viên của tổ chức ISTE 25

1.5.3 Khung năng lực tích công nghệ trong hoạt động dạy học dành cho giáo viên ở Việt Nam 26

1.6 Mô hình TPACK và các thành phần của TPACK 27

1.6.1 Kiến thức nội dung 28

1.6.2 Kiến thức sư phạm 28

1.6.3 Kiến thức công nghệ 28

1.6.4 Tương tác giữa kiến thức sư phạm và nội dung 29

1.6.5 Tương tác giữa kiến thức công nghệ và sư phạm 29

1.6.6 Tương tác giữa kiến thức chuyên ngành và kiến thức công nghệ 30

1.6.7 Tương tác giữa kiến thức sư phạm, công nghệ và nội dung (TPACK) 30

Kết luận chương 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN KHOA ĐIỆN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG CĐN TRONG TỈNH VĨNH PHÚC, QUA KHUNG TPACK 33

2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm tỉnh Vĩnh Phúc 33

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm kinh tế -xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 33

2.1.2 Khái quát về các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 33

2.2 Đo lường và công cụ đo lường 37

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 37

2.2.2 Tiến trình nghiên cứu 37

2.2.3 Đối tượng tham gia khảo sát 38

2.2.3 Nội dung phiếu khảo sát 38

2.2.4 Công cụ khảo sát và đánh giá 39

Trang 6

2.3 Thực trạng năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học của giáo viên dạy khoa Điện-Điện tử ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc, dựa trên khung

đánh giá TPACK 39

2.3.1 Một số kết quả đánh giá về thang đo TPACK 39

2.3.2 Một số đánh giá về năng lực tích hợp công nghệ của giáo viên dựa trên thang đo TPACK 40

2.4 Mức độ ứng dụng, tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc 46

2.4.1 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học của giáo viên 46

2.4.2 Thái độ và nhận thức của HSSV về hoạt động ứng dụng ICT trong dạy học của GV 48

2.4.3 Kỹ năng sử dụng ICT của người học 49

2.4.4 Điều kiện tiếp cận với ICT của GV 50

2.4.5 Chính sách, sự hỗ trợ của đồng nghiệp và Ban giám hiệu 51

2.4.6 Nhận định của cá nhân giáo viên về ứng dụng ICT trong hoạt động dạy học 52 Kết luận chương 2 54

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN KHOA ĐIỆN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRONG TỈNH VĨNH PHÚC 55

3.1 Căn cứ để xây dựng giải pháp 55

3.2 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp 56

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 56

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 56

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 57

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 57

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 57

3.3 Các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học cho giáo viên 58

3.3.1 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của GV và người học về vai trò của tích hợp công nghệ trong dạy học 58

Trang 7

3.3.2 Giải pháp 2: Tăng cường cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, thiết bị ICT cho hoạt

động dạy học 60

3.3.3 Giải pháp 3: Thực hiện tích hợp có hiệu quả và hợp lý giữa phương pháp, nội dung dạy học và công nghệ 61

3.3.4 Giải pháp 4: Bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kiến thức Sư phạm, kiến thức Chuyên ngành và Công nghệ ICT và kỹ năng tích hợp công nghệ trong hoạt động dạy học 64

3.3.5 Giải pháp 5: Tổ chức các hoạt động chuyên môn, tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm về công nghệ ICT mới trong quá trình dạy học 66

3.3.6 Giải pháp 6: Giáo viên xây dựng và lập kế hoạch nâng cao năng lực tích hợp công nghệ ICT trong dạy học 67

3.3.7 Giải pháp 7: Tăng cường sự hợp tác của các bên liên quan, đảm bảo cơ chế pháp lý, chính sách hỗ trợ GV phát triển năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học 69

3.4 Mối tương quan giữa các giải pháp 71

3.5 Khảo nghiệm tình cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 72

3.5.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 72

3.5.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 74

Kết luận chương 3 81

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Phục lục 01: Phiếu khảo sát 89

Phụ lục 02: Phiếu khảo sát 93

Phụ lục 03: Phiếu lấy ý kiến chuyên gia 97

Trang 8

TPACK Technological Pedagogical Content Knowledge

Kiến thức-nội dung và công nghệ

8 ICT Information & Communication Technologies

Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Khung năng lực ICT của giáo viên do UNESCO đề xuất 24

Bảng 1.2: Chuẩn về kĩ năng công nghệ dành cho giáo viên của tổ chức ISTE 25

Bảng 2.1: Đánh giá hệ số nhân tố EFA (KMO – Bartlett và ma trận quay của các thành phần) của thang đo 39

Bảng 2.2: Một số đặc trưng của đối tượng khảo sát 40

Bảng 2.3: Đánh giá về thành phần tri thức Sư phạm (PK) 41

Bảng 2.4: Đánh giá về thành phần tri thức Công nghệ (TK) 42

Bảng 2.5: Đánh giá về thành phần tri thức Nội dung dạy học (CK) 42

Bảng 2.6: Đánh giá về thành phần tri thức Nội dung và Phương pháp (PCK) 42

Bảng 2.7: Đánh giá về thành phần tri thức Công nghệ và Phương pháp (TPK) 43

Bảng 2.8: Đánh giá về thành phần tri thức Nội dung và Công nghệ (TCK) 43

Bảng 2.9: Đánh giá về thành phần tri thức Nội dung-Phương pháp-Công nghệ (TPACK) 44

Bảng 2.10: Thống kê mô tả của 7 thành phần của khung TPACK 45

Bảng 2.11: Hệ số tương quan giữa các năng lực thành tố của năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học 45

Bảng 2.12: Thống kê mô tả mức độ tích hợp công nghệ trong hoạt động dạy học của GV 46

Bảng 2.13: Thống kê mô tả thái độ và nhận thức của HSSV về hoạt động ứng dụng ICT trong dạy học của GV 48

Bảng 2.15: Thống kê mô tả điều kiện tiếp cận với ICT của giáo viên 50

Bảng 2.16: Thống kê mô tả sự hỗ trợ của đồng nghiệp và Ban giám hiệu trong hoạt động ứng dụng ICT của GV 51

Bảng 2.17: Thống kê mô tả nhận định của cá nhân giáo viên về ứng dụng ICT trong hoạt động dạy học 52

Bảng 3.1: Kiểm chứng tính cần thiết của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ nhà giáo GDNN tỉnh Vĩnh Phúc 74

Bảng 3.2: Kiểm chứng tính khả thi của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ nhà giáo GDNN tỉnh Vĩnh Phúc 76

Bảng 3.3: Kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ nhà giáo GDNN tỉnh Vĩnh Phúc 79

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Mô hình TPACK của M J Koehler & P Mishra 30 Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ GV 76 Biểu đồ 3.2: Mức độ khả thi của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ GV 78 Biểu đồ 3.3: Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ cho đội ngũ GV 79

Trang 11

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển và hội nhập mới Trong giai đoạn 2016-2020, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại hóa đã được xác định là trọng tâm của chiến lược phát triển quốc gia Cuộc cách mạng sản xuất mới có thể mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời cũng đưa đến những thách thức đối với quá trình phát triển đặc biệt về mặt Giáo dục và Đào tạo, cuộc cách mạng sản xuất mới sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cao hơn đối với người lao động; yêu cầu người lao động phải có đủ kiến thức và kỹ năng để làm chủ được các công nghệ mới, làm việc trong thời cuộc mới Đứng trước nhu cầu đổi mới giáo dục của Việt nam, nhu cầu nâng cao năng lực dạy học của người Giáo viên (GV) hiện nay được đặt

ra bức thiết hơn bao giờ hết

Nghị quyết số 29-NQ/TW của ban chấp hành Trung Ương năm 2013 về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập Quốc tế” đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trong đó việc đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp dạy học

là một trong những yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Cách mạng công nghiệp 4.0 với những thành tựu đột phá về: trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D, công nghệ nano,… đã đưa công nghệ có mặt vào trong mọi lĩnh vực đời sống: kinh tế, ngân hàng, xây dựng, nông nghiệp, giao thông, giải trí, thiết bị gia dụng, công nghệ thông tin truyền thông, v.v Và tất nhiên, giáo dục với vai trò dẫn dắt xã hội không thể nào nằm ngoài con sóng thời đại

Theo số liệu thông kế tính đến tháng 12 năm 2016 của Bộ Lao động –Thương binh và xã hội, toàn hệ thống có 1.989 cơ sở GDNN (giáo dục nghề nghiệp), gồm 409 trường cao đẳng (trong đó có 190 trường CĐN, 219 trường cao đẳng), 583 trường trung cấp (trong đó 280 trường TCN, 303 trường trung cấp) và

997 trung tâm giáo dục nghề nghiệp [4] Đội ngũ GV trung cấp chuyên nghiệp trong các trường trung cấp chuyên nghiệp tăng mạnh về quy mô và chất lượng

Trang 12

Tuy nhiên, về năng lực hoạt động nghiệp vụ sư phạm của GV cho thấy hiện nay giáo viên trung cấp chuyên nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của giáo dục nghề nghiệp trong điều kiện mới Trong phạm vi lớp học, kĩ năng dạy học của GV được coi là một nhân tố cốt lõi, quyết định chất lượng học tập, tay nghề của người học, đặc biệt là kĩ năng dạy học thực hành của GV được coi là cây cầu bắc giữa lí thuyết và thực hành nghề nghiệp đối với người học Thực trạng này đặt ra vấn đề cần có phải chiến lược, mô hình dạy học và phương pháp dạy học hiệu quả, tích hợp công nghệ trong dạy học để đề xuất với các trường/khoa

Cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến sự thay đổi lớn lao trong dạy và học, dạy học với sự tích hợp công nghệ, là một xu thế tất yếu Người giáo viên không những cần nâng cao kỹ năng sử dụng công cụ dạy và học của công nghệ, mà còn cần nắm vững cơ sở lý luận của việc vận dụng công nghệ, thay đổi thái độ tích cực trong tích hợp công nghệ trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, đáp ứng đòi hỏi đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội theo kịp xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Vì hiện nay, thế giới có thể nói đã đi qua giai đoạn vận động ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học và bước vào giai đoạn tích hợp công nghệ trong mọi hoạt động dạy học và tiến tới Công nghệ trong dạy học xem như là chuyện đương nhiên và ẩn chứa trong dạy học

Do đó, người giáo viên cần có năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học, vấn đề đặt ra là đo năng lực ấy như thế nào? Có những giải pháp nào giúp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học cho giáo viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp?

Qua các phân tích trên cho thấy việc thực hiện đề tài “Đánh giá năng lực

tích hợp công nghệ và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cho giáo viên khoa Điện ở một số trường Cao đẳng nghề trong tỉnh Vĩnh Phúc”, nghiên

cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên dạy nghề Điện

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng năng lực tích hợp công

Trang 13

tỉnh Vĩnh Phúc, để từ đó có những đề xuất các giải pháp tích hợp công nghệ trong dạy học, cũng như trong bồi dưỡng cho giáo viên bộ môn Điện theo hướng tiếp cận công nghệ dạy học đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục của Việt nam và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 X ị h ơ sở lý lu n về â ao ực tích hợp công nghệ trong dạy học của giáo viên

3.2 Kh o sát, ều tra làm rõ thực trạng ực tích hợp công nghệ trong dạy học của giáo viên khoa Đ ện- Đ ện tử ở một số tr ờ CĐN tro tỉ h Vĩ h Phúc, dựa tr kh h PACK

3.3 Đề xuất các gi ph p â ao ực tích hợp công nghệ trong dạy học cho giáo viên khoa Đ ện- Đ ện tử tại các tr ờ Cao ẳng nghề trong tỉnh Vĩ h Phúc

3.4 Thực nghiệm

- Đánh giá năng lực tích hợp công nghệ của GV khoa Điện-Điện tử ở một

số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc -qua khung TPACK

- Đánh giá mức độ ứng dụng ICT trong dạy học của GV khoa Điện-Điện tử

ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc- qua khung TPACK

- Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá năng lực ứng dụng, tích hợp công nghệ trong dạy học của giáo viên khoa Điện- Điện tử ở một số trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc

4.2 Khách thể nghiên cứu

Năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học của GV khoa Điện-Điện tử ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đánh giá đúng năng lực tích hợp công nghệ và mức độ ứng dụng ICT trong dạy học của giáo viên, từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp để phát

Trang 14

triển năng lực này cho giáo viên thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học và đáp ứng được nhu cầu dạy học trong thời kỳ mới

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc khảo sát, đánh giá năng lực ứng dụng, tích hợp công nghệ trong dạy học và xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học cho đội ngũ GV khoa Điện-Điện tử trong các trường CĐN ở tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước và hội nhập quốc tế

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn thông tin,

tư liệu khoa học để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài Đồng thời nhằm mục đích nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về các phạm trù có liên quan đến đề tài, lấy đó làm cơ sở tiến hành nghiên cứu thực trạng

- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các sách, báo, tạp chí chuyên ngành về dạy học và đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học; nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức hoạt động dạy học trong đào tạo giáo viên

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát: kết quả điều tra thực trạng là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp quan sát sư phạm: nhằm thu thập các thông tin, bằng chứng

về thái độ, biểu hiện, phản ứng của người học và người dạy về dạy-học tiếp cận công nghệ

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục: được sử dụng trong nghiên cứu phân tích sản phẩm về thiết kế, xây dựng bài dạy, tổ chức hoạt động dạy học với tiếp cận công nghệ

- Trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của các chuyên gia đầu ngành về phương pháp dạy học; trao đổi với các giảng viên cùng tham gia giảng dạy bộ môn ở

Trang 15

trong và ngoài trường để ý kiến phản hồi về cơ sở lý luận và thực tiễn, quy trình

và giải pháp dạy học tiếp cận công nghệ

- Thực nghiệm: Xử dụng khung TPACK phù hợp với giáo dục Việt Nam, đánh giá năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học và đánh giá mức độ ứng dụng ICT trong dạy học của các giáo viên khoa Điện-Điện tử ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc

Phương pháp thống kê Toán học

Sử dụng phương pháp thống kê Toán học trong khoa học giáo dục để xử lý các kết quả điều tra và thực nghiệm làm cơ sở cho các nhận xét, đánh giá kết quả

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá năng lực tích hợp công nghệ trong

dạy học của giáo viên

Chương 2: Thực trạng về năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học của

GV khoa Điện tại một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc, qua khung TPACK

Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực tích hợp công nghệ trong dạy

học cho GV khoa Điện ở một số trường CĐN trong tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 16

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÍCH HỢP

CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Thế giới đã và đang bước vào thế kỷ 21 với những chuyển biến nhanh chóng về khoa học - công nghệ và tiến bộ xã hội Cách mạng công nghiệp 4.0 với những thành tựu đột phá về: trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D, công nghệ nano,… đã đưa công nghệ có mặt vào trong mọi lĩnh vực đời sống: kinh tế, ngân hàng, xây dựng, nông nghiệp, giao thông, giải trí, thiết bị gia dụng, công nghệ thông tin truyền thông, v.v Và tất nhiên, giáo dục với vai trò dẫn dắt xã hội không thể nào nằm ngoài con sóng thời đại

Năm 2016 Microsoft công bố kết quả khảo sát dựa trên việc thăm dò ý kiến của gần 200 nhà sư phạm tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương Theo nghiên

cứu mang tên Microsoft Asia EduTech Survey 2016 [13], các chuyên gia giáo dục đều xác nhận công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong quá trình cải tiến phương pháp sư phạm, nhưng thách thức hàng đầu để tối ưu hóa Công nghệ vẫn

là việc phải đối mặt với sự đào tạo chưa bài bản Theo khảo sát, 95% chuyên gia giáo dục trong khu vực thừa nhận vai trò quan trọng của công nghệ trong việc chuyển đổi giáo dục và truyền cảm hứng cho sinh viên với ba công dụng hàng đầu là: nâng cao trải nghiệm học tập trong lớp; nâng cao hiệu quả của giáo viên

và giúp giao tiếp tốt hơn với học sinh Cuộc khảo sát cũng tiết lộ một số những thách thức mà các nhà giáo dục ở châu Á Thái Bình Dương đang đối mặt hôm nay khi triển khai công nghệ tại lớp học

Các nghiên cứu khoa học khác cũng cho thấy việc tích hợp công nghệ mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và người học trong quá trình dạy học Báo cáo của cơ quan truyền thông giáo dục và công nghệ nước Anh (Becta) [29] với chủ

đề “Nghiên cứu về việc sử dụng ICT (công nghệ thông tin và truyền thông) trong dạy học khoa học” đã chỉ ra rằng ICT làm cho việc dạy học khoa học trở nên thú

vị, tin cậy và có ý nghĩa hơn

Trang 17

Trong một nghiên cứu khác của Sylvia Hogarth [28] và cộng sự khi đánh giá về ảnh hưởng của ICT trong dạy học thông qua việc phân tích, tổng hợp, thông tin từ 628 công bố khoa học có liên quan được thực hiện ở 10 nước khác nhau, các tác giả cho rằng ICT tăng cường năng lực nhận thức, khả năng tự học của HSSV, SV Quan trọng hơn, việc phát triển năng lực ICT cho giáo viên cũng phù hợp với định hướng phát triển năng lực cho HSSV

Vào năm 2008, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (gọi tắt là UNESCO) đã đề ra khung năng lực ứng dụng ICT vào dạy học dành cho giáo viên (UNESCO ICT Competency Framework for Teachers) Văn bản này đã được điều chỉnh và bổ sung vào năm 2011[38] Sáu lĩnh vực trong khung năng lực do UNESCO đề xuất rất đa dạng, không những yêu cầu về mặt sử dụng công cụ mà còn phải hiểu biết về mặt lí luận chính sách, vận dụng các công cụ đó trong những hoạt động cụ thể của GV Bên cạnh đó, yêu cầu về năng lực ICT trong dạy học dành cho GV không chỉ dừng lại ở mức sử dụng thành thạo và hiệu quả những cái có sẵn, mà còn khuyến khích đạt ở mức độ sáng tạo, tạo ra cái mới

dựa trên yêu cầu của thực tiễn

Một nghiên cứu của Schacter (1999) [37] đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng ICT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu

về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của học sinh và kết luận rằng học sinh được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều

có tác động tích cực đối với thành quả học tập

Nhấn mạnh yếu tố nhân lực trong việc ứng dụng ICT trong dạy học, Craig Barrett (2012) [10] khẳng định: “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trường học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu giáo viên không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả, chính các giáo viên mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc máy vi tính”

Rất nhiều công trình nghiên cứu đã nêu ra rằng ICT không thể được xem là một thành tố độc lập trong quá trình dạy-học, thật vậy Mishra & Koehler (2006)

đã phát triển lý thuyết TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge) dựa trên nền tảng lý thuyết do tác giả Shulman đưa ra năm 1986 về mối tương tác giữa kiến thức về nội dung giảng dạy (viết tắt là CK) và kiến thức sư phạm (viết

Trang 18

tắt là PK) Hai tác giả nêu trên lập luận rằng kiến thức về kỹ thuật (viết tắt là TK)

có thể được bổ sung cho lý thuyết của tác giả Shulman Lý thuyết mới này có tên

là Kiến thức về nội dung, phương pháp và công nghệ, Mishra & Koehler cho rằng hoạt động dạy-học hiệu quả cần có sự kết hợp ICT với phương pháp sư phạm và kiến thức chuyên môn, xem trọng tâm của việc giảng dạy với công nghệ gồm ba thành phần cốt lõi, đó là nội dung, sư phạm và công nghệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng [34], sự tương tác giữa ba thành phần này, diễn ra khác nhau thông qua các bối cảnh đa dạng, đặc biệt xét tới sự thay đổi liên tục của công nghệ giáo dục

Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước cũng cho thấy việc nghiên cứu về ứng dụng ICT trong HĐDH được đặc biệt quan tâm, dựa trên các nghiên cứu đã khảo cứu tác giả rút ra được nhiều nội dung quan trọng để kế thừa như việc đánh giá tầm quan trọng và tác động tích cực của việc ứng dụng ICT trong HĐDH, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng ICT trong dạy học

1.1.2 Ở Việt Nam

Trước bối cảnh công nghệ có mặt ở hầu hết lĩnh vực của đời sống, hệ thống giáo dục cũng cần thay đổi phương pháp quản lý, giảng dạy để có thể tạo nên một thế hệ công dân toàn cầu, việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại là yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục Việt Nam nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học Các nhà giáo dục Việt Nam được khuyến khích ứng dụng công nghệ hợp lý

ở tất cả các lớp và các môn học như máy tính, thiết bị điện tử cầm tay (điểm danh, trả lời nhanh các bài trắc nghiệm trên lớp…), dụng cụ đo lường (sử dụng các công cụ kỹ thuật số, phần mềm thí nghiệm ảo…)

Cùng với vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, vấn đề tích hợp công nghệ trong HĐDH ở Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt những năm qua Tuy nhiên, nước ta đến nay vẫn chưa có văn bản chính thức quy định về tiêu chuẩn tích hợp ICT vào trong dạy học dành cho GV cũng như SV sư phạm Trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2018- 2019 của Bộ GD& ĐT đã đưa các nhiệm vụ nhằm tăng cường quản lý và

Trang 19

lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, tuy nhiên chưa có các tiêu chuẩn

cụ thể

Năm 2011, một bộ chuẩn về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho SV sư phạm (dựa trên Chuẩn năng lực ICT dành cho GV của UNESCO) [38] được đưa ra lấy ý kiến tại hội thảo “Xây dựng chương trình ICT của UNESCO” với 6 năng lực thành phần và 3 mức độ phát triển Ưu điểm của

bộ chuẩn này là mô tả biểu hiện cụ thể của hầu hết các mức độ trong từng tiêu chí, tuy nhiên, một số tiêu chí trong bộ chuẩn này mang tính trường hợp, ví dụ về phương pháp sư phạm chỉ nhấn mạnh đến dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án Trên thực tế, việc ứng dụng công nghệ trong dạy học còn nhiều hạn chế như GV thiếu thời gian, thiếu kiến thức công nghệ, hạn chế về kiến thức và kỹ năng sư phạm trong việc thực hiện dạy học sử dụng công nghệ

Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như: Ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục hướng đến một nền giáo dục điện tử của Quách Tuấn Ngọc (2009)[15]; Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực của Trần Nữ Mai Thy và Jef Peeraer (2011)[19]; E-Learning và ứng dụng trong dạy học của Lê Huy Hoàng (2011)[9];

Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tài liệu chương trình Parner in learning của Microsoft (2008) [14]; Nguyễn Thế Dũng, Ngô Tứ Thành (2017) với bài viết Đề xuất khung năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên ngành sư phạm Tin học[7]; Ngô Tứ Thành, Nguyễn Thế Dũng (2016), Một số vấn đề về đánh giá năng lực học tập và phát triển công nghệ thông tin, kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế ", The International conference on human resources training to meet the requirements of international intergration",

Trang 20

Năm 2019, tác giả Nguyễn Thế Dũng cùng nhóm cộng sự của mình tại trường Đại học Sư phạm Huế sau khi đã tìm hiểu về lý thuyết TPACK gồm: Kiến thức về nội dung, phương pháp và công nghệ của Mishra & Koehler phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết do tác giả Shulman đưa ra năm 1986 về mối tương tác giữa kiến thức về nội dung giảng dạy (viết tắt là CK) và kiến thức sư phạm (PK),

đã đề xuất Khung TPACK cho dạy học ở Việt Nam, khung TPACK gồm 7 phần với 42 tiêu chí phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam, từ đó có thể đánh giá năng lực tích hợp công nghệ, hay ứng dụng ICT vào trong hoạt động dạy học của

GV nhằm nâng cao chất lượng và quá trình dạy học [35]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu kể trên có thể kể đến một số lượng lớn các bài báo khoa học, các khóa luận, luận văn, nghiên cứu về đề tài ứng dụng ICT trong giáo dục xong hầu hết cũng đều đề cập đến vai trò của ứng dụng ICT trong giáo dục hoặc phương pháp ứng dụng ICT vào môn học cụ thể nào đó Tích hợp công nghệ trong giảng dạy là xu hướng không thể thiếu của thời đại TPACK có thể được coi là cơ sở để phân tích kiến thức và năng lực thiết yếu của giáo viên, do đó cung cấp giải pháp cho việc đào tạo giáo viên học sinh để đáp ứng các yêu cầu giảng dạy của thế kỷ 21 Ngoài ra, TPACK có thể được xem như là một khung lý thuyết để đánh giá công nghệ giảng dạy tích hợp của giáo viên Tuy nhiên, như sẽ thấy trong phần đánh giá tài liệu Chúng ta sẽ thấy rằng

đã có nhiều nghiên cứu về TPACK trên thế giới, nhưng nghiên cứu về mô hình này ở Việt Nam vẫn còn rất ít Do đó, việc xây dựng khung khảo sát TPACK phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam và ứng dụng khung khảo sát TPACK đánh giá năng lực tích hợp công nghệ đối với giáo viên là cần thiết và hữu ích

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Trang 21

- Theo Jean - Marie De Ketele (1989) thì: "Đ h ó hĩa à: h th p

một t p hợp thô t ủ, thích hợp, có giá trị à t y; và xem xét mức

ộ phù hợp giữa t p hợp thông tin này và một t p hợp tiêu chí phù hợp với các

mụ t ị h ra ba ầu hay ều chỉnh trong quá trình thu th p thông tin; nhằm ra một quyết ị h”

- Theo Từ ển Tiếng Việt thì: “Đ h ợc hiểu là nh ịnh giá trị”

[24]

- Trong Giáo dục học thì: “Đ h ợc hiểu là quá trình hình thành

những nh ị h, ph o ề kết qu công việc, dựa vào sự phân tích những thô t th ợ ối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩ ã ề ra, nhằm ề xuất những quyết ịnh thích hợp ể c i thiện thực trạ , ều chỉnh, nâng cao chất ợng và hiệu qu công tác giáo dụ ”

Nói chung, Đ h theo ực là một quá trình thu th p, phân tích,

diễn gi i chứng cứ à a ra kết lu n về một ờ ã ạt tiêu chuẩ ực (TCNL) của nghề hay h a Mỗi ngành nghề đều có tiêu chuẩn năng lực khác

nhau, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động thương binh và Xã hội GV sẽ được đánh giá với 5 tiêu chuẩn như: phẩm chất nghề nghiệp; năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin; năng lực nghiệp vụ sư phạm, năng lực xây dựng, thực hiện môi trường giáo dục dân chủ; năng lực xây dựng các quan hệ xã hội

Theo từ điển Tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary) [25], từ Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp

với nhau

Trang 22

Tiếp cận theo góc độ này thì tích hợp được hiểu là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực cho người học; các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học Nói cách khác, DHTH là quá trình dạy học mà ở đó các hoạt động dạy học, kiến thức, kĩ năng và thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung dựa trên các tình huống thực tiễn, hoạt động nghề nghiệp để hình thành và phát triển năng lực

1.2.3 Công nghệ thông tin và tích hợp công nghệ thông tin trong dạy học

1.2.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [23], Công nghệ thông tin là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và quá trình xử lí thông tin Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng

ta những quan điểm, các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm

tổ chức, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người

Theo GS.TS.NGND Nguyễn Xuân Lạc, Công nghệ là một hệ thống những

Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho IT, nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn

mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông ), hệ thống

quản lý tòa nhà thông minh và hệ thống nghe – nhìn trong công nghệ thông tin hiện đại

Trang 23

ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử

lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải mạng và các chức năng giám sát

Từ đó, ta có thể hiểu đơn giản: ICT là sự kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông để tạo nên sự kết nối và chia sẻ thông tin với nhiều hình thức khác nhau

1.2.3.2 Tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học

Dưới sự tác động trực tiếp và sâu sắc của các thiết bị công nghệ như: máy tính, điện thoại di động thông minh (Smart phone), phần mềm hỗ trợ dạy học, các trang mạng kết nối cộng động ảo (Facebooke, Twter, YouTube, ), đặc biệt là

sự ra đời của công nghệ thông tin và truyền thông đã làm thay đổi nhu cầu học tập ( NCHT) của người học như: Từ học tập thông qua ghi nhớ, thành học tập thông qua kết hợp hiểu biết nhiều nội dung mới và thực hành thực tế; Từ học tập chính khóa trên lớp, thành học tập kết hợp giữa học trên lớp, học cá nhân, học cùng với gia đình, học cùng với bạn bè, học qua mạng internet (tham gia các lớp học số), ICT đã đạt đến công nghệ 4.0 và việc ứng dụng công nghệ này là một trong những giải pháp hữu hiệu đối với con người hiện đại

Một số công cụ công nghệ giáo dục phổ biến được dùng để tích hợp trong giảng dạy và học tập [26] như:

- Công cụ trình chiếu

- Công cụ cho các bài thực hành và luyện tập

- Công cụ cho các bài tập về nhà

- Công cụ tạo bản đồ tư duy

- Công cụ tạo câu chuyện hình ảnh

- Công cụ mô phỏng

Việc tích hợp công nghệ trong giáo dục không chỉ là việc đưa những thành tựu công nghệ, khoa học kỹ thuật, trang bị những chiếc máy tính bảng thay cho sách giáo khoa, hay máy chiếu thay cho bảng đen… mà còn phải bảo đảm sự đồng nhất và tính bền vững Hiện nay, GV các trường đã có nhiều cố gắng tích

Trang 24

hợp công nghệ và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào việc dạy học nhằm tạo ra sự đa dạng về loại hình đào tạo, linh hoạt về phương thức truyền đạt, kiểm tra đánh giá, qua đó đáp ứng tốt nhu cầu học tập đa dạng của người học Tuy nhiên, việc tích hợp công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông của đội ngũ cán bộ quản lý và GV còn mang tính tự phát, chưa thật sự trở thành một nhu cầu, hiệu quả chưa cao

Kết hợp hai khái niệm tích hợp và công nghệ trong dạy học ta có: Tích hợp

công nghệ trong dạy học là việc sử dụng các ph ơ pháp khoa học, ph ơ tiện và kỹ sử dụng các kỹ thu t hiện ại ể khai thác, s n xuất và trao ổi thông tin số, phục vụ hiệu qu cho HĐDH của giáo viên Cụ thể hơ , tích hợp công nghệ trong HĐDH là việc sử dụng máy tính, phần mềm máy tính và các thiết bị ICT khác trong việc soạn bài, dạy học, kiểm tra h giá, hỗ trợ học sinh học t p và c việc nghiên cứu nhằm phát triển chuyên môn, t ờng hiệu qu dạy học

1.2.4 Năng lực

1.2.4.1 Khái niệm ực

Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khái niệm về năng lực như:

“1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó 2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao “(Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2000 trang 660-661)[16]

“Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiệnvào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ (Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa, 2000) [22]

“ Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ Tính cách của cá nhân (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập III)[23]

Trang 25

“Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống” (Québec-Ministere de l’Education,2004) [36]

Có thể nói, năng lực có thể được xem như là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái

độ, thể lực, niềm tin ) để thực hiện có chất lượng công việc hoặc xử lý với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp

1.2.4.2 N ực chuyên môn của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được

Năng lực không có sẵn mà nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp Chúng ta có thể khẳng định rằng học tập và lao động là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi

cá nhân

Thật vậy, ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu, tiêu chuẩn cụ thể khác nhau, theo tác giả Mạc Văn Trang (Mạc Văn Trang, Thử đề xuất một quan niệm về nhân cách trong cơ chế thị trường, Tạp chí Tâm lý học số 8/2000)[21] thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau:

+ Tri thức chuyên môn

+ Kỹ năng hành nghề

+ Thái độ đối với nghề

Thông tư 03/2018/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 06 năm 2018 quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành GDNN[6] Do đó đối với nhà giáo GDNN bao gồm các tiêu chuẩn về nghề nghiệp như:

- Năng lực chuyên môn nghề nghiệp

- Năng lực sư phạm

- Năng lực phát triển nghề nghiệp

- Năng lực ngoại ngữ

- Năng lực tin học

Trang 26

Để đảm bảo nhà giáo GDNN có đủ năng lực để giảng dạy, Điều 54 Luật GDNN (Chương V Luật Giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 21/11/2014) [12]

đã quy định:

- Nhà giáo dạy lý thuyết trình độ sơ cấp phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy trình độ sơ cấp; nhà giáo dạy lý thuyết chuyên môn trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; nhà giáo dạy thực hành trình độ trung cấp nghề phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ trung cấp nghề

- Nhà giáo dạy lý thuyết chuyên môn trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên, nhà giáo dạy thực hành trình độ cao đẳng nghề phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ cao đẳng nghề

- Nhà giáo vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề phải đạt chuẩn của nhà giáo dạy lý thuyết và chuẩn của nhà giáo dạy thực hành

- Trường hợp nhà giáo không có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề sư phạm, cao đẳng nghề sư phạm kỹ thuật hoặc bằng tốt nghiệp đại học sư phạm, đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm

Năng lực dạy học của Giáo viên Kĩ thuạ t đu ợc hình thành và phát triển ngay trong quá trình dạy học đạ c biệt là khả na ng chuyên môn Kĩ thuạ t, kĩ na ng thực hành nghề và ứng dụng sự tiến bộ của Công nghệ trong đổi mới phu o ng pháp dạy học đây là một giải pháp để nâng cao chất lu ợng đào tạo

1.2.5 Năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Khoa học kỹ thuật, các sản phẩm công nghệ cao ngày càng được ứng dụng phổ biến trong sinh hoạt, trong sản xuất công nghiệp và trong giáo dục, điều này đã làm thay đổi lớn như cầu học tập của người học cả về nội dung chuyển môn, phương pháp lẫn hình thức học tập Do đó, bên cạnh những yếu tố cơ bản của quá trình dạy học cần được thay đổi, thì người dạy với vai trò là chủ thể của quá trình này cũng cần phải nâng cao năng lực dạy học đáp ứng như cầu học tập đa dạng của người học

Giáo dục nghề nghiệp hay giáo dục kỹ thuật là lĩnh vực có kiến thức gắn

Trang 27

cầu học tập của người học có những thay đổi rất nhanh và đa dạng Vì vậy, giáo viên GDNN không những giỏi về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật mà còn phải là chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ, ứng dụng công nghệ trong dạy học và kỹ năng thực hành nghề

Tại một số nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như Mỹ, Đức, Úc, Phần Lan… việc tích hợp kiến thức công nghệ vào chương trình đào tạo và huấn luyện GV kỹ thuật rất là triệt để và hiệu quả Các kiến thức kỹ thuật có tính ứng dụng đều được mô tả qua các sản phẩm công nghệ hoặc mô phỏng quy trình công nghệ sản suất bằng các phần mềm máy tính chuyên ngành, tuy nhiên phần lớn các kiến thức và kỹ năng sư phạm đều được triển khai dưới sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ cao kết hợp với mạng Internet hoặc phần mềm dạy học Trong hầu hết các buổi học, việc tương tác giữa người học với người học, và giữa người học với người dạy luôn có sự kết hợp giữa tương tác giáp mặt (face to face) và tương tác không giáp mặt thông qua môi trường mạng internet

Ở nước ta trong những năm gần đây việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong dạy học đã được phát triển rất nhanh, nhiều công trình nghiên cứu và sản phẩm ứng dụng công nghệ trong dạy học đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học, nói một cách khái quát có thể coi ứng dụng công nghệ ở đây là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong hoạt động dạy học với mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy học

Kết hợp hai khái niệm về năng lực dạy học và tích hợp công nghệ trong dạy

học ta có: g lực tích hợp công nghệ trong dạy học bao gồm các yếu tố khách

quan và các yếu tố chủ quan về cá nhân, tích hợp với nhau dẫ ến mứ ộ thành thạo sử dụ ph ơ ph p khoa học, công nghệ ICT và công cụ kỹ thu t hiệ ại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu qu các nguồn tài nguyên thông tin trong hoạt ộng dạy họ , m b o cho hoạt ộng dạy họ ạt kết qu cao

Trang 28

1.2.6 Đánh giá năng lực và đánh giá năng lực tích hợp công nghệ trong hoạt

động dạy học

Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm mà đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là Giải pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng

trong việc cải thiện kết quả học tập của HSSV Hay nói cách khác, h theo

ự à h k ến thức, kỹ à th ộ trong bối c nh có ý hĩa (Leen pil, 2011)

Theo cách tiếp cận CBA, đánh giá bao gồm các thủ tục đo lường có khoa học và kỹ thuật phân tích, diễn giải sự thực hiện của người được đánh giá (đối tượng đánh giá) so với các tiêu chuẩn năng lực Những thông tin thu thập về sự thực hiện công việc dựa trên các chuẩn mực yêu cầu sẽ là chứng cứ cung cấp cho đánh giá viên có cơ sở để kết luận về năng lực của người được đánh giá

Ta có thể hiểu đánh giá theo năng lực là một quá trình thu thập, phân tích, diễn giải chứng cứ và đưa ra kết luận về một người đã đạt tiêu chuẩn năng lực của nghề hay chưa Trong đào tạo nghề, đánh giá kết quả học tập theo năng lực

là một quá trình thu th p chứng cứ à a ra hững nh ịnh về b n chất và

phạm vi của sự tiến bộ của ời học theo những tiêu chí thực hiệ ã ợc xác ịnh trong tiêu chuẩ g lực của nghề nhằm phán xét rằng một ực nào

ó ã ạt ợ hay h a ở một thờ ểm thích hợp

Kết hợp hai khái niệm đánh giá năng lực và tích hợp công nghệ trong dạy

học ta có: h ực tích hợp công nghệ trong dạy học là một quá trình

thu th p chứng cứ à a ra hững nh ịnh về b n chất và phạm vi của sự tiến

bộ của ời học theo những tiêu chí thực hiệ ã ợ ịnh trong tiêu chuẩ ực nghề nghiệp nhằm phán xét rằng một ực tích hợp công nghệ trong dạy học của nhà giáo ã ạt ợ hay h a ở một thờ ểm thích hợp

Trang 29

1.3 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học

Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong dạy học nói chung và dạy nghề nói riêng đang là một xu thế tất yếu trong thời đại “số” Các nghiên cứu khoa học trên thế giới cho rằng: việc tích hợp công nghệ mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và người học trong quá trình dạy học Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ICT và hiệu quả cao của việc ứng dụng nó trong các lĩnh vực đời sống xã hội cùng với những đòi hỏi, những yêu cầu mới, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản chỉ đạo mang tính định hướng quan trọng

Nghị quyết số 36/NQ-TW ban hành ngày 01/7/ 2014 của Bộ Chính trị về

“ ờng ứng dụng công nghệ thông tin trong qu n lý và hỗ trợ các hoạt

ộng dạy- học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất ợng giáo dục và

ào tạo a oạn 2016-2020 ị h h ớ ế m 2025”[2], đây là văn bản hết

sức quan trọng, mang tầm chiến lược, đề ra những định hướng lớn cho sự phát triển ngành ICT nước ta trong thời kỳ mới, một trong những quan điểm chỉ đạo

quan trọng là “ ờng ứng dụng công nghệ thông tin nhằm ẩy mạnh triển

khai chính phủ ện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt ộng qu n

ý, ều hành của ơ q a q ý hà ớc về giáo dụ à ào tạo ở tr ơ

à ịa ph ơ ; ổi mới nộ d , ph ơ ph p dạy - học, kiểm tra, h

và nghiên cứu khoa học và công tác qu n lý tạ ơ sở giáo dụ ào tạo trong

hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiệ ại hóa và nâng cao chất ợng giáo

dụ à ào tạo”, những nội dung liên quan đến hoạt động của ngành Giáo dục

cũng được xác định trong mục tiêu cụ thể đến năm 2025, bao gồm: “Mứ ộ ứ

dụ ô hệ thô t tro q ý à hỗ trợ các hoạt ộng dạy - học, nghiên cứu khoa họ ạt trì h ộ tiên tiến trong khu vự ASEAN, p ứng mục tiêu, yêu cầ ổi mớ b n, toàn diện giáo dụ à ào tạo Công nghệ thông tin trở thà h ộng lự ổi mới qu n lý, nộ d , ph ơ ph p dạy - học, kiểm tra h tro o dụ à ào tạo”

Ngày nay, các thành tựu công nghệ như: Internet Of Things (Internet vạn vật) giúp tăng cường an ninh trong các trường học, theo dõi hành vi của học sinh, quản lí, giám sát nơi ở hay hành động của mỗi học sinh; Big data giúp phân tích

Trang 30

hành vi học tập của học sinh để có hỗ trợ, tư vấn phù hợp; hay Blockchain giúp xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của học sinh, cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu từ nhiều trường học, ghi chép lại lịch sử học tập, bảng điểm của học sinh để đảm bảo thông tin dữ liệu được đồng nhất, minh bạch Sự phát triển của công nghệ đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của ngành giáo dục, giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy, mang lại trải nghiệm mới cho

cả giáo viên, học sinh

Việc ứng dụng các thiết bị công nghệ như máy tính, thiết bị điện tử cầm tay (điện thoại thông minh, máy tính bảng…), các thiết bị thí nghiệm kỹ thuật số (kính hiển vi, các thiết bị đo…) cùng với các phần mềm thu thập và phân tích dữ liệu, hệ thống đa phương tiện, hệ thống phản hồi của sinh viên và các phần mềm tương tác có thể giúp sinh viên tích cực tham gia vào việc thu thập kiến thức và phát triển các năng lực một cách hiệu quả nhất

Khi ICT được đưa vào dạy học nó đã thể hiện được những vai trò nhất định của mình như:

+ Làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong dạy học: Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm thanh, hoạ cảnh, giáo viên sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung của người học, dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nếu vấn đề, thực hiện đánh giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong quá trình học…

+ Tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học góp phần thay đổi hình thức dạy và học Ứng dụng ICT trong dạy học đã góp phần nâng cao tiềm lực của GV bằng cách cung cấp cho họ những phương tiện làm việc hiện đại (như mạng Internet, các loại từ điển điện tử, các sách điện tử, thư điện tử…)

+ Góp phần đổi mới cách dạy và cách học, đổi mới phương pháp dạy học, hoặc trao đổi thông tin về đề cương, bài giảng với các đồng nghiệp qua các ngân hàng bài soạn trên một trang web dành cho tất cả giáo viên

Trang 31

+ Cập nhật, khai thác kho tri thức chung của nhân loại bằng các công cụ đa phương tiện Sử dụng thư điện tử email để liên lạc, trao đổi tư liệu với các nhà văn, nhà nghiên cứu, bạn bè và đồng nghiệp những nội dung mà mình quan tâm + Làm cho bài học trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của HSSV do có nhiều minh hoạ sống động, cụ thể với phim tư liệu, tranh ảnh, video, bài hát hoặc các sơ đồ, bảng biểu, giúp hệ thống hoá lại kiến thức bài giảng trong giờ ôn tập Ngoài những vai trò nên trên, ứng dụng ICT trong dạy học còn đem lại những ưu điểm là: các kiểu chữ, màu chữ, hiệu ứng, phông nền có tác dụng trực quan, nhấn mạnh những nội dung cơ bản, trọng tâm, lôi cuốn sự chú ý và khơi gợi hứng thú cho HSSV Trong quá trình giảng, GV dễ dàng dừng lại, trở về và

đi tới các slide bài giảng và nhiều thao tác khác nhằm liên kết nội dung bài giảng hay nhấn mạnh thông tin đẻ định hướng, gợi ý HSSV khám phá, giải quyết vấn

đề

Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian thuyết giảng và không quá vất vả khi giới thiệu, miêu tả, thể hiện những nội dung kiến thức mới từ đó HSSV dễ tiếp thu bài học, hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm lý HSSV Những giờ dạy thực hành hoặc phần chuẩn bị bài của HSSV sẽ thật sự hữu ích cho các em với các bài thuyết trình hoặc thực hiện dự án, từ đó HSSV trở nên năng động và sáng tạo hơn Kiến thức các em tự tích luỹ từ kho tư liệu khổng lồ Internet qua các giờ thực hành giúp bổ sung và khắc sâu những kiến thức từ sách giáo khoa

Giáo viên không còn độc diễn, thay vào đó HSSV được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu phong phú, bài học cũng được thiết kế linh hoạt theo đặc trưng bộ môn hoặc nội dung bài học (trong giờ học các GV có thể tổ chức các trò chơi, ô chữ giải đố, ghép nối, nhìn hình đoán chữ trong phần củng cố bài học), nhờ đó giờ học không còn khô cứng và mang tính chất áp đặt, giáo điều

Đối với GV việc soạn bài với những ứng dụng ICT cũng mang lại những hiệu quả khác biệt, bản thân GV phải thường xuyên cập nhật kiến thức về chuyên môn và tin học để nâng cao tay nghề Đặc biệt khi bắt tay vào soạn một bài dạy

có vận dụng ICT, GV thật sự bị cuốn hút và càng làm nhiều thì càng nhiều thích

Trang 32

thú và nảy sinh thêm nhiều ý tưởng, từ đó lòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp

Ứng dụng ICT trong dạy học có vai trò rất quan trong nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tuy nhiên, đây một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ giáo viên Lợi ích quan trọng nhất khi tích hợp công nghệ trong dạy học là HSSV không còn sợ, không còn chán ghét cách học viết, đây chính là điều kiện cần thiết để hình thành sứ mệnh giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho HSSV Người học được tạo điều kiện để có thể học tập, tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện mọi lúc, mọi nơi Điều này thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, từ

đó phát triển nhanh về kiến thức, nhận thức và tư duy

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tích hợp công nghệ trong dạy học

Năng lực dạy học của GV nói chung và GV kỹ thuật nói riêng được hình thành và phát triển ngay trong quá trình dạy học, đặc biệt là khả năng chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng thực hành nghề và ứng dụng sự tiến bộ của công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành giáo dục

Tuy nhiên, thực tế dạy học hiện nay cho thấy, phần lớn các chương trình đào tạo GV chủ yếu là trang bị kiến thức, kỹ năng kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm, mà chưa chú trọng đến kiến thức Công nghệ, kỹ năng sử dụng ,tích hợp công nghệ trong dạy học Do đó, đa số GV hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn đối với việc ứng dụng công mới trong dạy học và tổ chức dạy học, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của người học

Các yếu tố chính tác động đến mức độ ứng dụng ICT trong HĐDH của giáo viên gồm: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Yếu tố khách quan gồm điều kiện cơ sở vật chất, chính sách, đặc điểm chung của học sinh, đặc thù môn học yếu tố chủ quan gồm năng lực, phương pháp giảng dạy, kỹ năng sư phạm, phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu vươn lên của từng cá nhân, nhận thức, tính tích cực, hứng thú của giáo viên về ứng dụng ICT trong HĐDH

Trang 33

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tích hợp cộng nghệ trong dạy học, tuy nhiên trong nội dung luận văn này tác giả chỉ xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học giữa thầy và trò Ta xác định các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng ICT trong HĐDH của giáo viên gồm: (1) điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin, (2) kỹ năng sử dụng máy tính của giáo viên và học sinh sinh viên, (3) đặc điểm cá nhân của giáo viên, và (4) sự hỗ trợ của ban giám hiệu

và đồng nghiệp

1.5 Chuẩn năng lực công nghệ thông tin dành cho giáo viên

Quy định về trình độ chuyên môn của giáo viên của các cơ sở giáo dục phổ thông, theo Thông tư số 20 /2018 / TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo[3] Tiêu chuẩn chuyên nghiệp này bao gồm 5 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí Các tiêu chuẩn bao gồm: 1) Phẩm chất của giáo viên; 2) Phát triển chuyên môn; 3) Xây dựng môi trường giáo dục; 4) Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; 5) Sử dụng ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ dân tộc, áp dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng các thiết bị công nghệ trong giảng dạy và giáo dục Tuy nhiên, năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy chỉ được coi là năng lực hỗ trợ Hơn nữa, năng lực công nghệ của giáo viên, cũng như cơ sở hạ tầng công nghệ tại các trường học Việt Nam mới phát triển trong những năm gần đây

1.5.1 Khung năng lực ICT của giáo viên do UNESCO đề xuất

Vào năm 2008, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (gọi tắt là UNESCO) đã đề ra khung năng lực ứng dụng ICT vào dạy học dành cho giáo viên (UNESCO ICT Competency Framework for Teachers) Tuy nhiên, văn bản này đã được điều chỉnh và bổ sung vào năm 2011, UNESCO phối hợp với Microsoft công bố khung Chuẩn năng lực ICT cho giáo viên phiên bản 2.0(ICT-CFT) với một số điều chỉnh so vớiphiên bản năm 2008[38]

ICT-CFT chỉ ra những yêu cầu cần thiết về năng lực CNT của giáo viên để giúp học sinh không chỉ nắm vững những kiến thức học được từ chương trình mà còn có thể biết cách kiến tạo ra những kiến thức mới, ICT-CFT được sắp xếp theo ba cấp độ khác nhau trong giảng dạy tương ứng với ba giai đoạn kế tiếp của

sự phát triển của giáo viên: đầu tiên là hiểu biết về ICT (Technology literacy),

Trang 34

người giáo viên có hiểu biết về ICT có thể giúp học sinh sử dụng công nghệ thông tin để học tập hiệu quả hơn; cấp độ thứ hai là Đào sâu kiến thức(Knowledge deepening), ở cấp độ này người giáo sẽ tạo điều kiện cho học sinh

có được kiến thức chuyên sâu của môn học của họ và áp dụng nó vào vấn đềphức tạp trong thế giới thực, cấp độ thứ ba là: Sáng tạo tri thức (Knowledge creation); giáo viên có thể giúp học sinh những công dân và lực lượng lao động trong tương lai, tạo ra các kiến thức mớilàm cho xã hội themhài hòa, hoàn thiện

và phồn thịnhhơn

Khung năng lực đề cập đến 6 khía cạnh trong công tác của GV: (1) Sự hiểu biết về vai trò của ICT trong giáo dục, (2) Chương trình giảng dạy và đánh giá, (3) Phương pháp sư phạm, (4) Công cụ công nghệ thông tin và truyền thông, (5) Hoạt động tổ chức và quản lí, (6) Hoạt động bồi dưỡng và phát triển năng lực nghề nghiệp Mỗi khía cạnh lại bao gồm 3 mức độ, hay là 3 cấp bậc liên tục trong quá trình phát triển năng lực của người GV [38]

Bảng 1.1: Khung năng lực ICT của giáo viên do UNESCO đề xuất

Cấp độ

Khía cạnh

KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CÔNG NGHỆ

TRI THỨC CHUYÊN SÂU

SÁNG TẠO TRI THỨC Hiểu biết về ICT

trong giáo dục Nhận thức về chính sách

Hiểu rõ chính sách

Đổi mới chính sách Chương trình giảng

dạy và đánh giá Tri thức cơ bản Vận dụng tri thức Kĩ năng xã hội Phương pháp sư phạm Tích hợp công nghệ Giải quyết vấn đề

phức hợp Tự quản lí Công cụ công nghệ

thông tin và truyền

thông

Công cụ cơ bản Công cụ phức

hợp Công cụ mở rộng

Tổ chức và quản lí Lớp học chuẩn Nhóm hợp tác Tổ chức học tập Bồi dưỡng chuyên

môn và nghiệp vụ sư

đó, yêu cầu về năng lực ICT trong dạy học dành cho GV không chỉ dừng lại ở

Trang 35

mức sử dụng thành thạo và hiệu quả những cái có sẵn, mà còn khuyến khích đạt

ở mức độ sáng tạo, tạo ra cái mới dựa trên yêu cầu của thực tiễn

1.5.2 Chuẩn về kĩ năng công nghệ dành cho giáo viên của tổ chức ISTE

Năm 2008, Hiệp hội Quốc tế về công nghệ trong giáo dục của Hoa Kì (Internaltional Society for Technology in Education - ISTE) [31] xuất bản bộ chuẩn về kĩ năng công nghệ dành cho GV gồm 5 tiêu chuẩn, trong mỗi tiêu chuẩn lại bao gồm 4 chỉ số, văn bản này xác định những kĩ năng cũng như tư tưởng sư phạm mà các nhà giáo dục cần có trong thời đại số

Bảng 1.2: Chuẩn về kĩ năng công nghệ dành cho giáo viên của tổ chức ISTE

2

Thiết kế và phát triển

cac trải nghiệm học tập

và hoạt động đánh giá

trong thời đại số

GV thiết kế, phát triển các hoạt động dạy học và thực hiện đánh giá nhằm tối ưu hóa việc gắn kết nội dung dạy học với ngữ cảnh quốc tết, thông qua đó HSSV đạt được mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ

4 Là hình mẫu cả công

dân thời đại số

GV am hiểu những vấn đề xã hội của địa phương và thế giới, đồng thời thể hiện những hành vi đúng với quy định của pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội trong quá trình làm việc

5

Tham gia vào sự phát

triển nghề nghiệp của

bản thân và thể hiện

vai trò lãnh đạo

GV không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiêp của bản thân, là hình mẫu của việc học tập suốt đời đồng thời thể hiện vai trò lãnh đạo trường học và cộng đồng nghề nghiệp bằng cách khuyến khích và minh họa việc sử dụng hiệu quả các công cụ kĩ thuật và tài nguyên số

Điều đặc biệt trong thang đo này là việc ứng dụng ICT không chỉ dừng lại ở mức độ có kĩ năng sử dụng công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau, mà còn nhấn mạnh về sự am hiểu về lí luận, thực tiễn và quan trọng hơn còn đề cập đến thái

độ tích cực, đúng đắn và khả năng lãnh đạo khi sử dụng các công cụ và tài nguyên số

Trang 36

1.5.3 Khung năng lực tích công nghệ trong hoạt động dạy học dành cho giáo

viên ở Việt Nam

Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có văn bản chính thức quy định về tiêu chuẩn tích hợp ICT vào trong dạy học dành cho GV cũng như SV sư phạm, trong quy định về chuẩn nghề nghiệp GV trung học cơ sở, GV trung học phổ thông, GV GDNN được ban hành năm học 2017-2018 mới chỉ có tiêu chí về sử dụng các phương tiện dạy học, và chủ yếu dựa vào tiêu chí đánh giá của khung do UNESCO đề xuất

Thông tư 03/2018/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 06 năm 2018 quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành GDNN [6] Do đó đối với nhà giáo GDNN thì tiêu chuẩn nghề nghiệp bao gồm:

- Năng lực chuyên môn nghề nghiệp

sư phạm (viết tắt là PK) Mishra & Koehler cho rằng hoạt động dạy-học hiệu quả cần có sự kết hợp ICT với phương pháp sư phạm và kiến thức chuyên môn, xem trọng tâm của việc giảng dạy với công nghệ gồm ba thành phần cốt lõi, đó là nội dung, sư phạm và công nghệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng [34], sự tương tác giữa ba thành phần này, diễn ra khác nhau thông qua các bối cảnh đa dạng, đặc biệt xét tới sự thay đổi liên tục của công nghệ giáo dục, (tác giả đã trình bày

cụ thể về TPACK và các thành phần của TPACK trong nội dung mục 1.5 dưới đây)

Trang 37

Khung TPACK cho dạy học ở Việt Nam, được tác giả Nguyễn Thế Dũng

và cộng sự của mình đề xuất dựa trên lý thuyết khung TPACK của Mishra & Koehler, khung TPACK gồm 7 phần với 42 tiêu chí phù hợp với bối cảnh giáo dục Việt Nam [35]:

- Kiến thức Sư phạm

- Kiến thức công nghệ

- Kiến thức nội dung

- Tương tác giữa kiến thức sư phạm và nội dung

- Tương tác giữa tri thức công nghệ và sư phạm

- Tương tác giữa kiến thức chuyên ngành (nội dung) và kiến thức công nghệ

- Tương tác giữa kiến thức sư phạm, công nghệ và nội dung

Trong nghiên cứu này tác giả vận dụng Khung TPACK cho dạy học ở Việt Nam như một căn cứ khoa học nhằm xác định các chỉ báo về năng lực ứng dụng ICT trong HĐDH của giáo viên

1.6 Mô hình TPACK và các thành phần của TPACK

TPACK là từ viết tắt của cụm từ Teachnological pedagogical content knowledge bao gồm Kiến thức về nội dung, phương pháp và công nghệ, TPACK được Mishra & Koehler (2006) phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết về mối tương tác giữa kiến thức về nội dung giảng dạy và kiến thức sư phạm do tác giả Shulman đưa ra năm 1986 Mô hình TPACK đưa ra cái nhìn tổng quan về kiến thức mà một giáo viên cần có để ứng dụng ICT vào việc dạy học của mình: Kiến thức công nghệ (TK), Kiến thức phương pháp (PK) và kiến thức nội dung (CK), cũng như mối quan hệ và tương tác giữa chúng

Có thể thấy rằng: mô hình TPACK là một khung lý thuyết giúp các nhà giáo dục, GV và nhà quản lý thiết kế những hệ thống dạy-học và đào tạo hiệu quả hơn Trước hết, mô hình TPACK chỉ ra sự kém hiệu quả của những mô hình đào tạo mà GV chỉ đơn giản tập trung vào một loại năng lực nào đó, mô hình này chính là cơ sở cho việc phân tích kiến thức, năng lực GV và từ đó có những giải pháp đào tạo GV đáp ứng yêu cầu dạy-học của thế kỉ 21 Ngoài ra, TPACK cũng tạo cơ sở để GV thiết kế những hoạt động học tập hiệu quả hơn, TPACK đã chỉ

Trang 38

ra là việc học đạt hiệu quả cao nhất khi thầy trò cùng sử dụng sức mạnh của ICT

để khám phá tri thức trong môi trường học tập có gắn kết chặt chẽ với thực tiễn

1.6.1 Kiến thức nội dung

Kiến thức nội dung (CK) là kiến thức về chủ đề thực tế để học hay giảng dạy Nội dung trong các môn học nghề rất khác so với nội dung trong các môn học văn hóa trước kia Rõ ràng, GV phải biết và hiểu các môn học mà họ dạy, bao gồm kiến thức về các sự kiện, các khái niệm, các lý thuyết trong một lĩnh vực cụ thể; kiến thức dùng để tổ chức và kết nối các ý tưởng; kiến thức về các quy tắc của minh chứng

GV cũng cần phải hiểu được bản chất của kiến thức và các yêu cầu trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ: một chứng minh trong toán học khác với một lời giải thích trong lịch sử hay một cách giải thích trong văn học GV không có những hiểu biết này có thể làm sai lệch các nội dung cho sinh viên của họ

1.6.3 Kiến thức công nghệ

Kiến thức công nghệ (TK) là kiến thức về các công nghệ cùng với các kỹ năng cần thiết để vận hành một công nghệ cụ thể nào đó, ví dụ: Trong trường hợp công nghệ số, TK bao gồm kiến thức về hệ điều hành, phần cứng máy tính và khả năng sử dụng các bộ phần mềm chuẩn như bộ xử lý văn bản, bảng tính, trình duyệt, e-mail và các phần mềm ứng dụng khác TK bao gồm kiến thức về cách

Trang 39

cài đặt và gỡ bỏ thiết bị ngoại vi, cài đặt và gỡ bỏ các chương trình phần mềm, tạo và lưu trữ tài liệu

Hầu hết các hội thảo và hướng dẫn về công nghệ đều có xu hướng tập trung vào việc đạt được các kỹ năng cơ bản và cần thiết, bởi công nghệ liên tục thay đổi nên TK cũng cần phải thay đổi theo thời gian, khả năng học hỏi và thích ứng với các công nghệ mới (không phân biệt công nghệ cụ thể là gì) là quan trọng

1.6.4 Tương tác giữa kiến thức sư phạm và nội dung

Kiến thức nội dung sư phạm (PCK) là kiến thức sư phạm được áp dụng cho giảng dạy nội dung cụ thể Kiến thức này bao gồm hiểu rõ phương pháp giảng dạy nào phù hợp với nội dung cũng như hiểu rõ các yếu tố nội dung có thể được sắp xếp theo cách để giảng dạy tốt hơn

Kiến thức này khác với kiến thức của một chuyên gia về môn học và cũng khác với kiến thức sư phạm chung được chia sẻ bởi các GV qua các môn học PCK quan tâm đến việc trình bày và xây dựng các khái niệm, kỹ thuật sư phạm, kiến thức về những gì làm cho các khái niệm khó hoặc dễ để học, kiến thức về kiến thức sẵn có của học sinh và các lý thuyết về nhận thức luận Nó bao gồm: kiến thức về các chiến lược giảng dạy kết hợp một cách thích hợp việc trình bày các khái niệm nhằm giải quyết những khó khăn của người học và những hiểu sai

mà người học thường gặp và kiến thức về những gì học sinh mang lại cho tình huống học tập, điều này có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc ngược lại đối với nhiệm vụ học tập nào đó

1.6.5 Tương tác giữa kiến thức công nghệ và sư phạm

Kiến thức sư phạm công nghệ (TPK) là kiến thức về sự tồn tại của các công nghệ, về các thành phần và các khả năng của các công nghệ khác nhau khi chúng được sử dụng trong dạy học và ngược lại, biết được việc dạy học có thể thay đổi như là kết quả của việc sử dụng các công nghệ cụ thể Điều này bao gồm việc biết và hiểu về các công cụ có thể sử dụng cho một nội dung cụ thể , khả năng lựa chọn một công cụ dựa trên sự phù hợp của nó, các chiến lược sử dụng công

cụ và kiến thức về các chiến lược sư phạm, về khả năng áp dụng các chiến lược

sử dụng công nghệ bao gồm kiến thức về các công cụ để duy trì hồ sơ lớp học,

Trang 40

điểm danh, kiểm tra đánh giá và kiến thức về các công nghệ chung như Webquest, bảng học nhóm và các phòng thảo luận số

1.6.6 Tương tác giữa kiến thức chuyên ngành và kiến thức công nghệ

Kiến thức nội dung công nghệ (TCK) là kiến thức về cách thức công nghệ

và nội dung dạy học liên quan lẫn nhau Mặc dù công nghệ ràng buộc một số cách trình diễn, các công nghệ mới hơn thường có khả năng trình diễn tốt hơn, đa dạng hơn và linh hoạt hơn

GV không đơn thuần là chỉ nắm vững những kiến thức chuyên ngành và còn có thể biểu diễn, truyền đạt lại kiến thức đó qua những công nghệ phù hợp với nội dung dạy học Ví dụ: sử dụng phần mềm mô phỏng chạy thử mạch điện trên lập trình PLC trước khi HSSV thực hiện lắp đặt chúng, phần mềm này cho phép HSSV thử và thiết kết lại nhiều lần mà không tốn thời gian và công sức khi lắp đặt, đặc biệt dụng cụ vật tư hao tốn khi thực hành

1.6.7 Tương tác giữa kiến thức sư phạm, công nghệ và nội dung (TPACK)

Biểu đồ 1.1: Mô hình TPACK của M J Koehler & P Mishra

TPACK là nền tảng cho việc giảng dạy với công nghệ và đòi hỏi sự hiểu biết về cách trình bày các khái niệm sử dụng công nghệ; các kỹ thuật sư phạm sử

Ngày đăng: 28/02/2021, 09:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w