Phân tích ảnh hưởng của môi trường quản trị là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp, ở đây tôi chỉ đề cập và phân tích ảnh hưởng chủ yếu của một số yếu tố của môi trườn vĩ mô đến các
Trang 1ƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ HỌC
ĐỀ TÀI:
MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ TRONG XU
THẾ HỘI NHẬP HIỆN NAY
GVHD: Ts Mai Thanh Hùng
SV Thực hiện và MSSV: Phạm La Bay _09081731
Nguyễn Lê Ái Diễm _ 09079471
Lê Huỳnh Mỹ Duyên _ 09083781 Nguyễn Thị Quỳnh Như _ 09083611 Phạm Thị Hoàng Oanh _ 09086671 Trần Thanh Trang _ 09075261 Nguyễn Thị Thanh Tuyền _ 09073371 Đoàn Thuận Kiều Xuân _ 09071921 Nguyễn Tấn Nhân_09209381
TP.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 03 năm 2010.LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Kể từ sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba (1913 – 1950), sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, mở rộng trên phạm vi toàn thế giới theo cả chiều rộng và chiều sâu Do đó, tất cả các quốc gia không phân biệt trình độ đã và đang hình thành mối quan hệ gắn bó lẫn nhau Đường biên giới quốc gia và khoảng cách địa lý trở nên mờ nhạt, các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu nối tiếp nhau ra đời Sự ra đời của các tổ chức lớn như WTO, APEC, NAFTA và gần đây là sự ra đời của các khu vực đồng tiền chung Euro đã là ví dụ điển hình trong thiên niên kỉ mới này, cuộc cách mạng công nghệ tiếp tục đi sâu, mở rộng ứng dụng công nghệ tin học sẽ là động lực chính thúc đẩy hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế, toàn cầu hoá
Trước bối cảnh toàn cầu như vậy, công cuộc phát triển kinh tế của nước ta không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hoá Nhận thấy được tình hình kinh tế của đất nước đang gặp khó khăn, tháng 12/1986 Đảng và Nhà nước quyết định chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong chiến lược phát triển kinh tế, vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới, tăng cường hợp tác kinh
Trang 2tế các nước và các tổ chức quốc tế đang là vấn đề được quan tâm Với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng Với việc gia nhập PECC (01/1995), ASEAN (07/1995), ký kết hiệp định chung về hợp tác kinh tế với EU (7/1995), tham gia APEC (11/1998), và đang chuẩn bị tích cực cho các cuộc đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam từng bước vững chắc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Việc Việt Nam gia nhập vào các tổ chức kinh tế quan trọng này kéo theo những yêu cầu cao hơn và đa dạng hơn về ngành nghề Đặc biệt là sự phát triển tiến bộ của ngành quản trị học _ một ngành không thể thiếu trong công cuộc lãnh đạo các doanh nghiệp đi lên trong môi trường dầy khó khăn và thách thức như hiện nay Vai trò của ngành quản trị học cũng như các nhà quản lý đang dần dược thể hiện rõ qua từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước.
Trên thế giới có rất nhiều nhà quản lý thành công trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Nhà quản lý phải thể hiện được bản lĩnh cũng như sự táo bạo trong các chiến lược kinh doanh của mình Đặc biệt là phải biết nắm bắt cơ hội, tiếp thu tốt những KHKT mới và tiên tiến nhất của thế giới Ví dụ như Sam Walton: Sam Walton là một người biết nắm bắt
cơ hội Ông không giống bất kỳ ai, ông không bao giờ nói không thể và luông đấu tranh với những gì bất thường Trong cuộc đời, ông đã phải chịu khá nhiều khổ cực Lớn lên trong khủng hoảng, phải tham gia vào một trận chiến khốc liệt Chính vì vậy ông có lối sống tằn tiện và chăm chỉ Ông là người luôn cần mẫn, cố gắng kiếm dược nhiều tiền nhất và biết làm cháy lên những hoài bão để đi đến thành công Điều này có thể giúp ta giải thích tại sao ông đã giúp gia đình vượt qua đợt khủng hoảng, bắt đầu kinh doanh từ hai bàn tay trắng Ông đã đổi mới phương thức quản lý kinh doanh, trở thành một nhà quản lý kiểu mẫu Còn rất nhiều tấm gương khác nữa trên thế giới được biết đến với bản lĩnh quản lý kinh doanh táo bạo và đổi mới Và con số này ở Việt Nam là rất ít
Có thể thấy khái niệm "Nhà quản lý” (tiếng Anh là Manager) chỉ mới được đùng nhiều ở Việt Nam không lâu khi chúng ta mở cửa hợp tác nhiều hơn với các nước phát triển Trước đó, chúng ta vẫn quen gọi những nhà quản lý này với cái tên mà thoạt nghe đã thấy sự hiển hiện của chức vụ và quyền lực nhiều hơn nghề nghiệp như là sếp, thủ trưởng, lãnh đạo
Nhà quản lý có thể là một anh đội trưởng đội bảo vệ của cơ quan, một chị tổ trưởng phụ trách tổ vệ sinh đường phố, một công viên chức bình thường trong bộ máy quản lý Nhà nước, một Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân, một vị Bộ trưởng một Bộ hay một ông Thủ tướng của một đất nước
Trong mấy thế kỷ gần đây, quản lý đã trở thành một công việc rất đặc thù vì quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Đã là một khoa học thì không thể không nghiên cứu không học hành bài bản và hệ thống mà hy vọng trở thành Nhà quản lý giỏi Đã
là một nghệ thuật thì không phải cứ học thuộc lý thuyết quản lý trong sách vở là có thể trở thành nhà quản lý xuất sắc Nghệ thuật quản lý là cái gì đó thuộc về năng khiếu, thuộc về
Trang 3bẩm sinh, giống như năng khiếu hội họa, năng khiếu âm nhạc, năng khiếu toán học, cái mà không phải ai khi sinh ra cũng có, cái mà không phải cứ cần cù là bù được khả năng.
Trong gần 20 năm qua, với chính sách đổi mới, kinh tế Việt Nam đã có một bước tiến vượt bậc Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay thì không biết bao giờ mới đuổi kịp nền kinh tế hiện tại của các nước xung quanh như Singapore và Thái Lan Nguyên nhân của sự yếu kém này phải chăng do sự nhìn nhận khác biệt giữa thế giới và Việt Nam về đặc tính khoa học và nghệ thuật của ngành quản trị học.Có thể kể ra hàng loạt khác biệt nữa giữa văn hóa quản lý của thế giới và của Việt Nam trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất làm cho kinh tế Việt Nam chậm phát triển có lẽ là do:
Thứ nhất, ở Việt Nam quản lý chưa được coi là một khoa học để từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý cho các nhà quản lý một cách bài bản, hệ thống trước cũng như trong quá trình làm quản lý.
Thứ hai, quản lý không được coi là một nghệ thuật để từ đó có biện pháp phát hiện, lựa chọn và bổ nhiệm những người có năng lực quản lý thực sự vào cương vị quản lý.
Nếu sự khác biệt này sớm được khắc phục, nó sẽ góp phần đáng kể rút ngắn sự tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam so với nền kinh tế thế giới
Song song với vấn đề đó, ngày nay, chúng ta đều biết rằng không một tổ chức nào tồn tại như một hòn đảo biệt lập, mà nó là một đóng góp quan trọng của khảo luận hệ thống vào việc đổi mới môn quản trị Tất cả mọi tổ chức nói chung hay các doanh nghiệp nói riêng đều tồn tại trong lòng xã hội và chịu sự tác động của các yếu tố trong xã hội lên nó, thậm chí chúng ta còn biết rằng không phải chỉ có các yếu tố bên ngaoì tác động lên doanh nghiệp, mà kể cả các yếu tố bên trong doanh nghiệp cũng tác động lên chính nó Có những yếu tố doanh nghiệp có thể kiểm soát được, nhưng cũng có những yếu tố doanh nghiệp không thể kiểm soát được Chúng ta lại biết rằng các yếu tố này lại thường xuyên thay đổi
do sự phát triển của XH và doanh nghiệp
Tại sao cần nghiên cứu môi trường quản trị?
1 Biết được môi trường quản trị và phân biệt môi trường vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến tổ chức như thế nào trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay
2 Hiểu được những yếu tố môi trường vĩ mô và vi mô ảnh hưởng như thế nào đến các tổ chức
3 Nắm bắt được các giải pháp quản tri nhằm hạn chế những bất trắc của các yếu tố môi trường
Trang 4CHƯƠNG I : MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ
1.1 _ Khái niệm môi trường quản trị:
Các nhà quản trị dù hoạt dộng trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải xét đến các yếu tố môi trường xung quanh Trong khi họ có thể thay đổi chút ít hoặc không thể thay đổi các yếu tố này, thì họ không có sự lựa chọn nào khác mà phải phản ứng thích nghi với chúng Họ phải xác định, ước lượng và phản ứng lại đối với các yếu tố bên ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động của nó
Môi trường quản trị là sự vận động tổng hợp, tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố và lực lượng bên ngoài hệ thống quản trị nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến hoạt động quản trị của một tổ chức Tùy theo các góc độ tiếp cận khác nhau, người ta có thể phân môi trường quản trị ra thành nhiều loại: môi trường vĩ mô: có tác động trên bình diện rộng và lâu dài Đối với một doanh nghiệp: chẳng hạn, chúng tác động đến cả ngành sản xuất kinh doanh, và do đó cũng có tác động đến doanh nghiệp và chiến lược quản trị kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường vi mô bên ngoài tổ chức, tác động trên bình diện gần gủi và trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và môi trường nội bộ, có ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên và rất quan trọng tới các hoạt động quản trị của chính ngay tổ chức
đó Các yếu tố này sẽ giúp cho một tổ chức xác định rõ ưu nhược điểm của mình, đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm đạt được một cách tối đa
Các môi trường nói trên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra môi trường quản trị của một tổ chức.Tuy nhiên, nhà quản trị có thể làm giảm sự lệ thuộc của tổ chức vào môi trường bằng những chiến lược thích hợp
Quản trị gia phải nhận thức đầy đủ, chính xác các yếu tố môi trường để soạn thảo chiến lược và sách lược quản trị cho đúng đắn, giúp tổ chức tồn tại và phát triển
Phân tích ảnh hưởng của môi trường quản trị là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp, ở đây tôi chỉ đề cập và phân tích ảnh hưởng chủ yếu của một số yếu tố của môi trườn vĩ mô đến các hoạt động quản trị của các tổ chức, doanh nghiệp
1.2 _ Phân loại môi trường quản trị:
Việc phân loại môi trường hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng phổ biến các nhà quản trị chia môi trường ra thành 2 hay 3 loại môi trường Ở đây, chúng tôi thấy việc phân loại môi trường thành 3 loại hợp lí hơn:
Môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô.
Môi trường nội bộ.
CHƯƠNG II _ Phân tích môi trường quản trị :
Mục đích của việc phân tích môi trường hoạt động cuả doanh nghiệp nhằm giúp cho các nhà quản trị nhận diện dược điểm mạnh hay yếu của doanh nghiệp, và những cơ hội
Trang 5hay nguy cơ đối với doanh nghiệp, hoặc vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp để các nhà quản trị đề ra các chiến lược hoạt động của doanh nghiệp của mình Tùy theo các mục đích khác nhau mà các nhà quản trị có thể sử dụng loại ma trận công cụ khác nhau để ứng dụng vào nhu cầu của mình Hiện nay các nhà quản trị sử dụng phổ biến các loại ma trận như: SWOT, BCG, BCG mới.
2.1_ Môi trường vĩ mô:
2.1.1_ Môi trường vĩ mô là gì?
• Là các yếu tố có ảnh hưởng rộng và không trực tiếp đến tổ chức bao gồm các yếu tố: một cách khách quan lên mọi tổ chức.
• Hoặc là: Môi trường vĩ mô của Doanh nghiệp là nơi mà Doanh nghiệp phải bắt đầu tìm kiếm những cơ hội và những mối đe dọa có thể xuất hiện, nó bao gồm tất
cả các nhân tố và lực lượng có ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả thực hiện của Doanh nghiệp.
2.1.2 _ Các yếu tố của môi trường vĩ mô:
a) Nhóm yếu tố kinh tế:
Nhóm yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp ở cả ngắn hạn và dài hạn
Về ngắn hạn : các yếu tố kinh tế ảnh hưởng ngắn hạn đến các hoạt động của
doanh nghiệp Các yếu tố kinh tế như :
GDP và GNP :
GDP tác động đến tất cả các mặt hoạt động quản trị như: hoạch định, lãnh đạo, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định.GDP tác động đến nhu cầu của gia đình, doanh nghiệp và Nhà nước Một quốc gia có GDP tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên
về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng loại, chất lượng, thị hiếu dẫn đến tăng lên quy mô thị trường Điều này đến lượt nó lại đòi hỏi các doanh nghiệp phải đáp ứng trong từng thời kỳ, nghĩa là nó tác động đến tất
cả các mặt hoạt động quản trị như hoạch định, lãnh đạo, tổ chức, kiểm soát và ra các quyết định không chỉ về chiến lược và chính sách kinh doanh, mà cả về các hoạt động cụ thể như cần phải sản xuất hàng hóa, dịch vụ gì, cho ai, bao nhiêu và vào lúc nào
Ở nước ta từ năm 1990 đến nay do sự tăng lên của GDP đã tác động mạnh mẽ đến cơ cấu tiêu dùng và mở ra nhiều cơ hội cho các nhà quản trị Nhiều doanh nghiệp
đã thành công nhờ đưa ra các hàng hóa dịch vụ phù hợp nhu cầu, thẩm mỹ, thị hiếu đang gia tăng của người tiêu dùng Tuy nhiên một số doanh nghiệp không nhanh nhạy thích ứng với sự thay đổi này đã dẫn tới thua lỗ, phá sản Nguy cơ và rủi ro cho một số doanh nghiệp không chỉ bắt nguồn từ sự thay đổi quá nhanh và mạnh mẽ mà còn cả từ sự không năng động và linh hoạt của các nhà quản trị trong việc không biết cách đáp ứng nhu cầu đã tăng lên và thay đổi nhanh chóng về các loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong thời kỳ này
Lãi suất ngân hàng:
Lãi suất sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và việc tiêu dùng của người dân
Trang 6Yếu tố lãi suất cho vay của ngân hàng cũng có ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động quản trị ở mỗi doanh nghiệp Trên thực tế các doanh nghiệp thường đi vay thêm vốn ở ngân hàng để mở rộng sản xuất hoặc sử dụng trong việc mua bán, do đó lãi suất cho vay cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố đầu vào, đầu ra ở mỗi doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là ảnh hưởng của lãi suất cho vay đến giá thành, giá bán và tác động đến sức mua thực tế về hàng hóa cùng dịch vụ của doanh nghiệp, có tác động rất lớn đến việc hoạch định và thực thi các chiến lược và chính sách quản trị kinh doanh Chính vì vậy mà khi vạch ra một chiến lược quản trị kinh doanh, đặc biệt là chiến lược quản trị tài chính, doanh nghiệp thường lưu ý đến yếu tố này.
Chỉ số giá cả:
Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu
như giá cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế Chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không Chỉ số giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như chính sách lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến hành hedging của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn Cũng rất
có lợi cho các nhà đầu tư cá nhân tiến nếu họ tính đến chỉ số CPI khi tiến hành
hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư
Có một số hình thức biến động giá cả trong nền kinh tế, như làm giảm phát hoặc thiểu phát(disinflation) hoặc làm tăng lạm phát (reflation) Làm giảm lạm phát là việc làm cho lạm phát chững lại, nhưng vẫn đang trong tình trạng lạm phát Khi lạm phát xảy ra đối với một nền kinh tế không tăng trưởng, ta gọi đó là lạm phát đình đốn, khiến cho lạm phát càng trở nên nghiêm trọng
Yếu tố lạm phát tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh Nếu lạm phát gia tăng sẽ làm tăng giá cả yếu tố đầu vào kết quả dẫn tới sẽ là tăng giá thành và tăng giá bán Nhưng tăng giá bán lại khó cạnh tranh Mặt khác, khi có yếu tố lạm phát tăng cao, thì thu nhập thực tế của người dân lại giảm đáng kể và điều này lại dẫn tới làm giảm sức mua và nhu cầu thực tế của người tiêu dùng Nói cách khác khi có yếu tố lạm phát tăng cao thì thường khó bán được hàng hóa dẫn tới thiếu hụt tài chính cho sản xuất kinh doanh, việc tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh khó thực thi được Vì vậy việc dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay, cũng như trong chiến lược sản xuất kinh doanh
Lạm phát cũng gây ra tình trạng thiếu tiền vì các doanh nghiệp không khai thác được nguồn tín dụng cho việc duy trì sản xuất của mình Do đó, số lượng công việc cho người dân làm cũng giảm thiểu trong trung và dài hạn
Ảnh hưởng tới tâm lý và tiêu dùng của người dân
Về dài hạn : các yếu tố kinh tế ảnh hưởng dài hạn đến hoạt động của doanh nghiệp:
Tăng trưởng kinh tế :
Trang 7Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp đôi"trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội.
Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, là tin vui cũng như là dấu hiệu tốt của nền kinh tế cũng như đối với doanh nghiệp
Không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt Chẳng hạn, tăng trưởng kinh
tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế "quá nóng", gây ra lạm phát, hoặc tăng
trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên Điều đó sẽ gây bất lợi lớn cho doanh nghiệp Đối với xu thế hội nhập hiện nay, tăng trưởng kinh tế là con dao hai lưỡi đối với doanh nghiệp
Chính sách kinh tế quốc gia:
Thể hiện quan điểm, định hướng phát triển kinh tế của nhà nước thông qua các
chủ trương chính sách Tùy theo giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, Nhà nước có những chính sách kinh tế khác nhau thông qua việc ưu đãi, khuyến khích hay hạn chế một số ngành kinh tế nào đó
Năm 2009 vẫn đặt ra không ít thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Do đó, Chính phủ đã đề ra một số chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp Việt Nam: chính sách tiền tệ, khuyến khích đầu tư và xuất khẩu,…
VD:Các định chế tài chính, chứng khoán ở Việt Nam chưa phát triển nên nguồn vốn huy động cho nền kinh tế chủ yếu từ ngân hàng Do đó Nhà nước phải can thiệp không chỉ bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng thực lực của nền kinh tế khi các ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm 70% thị phần cho vay Trong bối cảnh các doanh nghiệp tồn kho lớn, chưa xuất khẩu được, các ngân hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn bằng khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí giảm lãi suất
Riêng với trường hợp doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà nước cũng lưu ý ngoài việc
hỗ trợ lãi suất ngân hàng, thuế, một điểm mới là bảo lãnh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư xuất khẩu Theo đó, Ngân hàng phát triển, nơi làm chính sách, có nhiệm
vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất khẩu Nhà nước cho rằng : nguồn vốn đang khó khăn không thể lập quỹ nào khác mà phải giao cho Ngân hàng phát triển (VDB) thực hiện
Dẫn chứng bằng 5 triệu tấn than đang nằm chờ chưa xuất được chi phí bỏ ra cũng rất lớn vì để có được 1 tấn than phải bóc 8 khối đất tương đương với chi phí khoảng 800 ngàn đồng Vì vậy, Nhà nước ra chỉ thị: "Các ngân hàng quốc doanh phải làm nòng cốt trong việc giải cứu cho các doanh nghiệp Bởi vì doanh nghiệp đổ thì ngân hàng cũng chết
Trang 8 Chu kỳ kinh tế:
Chu kỳ kinh tế (business cycle) là chủ đề được nhiều nhà kinh tế cũng như các
nhà hoạch định chính sách quan tâm Hai biến vĩ mô chính được sử dụng để xác định chu kỳ kinh tế là tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp.Mỗi chu kỳ thường có 4 giai đoạn: giai đoạn phát triển, giai đoạn trưởng thành, giai đoạn suy giảm và giai đoạn tiêu điều cực điểm Nó có ảnh hưởng mạnh và sâu rộng đến các quyết định đầu
tư của các nhà quản trị doanh nghiệp trong xu thế hội nhập còn nhiều bất ổn như hiện nay
VD:Từ năm 2000-2008, có tới 60% lượng tín dụng được dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả khi ICOR ở mức rất cao (9-12) và chỉ có thể tạo việc làm cho khoảng 10% lực lượng lao động Theo phân tích về chu kỳ của trường phái kinh tế học Áo (Mises, Hayek), sự dư thừa tín dụng và phân bổ không hiệu quả này rốt cuộc đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng và buộc thị trường tín dụng phải điều chỉnh như chúng ta đã chứng kiến trong năm 2008.
Trong thời kỳ khó khăn của chu kỳ kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được kết hợp linh hoạt để phục hồi tăng trưởng GDP và tạo việc làm Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn là cần thiết nhưng cần chú ý không rơi vào bẫy thanh khoản (liquidity trap) khi lãi suất đã giảm thấp nhưng ngân hàng vẫn không cho vay, doanh nghiệp không thể tiếp cận tín dụng như trong thời gian qua ở nước ta Khi đó chính sách tiền tệ sẽ không còn tác dụng kích thích nền kinh tế
b) Nhóm yếu tố chính trị và pháp luật:
Chính phủ: Cơ quan giám sát, duy trì và bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích
quốc gia Vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách tài chính, tiền
tệ, thuế và các chương trình chi tiêu
Pháp luật: Đưa ra những quy định cho phép hay ko cho phép, hoặc những ràng buộc, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân theo
Thập kỷ 80-90 có nhiều sự biến động cả về chính trị lẫn kinh tế trên thế giới Một quy luật được thấy rất rõ trong thời kỳ này là: sự định hướng đúng đắn và sự ổn định về chính trị là những điều kiện cần thiết khách quan để phát triển toàn bộ nền kinh tế ở mỗi nước và ở mỗi doanh nghiệp Chúng ta đã từng thấy các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường có định hướng XHCN, về phát triển kinh tế tư bản, tư nhân v.v là những đòn bẩy tạo đà cho sự phát triển rất mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngày nay Nói một cách khác, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội có những ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp rất lớn đến toàn bộ tiến trình kinh doanh và quản trị kinh doanh ở mọi doanh nghiệp
Đối với các hoạt động về quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp, Chính phủ đóng vai trò khá quan trọng: vừa có thể thúc đẩy vừa có thể hạn chế việc kinh doanh Chính phủ có thể thúc đẩy bằng cách khuyến khích việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc trợ cấp cho các ngành công nghiệp được lựa chọn, ưu tiên về thuế trong những hoàn cảnh nhất định, bảo vệ một
Trang 9vài ngành kinh doanh thông qua những biểu thuế suất đặc biệt, hay bằng cách trợ giúp việc nghiên cứu và triển khai
Nhà nước cũng có thể hạn chế và điều chỉnh việc kinh doanh thông qua các bộ luật, nghị định, thông tư và các quyết định như bộ Luật Lao Động, Luật Thương Mại, Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Bảo Vệ Môi Trường v.v Các chính sách về lương bổng, tài chính, tiền tệ (chính sách quản lý tiền mặt, chế độ thu chi và sử dụng ngân sách, cán cân thanh toán, nguồn cung cấp tiền, việc kiểm soát về khả năng tín dụng thông qua chính sách tài chính) đều có những ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động về kinh doanh nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng ở tất cả mọi doanh nghiệp
Trong những ảnh hưởng từ chính sách của nhà nước, thì các chính sách về thuế
có ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến việc cân đối thu chi, lời lỗ và chính sách kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp Mọi hoạt động về quản trị nói chung và quản trị tài chính nói riêng ở mỗi doanh nghiệp đầu bị chi phối không trực tiếp thì gián tiếp từ các chính sách về thuế của nhà nước Thí dụ như nếu các khoản thuế về lợi nhuận kinh doanh quá cao, thì sự khuyến khích đi vào kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh sẽ có
xu thế giảm xuống, và những nhà đầu tư sẽ tìm kiếm chỗ khác để họ đầu tư Nếu các khoản thuế được đánh vào việc bán hàng, thì giá cả sẽ tăng lên và dân chúng sẽ có xu hướng mua ít đi, điều này cũng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy công việc quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp cần phải chấp hành đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định hiện hành của pháp luật là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan
Yếu tố chính trị - pháp luật là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó
c) Nhóm yếu tố văn hóa-xã hội:
Dân số: Ảnh hưởng lên nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới đầu ra của doanh
nghiệp Xác định quy mô thị trường…
Lối sống: Chi phối đến việc hình thành những nhu cầu về chủng loại chất
lượng và kiểu dáng hàng hóa
Văn hóa: Tác động và chi phối hành vi ứng xử của người tiêu dùng và
người quản trị doanh nghiệp
Gia đình: Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chất lượng hiệu quả làm việc
của mọi người
Tôn giáo: Ảnh hưởng tới văn hóa đạo đức, tư cách của mọi người, trong
việc chấp hành và thực thi các quyết định
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó
Trang 10Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo
vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần Rõ ràng chúng ta không thể humbeger tại các nước Hồi Giáo được Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành
Ngay tại Việt Nam chúng ta có thể nhận ra ngay sự giao thoa của các nền văn hóa đặc biệt thời gian gần đây là văn hóa Hàn Quốc Ra đường thấy một nửa thế giới thay phiên nhau đi ép tóc, giày hàn quốc, son môi Hàn Quốc, xe máy Hàn Quốc, ca nhạc Hàn Quốc tất cả đều xuất phát từ những bộ phim Hàn Quốc
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các Doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập, … khác nhau
Ở Đức trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều người có thu nhập cao, điều kiện sống tốt, có khả năng trình độ và làm tại những vị trí ổn định của xã hội nhưng họ thích sống độc thân, không muốn phải có trách nhiệm về gia đình, công việc sinh con đẻ cái… Những yếu tố này đã khiến các doanh nghiệp của Đức nảy sinh các dịch vụ, các câu lạc bộ, các hàng hóa cho người độc thân
d) Nhóm yếu tố dân số:
Nghiên cứu nhóm yếu tố dân số cần xem xét các chỉ số: Tổng dân số, cơ cấu dân số, xu hướng biến động dân số
Tổng dân số ảnh hưởng đến tổng cầu trong phạm vi toàn XH, quốc gia nào đông dân thì có nhu cầu về tất cả sản phẩm cao và là thị trường tiêu thụ hấp dẫn đối với nhà sản xuất kinh doanh
Cơ cấu dân số có ảnh hưởng đến cơ cấu tiêu dùng và cơ cấu lao động, yếu tố này tác động đến tất cả các tổ chức vì các tổ chức đều cần tới nhân lực, tiêu thụ sản phẩm và sử dụng dịch vụ
VD: Việt Nam có dân số đông, tỷ lệ người trẻ tuổi khá cao là điều kiện thuận lợi
cho phát triển những ngành nghề cần nhiều lao động và xuất khẩu lao động cũng như dịch vụ giáo dục và đào tạo
Nhưng đông dân và trình độ dân trí chưa cao, lực lượng lao động dồi dào nhưng không có tay nghề cũng là thách thức lớn cho các nhà quản lý, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm và công bằng XH.
Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thì vấn đề này càng trở nên nan giải hơn với các nhà quản lý doanh nghiệp.
e) Nhóm yếu tố tự nhiên:
Thiên nhiên là thế giới xung quanh cuộc sống của chúng ta, là khí hậu, thủy văn, địa hình, rừng núi, sông ngòi, hệ động thực vật, tài nguyên khoáng sản thiên nhiên v.v Dưới con mắt của các nhà quản trị đó là những lực lượng và các yếu tố có sự ảnh hưởng rất sâu sắc tới cuộc sống của mọi con người trên trái đất này Chẳng hạn nếp sống, sinh hoạt và