1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu triển khai TMN vào mạng viễn thông việt nam

116 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đối lập với thực trạng của cung cách quản lý viễn thông trong quá khứ, ngày nay một môi trường nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông là tất yếu và môi trường này đòi hỏi sự quan tâm đặ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HÀ N ỘI - 2004

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VŨ QUANG MINH

Trang 3

Cựng với sự tiến bộ vượt bậc của cụng nghệ thụng tin, bước sang thế kỷ 21 mạng viễn thụng trở nờn rất đa dạng phong phỳ và phỏt triển với quy mụ toàn cầu Điều này làm cho việc giỏm sỏt, quản lý mạng trờn phạm vi rộng trở nờn khú khăn hơn Một trong những nguyờn nhõn của tỡnh trạng trờn là do cỏc phương tiện sử dụng trờn mạng tăng lờn nhanh chúng và mụi trường của mạng cũng luụn biến đổi

Hơn thế nữa, ngày nay cỏc nhà cung cấp đều cố gắng đưa ra nhiều cụng nghệ tiờn tiến cựng cỏc thiết bị hiện đại để cạnh tranh với nhau Để cú thể quản lý được một mạng

đa chủng loại thiết bị, cỏc ứng dụng quản lý khụng những phải tương thớch với thiết bị sử dụng mà cũn phải tương thớch với sự đa dạng của cỏc dịch vụ được cung cấp Cỏc nhõn viờn quản lý phải làm việc với nhiều phần mềm quản lý và phải thường xuyờn giỏm sỏt cỏc giao diện với người sử dụng

Tổ chức viễn thụng quốc tế ITU cựng cỏc tập đoàn viễn thụng lớn đó cố gắng đưa

ra những khuyến nghị để xõy dựng một mụ hỡnh quản lý mạng tối ưu, đú là mạng quản lý viễn thụng TMN Mạng này bao gồm nhiều hệ thống quản lý, trong đú mỗi hệ thống quản

lý một phần của mạng viễn thụng và trao đổi thụng tin với cỏc hệ thống khỏc TMN ra đời

sẽ giải quyết được tỡnh trạng quản lý mạng phức tạp

Trờn cơ sở đú đề tài đi sâu nghiên cứu triển khai mô hỡnh TMN vào mạng viễn thụng Việt Nam

Luận văn ngoài phần mở đầu bao gồm 4 chương:

Chương I: Cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý

Chương II: Mô hình quản lý trên COBBA

Chương III: Tổ chức mạng TMN

Chương IV: Triển khai TMN vào mạng viễn thụng Việt Nam

Em xin chõn thành cảm ơn cỏc thầy cụ giỏo đó truyền thụ cho em những kiến thức kỹ thuật quý bỏu và đặc biệt là thầy giỏo TS Phạm Cụng Hựng, người đó tận tỡnh hướng dẫn và giỳp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này

Trang 4

Mục lục

3 1- Sự cần thiết của các Hệ thống quản lý mạng thế hệ mới 3 2- Nhu cầu quản lý mạng trong tương lai 4 3- Xử lý phân tán mở (ODP) 7

Chương 1 : CƠ CẤU TỔ CHỨC HỆ THỐNG QUẢN Lý 9

1.1.1 Thụng tin quản lý 9 1.1.2 Mụ hỡnh trao đổi thụng tin quản lý 9

1 2- Các mô hình quản lý mạng 10 1.2.1 Mô hình quản lý mạng SNMP (SNMP FRAMEWORK) 10 1.2.2 Mô hình quản lý OSI (OSI FRAMEWORK) 14 1.3- Các chức năng quản lý mạng viễn thông 17 1.3-1 Quản lý lỗi 17 1.3-2 Quản lý cấu hỡnh

1.3.3 Quản lý chất lượng 22 24 1.3.4 Quản lý kế toỏn 26 1.3.5 Quản lý an ninh 29 1.4- Thực tế triển khai TMN 30 1.4.1 Cỏc điều kiện tiến tới TMN

1.4.2 Cỏc thành phần thiết yếu cho hệ thống quản lý 30 30

2.1- Mô hình kiến trúc CORBA 32 2.2- Các dịch vụ của CORBA 34 2.3- Mụ hỡnh quản lý trờn CORBA 34

2.3.1 Hệ thống quản lý dựa trờn CORBA 35 2.3.2 Hệ thống được quản lý dựa trờn CORBA 35

2.3.3 Cỏc giao diện giữa hệ thống và hệ thống quản lý dựa trờn CORBA 35

2.4 So sỏnh hai mụ hỡnh quản lý trờn TMN OSI và CORBA 36

2 5 Tớnh ưu việt kiến trỳc CORBA 36

3.1 Quan hệ giữa TMN và mạng viễn thông 38 3.2 Cấu trúc của TMN 38 3.2.1 Cấu trỳc chức năng của TMN 39 3.2.2 Cấu trúc vật lý 42 3.2.3 Cấu trúc thông tin của TMN 45

Trang 5

chương 4 : triển khai tmn vào mạng viễn thông việt nam

4.1- Thực trạng quản lý và khai thác mạng viễn thông VNPT 61 4.1.1 Cấu trúc mạng viễn thông VNPT giai đoạn hiện tại 61 4.1.1.1 Cấu trúc mạng chuyển mạch 61 4.1.1.2 Cấu trúc mạng truyền dẫn 63 4.1.2 Hiện trạng tổ chức quản lý và khai thác mạng viễn thông VNPT 65 4.1.3 Cấu trúc mạng viễn thông VNPT giai đoạn sắp tới 72 4.1.3.1 Các yêu cầu đối với cấu trúc mạng thế hệ mới của VNPT 72 4.1.3.2 Cấu hình hệ chuyển mạch thế hệ mới – NGN 72 4.1.4 Phân tích và lựa chọn Mô hình quản lý mạng tập trung của VNPT 77 4.1.4.1 Phân mức chức năng vận hành khai thác bảo dưỡng 77 4.1.4.2 Lựa chọn mô hình quản lý mạng theo TMN 78 4.1.4.2.1 Mô hình 1 (Scenario 1) 79

4.1.4.2.2 Mô hình 2 (Scenario 2) 78 4.1.4.2.3 Mô hình 3 (Scenario 3) 83 4.1.4.2.4 Mô hình 4 ( Scenario 4 ) 85 4.1.4.2.5 Mô hình 5 ( Scenario 5 ) 86 4.1.4.2.6 Mô hình 6 ( Scenario 6 ) 89

4.1.4.3 Đánh giá chung và lựa chọn mô hình tổng thể 90

4.1.4.3-1 Phương án tổ chức quản lý mạng viễn thông và các biện pháp thực hiện

Trang 6

DANH MôC C¸C h×nh vÏ vµ b¶ng biÓu

9

H×nh 4.4: CÊu h×nh kÕt nèi líp ®iÒu khiÓn vµ øng dông m¹ng NGN 74

Trang 7

Hình 4.6 : Phương án tổ chức quản lý mạng theo giai đoạn 1 triển khai MNC 97 Hình 4.7:Phương án tổng thể tổ chức khai thác quản lý mạng TMN 102

Trang 8

mở đầu - XU HƯớNG QUảN Lý MạNG VIễN THÔNG

Mạng viễn thông và thông tin ngày càng có quan hệ mật thiết và phát triển mạnh

mẽ, nhờ sự tự do hoá, toàn cầu hoá của ngành công nghiệp viễn thông Điều này đòi hỏi phải có một mạng quản lý thông tin hoàn chỉnh, có khả năng quản lý mạnh mẽ, linh hoạt và tin cậy Trên cơ sở đó ITU - T và ISO tập trung xây dựng TMN theo hai cấu trúc là : cấu trúc quản lý phân tán mở ODMA và cấu trúc CORBA

1- Sự cần thiết của các Hệ thống quản lý mạng thế hệ mới

Sự cần thiết phải có Hệ thống quản lý mạng thế hệ mới xuất phát từ các lý như:

- Ngày càng có nhiều các kiểu phần tử mạng mới và các công nghệ mới đã và đang

được đưa vào sử dụng, trong đó bao gồm cả các loại mạng truy nhập mới, các loại thiết bị truyền dẫn mới, các phần tử mạng thông minh (IN) và các cấu trúc liên kết mới như các mạng vòng SDH/SONET cũng như định tuyến IP

- Đối lập với thực trạng của cung cách quản lý viễn thông trong quá khứ, ngày nay một môi trường nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông là tất yếu và môi trường này

đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt trong thiết kế các hệ thống quản lý mạng

- Việc giới thiệu các dịch vụ mới xuất hiện trong môi trường cạnh tranh hiện nay diễn ra ở một mức độ nhanh chóng so với trong quá khứ Điều này đòi hỏi các Hệ thống quản lý mạng phải có thể thích ứng với bất kỳ một loại hình dịch vụ mới nào, một khả năng không hề có trong các hệ thống hệ thống quản lý mạng truyền thống

- Thị trường cạnh tranh hiện nay đối với các dịch vụ viễn thông đòi hỏi tính năng

động về tiếp thị để giới thiệu các dịch vụ mới ra thị trường, quảng cáo các dịch vụ mới tới các khách hàng truyền thống hoặc tới các khách hàng có tiềm năng Vì thế, môi trường quản lý mạng tương lai phải có khả năng hỗ trợ các nỗ lực bán hàng và tiếp thị Khả năng này hầu như không có hoặc không đầy đủ trong các hệ thống truyền thống hiện được sử dụng ở Bắc Mỹ

- Ngày càng có nhiều người dùng đăng ký thuê bao cho các dịch vụ viễn thông ở phạm vi rộng hơn Do đó, một hệ thống nhận đăng ký thuê bao phải có khả năng thích ứng với toàn bộ phạm vi dịch vụ mỗi khi yêu cầu Các yêu cầu này thậm chí

được áp dụng cả cho cả các tổ chức doanh nghiệp khách hàng vừa và nhỏ và phải

được đáp ứng hoàn toàn thông qua quá trình tự động hoá ở mức độ cao Điều tương

tự cũng xảy ra đối với các chức năng chăm sóc khách hàng

- Môi trường cạnh tranh, đặc biệt là trong khu vực dịch vụ nội hạt, đòi hỏi phải có sự trao đổi dữ liệu giữa các Hệ thống quản lý mạng của các nhà khai thác khác nhau Không có một hệ quản lý mạng hiện hành nào có khả năng cung cấp tính năng này

Trang 9

mà không phải chi phí rất lớn cho các gateway để trợ giúp cho quá trình kết nối giữa các hệ thống và các mạng khác nhau

- Phần lớn các Hệ thống quản lý mạng đơn lẻ đều có một hoặc nhiều cơ sở dữ liệu lớn Hiện nay, một tập hợp các Hệ thống quản lý thường có các cơ sở dữ liệu được phân tán trong các hệ thống khác nhau Nhiều dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu là các dữ liệu về thuê bao Tuy nhiên, việc định dạng các dữ liệu thuê bao thường khác nhau giữa các Hệ thống quản lý khác nhau và các phần mềm quản lý dữ liệu cũng thường không tương thích Tình huống này thường dẫn tới các lỗi nghiêm trọng trong vấn đề tính cước vì các yêu cầu tác nghiệp để đồng bộ hoá các cơ sở dữ liệu này gần như là không thể thực hiện được

Vì các lý do này, thực tế cho thấy nhiều nhà khai thác và cơ quan quản lý viễn thông đã hầu như nghiêng về xu hướng tuân thủ các nguyên lý và giao diện TMN Kết quả là người ta đã có thể triển khai một môi trường cho các Hệ thống quản lý toàn diện vượt trội so với bất kỳ một hệ thống truyền thống nào và xu hướng này đã

được nhiều nhà khai thác và nhà sản xuất lớn đi tiên phong triển khai trong thực tế

2- Nhu cầu quản lý mạng trong tương lai

Các vấn đề đã đề cập ở trên phần lớn được ứng dụng cho mạng điện thoại công cộng Cho đến thời điểm này, mạng Internet cũng đã phát triển vượt bậc, lưu lượng Internet cũng như các dịch vụ trên nền Internet đã hiện diện đều khắp ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển và thậm chí ở cả nhiều nước kém phát triển hơn Hiện nay, lưu lượng IP thường xuyên chiếm lĩnh các mạng đường trục lớn và trong một tương lai rất gần, sẽ làm thu nhỏ lưu lượng thoại hiện tại Các dịch vụ dựa trên Internet không những hỗ trợ cho các dịch vụ truyền thống hiện tại trên mạng PSTN,

mà trong nhiều trường hợp, còn thay thế hẳn các dịch vụ này Do đó, tương lai rõ

ràng sẽ thuộc về “Mạng Hội tụ” (Converged Network) có khả năng hỗ trợ các dịch

vụ hỗn hợp, bao gồm thoại, dữ liệu, truy cập Internet, truyền dẫn tín hiệu hình, các thông tin đa phương tiện và cả các dịch vụ chưa được định hình khác

Hệ thống hội tụ này, còn gọi là "Mạng Thế hệ sau” (NGN), sẽ không dựa chủ yếu

vào các tổng đài chuyển mạch như trong các mạng PSTN hiện nay Nó sẽ sử dụng các tổng đài chuyển mạch gói băng rộng (tổng đài IP, ATM hay MPLS) hoặc các router Các phương tiện truyền dẫn sẽ tiếp tục được sử dụng là truyền dẫn trên cáp sợi quang Yêu cầu tăng dung lượng sẽ thực hiện bằng DWDM Các hệ thống tương lai có thể hướng tới IP truyền trên SDH (hoặc SONET) hay truyền IP trực tiếp trên sợi quang

Điều hiển nhiên là hệ thống hội tụ thế hệ mới này yêu cầu có Hệ thống quản lý mạng mới hỗ có khả năng kiểm soát các phần tử mạng kiểu mới và các cấu trúc mạng mới tiên tiến hơn so với cấu trúc mạng PSTN truyền thống

Trang 10

Các Hệ thống quản lý cho mạng NGN phải đáp ứng được các yêu cầu mới Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, đối với các nhà cung cấp dịch vụ, Hệ thống quản lý mạng phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu sau:

- Khả năng triển khai nhanh chóng các dịch vụ mới Điều này không chỉ bao gồm các chức năng cơ bản của một dịch vụ, mà còn cả việc quản lý, cung cấp dịch vụ, thống kê chi phí, tính cước và các dịch vụ khách hàng

- Chăm sóc khách hàng đang trở thành một chức năng quan trọng đối với bất kỳ một dịch vụ khai thác viễn thông nào

- Quản lý về mặt kinh doanh của quá trình khai thác cũng là một chức năng quan trọng tuy trong thời kỳ độc quyền trước đây nó chưa bao giờ nhận được sự quan tâm xứng đáng Ngoài các chức năng quản lý kinh doanh cơ bản, các hoạt động tác nghiệp sẽ bao gồm cả việc thu thập dữ liệu khai thác mang tính lịch sử và lưu trữ

chúng trong kho dữ liệu “Khai thác mỏ dữ liệu” có thể cung cấp những thông tin có

giá trị cho các mục đích tiếp thị và lên kế hoạch dịch vụ trong tương lai

- Việc các đối tác kinh doanh truy nhập vào các Hệ thống quản lý thông qua trang Web đang trở thành một yếu tố quan trọng về cả yêu cầu quản lý lẫn thực tế kinh doanh

- Việc khách hàng hỗ trợ quá trình tự cung cấp dịch vụ và truy cập vào dữ liệu khai thác cũng đang trở nên quan trọng đáng kể

Kể từ lúc bắt đầu, khái niệm TMN đã cung cấp một cấu trúc tổng hợp bao gồm các vấn đề về kinh doanh và chăm sóc khách hàng Tuy nhiên cho hiện nay, thực tế triển khai TMN vẫn chỉ thường được chú trọng vào việc quản lý mạng và tính cước hơn là vào các vấn đề trên

Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ phân tích thêm những phương thức áp dụng trong các hệ thống quản lý mạng hiện hành và tương lai để có thể thích ứng với những thách thức đặt ra từ sự ra đời của mạng NGN

Trong tương lai, nhu cầu quản lý mạng trải rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể chia ra làm 5 lĩnh vực như sau :

- Quản lý theo công nghệ biểu diễn bởi các loại mạng

- Quản lý theo bối cảnh (screnaric) các đối tượng có thể là chủ đề của các ứng dụng

- Quản lý theo các dịch vụ biểu hiện các loại thông tin

- Quản lý theo các lĩnh vực chức năng chỉ thị các ứng dụng quản lý

- Quản lý thời gian sống biểu hiện các khía cạnh thời gian

Trang 11

Qua đây có thể thấy vấn đề quản lý mạng viễn thông trong tương lai rất phức tạp và

đa dạng Nó trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực Nếu so sánh với các chức năng quản lý như TMN OSI cũng đã đề ra đó là phải tích hợp dựa trên các hệ thống trên cơ sở lý phân tán mở (ODP) Vấn đề mấu chốt là phải có một hệ thống tích hợp dựa trên các khái niệm kiến trúc chung, nó phải bao trùm các lĩnh vực quản lý trong môi trường hỗn hợp Điều này có nghĩa là :

- Tích hợp của các kiến trúc truyền thống và dịch vụ dưới một kiến trúc quản lý

- Tổng hợp các lĩnh vực chức năng quản lý vào các chức năng quản lý các hệ thống tổng quát

Một tiền đề cho việc tích hợp đó là khả năng các hệ thống hoặc thành phần cần quản

lý trong môi trường hỗn hợp cung cấp được thông tin trong cơ sở hạ tầng các kiến trúc quản lý đã được chuẩn hoá Một yêu cầu thứ hai đó là một cơ sở chung cho các khối xây dựng tổng quát cho các ứng dụng quản lý

Dù áp dụng các tiêu chuẩn hoặc công nghệ nào thì các xu hướng trong quản lý mạng hiện nay đều nhằm đáp ứng các nhu cầu sau đây :

- Tự động : một số phần trong công việc quản lý cần đến tự động ví dụ như quá trình theo dõi (traking) lỗi Việc tự động sẽ là một trong những lợi thế trong các dòng sản phẩm Một vấn đề cấp thiết cấp bách là tự động toàn bộ cho việc quản

lý lỗi và thay đổi

- Độc lập ngôn ngữ : các ứng dụng quản lý hiện tại phải viết trên những ngôn ngữ lập trình cụ thể điều này làm phát sinh nhu cầu trong tương lai viết các ứng dụng trên một loại ngôn ngữ bất kỳ hoặc ngôn ngữ hướng đối tượng

- Độc lập về hệ điều hành : khi viết các ứng dụng quản lý lập trình không bị cột chặt vào một hệ điều hành nào đó Thay cho điều này, họ muốn các ứng dụng làm việc trên nhiều hệ điều hành khác nhau theo cùng một kiểu

Trang 12

- Cơ sở dữ liệu hướng đối tượng : một xơ sở dữ liệu là rất quan trọng trong việc lưu giữu các đối tượng, đặc biệt các thông tin dữ liệu về cầu hình, quản lý lỗi, quản lý hiệu suất thực hiện Cơ sở dữ liệu cần phải có độ thực hiện tốt và có khả năng quản lý dung lượng lớn Một định hướng cho việc lưu giữ dữ liệu mới là cơ

sở dữ liệu hướng đối tượng và hiêu suất thực hiện sẽ là vấn đề quan trọng Do những yêu cầu về lưu giữ và xử lý số liệu ngày càng lớn lên hiệu suất thực hiện cơ sở dữ liệu vẫn là một vấn đề quan trọng Để vượt qua những trở ngại này các vùng lưu giữ tạm thời lớn (cache) sẽ được sử dụng

- Tích hợp tính toán viễn thông và truyền hình : hiện nay ở nhiều quốc gia hệ thống truyền thoại đã sử dụng truyền dẫn số Các hệ thống máy tính cần nhiều nhu cầu bao gồm các chức năng như đồ hoạ, hình ảnh, thoại và dữ liệu Vấn đề

đặt ra là cần có sự tích hợp Song song thì thuật ngữ tính toán bắt đầu chuyển dịch từ các mainframe hoặc trung tâm dữ liệu sang tính toán client/server Tính toán client/server từ mạng Lan cũng đã mở ra cho việc truyền dẫn dữ liệu, thoại, hình ảnh sang công nghiệp viễn thông Kết quả của quá trình này là thông tin dữ liệu và viễn thông sẽ hội tụ mà dẫn đến việc tích hợp

- Bảo mật : là một yếu tố then chốt trong các mạng mở như trong các tính toán client/server Các thông tin nhạy cảm như số liệu về tài khoản cần phải được bảo mật

Một ứng dụng chạy trong môi trường thông tin phân tán cung cấp một hệ thống ODP thì các khái niệm trong suốt phân bố sau được đảm bảo :

- Tính trong suốt truy nhập : che dấu sự khác nhau trong trình bày số liệu, các cơ chế gọi cho phép liên kết hoạt động giữ các đối tượng Trong suốt phân tán xử

lý nhiều phần liên kết hoạt động giữa các hệ thống không đồng nhất

- Tính trong suốt vị trí : che dấu việc sử dụng thông tin về vị trí khi xác định và liên kết giao diện Tính trong suốt phân tán cung cấp quan điểm đặt tên logic

độc lập về vị trí thực sự

- Tính trong suốt hỏng hóc : che dấu đối tượng này khỏi sự hỏng hóc và khả năng phục hồi của các đối tượng khác cho phép dung sai lỗi Khi tính trong suốt phân tán được cung cấp, nhà thiết kế có thể hoạt động trong môi trường lý tưởng trong đó lớp hhỏng hóc tương ứng không xảy ra

Trang 13

- Tính trong suốt giao tác : che dấu sự phối hợp của các hoạt động trong cấu hình các đối tượng để đạt được tính nhất quán

- Tính trong suốt tái định vị : che dấu sự định vị của một giao tiếp khỏi các giao tiếp khác gắn với nó Tái định vị cho phép hoạt động của hệ thống được tiếp tục thậm chí khi di chuyển hay thay thế một số đối tượng

- Tính trong suốt di chuyển : che dấu đối tượng khả năng của hệ thống để thay

đổi vị trí của đối tượng Việc di chuyển thường được sử dụng để đạt được tải cân bằng và giảm thiểu nguy cơ tiềm tàng

- Tính trong suốt bền bỉ : che dấu bỏ sự kích hoạt và tái kích hoạt của các đối tượng khác Bỏ sự kích hoạt và tái kích hoạt thường được sử dụng để duy trì tính bền bỉ của một đối tượng khi hệ thống không thể cung cấp bằng các chức năng thông tin, lưu trữ, xử lý

- Tính trong suốt tái tạo : che dấu việc sử dụng của một nhóm đối tượng trong suốt hành vi tương hỗ để hỗ trợ giao diện Việc tái tạo thường sử dụng để hỗ trợ việc thực hiện và tính sẵn sàng

Framework ODP đưa ra năm quan điểm có thể được xem xét như năm tập hệ thống

và yêu cầu kiến trúc Cùng với nhau, chúng cung cấp một cái nhìn tổng quan đối với hành vi của hệ thống ODP cũng như các nguyên tắc và đường lối để phát triển hệ thống đó Một quan điểm là một sự phân nhỏ chỉ tiêu kỹ thuật một hệ thống hoàn chỉnh được thiết lập các phần thông tin gắn với nhau liên quan đến một số lĩnh vực

cụ thể liên quan trong quá trình thiết kế hệ thống Một hệ thống ODP có thể ngang với một hệ thống xử lý thông tin của một tổ chức hay một thành phần của một hệ thống cụ thể Các quan điểm này không pahỉ hoàn toàn độc lập ; các mục chủ đạo trong mỗi quan điểm này được xem như liên quan đến các mục tiêu trong quan điểm khác

Mỗi phần trong tập quan điểm này có thể liên quan đến các phần khác Nó không hình thành một trình tự cố định như một tập các lớp giao thức hay chúng được tạo ra trong một trình tự cố định dựa theo một số phương thức thiết kế Cấu hình này được diễn đạt về phần các tập quan điểm liên quan hoàn chỉnh

RM-ODP định nghĩa năm quan điểm như :

- Quan điểm doanh nghiệp : quan điểm hệ thống và môi trường của nó tập trung vào mục đích, phạm vi và các chính sách đối với hệ thống

- Quan điểm thông tin : quan điểm trên hệ thống và môi trường của nó tập trung vào ngữ nghĩa thông tin và viiệc xử lý thông tin được thực hiện

Trang 14

- Quan điểm tính toán : quan điểm trên hệ thống và môi trường của nó mà cho phép sự phân bố thông qua việc phân tích chức năng của hệ thống thành các đối tượng tương tác tại các giao diện

- Quan điểm kỹ thuật : quan điểm trên hệ thống và môi trường của nó mà tập trung vào các cơ chế và các chức năng được yêu cầu để hỗ trợ các tương tác phân tán giữa các đối tượng trong hệ thống

- Quan điểm công nghệ : quan điểm trên hệ thống và môi trường của nó mà tập trung vào sự lựa chọn công nghệ trong hệ thống đó

Trang 15

Chương 1 : CƠ CẤU TỔ CHỨC HỆ THỐNG QUẢN Lí

1.1- Các định nghĩa :

1.1.1 Thụng tin quản lý :

Thụng tin trong cỏc hệ thống quản lý được mụ hỡnh hoỏ dưới dạng cỏc đối tượng quản lý

- Một tài nguyờn phải được thể hiện bởi một đối tượng quản lý, nếu khụng nú khụng thể quản lý thụng qua cỏc giao diện quản lý

- Một tài nguyờn cú thể được thể hiện bởi một hoặc nhiều đối tượng Khi một tài nguyờn được thể hiện bởi nhiều đối tượng thỡ mỗi đối tượng sẽ cung cấp một cỏch nhỡn khỏc nhau đối với tài nguyờn

Mụ hỡnh trao đổi thụng tin quản lý thể hiện một cỏch tổng quan cỏc xu hướng quản

lý tài nguyờn mạng và cỏc hoạt động quản lý hỗ trợ liờn quan Mụ hỡnh thụng tin quản lý xỏc định cỏc trao đổi theo tiờu chuẩn

Trao đổi thụng tin quản lý được mụ hỡnh hoỏ giữa một mạng manager (đúng vai trũ quản lý) là một agent (đại diện cho phớa được quản lý) sử dụng một giao thức quản

lý như SNMP hay CMIT Thờm nữa, để quỏ trỡnh trao đổi thực hiện được, mỗi phớa (manager và agent) phải lưu trữ một cơ sở dữ liệu về thụng tin quản lýgọi là MIB Cỏc thành phần cơ bản trong mụ hỡnh quản lý :

- Management station : là trạm làm việc của manager Nú cung cấp một nền múng phần cứng và một hệ điều hành trờn đú chạy cỏc chương trỡnh phần mờm ứng dụng quản lý của manager, cung cấp giao diện với người sử dụng

Trang 16

Hình 1 : Mô hình trao đổi thông tin qủan lý

- hệ thống quản lý mạng thực hiện chức năng quản lý do manager đưa cỏc lệnh tới cỏc agent để tiến hành cỏc hoạt động quản lý

- Agent : đặt tại thành phần mạng được quản lý thực hiện cỏc lệnh quản lý do cỏc manager đưa tới , thu thập số liệu về thành phần mạng được quản lý (NE) để gửi lại cho phớa Manager theo yờu cầu , bỏo cỏo cỏc sự kiện thường xảy ra trong NE cho phớa Manager

- Cơ sở thụng tin quản lý MIB : là sự biểu diễn logic cỏc tài nguyờn mạng được quản lý MIB tổ chức thụng tin theo cấu trỳc hỡnh cõy, được truy nhập bằng giao thức quản lý mạng như SNMP hay CMIP Nú lưu trữ dữ liệu về cỏc thuộc tớnh của thành phần mạng được quản lý mà Manager cần biết

Giao thức quản lý mạng : là một ô mụi trường truyền dẫn ô để trao đổi thụng tin giữa Manager và Agent Hiện tại cú hai loại giao thức đang được sử dụng là SNMP Simple Networt Manager Protocol) và CMIP (Comon Manager Information Protocol)

1.2- Các mô hình quản lý mạng

1.2.1 Mô hình quản lý mạng SNMP (SNMP FRAMEWORK)

Cơ cấu tổ chức quản lý mạng chia hệ thống quản lý mạng thành 5 thành phần chớnh :

- Một hoặc nhiều nỳt mạng được quản lý , mỗi nỳt mạng cú một Agent

- Ít nhất một trạm quản lý , trong đú cú một hoặc nhiều Manager

- Cú thể cú một hoặc nhiều thực thể lưỡng cực, đúng vai trũ vừa là Agent vừa

là Manager

- Cú thể cú một hoặc nhiều thực thể lưỡng cực, đúng vai trũ vừa là Agent vừa là Manager

- Giao thức quản lý mạng

- Cơ sở thụng tin quản lý MIB

Cơ sở thụng tin quản lý MIB

Trang 17

Trong cơ cấu tổ chức quản lý, mỗi nút mạng được quản lý được thể hiện bởi các đối tượng Tập hợp các đối tượng liên quan gọi là MIB Hoạt động quản lý không trực tiếp tương tác với nút mạng đó mà tác động gián tiếp thông qua các đối tượng

Một đối tượng thể hiện một cách nhìn trìu tượng đối với tài nguyên mạng được quản lý Tài nguyên có thể là một kết nối, một thực thể lớp giao thức hay một thiết

bị vật lý Mỗi đối tượng được đặc trưng bởi một loạt các thuộc tính và các hoạt động quản lý Các hoạt động được thực hiện trên các đối tượng Do đó tài nguyên mạng chỉ được hệ thống quản lý nhìn thấy thông qua các đối tượng và những phần tài nguyên được biểu diễn bởi các đối tượng mới là « hiện » đối với nhà quản lý Mỗi đối tượng được thể hiện bởi một ( đối tượng đơn) hoặc nhiều biến (đối tượng bảng) Nếu các biến này được đọc (bởi phía quản lý), nút mạng sẽ được giám sát Nếu giá trị các biến bị thay đổi, nút mạng đó đang được điều khiển nhằm làm thay đổi các thuộc tính của nó

Nếu một nút mạng được thực hiện bởi nhiều chức năng khác nhau, nó sẽ biểu diễn bằng nhiều đối tượng khác nhau Các đối tượng liên quan đến một chức năng riêng biệt sẽ được gọp lại với nhau thành một nhóm hay một lớp

MIB tổ chức các đối tượng theo cấu trúc phân cấp Cấu trúc phân cấp của MIB được miêu tả như một cái cây không rễ (OSI registraion tree) Mỗi nhánh của cây được phân cho hai chỉ số : theo chiều ngang là chỉ số tương đối, sự kết hợp của các chỉ số tương đối theo chiều dọc hình thành chỉ số tuyết đối(chỉ số ID) được xác định duy nhất MIB tree ra đời theo tiêu chuẩn của ÓI, trong đó các nhành của cây được đăng ký cho các cơ quan, tổ chức khác nhau của ISO

Trong cấu trúc SNMP MIB, các đối tượng được xác định và đặt tên theo cấu trúc OSI registration tree như trên

Đối tượng MIB được định nghĩa bởi cú pháp riêng SNMP Framework cung cấp cấu trúc SMI (Structure of Management Inforrmation) là cấu trúc tiêu chuẩn biểu diễn cho đối tượng được quản lý, sử dụng ngôn ngữ ASI.1 (Abstract Syntax Notation One)

SNMP MIB định nghĩa hai loại đối tượng :

- Đối tượng đơn (Scalar) : Mỗi đối tượng chỉ có một giá trị

- Đối tượng dạng bảng (Columnar) : bao gồm nhiều đối tượng được xắp xếp theo hàng và cột

Một loạt các đối tượng trong MIB được thực thể quản lý ‘nhìn thấy’ gọi là MIB view MIB view phản án vùng quản lý của một thực thể quản lý

Khi nót mạng được quản lý không hỗ trợ SNMP MIB và những điều kiện truy nhập

mà nó chấp nhận có thể khác chính sách truy nhập MIB view thì những yêu cầu

Trang 18

truy nhập bởi hệ thống quản lý phải được chuyển qua một tầng trung gian (Proxy agent) để biên dịch những yêu cầu của truy nhập này thành dạng truy nhập mà nút mạng đó hiểu được

SNMP là một giao thức tầng ứng dụng thực hiện trao đổi thông tin quản lý giữa hai thực thể quản lý trên nền các dịch vụ được cung cấp bởi các giao thức lớp dưới Việc sử dụng SNMP nhằm mục đích quản lý các thiết bị trên mạng Internet Vì vậy, tất cả các qui định, tiêu chuẩn tại các lớp dưới của SNMP hoàn toàn dựa trên các qui định tiêu chuẩn cho các thiết bị kết nối theo giao thức TCP/IP

Nhiệm vụ của SNMP là tạo ra các gói SNMP PDU phục vụ cho việc trao đổi thông tin quản lý, mã hoá chúng sử dụng luật ASI.1 và gửi xuống cho lớp vận tải

Tại lớp vận tải thường sử dụng giao thức UDP, chịu trách nhiệm thêm thông tin nào đầu trước khi gửi gói tin đó xuống cho lớp mạng Tại phía thu lớp UDP chịu trách

nhiệm tổ hợp các gói tin nhận được thành gói SNMP trước khi gửi lên cho lớp ứng dụng

Tại lớp mạng sử dụng giao thức IP chịu trách nhiệm định tuyến cho gói SNMP phân đoạn các gói tin nếu cần thiết

SNMP cũng có thể được kết hợp với giao thức TCP ở tầng vận tải thay vì UDP Cấu trúc PDU, Mỗi gói SNMP gồm 3 trường :

- Version number : xác định phiên bản giao thức SNMP (SNMPv1, SNMPv2 hay SNMPv3)

- Community name : xác định các thực thể quản lý được phép liên lạc với 1 agent nào đó

- Một trong hai SNMP PDU : có 5 loại PDU là Get Request, Set Request,

Set Respons và Trap Chức năng của các PDU như sau :

Set Request, Get Request : được sử dụng khi Manager yêu cầu các phía agent thực hiện dọc giá trị các biến đối tượng trong MIB view, qua đó thu thập thông tin cần biết như tình trạng , trạng thái hay các số liệu thống kê của nút mạng được quản lý

Trang 19

Set Request : được sử dụng khi Manager yêu cầu phía Agent thực hiện các lệnh quản lý làm thay đổi giá trị các biến đối tượng trong MIB view Mục đích cuối cùng

là nhằm thay đổi thuộc tính của nút mạng theo yêu cầu quản lý

Get Response : được sử dụng để đáp lại các yêu cầu của Manager (trong 3 PDU kể trên)

Trap : được Agent sử dụng để báo cáo về các sự kiện bất thường xảy ra trong nút mạng được quản lý cho phía quản lý

Mỗi PDU gồm có 5 trường :

PDU-type : là một số nguyên xác định loại PDU (một trong 5 PDU kể trên)

Request-in : là số nguyên xác định duy nhất một yêu cầu (Get Request, GetNext Request hay Set Request) được gửi từ Manager tới Agent

Variable-vinding : một loạt các cặp tên- giá trị đối tượng Tên là chỉ số ID của đối tượng, giá trị là giá trị biến đối tượng

Error-status : là một số nguyên xác định trạng thái lỗi Giá trị của nó do Agent quyết định, báo cáo cho Manager các lỗi xảy ra trong quá trình trao đổi thông tin quản lý như NoErr (0)- Không lỗi, TooBig(1)- kích thước gói tin quá lớn, NosuchName(2)-không tìm thấy đối tượng có tên như vậy tại MIB view không phù hợp với kiểu của giá trị mà Manager yêu cầu, Read-only(4)-cảnh báo Manager không được phép thay đổi tên đối tượng

Error-index : Lµ một số nguyên xác định đối tượng gây ra các lỗi trên

Mô hình trao đổi thông tin sử dụng giao thức SNMP

SNMP sử dụng các dịch vụ truyền tải dữ liệu được cung cấp bởi các giao thức UDP/IP Một ứng dụng của Manager phải nhận được Agent cần thông tin với nó Một ứng dụng của Agent được nhận dạng bởi địa chỉ IP của nó và một cổng UDP

có giá trị là 161 được dành riêng cho các Agent SNMP trong một UDP/IP, UDP/IP chứa mã nhận được cổng nguồn, địa chỉ IP đích và mã nhận dạng cổng 161 của nó Khung UDP sẽ được gửi đi thông qua thực thể IP tới hệ thống được quản lý, tại đó khung UDP sẽ được phân phối bởi các Manager Các thông báo sử dụng địa chỉ IP

và mã nhận được dạng cổng UDP 162 của Manager Quá trình đó sẽ được thực hiện tại Manager

Khi mạng có độ tin cậy thấp, việc truyền thông tin trở nên khó khăn Do SNMP sử dụng giao thức UDP/IP nên thông tin nhận được không hoàn toàn tin cậy, độ an toàn thông tin thấp Một chương trình bên phía Manager có thể phát hiện việc mất yêu cầu hoặc thực hiện các hoạt động khác Ngược lại, các thông báo TRAP được tạo bởi các Agent đều không xác nhận, do vậy thông báo TRAT bị mất, các ứng dụng Agent sẽ không được nhận biết

Trang 20

Một Agent có thể được thiết kế để lặp lại các thông báo Trap Agent có thể tạo ra một biến MIB để thiết lập việc lặp lại các yêu cầu đã được đưa ra Biến này được cấu hình bởi lệnh SET của Manager Một phương pháp là Agent có thể lặp lại các thông báo TRAPcho đến khi biến SET được đưa ra bởi Manager để ngắt tràn Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, khi các thông báo TRAP được phân phối tới nhiều Manager, việc mất thông tin và các xung đột trong Manager có thể tăng

Trong nội cung của việc lập địa chỉ xuất hiện một tác động lên khả năng quản lý mạng Một Agent do được nhận dạng bằng một địa chỉ IP và một giá trị số của cổng UDP nên có nghĩa là tại một địa chỉ IP chỉ có một Agent được phép truy nhập Agent này có thể duy trì một MIB, do đó trong một địa chỉ IP tồn tại một MIB Xét trường hợp một hệ thống yêu cầu nhiều MIB để quản lý các thành phần khác nhau của nó Để truy nhập qua một Agent, các MIB phải nằm dưới một cây MIB cố định Khi ssó mõi MIB có thể yêu cầu một SNMP/UDP/IP của riêng nó, dẫn tới sự phức tạp trong tổ chức quản lý và khả năng truy cập của nó Một Agent trong hệ thống có thể đóng vai trò như một đại diện cho các Agent phụ chứa MIB khác nhau được liên kết với hệ thống phụ

1.2.2 M« h×nh qu¶n lý OSI (OSI FRAMEWORK)

Chuẩn quản lý mạng OSI nằm tại lớp trên cùng của mô hình 7 lớp OSI và sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởi các lớp dưới Nó được áp dụng cho toàn bộ hệ thống mạng máy tính, trong đó bao gồm cả mạng viễn thông Mô hình quản lý OSI cung cấp các tính năng như :

• Cho phép các nhà quản lý lập qui hoạch, tổ chức, giám sát, điều khiển và giải thích cho sự sử dụng dịch vụ mạng

• Đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu về các thay đổi trong quản lý mạng

• Đảm bảo sự trao đổi thông tin quản lý tin cậy giữa các hệ thống quản lý mở

• Đảm bảo tính bảo mật

Mô hình cũng được tổ chức thành hai phần chính :

- Hệ thống quản lý : đưa ra các lệnh điều khiển tới hệ thống được quản lý và giám sát , điều hành toàn bộ quá trình thực hiện ; nhËn về các thông báo

- Hệ thống được quản lý : đề cập tới một hệ thống mở có thể hiểu và chấp nhận các lệnh quản lý của OSI nhận được từ hệ thống quản lý Hệ thống bao gồm một hoặc nhiều Agent có chức năng nhận và thực hiện các lệnh quản lý trên các đối tượng MIB, hồi âm lại cho phía hệ thống quản lý các kết quả thực hiện

Trang 21

H×nh 2 : M« h×nh qu¶n lý OSI

Cấu trúc hệ thống quản lý theo m« hình OSI (H×nh 2) cũng tương tự như mô hình SNMP Điểm khác nhau căn bản giữa hai hệ thống quản lý là : Cấu trúc MIB, giao thức quản lý, môi trường quản lý và do đó khác nhau về loại ứng dụng quản lý được thực hiện

MIB bao gồm một loạt các đối tượng được điều khiển trong một hệ thống mở có thể được tác động và được truyền qua mạng sử dụng giao thức quản lý của mô hình OSI Cấu trúc của các đốitượng MIB được định nghĩa theo ngôn ngữ

GDO (Guideline for Dèinition of Managed Objecbs) là ngôn ngữ mô hình thông tin quản lý hướng tới đối tượng OSI

Các đối tượng MIB có các thuộc tính và các hành vi giống nhau được tổ chức thành một lớp đối tượng Một đối tượng MIB gồm nhiều gói Mỗi gói chứa các thuộc tính, các nhóm thuộc tính, các hành vi khai báo Khi đã được đóng gói trong một đối tượng, một gói chỉ được truy nhập thông qua giao diện của đối tượng đó

- Chỉ duy nhất một biến của gói đã được phép biểu diễn cho một đối tượng

- Một gói không thể tạo ra bên ngoài lớp đối tượng và nó cũng phải được xoá đồng thời với lớp đối tượng đó

Các đối tượng phải được tổ chức trong MIB sao cho mỗi biến đối tượng phải được xác định duy nhất Có bốn loại cấu trúc phân lớp được sử dụng là :

- Phân cấp đăng ký OSI : có cấu trúc tương tự như OSI Registration tree nhưng so với trường hợp SNMP MIB, nó khác ở chỗ là mỗi nhánh của cây được đăng ký cho một lớp đối tượng được quản lý chứ không phải bản thân đối tượng Nó không phải là cấu trúc thực tế của OSI MIB

Trang 22

- Phân cấp thừa kế : biểu diễn mỗi quan hệ thừa kế Một lớp đối tượng còn thừa

kế tất cả các thuộc tính, hành vi, khai báo của lớp cha Ngoài ra nó còn bổ sung thêm các thuộc tính riêng của nó

- Phân cấp bao hàm : biểu diễn môi quan hệ bao hàm lẫn nhau giữa các lớp đối tượng

- Cây gọi tên : lµ cấu trúc quan trọng nhất trong OSI MIB, biểu diễn mối quan hệ bao hàm giữa các biến đối tượng NOS chính là cấu trúc thực tế của OSI MIB Giao thức trao đổi thông tin quản lý mô hình của OSI cung cấp các dịch vụ cho phép phía quản lý chỉ thị cho Agent tại nót mạng được quản lý thực thi các lệnh quản lý hoặc cho phép agent báo cáo về sự kiện xảy ra trong nót mạng cho Manager dịch vụ đó gọi là CMISE (Comom Managerment Information Service Element) CMISE bao gồm hai phần : CMIS và CMIP

- CMISE cung cấp giao diện cho một ứng dụng sử dụng môi trường OSI bằng cách cung cấp các dịch vụ quản lý và các dịch vụ liên quan (như ROSE và CSSE)

- CMIP là giao thức quản lý , thực hiện các dịch vụ quản lý được cung cấp bởi CMIS bằng cách phát sinh các PDU từ các dịch vụ đó

Các dịch vụ cơ bản là :

- M-GET : được người sử dụng SMISE dùng để yêu cầu nhận thông tin quản lý từ phía người sử dụng ngang cấp thực hiện thay đổi các thông tin quản lý Sự thay đổi có thể được thực hiện trên một hoặc nhiều đối tượng trong một MIB

- M-ACTION : được người sử dụng CMISE dùng để yêu cầu người sử dụng thông tin ngang cấp thực hiện hành vi trên một hoặc nhiều đối tượng quản lý

- M-CREATE : được người sử dụng CMISE dùng để yêu cầu người sử dụng thông tin ngang cấp tạo ra một biến của một lớp đối tượng được quản lý kèm theo các thuộc tính và chỉ số ID

- M-DELETE : được người sử dụng CMISE dùng để yêu cầu người sử dụng thông tin ngang cấp xoá một hoặc nhiều biến đối tượng được quản lý cùng với chỉ số ID của nó

- M-CANCEL: được người sử dụng CMISE dùng để yêu cầu người sử dụng thông tin ngang cấp huỷ bỏ một yêu cầu M-GET trước đó và hiện hành

- M-EVENT-REPORT: được người sử dụng nhằm mục đích báo cáo về sự xảy ra trong nút mạng được quản lý

1.3- C¸c chøc n¨ng qu¶n lý m¹ng viÔn th«ng

Trang 23

1.3.1 Quản lý lỗi

Lỗi là những sự kiện bất thường xảy ra trong mạng có thể gây ra sự hoạt động sai của mạng Lỗi có thể là lỗi thiết bị hay lỗi phần mềm Mục đích của quản lý lỗi là giảm thiểu những tác động của lỗi với số lượng can thiệp nhỏ nhất Chu kì quản lý được mô tả như hình sau :

Những giai đoạn quản lý cảnh báo :

Giám sát cảnh báo : chịu trách nhiệm phát hiện lỗi Nhiệm vụ đầu tiên của giai đoạn này là thiết lập tiêu chuẩn cảnh báo bằng xác định thuộc tính cảnh báo và phân cho nhưng một giá trị ngưỡng Sau đó thiết lập kiểu thể hiện cho loại lỗi và kỹ thuật phát hiện cảnh báo Sau cùng, giai đoạn cảnh báo được thực hiện tại Agent với mục đích cung cấp khả năng thông báo về sự kiện xảy ra trong thành

phần mạng được quản lý cho hệ thống quản lý nếu được yêu cầu hoặc theo lịch trình

Trang 24

Mô hình thực hiện bao gồm ba thành phần : Managed object biểu diễn thông tin khai báo cho sự kiện xảy ra trong tài nguyên mạng, khối xử lý trung gian (event preprocesing unit), EFD (event forwarding discriminators) nhận báo cáo từ khối xử

lý trung gian, kiểm tra tiêu chuẩn của sự kiện cảnh báo, hình thành khuôn dạng của bản báo cáo và truyền nó tới đích EFD sử dụng lớp đối tượng EFD cho phép các ứng dụng quản lý bên ngoài tác động vào quá trình thực hiện (như thiết lập, trì hoãn, khôi phục, kết thúc cảnh báo) và để truyền tới đích

Hệ thống quản lý có thể thiết lập một quá trình báo cáo, cảnh báo bằng cách yêu cầu phía Agent tạo ra đối tượng với những thuộc tính và tiêu chuẩn theo yêu cầu Bản báo cáo có thể được lưu lại tại phía Agent hay khối EFD dưới dạng những bản ghi

- Định vị lỗi : xác định những nguyên nhân của lỗi dự vào quá trình phân tích cảnh báo và thực hiện các thủ tục kiểm tra theo mô hình thiết kế Để phân tích cảnh báo trước hết xác định thể tương quan nghĩa là lọc bỏ những thông điệp cảnh báo đúp hoặc không liên quan Dựa vào kết quả phân tích này có thể khoanh vùng giới hạn những nguyên nhân gây lỗi

Giai đoạn tiếp theo của quá trình định vị lỗi và quản lý việc thực hiện kiểm tra dựa trên mô hình (H×nh 4), trong đó :

- Test Conductor : được đặt tại hệ thống quản lý , chịu trách nhiệm phát kiểm tra, điều khiển giám sát, theo dõi quá trình kiểm tra từ xa

- Test performer : đại diện cho phía Agent chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm tra theo yêu cầu từ phía quản lý Để thực hiện điều này, phía hệ thống được quản lý phải có MORT (là đối tượng biểu diễm cho nguồn tài nguyên vật

lý được kiểm tra và phân phối đến những đối tượng liên quan, khả năng này gọi là TARR

- Quá trình thực hiện bắt đầu với việc Test Conductor đưa ra yêu cầu thực hiện cho phía Agent bằng lệnh CMIS M-ACTION bao gồm những thông tin về số nhận dạng ID của MORT, loại kiểm tra được tiến hành và một số thông tin liên quan

Trang 25

H×nh 5 : M« h×nh kiÓm tra lçi

- Test Performer chuyển yêu cầu này tới đối tượng có khả năng TARR để thực hiện kiểm tra đến đối tượng MORT đã phân chia Khi quá trình kiểm tra kết thúc, Test Performer gửi kết quả kiểm tra lại cho Test Conductor bằng cách tạo ra đối tượng EDF

Có hai loại mô hình kiểm tra :

- Kiểm tra không điều khiển : tiến trình kiểm tra đã được tính trước, kết quả kiểm tra chỉ được báo cáo khi quá trình kiểm tra kết thúc Không có một hành động nào can thiệp khi sự kiểm tra đã được tiến hành

- Kiểm tra có điều khiển : Trong quá trình kiểm tra có thể thực hiện điều khiển và giám sát thông qua đối tượng TO

Có sáu kiểu kiểm tra :

- Connection Test : kiểm tra kết nối giữa hai điểm

- Connectivity Test : kiểm tra khả năng kết nối giữa hai điểm

- Data Intergrity Test : kiểm tra tính toàn vẹn dữ liệu gi÷a hai thực thể

- Loopback Test : xác định thời gian thực hiện trao đổi dữ liệu gi÷a hai thực thể trên một kết nối đã cho

- Protocol Integrity Test : kiểm tra việc thực hiện trao đổi dữ liệu giữa hai thực thể trên một giao thức đã chỉ ra

- Resource Boudary Test : kiểm tra hoạt động của tài nguyên mạng bằng cách quan sát và điều khiển tương tác giữa tài nguyên vật lý và biên của nó

Quá trình sủa lỗi và phục hồi dịch vụ : thủ tục này có thể thực hiện tại hai mức : mức mạng và mức nguyên tố mạng

- Quá trình thực hiện mức nguyên tố mạng :

Thay thế nguồn tài nguyên bị lỗi

Cách ly lỗi để ngăn chặn không bị ảnh hưởng tới tài nguyên khác

Chuyển mạch dịch vụ từ tài nguyên bị lỗi ang nguồn dự trữ

Nạp hệ thống

Tạo tuyến mới cho dịch vụ

Phục hồi lỗi chuyển mạch sử dụng kỹ thuật Partial Initiation thường được sử dụng

để khôi phục lại lỗi phần mền và giảm thiểu tác động của lỗi

Trang 26

- Mức mạng : sử dụng 2 phương pháp :

Self-healing : khi xảy ra lỗi , mạng được đặt lại cấu hình và nguồn tài nguyên

dự trữ sẽ được đưa vào hoạt động thay cho phần bi lỗi Sự thiết lËp này chỉ xảy

ra tại nút mạng bị lỗi

Loop Expanding : giả sử có một nút kết nối tạo thành một vòng kín Khi một nút hay bị lỗi , vòng kế cận quay ngược trở lại cho tới khi tìm được một vòng hoàn chỉnh

Thủ tục điều hành được thực hiện theo một mô hình Manager-Agent trong đó Agent chịu tiến hành các hoạt động xử lý sự cố và Manager theo dõi quá trình thông qua bản bảo cáo được gửi đến từ phía Agent Manager có giao diện với người sử dụng,

do đó người có thể theo dõi quá trình xảy ra sự cố và thực hiện hỏi đáp Cấu trúc chức năng của quá trình điều hành bao gồm :

- Trouble Report Creation : bản báo cáo sự cố được tạo ra từ phía Agent khi được thông báo về sự cố hoặc về người sử dụng Nội dung báo cáo bao gồm thông tin về nơi phát sinh sự cố, số ID của dịch vụ mạng phát sinh báo cáo, nhận xét về sự cố

- Managerment of Trouble Report : Manager có thể can thiệp vào quá trình báo cáo sự cố như yêu cầu tăng số lượng báo cáo, cho phép phía Agent thực hiện những hoạt động chuẩn bị, hỏi Agent về những thông tin liên quan tới thời gian thực hiện báo cáo

- Trouble Report tracking : cho phép phía Manager theo dõi quá trình báo cáo gồm những thông tin về sự cố, các hoạt động giải quyết sự cố và thông tin liên quan

- Trouble Managerment Report Closure and Clearing: khi Agent bắt đÇu tiến hành các hoạt động giải quyết sự cố, nó phải kết thóc quá trình báo cáo sự cố thông qua sự cho phép của Manager

Quá trình điều hành sự cố (H×nh 6) dự trên mô hình thực hiện như sau :

Trong đó các thực thể điều khiển như Agent và Manager có thể định vị tại hai vùng khác nhau của hai nhà cung cấp dịch vụ, lớp quản lý mạng, hoặc lớp quản lý thành phần mạng

Trang 27

- The Provider Trouble Manageged Object Class : lớp ví dụ của lớp này được tạo

ra bởi phía Agent để khai báo cho phía Manager bản tường trình về toàn bộ một phần dịch vụ , tài nguyên vật lý, mạng hay hệ thống không thể truy nhập trong một khoảng thời gian nhất định Nó bao gồm các thuộc tính như thời điểmbắt đầu, kết thúc, chỉ số tác động dịch vụ được tác động

- The Trouble Report Manageged Object Class : là lớp trên của hai lớp đối tượng trên bao gồm các thuộc tính chung như : số ID của bản báo cáo sự cố, trạng thái, tình trạng, kiểu, danh sách các hoạt động dự phòng

Ngoài ra còn có các lớp đối tượng liên quan như :

- Trouble Report Format Definition Manageged Object Class : dùng để dịnh dạng bản báo cáo sự cố

- The Repair Activity Manageged Object Class : được tạo ra cho các hoạt động giải quyết sự cố

- The Trouble History Report Manageged Object Class : được sử dụng với mục đích lưu lại các báo cáo sự cố

- The Contract Manageged Object Class : biểu thị cho một người hay một tổ chức

có liên quan để giải quyết sự cố

1.3.2 Quản lý cấu hình

Trang 28

Tiến trình quản lý cấu hình dựa trên qui tr×nh sau :

- Kế hoạch phát triển mạng

Mục đích của quá trình này là thiết kế mạng trên cơ sở những yêu cầu đặt ra và lập kế hoạch thực hiện Nó phản ánh một loạt những yêu cầu về kinh tế và thương mại cho mạng áp dụng với nhu cầu khách hàng tiềm năng về cơ sở hạ tầng và khả năng của mạng lưới

Kế hoach phát triển mạng lưới được thực hiện dựa trên các thông số đầu vào như vốn đầu tư, khả năng tài chính, dung lượng mạng yêu cầu, thời gian và nguồn tài nguyên được cấp trong quá tình thực hiện, những thông số kỹ thuật như dự báo lưu lượng cho mạng, thiết kế tuyến lưu thông trên mạng

Việc dự báo dung lượng mạng được bắt đầu bằng quá trình thu thập thông tin về dùn lượng hiện tại của một mạng viễn thông cụ thể và nhu cầu thị trường, số lượng khách hàng, số dịch vụ cần cho khách hàng

Bước tiếp theo la tiến hành thiết kế hạ tầng cơ sở cho mạng bao gồm cho mạng truy cập (kênh truy nhập từ khách hàng tời tổng đài chuyển mạch), mạng lõi (Switches, Router, Bridges) và các phương tiện khác (nguồn, bộ lặp )

Sau khi hoàn thành việc thiết kế cơ sở hạ tầng cần thực hiện tiếp việc định tuyến cho mạng bao gồm việc lựa chọn các kết nối vật lý giữa các thành phần mạng, các kết nối và lưu thông mạng

- Quản lý phần mềm và cài đặt :

Cài đặt liên quan đến lập chương trình và điều khiển quá trình cài đặt phần cứng

Quản lý phần mềm : liên quan đến quá trình cài đặt phần mềm Hoạt động quản

lý phần mềm được thực hiện trên 3 lớp đối tượng : software unit, executable software, software distribution Sự tạo ra và hoạt động của các lớp đối tượng này được thực hiện tại Agent theo sự điều khiển từ phía Manager Manager phía Agent tạo ra một ví dụ (instance) của đối tượng Sofware Distribution để thực hiện phân phát phần mềm từ một nguồn nào đó tới đích đã được chỉ ra Tiếp đó, đối tượng Softwear Unit cũng được tạo ra, chịu trách nhiệm cài đặt phần mềm từ đĩa vào bộ nhớ Cuối cùng, Agent tạo ra lớp Executable Software thực hiện các tác vụ nhất định trên phần mềm đã được cài đặt

• Cung cấp :

Hoạt động cung cấp được diễn ra ở nhiều mức :

- Mức dịch vụ : đưa dịch vụ đến cho thuê và chuẩn bị dữ liệu và nguồn tài nguyên cần thiết để thực hiện dịch vụ

Trang 29

- Mức mạng : đảm bảo tài nguyên phù hợp được cài đặt, đáp ứng nhu cầu về dịch vụ Các bước thực hiện bao gồm :

Xây dựng, duy trì, giám sát kết nối giữa các thành phần mạng (NE)

Cung cấp topology mạng : biểu diễn cấu trúc mạng bằng một topology giúp cho việc định tuyến và giám sát hoạt động của mạng, biểu thị ‘toàn cảnh’ nguồn tài nguyên mạng

Mức NE : đảm bảo triển khai và dặt cấu hành nguồn tài nguyên vật lý phù hợp để thực hiện dịch vụ cung cấp cho người sử dụng Hoạt động cung cấp mức NE trực tiếp giao diện với các lớp đối tượng biểu diễn cho nguồn tài nguyên vật lý cỉa một nguyên tố mạng Tài nguyên vật lý bao gồm các phương tiện truy cập (trung kế, đường cáp, kênh,cổng truy nhập, thẻ giao diện), cơ sở hạ tầng bên trong một nguyên tố mạng ( thiết bị ra vào, nguồn cung cấp, vi sử lý), tài nguyên logic (các modul phần mềm, dữ liệu báo hiệu, định tuyến) Khai báo cấu hình tài nguyên vật

lý thực hiện thông báo cho các ứng dụng quản lý biết sự thay đổi cấu hình hay chỉ đơn giản là bản thân các nguồn tài nguyên đang có Điều khiển hoạt động trên các nguồn tài nguyên tải các tài nguyên logic vào bộ nhớ của cơ sở dữ liệu Để thực hiệncác hoạt động quản lý tài nguyên trên cần mỗi NE cần có một dữ liệu riêng, được dùng để lưu trữ, khôi phục duy trì cấu hình tài nguyên và các dữ liệu cho khả năng kết nối, tạo, xoá, truy nhập các bản ghi theo yêu cầu

• Điều khiển hoạt động và trạng thái nguồn tài nguyên:

- Điều khiển hoạt động : điều khiển duy trì, giám sát tất cả các nguồn tài nguyên trong một nguyên tố mạng Ví dụ : switch-back là một hành động điều khiển cho tới một nguồn tài nguyên đã sẵn sàng dịch vụ sau khi nó được phục vụ hồi lại từ sự cố

- Quản lý trạng thái : đối tượng được quản lý được biểu diễn cho một tài nguyên vật lý được đặc trưng bởi ba thuộc tính của trạng thái :

- Operability : có hai giá trị là có khả năng và không có khả năng được chỉ ra bởi một sự kiện trong mạng

- Usage : có 3 gía trị là không hoạt động, hoạt động và bận Việc chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác là do sự kiện trong mạng quyết định

- Administrative stale : trạng thái được chỉ ra bởi thực thể quản lý cho phép nguồn tài nguyên có được sử dụng hay không bao gồm các trạng thái : không cho phép, cho phép, chỉ cho phép đối với khách hàng đã được thừa nhận

- Quản lý tình trạng nguồn tài nguyên : các thuộc tính biểu thị tình trạng sự cố như đang sửa chữa, chỉ thi khẩn cấp, đang sửa ch÷a, lỗi chính, lỗi phụ, biểu thị

Trang 30

nguồn tài nguyên như đang kiểm tra, có lỗi, mất nguồn đều phải được quản lý

từ phía thực thể quản lý thông qua các thủ tục quản lý

1.3-3 Quản lý chất lượng (H×nh 7)

Quản lý chất lượng chịu trách nhiệm giám sát và dự tính các tình huống , hiệu quả mạng chất lươngk dịch vụ cung cấp để kịp thời đưa ra các hoạt động ngăn chặn hay điều chỉnh nhằm duy trì mạng ở mức chất lượng yêu cầu Do đó, nhiệm vụ đặt ra bao gồm thu nhập, phân tích dữ liệu và các hoạt động điều chỉnh quá trình duy trì chất lượng tương ứng với ba vung chức năng : giám sát chất lượng, phân tích và điều khiển quản lý chất lượng

Giám sát chất lượng : giám sát, thu thập số liệu trên một loạt các thuộc tính ứng với các tài nguyên mạng cụ thể do đo chất lượng mạng

Mô hình giám sát đua ra các lớp đối tượng được chia làm hai loại: loại thứ nhất chứa dữ liệu biểu diễn sự sso lường chất lượng tài nguyên sử dụng là 3 đối tượng:

số liệu hiện tại (current data), số liệu lịch sử (historydata), scanreportrecord, loại thứ

2 cung cấp các chức năng điều khiển, lập kế hoạch cho quá trình giám sát chất lượng, sử dụng các đối tượng như thresholData, scanner, summatation, trong đó :

- CurentData : chứa dữ liệu biểu diễn cho sự ®o lường chất lượng tài nguyên được giám sát trong khoảng thời gian nhất định

- HistoryData : chưa các bản copy các thuộc tính về sự đo lường chất lượng nằm trong đối tượng CurrentData sau khi kết thúc phiên trực thực hiện giám sát Nó sử dụng cho mục đích lưu trữ

- ThresholData: đặt tên các tiêu chuẩn cho thủ tục giám sát chất lượng bằng cách sử dụng các giá trị ngưỡng cho một hay nhiều lớp CurrentData Nếu bất

cã giá trị ngưỡng nào bị vi phạm thì một thông báo cảnh báo về chất lượng dịch vụ sẽ được tạo ra trong đối tượng CurrentData

Trang 31

Hình 7 : Mô hình quản lý chất lượng

- Scanner : chịu trỏch nhiệm rà quột nội dung của lớp CurrentData hay lớp HistoryData, tổng hợp, rỳt ra cỏc thuộc tớnh cần thiết để gửi đến cho hệ thống quản lý trong đối tượng ScannerReport

- Summarization : cú chức năng tương tự như lớp scanner nhưng rỳt gọn thụng tin cần khai bỏo bằng cỏch ỏp dụng thuật toỏn riờng Nú sử dụng cỏc đối tượng như heterogenous scaner thực hiện quột một loạt cỏc thuộc tớnh khỏc nhau trờn cỏc đối tượng đó chỉ ra , buffer scanner lưu lại cỏc thuộc tớnh thay vỡ gửi hệ thống quản lý, homogeneous scaner thực hiện quột một loạt cỏc thuộc tớnh theo yờu cầu như giỏ trị trung bỡnh , max, min của một thuộc tớnh cụ thể

trờn cỏc đối tượng

- Performance Analysis: phõn tớch dữ liệu thu thập số liệu thu thập được trong quỏ trỡnh giỏm sỏt, quyết định xem chất lượng dịch vụ đú cú được đảm bảo khụng Xột cỏc phương phỏp phõn tớch ỏp dụng cho mạng chuyển mạch như khả năng tắc nghẽn, độ trễ, chất lượng dịch vụ, lưu thụng số cuộc gọi trung bỡnh

- Performance Management Control : sử dụng kết quả của hai quỏ trỡnh trờn để thực hiện điều khiển lưu lượng và điều khiển quản lý

Điều khiển lưu lượng : nhiệm vụ chớnh là duy trỡ và quản lý việc định tuyến, sử dụng cỏc phương phỏp sau :

- Fooding : là phương phỏp định tuyến đơn giản nhất, chỉ quan tõm đến cấu hỡnh cục bộ như cỏc nỳt mạng và kết nối lõn cận

- Explicitest : trong phương phỏp này cỏc tuyến giữa mỗi cặp nguồn và đớch đó được định trước Phương phỏp này cỏc tuyến giữa mối cặp nguồn và đớch đó được định trước Phương phỏp này cú nhược điểm là dung lượng bảng định tuyến lớn, khụng đỏp ứng được sự thay đổi cỏc điều kiện trong mạng

Trang 32

- Shortest-path : tính toán quãng đường ngắn nhất cho kết nối

- Distribute : là một loại tuyến động Mỗi họp chỉ chịu trách nhiệm truyền gói tin đến họp tiếp theo Do đó nhưng không cần cập nhật thông tin về độ tác nghẽn trong toàn mạng , độ chễ nhưng phải có sự định vị giữa các nút mạng

- Performance Administration : chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định thực hiện phân tích, giám sát chất lượng và các hoạt động như xây dựng, thay đổi, trì hoãn , khôi phục, huỷ bỏ các phiên làm việc phục vụ cho mục đích quản

lý chất lượng, tiến hành các hoạt động điều khiển như lập ra một tuyến đường hay huỷ bỏ nó dựa trên các chức năng điều khiển lưu lượng Ngoài

ra, nó còn tương tác với các ứng dụng quản lý khác như quản lý lỗi, quản lý cấu hình để trao đổi thông tin quản lý

Quản lý kế toán là quá trình bao gồm một chuỗi các thủ tục bắt đầu bằng việc thu thập dữ liệu sử dụng tài nguyên mạng từ các nguyên tố mạng, xác hận tính hợp lệ, tổng hợp dữ liệu sử dụng bài toán tính cước và cuối cùng gửi hoá đơn cho người sử dụng Mô hình thực hiện với 3 giai đoạn là đo sử dụng, tính cước, lập hoá đơn như sau :

• Usage metering process : là giai đoạn đầu tiên chịu trách nhiệm thu thập, đo lường các dữ liệu sử dụng tài nguyên và dịch vụ dưới dạng các bản ghi và gửi đến các tầng xử lý tiếp theo Nội dung bản ghi phản ánh một chuỗi các sự kiện

có thể áp dụng tính cước như thiết lập hay huỷ bỏ các cuộc gọi Các lớp đối tượng này được sủ dụng cho quá trình này bao gồm :

- The acountable managed object class : biểu diễn các nguồn tài nguyên mạng (logic hoặc vật lý) mà dữ liệu sử dụng nó được thu thập

- The Usage metering control managed object class : cung cấp các chức năng điều khiển việc đo lường sử dụng tài nguyên mạng

Trang 33

Mô hình thực tế của Bellcore áp dụng nguyên lý đo lường, thu thập và báo cáo dữ liệu sử dụng tài nguyên mạng như trên được triển khai như sau :

Ban vùng chức năng chính là :

Generating system : tạo các bản ghi chứa kết quả đo quá trình sử dụng (Usage Metering records) dưới dạng dữ liệu AMA

AMA DataNetworkSystem (AMADNS) :nhận dữ liệu AMA từ generating system,

xử lý trung gian và đưa tới phần application

Vùng Application chịu trách nhiệm tính cước phí và gửi hoá đơn cho người sử dụng

AMADNS bao gồm hai thành phần chính :

Data server : giao diện với phần generating system nhận dữ liệu AMA, xử lý các bản ghi và lưu chúng vào 1 File AMA mới , File AMA này sau đó được đưa tới hệ thống quản lý xử lý hệ thống dữ liệu (Data processing Management system) thông qua giao thức truyền file chuẩn

Data processing Management system (DPMS) thực hiện các chức năng sau :

- Kiển tra lỗi và xác nhận tính hợp lệ : kiểm tra nội dung các văn bản ghi trong

dữ liệu AMA nhận được để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu, báo cáo về lỗi (nếu có) đến các thành phần khác của hệ thống

Trang 34

- Tổng hợp và xem xét các mối tương quan : do dữ liệu (của cùng một dịch vụ)

có thể đến từ nhiều hệ thống generating system nên mối tương quan giữa chúng cần được xem xét và tổng hợp lại dưới một thể thống nhất

- Chuyển đổi dạng dữ liệu sao cho phù hợp với yêu cầu của phần ứng dụng tiếp theo

- Liên kết bản ghi đơn lẻ thành một bản ghi duy nhất : nhằm mục đích tiết kiệm băng thông cho mạng

- Giám sát sử dụng : nhằm mục đích phát hiện lỗi trong quá trình chuyển đổi phần mềm hay định tuyến mạng, phát hiện các hành động gian lận sử dụng

- Data processing Management system (DPMS) thực hiện các chức năng sau :

- Kiểm tra lỗi và xác nhận tính hợp lệ : kiểm tra nội dung bản ghi trong dữ liệu AMA nhận được để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu, báo cáo về lỗi (nếu có) đến các thành phần khác của hệ thống

- Tổng hợp và xem xét các mối tương quan : do dữ liệu (của cùng một dịch vụ)

có thể đến từ nhiều hệ thống generating system nên mối tương quan giữa chúng cần được xem xét và tổng hợp lại dưới một thể thống nhất

- Chuyển đổi dạng dữ liệu sao cho phù hợp với yêu cầu của phần ứng dụng tiếp theo Liên kết bản ghi đơn lẻ thành một bản ghi duy nhất : nhằm mục đích tiết kiệm băng thông cho mạng

- Giám sát sử dụng : nhằm mục đích phát hiện lỗi trong quá trình chuyển đổi, phần mềm hay định tuyến mạng, phát hiện các hành động gian lận sử dụng

- Application : thực hiện tính cước và gửi hoá đơn cho người sử dụng Hệ thống tính cước tổng hợp các thông tin trên các bản ghi liên quan đến một dịch vụ thành một bản ghi dịch vụ mới mang tính thương mại (có áp dụng giá tiền) Hệ thống tính cước áp dụng các thông tin về thuế, chiết khấu, biểu giá và gửi hoá đơn thanh toán đến người sử dụng Vùng chức năng Application ngoài tương tác hệ thống xử lý DPMS còn phối hợp với hệ thống quản lý khách hàng và quản lý hoá đơn

1.3.5 Quản lý an ninh

Mục đích của quản lý an ninh là đảm bảo an ninh cho mạng viễn thông và các hệ thống quản lý mạng Cụ thể là nó có nhiệm vụ ngăn chặn, phát hiện các hành động trái phép gây ra Các ví dụ về vi phạm trong viễn thông như :

- Sử dụng dịch vụ trái phép,

- Sử dụng tài nguyên trái phép,

- Các hoạt động quản lý trái phép

Trang 35

- Sự thay đổi thông tin

- Mã hoá thông tin bị phá vỡ

Thủ tục quản lý an ninh chia làm 3 giai đoạn :

- Ngăn chặn sự vi phạm nhằm không cho những người sử dụng trái phép được quyền truy nhập vào mạng hay tài nguyên mạng Biện pháp sử dụng ở đây la truy nhập vào một dịc vụ yêu cầu hay không

- Phát hiện sự vi phạm :sử dụng quá trình phân tích thông tin người sử dụng như tín dụng, các bản ghi nợ ; các bản ghi các sự kiện và hoạt động liên quan đến mạng hay người sử dụng theo trình tự thời gian, các bản ghi hoá đơn sử dụng Hai mô hình trợ giúp cho quá trình này là :Security alarm report và Security audit trail trong đó :

Security alarm report : cung cấp chức năng cảnh báohệ thống quản lý biết về sự tấn công của các sự kiện xâm nhập trái phép hay các vi phạm trên phương diện an ninh Security audit trail : cung cấp một loạt các sự kiện có liên quan đến sự vi pham bằng mô hình Security-relatek log Mô hình này được xây dựng nhằm báo cáo về các sự kiện liên quan đến an ninh cho hệ thống quản lý

Để hỗ trợ cho 2 quá trình ngăn chặn và phát hiện sự vi phạm, người ta sử dụng dịch

vụ bảo mật nhằm quản lý và điều khiển truy nhập tới các tài nguyên mạng, cung cấp các chức năng như :

- Xác định quyền truy nhập,

- Điều khiển truy nhập,

- Mã hoá và kiểm soát mã hoá,

- Uỷ quyền truy nhập,

- Đăng ký bảo mật

Khôi phục hệ thống bao gồm khôi phục lại mạng và dịch vụ từ việc vi phạm cho phép người sử dụng có thể truy nhập và File dữ liệu nhằm phục hồi lại dịch vụ hay cấu hình mạng sau khi phát hiện về sự vi phạm

1.4 Thùc tÕ triÓn khai TMN

1.4.1 Các điều kiện tiến tới TMN

Các thành phần được yêu cầu để có được một môi trường TMN đầy đủ là :

- Các mạng thông tin số liệu với đầy đủ các tính năng kỹ thuật để mạng thông tin quản lý mạng

Trang 36

- Các giao thức thông tin và các giao diện thông tin mới tới các thành phần cần phải được chuẩn hoá

- Mô hình thông tin hướng tới đối tượng của các mạng và các nguồn tài nguyên

- Các dịch vụ hỗ trợ

- Định hướng phát triển các ứng dụng quản lý mạng

- Khả năng liên kết các hệ thống quản lý mạng không tồn tại

- Các giao diện và khả năng liên kết của phần mềm và các hệ điều hành

- Phương thức và cơ cấu bảo mật

- Các cơ sở nền tảng tiêu chuẩn như phần cứng, hệ điều hành

- Cách thức gọi tên và đánh địa chỉ

OMC (Operation Maintenance Center)

Trung tâm khai thác và bảo dưỡng quản lý viễn thông TMN hoạt động nhằm tổ chức khai thác mạng lưới có hiệu quả cũng như sửa chữa kịp thời các sự cố trên mạng

Phục vụ khai thác bảo dưỡng mạng, OMC là một bộ phận quan trọng TMN trong mạng viễn thông Các chức năng tổng thể của OMC trong mạng viễn thông là khai thác , duy trì, bảo dưỡng các thiết bị hoạt động trên mạng lưới và các dịch vụ viễn thông cho khách hàng Các chức năng đồng thời được tiến hành OMC thực hiện quản lý mạng bao gồm cả chuyển mạch và truyền dẫn, việc giám sát được thực hiện trong suốt cả ngày lẫn đêm OMC thực hiện việc giám sát và tự động sửa lỗi nếu có thể, ghi lại các sự cố trên mạng , trợ giúp các nhà quản lý điều hành khai thác kịp thời phát hiện và xử lý sự cố, đảm bảo cho mạng lưới hoạt động tốt, liên tôc.Để thuận tiện cho việc khai thác bảo dưỡng các thiết bị viễn thông trên mạng Hiện nay, OMC được chia thành hai nhóm :

- Khai thác và bảo dưỡng mạng truyền dẫn

- Khai thác và bảo dưỡng các hệ thống chuyển mạch

CSS Hệ thông ghi hoá đơn hỗ trợ khách hàng

Theo khuyến nghị ITU M.3010 ở phần cấu trúc các lớp chức năng của TMN thì CSS thuộc về lớp quản lý kinh doanh và dịch vụ khách hàn, nó cung cấp các dịch

vụ TMN cho người sử dụng Vì vậy, để đảm bảo việc xây dựng hệ thống TMN thống nhất, hệ thống CSS phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn của ITU-T về TMN nhằm thực hiện liên kết với các module quản lý khác trong tương lai

Trang 37

Hệ thống CSS là công cụ quản lý khách hàng và dịch vụ bưu chính viễn thộng được các Bưu điện tỉnh thành sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng về tất cả các loại hình dịch vụ viễn thông có thể cung cấp

Hệ thống CSS phải đáp ứng nhanh, chính xác các yêu cầu giao dịch của khách hàng như cung cấp các thông tin dịch vụ mới CSS phải có chức năng quản lý hầu hết các dịch vụ viến thông trên địa bàn, phải có khả năng mở rộng, cập nhật khi phát triển cac modul phần mềm, phục vụ phát triển các dịch vụ điện thoại

Hệ thống CSS phải tuân thủ các tiêu chuẩn của ITU nhằm mục đích giao tiếp được với các modul quản lý như OSS, OMC của vùng đó NMC trong tương lai

OSS (hệ thống điều hành-operation support system)

Người điều hành viễn thông trên toàn thế giới đối đầu với sự thách thức của sự cạnh tranh và khách hàng ngày càng tăng Nhiều hãng tổ chức điều hành công việc trong tương lai sẽ đáp ứng được nhu cầu cần thiết của khách hàng một cách tốt nhất Ý nghĩa của sự đóng góp thành công trong quá trình đầu tư là sự kết hợp hệ thống hỗ trợ được thiết kế xung quanh hiệu quả về mặt thương mại

Hệ thống hỗ trợ điều hành và quản lý mạng OSS như là một môi trường kết hợp Các hệ thống OS có vị trí truyền thống trong trung tâm quản lý mạng (NMC) hoặc trung tâm quản lý khai thác (OMC) Trong cấu trúc mạng hiện đại, vị trí quản lý mạng điều hành độc lập với vị trí trung tâm máy tính Hệ thống OS cung cấp dịch

vụ từ xa Hệ thống OS có chức năng hỗ trợ cho người điều hành lập kế hoạch mạng lưới, đưa ra các quyết định liên quan đến hoạt động phát triển mạng

Trang 38

CHƯƠNG 2 : MÔ HìNH QUảN Lý trênCORBA

2.1 Mô hình kiến trúc CORBA

Trong tính toán phân tán, một số mô hình đã được đưa ra, có thể thấy nổi bật là mô hình COM/DCOM của Microsoft Tuy nhiên những mô hình này thường liên quan

đến vấn đề chung đó là thường mô hình do một hãng, một tổ chức đưa ra không

được sự chấp nhận đông đảo các hãng và các nhà sản xuất Chính vì thế, tổ chức OMG do hơn 800 các hãng và công ty kết hợp đã đưa ra mô hình CORBA nhằm tạo nên một kiến trúc mở, có nhiều tính năng ưu việt va được sự chấp nhận rộng rãi Kiến trúc CORBA là sự lựa chọn hợp lý để thực hiện hệ thống phân tán ODP

CORBA (Common Object Request Broker Architecture) là một mô hình do tổ chức

mở OMG đưa ra Kiến trúc CORBA được cấu trúc để cho phép tích hợp nhiều loạii

hệ thống đối tượng khác nhau

Hình 2.1 : Mô hình kiến trúc COBBA

Kiến trúc tổng quát như Hình 2.1 trên bao gồm các thành phần :

- Đầu cuối Client : là chương trình ứng dụng dành cho người sử dụng thực hiện 3 chức năng chính : đưa ra yêu cầu cho việc điều khiển các đối tượng, nhận và xử

lý các kết quả thực hiện được gửi về từ phía thực hiện đối tượng

- Thực hiện đối tượng (Object Implementation) : cấp các hành vi và trạng thái thực của đối tượng cung cấp dịch vụ và đầu cuối Client yêu cầu Phần lớn các

đối tưuợng này không được thực hiện vào cùng thời điểm với yêu cầu Khi một

Trang 39

đối tượng được yêu cầu ở trạng thái không hoạt động thì biến thể hiện của nó

được kích hoạt và trạng thái của nó được lưu trữ lại Phía đầu cuối cùng có thể yêu cầu tạo ra đối tượng kèm theo chỉ số ID

- Phần mềm lõi ORB : có nhiệm vụ cung cấp các cơ cấu cần thiết để tìm đối tượng khi có một yêu cầu về đối tượng, chguẩn bị đối tượng để phục vụ các yêu cầu và chuyển dữ liệu đến yêu cầu đó Giao diện cho các yêu cầu là hoàn toàn

độc lập với việc đối tượng đó nằm ở đâu, ngôn ngữ lập trình là gì

Để tạo ra các yêu cầu, phía đầu cuối Client sử dụng :

- Giao diện yêu cầu động DII (Dynamic Invocation Interface) : là giao diện cho phép xây dựng động các yêu cầu đối tượng có nghĩa là thay cho việc gọi một thủ tục gốc, xác định một thao tác nào đó trên một đối tượng thì đầu cuối có thể xác định đối tượng thì đầu cuối có thể xác định đối tuợng mà chúng cần đến, thao tác cần thực hiện và các thông số kèm theo

- Giao diện yêu cầu tĩnh : phía đầu cuối phải nhận kết quả của việc thực hiện yêu cầu trước khi tiếp tục quá trình

Phần đầu cuối có thể giao diện các với gốc đầu cuối (client stub) Gốc đầu cuối chịu trách nhiệm :

- Cung cấp giao diện ứng dụng (API) có đầu cuối Đầu cuối có thể gửi yêu cầu thông qua giao diện này

- ánh xạ các định nghĩa thao tác cho đối tượng viết bằng ngôn ngữ IDL (là ngôn ngữ trung gian độc lập nền) vào ngôn ngữ lập trình cụ thể mà đầu cuối sử dụng

- Làm việc với ORB nhằm sắp xếp các yêu cầu, chuyển đổi yêu cầu từ ngôn ngữ lập trình cụ thể sang dạng ngôn ngữ phù hợp để truyền tới đích

- Phía thực hiện đối tượng nhận được một yêu cầu như lời gọi tên (up-call) thông qua khung IDL tĩnh hoặc khung động

- Khung IDL tĩnh :có vai trò tương tự như gốc đầu cuối

- Khung động : cho phép xử lý động các yêu cầu đối tượng Thay cho việc truy nhập thông qua một khung đã xác địnhtheo một thao tác cụ thể, một thực hiện

đối tượng được tìm thông qua một giao diện có khả năng cung cấp truy nhập

đến thao tác và các thông số theo cách thức giống như giao diện yêu cầu động phía đầu cuối Giao diện thực hiện động có thể được yêu cầu cả trong các gốc

đầu cuối và thông qua giao diện yêu cầu động

Thực hiện đối tượng có thể sử dụng một bộ chuyển đổi đối tượng để truy nhập vào các dịch vụ mà ORB cung cấp, dựa trên loại dịch vụ nào đó cần đến Trách nhiệm chính của bộ chuyển đổi đối tượng là che dấu sự khác biệt trong việc thực hiện đối

Trang 40

tượng (sự khác biệt là do các đối tượng có các yêu cầu thực hiện khác nhau, theo những cách khác nhau)

ORB sử dụng hai dịch vụ là dịch vị kho giao diện (Interface Repository) và dịch kho thực hiện Interface Repository

- Kho giao diện là một loại dịch vụ cung cấp các đối tượng lưu trú biểu hiện thông tin trong thời gian chạy Ngoài ra nó còn là nơi lưu giữ trung các thông tin liên quan

đến các giao diện hướng đến các đối tượng thuộc ORB

- Kho thực hiện chứa các thông tin cho phép ORB định vị và kích hoạt các thực hiện

đối tượng Sử dụng thông tin này, một ORB có thể gắn các tham chiếu đối tượng tới các thực hiện đối tượng tương ứng (tham chiếu đối tượng là thông tin cần thiết để xác định đối tượng trong một ORB)

2.2 Các dịch vụ của CORBA

CORBA cung cấp rất nhiều dịch vụ khác nhau, các dịch vụ này có thể áp dụng cho nhiều ứng dụng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Các dịch vụ chính bao gồm :

- Naming sevice : cung cấp các tham chiếu đối tượng cho đầu cuối Một khi tên

đối tượng được đưa ra thì dịch vụ này sẽ trả lại một tham chiếu đối tượng tương ứng

- Event sevice : cung cấp khả năng gửi, đưng ký và nhận một sự kiện mà đối tượng quan tâm trong môi trường Corba

- Life cycle : định nghĩa các dịch vụ và quy ước cho việc tạo, xoá copy và dịch chuyển các đối tượng

- Transaction sevice : cung cấp sự quản lý cho việc khoá dịch vụ trao đổi trong môi trường Corba

- Concurent sevice : cung cấp sự quản lý cho việc khoá dịch vụ trao đổi (Transaction sevice)

Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như Persistent opject sevice, Relationship sevice, Licensing sevice, Query sevice, Security sevice, Trader sevice

Thực chất CORBA khụng phải chỉ dành riờng cho lĩnh vực quản lý mạng Tuy nhiờn, với mụ hỡnh quản lý mạng do OSI đưa ra, nú rất phự hợp Việc quản lý mạng trờn CORBA hoàn toàn dựa trờn mụ hỡnh xử lý phõn tỏn hướng đối tượng với phần mềm là CORBA MỘt ứng dụng quản lý như là một đầu cuối và đối tượng cần quản

lý như là cỏc thực hiện đối tượng Cỏc ứng dụng quản lý cú thể sử dụng cỏc dịch vụ

mà H mang lại Việc xõy dựng cỏc ứng dụng quản lý mạng viễn thụng hoàn toàn

Ngày đăng: 28/02/2021, 08:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w