1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến trúc hướng dịch vụ và ứng dụng trong chính phủ điện tử hà nội

72 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về Chính phủ điện tử Chính phủ điện tử CPĐT cũng được biết đến như là chính phủ số, chính phủ trực tuyến, chính phủ dựa trên internet nói đến việc sử dụng công nghệ thông tin

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

KIÕN TRóC H¦íNG DÞCH Vô Vµ øNG DôNG

TRONG CHÝNH PHñ §IÖN Tö Hµ NéI

NGÀNH: XỬ LÝ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

MÃ SỐ:

NGUYỄN NGỌC THANH

Người hướng dẫn khoa học: TS.TẠ TUẤN ANH

HÀ NỘI 2009

Trang 2

LỜI TÁC GIẢ

Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả đã được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn TS.Tạ Tuấn Anh và các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp Tác giả xin cam đoan: Đây là công trình chính tác giả nghiên cứu, đảm bảo không vi phạm bản quyền của các tác giả khác Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã

cố gắng để luận văn tốt nghiệp được hoàn chỉnh song vì thời gian có hạn, chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của thầy cô cũng như bạn bè và đồng nghiệp

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo hướng dẫn và các bạn bè đồng nghiệp!

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Trang

CHƯƠNG 1: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

1.1 Khái quát về Chính phủ điện tử………

1.2 Quy hoạch CPĐT………

1.2.1 Xác định các cơ quan chính………

1.2.2 Xác định các cơ quan liên minh………

1.2.3 Khám phá cơ hội dịch vụ điện tử………

1.2.4 Yêu cầu cơ sở hạ tầng lưu trữ………

1.2.5 Kỹ năng xác định khoảng trống………

1.2.6 Chia sẻ khám phá các nguồn lực………

1.3 Xu hướng CPĐT trên thế giới………

1.3.1 Chính phủ điện tử của chính quyền Thành phố Seoul………

1.3.1.1 Phòng tiếp dân (Front Office) (Dịch vụ cho công dân)……….……

a Tình hình hiện tại ………

b Các kết quả chính của các dịch vụ công dân………

1.3.1.2 Phòng ban nội bộ (Back Office) (Hệ thống hành chính)………

a Hiện trạng………

b Các kết quả chính của lĩnh vực ứng dụng………

1.3.1.3 Mạng e-Seoul ………

a Hiện trạng về mạng e-Seoul (e-Seoul Net)………

b Hiệu quả của e-Seoul Net………

c Các kết quả chính của e-Seoul Net………

1.3.1.4 Trung tâm dữ liệu………

a Tóm tắt………

b Tổng quan………

c Các nội dung chính………

d Các kết quả………

1.3.2 Chính phủ điện tử của chính quyền các nước khác ………

7

7

8

8

9

9

10

10

11

15

17

17

19

19

19

20

20

20

21

22

22

22

23

23

25

25

Trang 4

CHƯƠNG 2: KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ (SOA)

2.1 Dịch vụ………

2.2 SOA định nghĩa………

2.3 Lợi ích của sử dụng SOA………

2.4 Các yêu cầu và nguyên tắc của SOA………

2.4.1 Các yêu cầu của SOA………

2.4.2 Các nguyên tắc trong SOA………

2.4.2.1 Nguyên tắc phân định rạch ròi giữa các dịch vụ………

2.4.2.2 Nguyên tắc chủ động………

2.4.2.3 Nguyên tắc chia sẻ………

2.4.2.4 Nguyên tắc tương thích dựa trên chính sách………

2.5 Các tính chất của SOA………

2.5.1 Kết nối lỏng………

2.5.2 Sử dụng lại dịch vụ………

2.5.3 Quản lý chính sách………

2.5.4 Coarse granularity………

2.5.5 Khả năng kết nối ………

2.5.6 Tự động dò tìm và ràng buộc động………

2.5.7 Tự hồi phục………

2.6 Sử dụng Web Service trong SOA………

2.7 SOA cho các ứng dụng nghiệp vụ………

28

29

31

34

34

35

35

35

35

35

36

36

37

37

38

39

40

41

41

43

CHƯƠNG 3:

GIẢI PHÁP HỆ THỐNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ HÀ NỘI

Trang 5

3.1 Hiện trang Hệ thống Chính phủ điện tử của Hà Nội……….

3.1.1 Cơ sở hạ tầng tại Cổng GTĐT Hà Nội ………

3.1.1.1 Thiết bị tin học, thiết bị ngoại vi………

a Đánh giá về các thiết bị máy chủ………

b Đánh giá về các thiết bị mạng………

3.1.1.2 Các phần mềm ứng dụng tại Cổng GTĐT Hà Nội

a Các phần mềm đang sử dụng

b Hiện trạng các phần mềm ứng dụng………

3.1.1.3 Các phần mềm hệ thống tại Cổng giao tiếp điện tử Hà Nội………

a Các phần mềm hệ thống đang sử dụng………

b Đánh giá hiện trạng các phần mềm hệ thống………

3.1.2 Sự cần thiết phải nâng cấp

3.2 Giải pháp về kiến trúc Cổng giao tiếp điện tử Hà Nội……… ………

3.2.1 Mô hình kiến trúc tổng thể………

3.2.2 Mô hình kiến trúc ứng dụng………

3.2.3.Mô hình mạng

3.2.4 Công nghệvà ngôn ngữ lập trình

3.2.5 Môi trường triển khai………

3.3 Tích hợp ứng dụng trong Chính phủ điện tử Hà Nội………

46

47

48

50

50

51

51

51

52

52

53

53

55

58

62

65

65

67

68

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Chúng ta đã có các kiến trúc như kiến trúc hướng thủ tục, kiến trúc hướng đối tượng (Object Oriented Programming - OOP), COM/DCOM (Distributed common Object Model), CORBA (Common Object Request Broker Architecture) và nhiều phương thức tích hợp ứng dụng nhanh, tốt hơn Thế nhưng vẫn chưa có giải pháp nào hoàn chỉnh Kiến trúc hướng dịch vụ (Service Oriented Architecture - SOA) được đưa

ra với kỳ vọng tạo nên cuộc cách mạng trong công nghệ phần mềm

Trong tin học, kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) cung cấp các phương thức cho việc phát triển hệ thống và tích hợp các hệ thống đóng gói các chức năng như các dịch

vụ có khả năng tương hoạt Một cơ sở hạ tầng SOA cho phép các ứng dụng khác nhau

có thể trao đổi dữ liệu với nhau Định hướng dịch vụ cung cấp liên kết lỏng lẻo của các dịch vụ với hệ điều hành, ngôn ngữ lập trình và các công nghệ khác SOA tách các chức năng vào các đơn vị riêng biệt hay các dịch vụ mà các nhà phát triển phần mềm

có thể truy cập qua internet để người dùng có thể kết hợp và tái sử dụng trong việc tạo các ứng dụng Các dịch vụ này giao tiếp với nhau bằng cách truyền dữ liệu từ dịch vụ này sang dịch vụ khác hay phối hợp các hành động giữa hai hay nhiều dịch vụ

Trang 7

SOA một giải pháp cho tính phức tạp của Công nghệ thông tin (CNTT) Bằng việc đơn giản hóa các khả năng của CNTT thành các dịch vụ nghiệp vụ cụ thể được sắp xếp và quản lý, giám sát và đánh giá, tạo ra kiến trúc tích hợp các ứng dụng, cho phép hệ thống có thể đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu mới của khách hàng Nhờ đó kiến trúc hướng dịch vụ được sử dụng trong các chính phủ điện tử mà hiện nay các nước đều chú trọng phát triển

Luận văn này nhằm tìm hiểu về kiến trúc hướng dịch vụ ( SOA) và ứng dụng trong Chính phủ điện tử Hà Nội Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Chính phủ điện tử

Chương này bàn về khái niệm và kinh nghiệm triển khai Chính phủ điện tử của các nước

Chương 2: Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA)

Chương này chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm kiến trúc hướng dịch vụ và khả năng áp dụng trong hệ thống Chính phủ điện tử

Chương 3: Giải pháp hệ thống Chính phủ điện tử Hà Nội

Chương này nói về thực trạng của hệ thống Chính phủ điện tử Hà Nội và kiến trúc đề xuất

Trang 8

CHƯƠNG 1 CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

1.1 Khái quát về Chính phủ điện tử

Chính phủ điện tử (CPĐT) cũng được biết đến như là chính phủ số, chính phủ trực tuyến, chính phủ dựa trên internet nói đến việc sử dụng công nghệ thông tin và giao tiếp điện tử để cung cấp và cải thiện các dịch vụ công, các hoạt động của chính phủ, các giao dịch và tuơng tác giữa chính phủ với công dân, doanh nghiệp và các cơ quan khác

Các loại giao dịch điện tử trong chính phủ điện tử:

+ Giữa các cơ quan nhà nước với công dân (G2C)

+ Giữa các cơ quan nhà nuớc với các doanh nghiệp (G2B)

+ Giữa các cơ quan nhà nuớc với nhau (G2G)

+ Giữa các cơ quan nhà nuớc với các nhân viên (G2E)

Trong mỗi loại tuơng tác này, có 4 loại hoạt động diễn ra:

+ Thúc đẩy các thông tin trên Internet như: dịch vụ công, các chính sách tổng hợp ngày nghỉ, lịch trình điều trần công cộng, các khai báo, vv

+ Giao tiếp hai chiều giứa các cơ quan nhà nuớc với các công dân, doanh nghiệp, hoặc một cơ quan chính phủ khác Trong mô hình này, người dùng có thể tham gia đối thoại với các cơ quan và đăng các vấn đề, ý kiến, hoặc yêu cầu tới các cơ quan này

+ Tiến hành các giao dịch, ví dụ như: đóng thuế, áp dụng cho các dịch vụ và tài trợ

+ Quản trị, ví dụ như: bỏ phiếu trực tuyến, vận động và bình chọn

1.2 Quy hoạch CPĐT

Theo Chính phủ Italy và UNDESA, năm 2002 việc quy hoạch CPĐT liên quan: đánh giá tính sẵn sàng của CPĐT, tầm nhìn xa trong CPĐT, hình thành mục tiêu chiến luợc, xác định các ưu tiên, và xác định mục tiêu đề ra Giai đoạn đánh giá là đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp đầu vào cho các giai đoạn sau này, vì vậy cần hỗ trợ mục tiêu và triển khai kế hoạch cụ thể

Trang 9

1.2.1 Xác định các cơ quan chính :

Các cơ quan chuyên môn thường chuyên môn hóa các dịch vụ của họ tại các đối tượng công chúng khác nhau: công dân, doanh nghiệp và các cơ quan khác Khi sự quy hoạch của chính phủ điện tử trờ lên hoàn chỉnh để phân loại các cơ quan theo sự chi phối của người chọn dịch vụ của họ, Ví dụ: các cơ quan liên quan đến việc phân phối với G2C, G2B hay dịch vụ của G2G

Dịch vụ cung cấp một phần của bản điều tra thu thập số dịch vụ của một cơ quan cung cấp cho người dân, doanh nghiệp, chính phủ hoặc các thực thể khác Thông tin này có thể được sử dụng để xác định các cơ quan quan trọng bạn cần phải tham gia vào việc phát triển các dịch vụ nhằm mục tiêu một khu vực cụ thể Ngoài ra phân tích

về cung cấp các dịch vụ cốt lõi của các cơ quan, có thể giúp đỡ trong ưu tiên của họ tham gia vào các dự án khác nhau

1.2.2 Xác định các cơ quan liên minh:

Phát triển Chính phủ điện tử chắc chắn đòi hỏi nhiều hơn hợp tác giữa các cơ quan Điều này có thể được thực hiện thông qua hình thành liên minh giữa các cơ quan tham gia trong các dự án lên Các tiêu chí khác nhau có thể được áp dụng để quyết định như thế nào để xây dựng các liên minh Một trong những cơ sở có thể là các dịch

vụ được cung cấp tương tự Sự thúc đẩy ở đây là để tái sử dụng các nguồn lực thông qua các dự án mà kết quả có thể được sử dụng và tái sử dụng của một số cơ quan Sự thúc đẩy khác cho liên minh như vậy là cần phải hợp tác giữa các cơ quan để cung cấp một dịch vụ Các mối quan tâm chính là tập trung vào khách hàng - cung cấp cho công dân và các doanh nghiệp với một sự liên hệ gắn kết với chính phủ để phản ánh nhu cầu của họ hơn là cấu trúc của chính phủ, ví dụ thông qua các dịch vụ liên thông

Các báo cáo thu thập các dịch vụ cung cấp một phần dịch vụ và một phần dịch

vụ kết nối Bằng cách phân tích các phần có thể được thiết lập để xác định các dịch vụ tương tự được cung cấp bởi các cơ quan khác nhau Các liên minh sau đó sẽ bao gồm tất cả các cơ quan mà loại bỏ đi một loạt các dịch vụ tương tự nhau, cùng với các cơ quan, góp phần vào việc cung cấp các dịch vụ các cơ quan mà họ yêu cầu Các liên

Trang 10

minh có thể làm việc cùng nhau để phát triển một dịch vụ chung, để được cụ thể sau này cho các mục đích khác nhau của các nhà cung cấp khác nhau

1.2.3 Khám phá cơ hội dịch vụ điện tử:

Các dịch vụ cốt lõi phần chứa một mô tả chi tiết cốt lõi của một số dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan này Các dịch vụ cốt lõi như là lựa chọn của họ dựa trên cách

sử dụng, tầm quan trọng cho các cơ quan và cơ hội để tự động hóa, họ cũng được xem

là ứng viên tốt cho dịch vụ điện tử Một số thông tin hữu ích cho phân tích những cơ hội mới cho dịch vụ điện tử bao gồm: những người nhận các dịch vụ, số lượng người

sử dụng phân phối thông qua các kênh phân phối, sử dụng tốc độ tăng trưởng trong thời gian ba năm qua, các hệ thống thông tin hỗ trợ dịch vụ và các vấn đề pháp lý liên quan cho dịch vụ

Đối với một ứng cử viên dịch vụ điện tử, vấn đề luật pháp phải được giải quyết đầu tiên Nếu có trở ngại pháp lý để cung cấp các dịch vụ trực tuyến, khung pháp luật phải được thiết lập Bước kế tiếp là để đánh giá các hệ thống hỗ trợ việc phân phối các dịch vụ Nếu hệ thống hiện tại có thể hỗ trợ các dịch vụ tham gia vào dự đoán tăng trưởng tài khoản của mình, sau đó chi phí cung cấp cho các dịch vụ cần phải đươc xem xét Sau khi danh sách các ứng viên dịch vụ điện tử đã được xác định, ưu tiên có thể được giao cho họ theo các chi phí, sử dụng, nhu cầu xã hội và các rủi ro liên quan trong việc triển khai thực hiện Kết quả sẽ được sử dụng để xây dựng các kế hoạch chiến lược cho phát triển dịch vụ điện tử Việc thực hiên các kế hoạch có liên quan tới: Liên minh, phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ năng và khoảng trống khi chính phủ điện tử chia sẻ nguồn tài nguyên

1.2.4 Yêu cầu cơ sở hạ tầng lưu trữ:

Hầu hết các quốc gia triển khai Chính phủ điện tử có phát triển cơ sở hạ tầng các

dự án quốc gia có hiệu quả cho phép các cơ quan để cung cấp các dịch vụ địa phương nhiều hơn Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật liên quan đến nhiều vấn đề, chẳng hạn như: làm thế nào các dịch vụ đang có gửi, làm thế nào các cơ quan kết nối với nhau và làm thế nào để họ có thể phổ biến các vấn đề đấu giá (xác thực, an toàn giao dịch v v )

Trang 11

Cơ sở hạ tầng phát triển các dự án phải chặt chẽ, đã được xem với một mắt xích

về các cơ hội dịch vụ điện tử Sau khi xác định các cơ hội, các vấn đề chung liên quan đến sự phát triển của họ được tổng hợp và phân tích Ví dụ, không cần cho một chính phủ lưu trữ cho các cổng dịch vụ mới,chia sẻ cơ sở hạ tầng dịch vụ mà là cần thiết cho việc cung cấp các dịch vụ này ,các quá trình khác nhau giữa các cơ quan Những chức năng này không nên được phát triển bởi cơ quan, cá nhân cho lợi ích các dịch vụ của riêng mình, nhưng cùng với các cơ quan khác như là một chia sẻ cơ sở hạ tầng chính phủ điện tử Cụ thể của dự án sẽ được triển khai đến từng nhu cầu Hơn nữa, chia

sẻ thông tin về các nguồn lực có sẵn tại các cơ quan khác nhau nên được xem xét khi xác định những dự án triển khai thực hiện kế hoạch

1.2.5 Kỹ năng xác định khoảng trống:

Chính phủ điện tử yêu cầu phải đặt cùng nhau phát triển một số loại các nguồn lực Chính trong đó có nguồn nhân lực Kế hoạch cho chính phủ điện tử bao gồm việc xác định kỹ năng hiện có khoảng trống để thực hiện Chính phủ điện tử và cung cấp cho các dự án đào tạo để lấp đầy những khoảng trống

Đào tạo của cả nhân viên công nghệ thông tin và cả nhân viên không chuyên CNTT là bắt buộc Nhân viên CNTT cần được đào tạo về công nghệ khác nhau và các công cụ sử dụng cho các dự án chính phủ điện tử, cho dù các dự án được thực hiện trong nội bộ hoặc bên ngoài Không yêu cầu đào tạo nhân viên CNTT trong việc sử dụng các công cụ CNTT khác nhau, sản phẩm và hệ thống đó là cần thiết để hoạt động dịch vụ chính phủ điện tử Các nhân sự phần xác định số lượng nhân viên trong cơ quan, phân phân công chức năng các khu vực khác nhau và các kỹ năng mà họ có Nội dung này là hữu ích cho việc lập kế hoạch theo yêu cầu đào tạo về nội dung của nó và

số lượng người được đào tạo

1.2.6 Chia sẻ khám phá các nguồn lực:

Bằng cách củng cố các thông tin về các cơ quan có thể có được một hình ảnh tốt hơn các nguồn lực sẵn sàng cho Chính phủ điện tử mà còn tồn tại trong cơ quan, cá nhân, nhưng có thể được chia sẻ trong toàn bộ chính phủ Kênh phân phối và chia sẻ các nguồn lực có thể được cải thiện Kỹ thuật tài nguyên - phần cứng, phần mềm,

Trang 12

mạng và viễn thông - có thể được xác định và được sử dụng cho việc thực hiện các dự

án mới Nguồn nhân lực, đặc biệt là các kỹ năng và kinh nghiệm có thể được xác định

và được sử dụng trong các dự án Cuối cùng, hiện tại phần mềm ứng dụng, đặc biệt là phát triển các ứng dụng trong nhà có thể được đánh giá để làm cho chúng rộng rãi có sẵn Họ có thể được chuyển đổi sang dịch vụ điện tử

Hỗ trợ các chiến lược xây dựng: Những nhận thức và sự mong đợi có thể hữu ích trong hình thành một chiến lược cho Chính phủ điện tử Ví dụ, sự hiểu biết Chính phủ điện tử và các cơ quan nhằm mục đích thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử Ngoài ra, cuộc điều tra có thể giúp xác định các cơ quan cần sử dụng các dịch vụ và các công nghệ cụ thể, các chính sách đối với quyết định giữa một tổ chức với sự phát triển bên ngoài, các nguồn lực sẵn có và những người khác Tất cả các thông tin này sẽ hữu ích

để xác định chiến lược của toàn chính phủ

1.3 Xu hướng CPĐT trên thế giới

Sự tiến bộ của công nghệ thông tin mở đường cho sự phát triển của một chính phủ hiệu quả hơn Công nghệ đánh thức năng lực tiềm ẩn của chính phủ mới và tạo ra một chính phủ mới với nhiều cơ hội cho những ai sẵn sàng chấp nhận thay đổi

Vì sự thông tin hóa của tiến trình xã hội, các dịch vụ của chính phủ đã mở rộng

nó từ một lĩnh vực giới hạn của các dịch vụ hành chính của nền Chính phủ tập trungthành các dịch vụ công cho công dân thậm chí bao gồm cả các dịch vụ của các lĩnh vực tư nhân Do đó, CPĐT không chỉ bao gồm sự thông tin hóa của nền hành chính công mà còn cả các khu vực dịch vụ công mà các công dân muốn và có nhu cầu Chính phủ cần phối hợp với các khu vực tư nhân để cung cấp các dịch vụ ở lĩnh vực tư nhân mang nhiều đặc điểm công Do vậy, ngày càng nhiều nước đầu tư vào chính phủ điện tử Ví du điển hình về các nước CPĐT được Liên hợp quốc xếp thứ hạng cao trong bảng chỉ số về mức độ sẵn sàng là Châu Âu, Mỹ và Hàn Quốc

Mục tiêu ban đầu của Châu Âu là liên kết và hội nhập các nước thành viên, nên mục tiêu cơ bản của Châu Âu là dỡ bỏ những vấn đề và những rào cản để có được một Châu Âu thống nhất Để đạt được mục đích này thì mối quan hệ giữa chính phủ của các nước thành viên là rất quan trọng Châu Âu đang dỡ bỏ bức tường giữa các nước

Trang 13

thành viên và đang hợp nhất các nước này bằng việc kết nối liên quốc gia thông tin của các chính phủ dựa trên CPĐT Đồng thời, cũng cố gắng cung cấp các dịch vụ công bằng cho những người dân của tất cả các nước thành viên

Ví dụ cho việc làm này là CPĐT của Mỹ đã thay đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia mình Internet được khởi xướng lên từ các dự án riêng của Bộ quốc phòng Mỹ Kỷ nguyên kinh doanh số mới được bắt đầu ngay khi internet được mở rộng ra các khu vực tư nhân

Tại Hàn Quốc, các hoạt động của CĐPT đã khởi đầu cho một ví dụ về những thay đổi này ở các khu vực công và tư nhân Các doanh nghiệp muốn tham gia vào đấu thầu công phải áp dụng các công nghệ trực tuyến bằng việc giới thiệu về Đầu thầu trực tuyến Tại các lĩnh vực tư nhân, các nhà cung cấp đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong đấu thầu công Dựa trên tình hình này, các doanh nghiệp khác bắt đầu ứng dụng Kinh doanh trực tuyến vào các khu vực tư nhân Nhờ bỏ được các khả năng bất công và tham nhũng trong đấu thầu công truyền thống nên tính minh bạch và hiệu quả ngày càng tăng lên

Một vài năm gần đây, ngày càng nhiều chính phủ đưa ra các cơ sở dữ liệu và ấn phẩm qua trang web trực tuyến Điều này cho thấy rằng, các nhu cầu về những hệ thống phòng ban nội bộ (back office) cũng đang tăng lên Hơn nữa, việc sử dụng các nguồn đa phương tiện như quay video đang tăng lên do sự phát triển băng thông N/W

và các khả năng của máy tính cá nhân (PC)

Trang 14

Hình 1-1: Chính phủ điện tử (Chính phủ điện tử toàn cầu năm 2007, ĐH Brown)

Hình 1-1 cho thấy: Khu vực Bắc Mỹ, nhiều Chính phủ cung cấp các dịch vụ CPĐT hơn các khu vực khác Năm 2001, tỉ lệ các dịch vụ trực tuyến tại đây mới chỉ hơn 30%, nhưng đến năm 2006 tỉ lệ này đã lên đến 70% tổng số dịch vụ thực hiện qua mạng Tuy nhiên, cũng không rõ nguyên nhân tại sao năm 2007 tỉ lệ này lại giảm đi Các nước Châu Á đã nỗ lực để tăng các dịch vụ trực tuyến qua Internet, tuy nhiên đến năm 2007, cũng mới chỉ đạt trung bình 40% Một trong những khu vực phát triển nhanh nhất về mặt các dịch vụ CPĐT trực tuyến là Trung Mỹ

M iddle East

W esern Europe Eastern Europe Central America South America Russia Central Asia Africa

Trang 15

Hình 1-2: Các dịch vụ Chính phủ điện tử

Hình 1-2 cho thấy: Ngày càng nhiều chính phủ cung cấp thông tin, đặc biệt là ấn phẩm và các hoạt động của chính phủ

Nhằm tạo ra các trang web động với các nội dung có thể tìm kiếm được thì việc tạo lập cơ sở dữ liệu các phòng ban nội bộ (back office) và các nội dung là rất quan trọng

Việc sử dụng các nguồn đa phương tiện đang tăng lên nhưng không đáng kể Nó còn phụ thuộc vào Băng thông internet và hạ tầng internet, và quan trọng nữa là nắm được xem liệu công dân có sẵn sàng để sử dụng các nội dung băng thông rộng Vì thế, không có nhiều chính phủ đưa ra các video clips cho việc phát triển các dịch vụ và hạ tầng CNTT của Chính phủ

Các dịch vụ Chính phủ điện tử phổ biến (xu hướng)

Theo cuốn Chính phủ điện tử toàn cầu năm 2007 của Đại học Brown thì trên thế giới, có một số dịch vụ chính phủ điện tử phổ biến do nhiều chính phủ cung cấp Một

số dịch vụ phổ biến gồm Thuế trực tuyến, các biểu mẫu trực tuyến, tìm kiếm và cho phép tải về các thông tin về chính phủ là các dịch vụ trực tuyến cốt lõi Các dịch vụ CPĐT phổ biến:

Đăng ký bầu cử, xin cấp visa, xin cấp mới và cấp lại hộ chiếu, danh sách các công việc, xin việc trực tuyến, các yêu cầu về báo cáo thống kê, nộp thuế trực tuyến, các mẫu khiếu nại trực tuyến cho việc làm lại và cấp mới các giấy phép, đặt các ấn phẩm, xin viện trợ trực tuyến, dịch vụ giúp lập các đơn thương mại, chi phí cho việc lập đơn

Trang 16

trực tuyến, các tin nhắn SMS, đặt chỗ trực tuyến cho các buổi đi săn hay cắm trại tại công viên quốc gia, đặt cược trực tuyến cho các trận đấu bóng rổ, diễn đàn trao đổi trực tuyến, webcams ở các đường phố và quảng trường, v.v

Đăng ký và các đơn

xin

Đăng ký bầu cử, đơn xin cấp visa, đơn xin cấp và làm lại

hộ chiếu, đơn xin việc, các giấy phép thay mới, cấp phép

Các mẫu và chứng từ Các dịch vụ điền tài liệu trực tuyến, yêu cầu các chứng từ,

tài liệu và số liệu thống kê, yêu cầu thông tin

Các dịch vụ khác Các cửa hàng mua bán trực tuyến, thư điện tử, đấu giá,

đấu thầu, tìm và mua các tài sản trí tuệ, SMS, v.v

Bảng 1-1: Các dịch vụ CPĐT chung

1.3.1 Chính phủ điện tử của chính quyền Thành phố Seoul

CPĐT hoàn hảo của Seoul tạo ra một Thành phố đẹp và hấp dẫn (Clean and Attractive Global City) Seoul đã xây dựng mô hình CPĐT như một dự án thông tin hóa sáng tạo dựa trên viễn cảnh về một e-Seoul và các chiến lược theo từng giai đoạn

Trang 17

Hình 1-3: Viễn cảnh CPĐT của Thành phố Seoul

Trang 18

Mô hình CPĐT của Thành phố Seoul như sau:

Hình 1-4: Mô hình CPĐT của Thành phố Seoul

1.3.1.1 Phòng tiếp dân (Front Office) (Dịch vụ cho công dân)

a Tình hình hiện tại

Phòng tiếp dân (Front office) cho phép các công dân sử dụng thông tin hành chính qua internet mà không cần phải trực tiếp đến các văn phòng của chính phủ Seoul cung cấp dịch vụ cho công dân thông qua 191 địa điểm của 13 khu vực chính như: Mạng lưới chính, Văn hóa và du lịch, hành chính, thông tin hóa, PR, Công nghiệp/khách hàng, phụ nữ/thanh niên, Sức khỏe/ phúc lợi xã hội, môi trường, Xây dựng/lập kế hoạch đô thị, giao thông, thông tin hóa Đặc biệt, trang chủ không chỉ có tiếng Hàn quốc mà còn có cả các tiếng nước ngoài như Tiếng Anh, tiếng Trung quốc (đơn giản hóa, truyền thống), Tiếng Pháp, Tiếng Tây Ba Nha

Các dịch vụ công dân như sau:

Trang 19

Mục Hiện trạng và các chức năng chính

Cung cấp thông tin

thông qua internet

▪ Tin tức về các vấn đề của thành phố Tin Chào Seoul (Hi Seoul)

Tin mới Thông báo Tin tức Tin thành phố Seoul Tin hàng tháng

▪ Thông tin cuộc sống Sức khỏe

Thông tin nhà ở Seoul đẹp Giao thông Phụ nữ Thời gian rảnh

▪ Thông tin hành chính Các dự án chính Thông tin hành chính mở Ngân sách

Dữ liệu thống kế Thành tựu thông tin hành chính Giới thiệu Seoul

Văn phòng thị trưởng Bảo tàng lịch sử Seoul Hình ảnh của Seoul Hướng dẫn của Seoul Dịch vụ hành chính

thông qua internet

▪ Đơn điện tử Hướng dẫn và tư vấn Khẳng định và đơn xin của công dân Thanh toán và hỏi đáp về thuế

Hỏi đáp về báo cáo/kiếm toán

Trang 20

Đặt các dịch vụ công Hỏi đáp về lịch sử báo cáo/tư vấn

Sự tham gia của công

dân thông qua internet

Các gợi ý về ý tưởng Thảo luận

Free board Cộng đồng Popular tags

Sự kiện

Bảng 1-2: Hiện trạng các dịch vụ công dân của CPĐT Thành phố Seoul

b Các kết quả chính của các dịch vụ công dân

Thành phố Seoul từng có thông tin một chiều thông qua các trang chủ của Seoul Các trang này đã tạo thành các trang cung cấp các dịch vụ hai chiều và tạo ra các thông thông theo yêu cầu của công dân

Các công dân có thể tải một mẫu đơn liên quan đến công dân và nộp thuế trên các trang chủ này Kể từ tháng 5/2007, Seoul bắt đầu đưa ra các dịch vụ di động về cổng lưu động (mSeoul 702) bằng cách này các công dân có thể đưa ra các ý kiến thông tin liên quan đến giao thông, chất lượng không khí, văn hóa, chính quyền thành phố luôn sẵn sàng và thậm chí có thể đặt chỗ trước bằng cách gọi điện

Hệ thống Phòng tiếp dân nên là một ứng dụng liên tục (a one-stop application ) trong việc kết nối với hệ thống back office (các phòng ban nội bộ) Ngoài ra, cần liên tục yêu cầu một khu vực dành cho sự tham gia công cộng và một hệ thống điều hành

1.3.1.2 Phòng ban nội bộ (Back Office) (Hệ thống hành chính)

Trang 21

chính, hành chính, lập kế hoạch đô thị, nhà cửa, chữa cháy, xây dựng, giao thông, văn hóa, phúc lợi/phụ nữ, môi trường và công nghiệp Hệ thống phê duyệt điện tử đã được đưa ra từ năm 1991 Thành phố Seoul và 25 quận đã bắt đầu ứng dụng hệ thống tài liệu điện tử hay các loại hệ thống không hướng tới EDA từ năm 2002 Giờ đây, tất cả các công việc đã được kết nối với hệ thống phê duyệt điện tử với quy trình phê duyệt theo các cấp thứ bậc Nhờ hệ thống này, tỉ lệ chia sẻ thông tin và hiệu quả công việc đã tăng lên đáng kể (tất cả các quy trình phê duyệt được tiến hành bởi điện tử)

Kết quả là, khối lượng hành chính được thông tin hóa đã tăng lên Ngoài ra, hệ thống phê duyệt điện tử được kết nối với hệ thống thông tin hành chính như hệ thống

MỞ (OPEN), quản lý công chức điện tử, đề xuất cho thị trường và do đó, đơn giản hóa toàn bộ quy trình phê duyệt Trong năm 2006, cổng điện tử của Thành phố Seoul đã được thành lập nhằm quản lý hiệu quả việc phê duyệt trực tuyến, thư điện tử, messenger, cộng đồng, bảng thông tin và Blog Từ năm 2007, Seoul đã tập trung vào phân tích một cách hệ thống và sự hệ thống hóa quy trình công việc thông qua các dự

án hệ thống hóa hành chính, không chỉ xây dựng một hệ thống cá nhân cho mỗi lĩnh vực

b Các kết quả chính của lĩnh vực ứng dụng

Thực tế, hầu hết các khu phố của Thành phố Seoul đều đã đuợc thông tin hóa Vì thế, Seoul cần để chuẩn bị các kế hoạch phát triển cho hệ thống thông tin đã được tích hợp thông qua việc phân tích một cách có hệ thống các công việc và hệ thống thông tin hiện có Tích hợp và nâng cao hệ thống cần được hoàn thiện liên tục và được phát triển bằng cách ứng dụng các công nghệ mới

1.3.1.3 Mạng e-Seoul

a Hiện trạng về mạng e-Seoul (e-Seoul Net)

• Từ năm 2003, Seoul đã đưa mạng e- Seoul vào hoạt động Mạng có một thông tin kết nối chặt chẽ với 36 tổ chức phường xã chính với các dây cáp quang dọc theo các đường hầm xe điện

• Mạng e-Seoul tăng sự thuận tiện, hiệu quả chi phí của mạng được tích hợp do đó đóng góp vào tên tuổi của những công dân nổi tiếng

Trang 22

• Hơn thế nữa, có thể chuyển giao thông tin băng rộng và chia sẻ thông tin thực tế thông qua mạng e-Seoul Và e-SNOC quản lý hoạt động thời gian thực tế của cá hệ thống như mạng thông in hành chính, mạng điện thoại hành chính và tự động hóa văn phòng

Hình 1-5: e-Seoul Net

b Hiệu quả của e-Seoul Net

• Truyền các nội dung và các dữ liệu đa truyền thông hành chính chính có dung

Trang 23

Hình 1-6: Sơ đồ e-Seoul Net

c Các kết quả chính của e-Seoul Net

Cơ sở hạ tầng CNTT là điều kiện tiên quyết cho các dự án và dịch vụ thông tin thông suốt Về điểm này, hạ tầng cần được nâng cấp để các dịch vụ thông tin hiện tại

có thể được bổ sung chất lượng tốt trong khi các dịch vụ có thể được cung cấp Cơ sở

hạ tầng CNTT phải được thành lập với sự bảo vệ thông tin và thảm họa đối với các ngành trí tuệ

1.3.1.4 Trung tâm dữ liệu

a Tóm tắt

Trung tâm dữ liệu của Seoul là một hạ tầng chính nơi tất cả các nguồn thông tin liên quan đến CPĐT Seoul đều được quản lý và xử lý tại đây Từ năm 2003, sự tích hợp và sự kết nối mạng của các nguồn thông tin đã bắt đầu trong khi phòng hệ thống máy tính đã mở rộng từ 496m đến 892m Vào 2/2/2004 khi các hệ thống và các nguồn thông tin sử dụng để được quản lý bởi mỗi ban, nơi Trung tâm dữ liệu của Seoul được chuyển đến và bắt đầu được khởi động Ngày nay, nhiều người nước ngoài muốn lấy Seoul làm ví dụ điển hình đã đến thăm trung tâm nơi các server có công suất lớn và hệ thống back-up được đặt toàn bộ tại đây trong khi hệ thống thông tin tiến tiên chạy 24/7

Trang 24

b Tổng quan

Vì mục đích nhận ra tính cạnh tranh của hệ thống CPĐT, Thành phố Seoul đã cung cấp cho công đân nhiều dịch vụ khác nhau và các hệ thống thông tin phát triển trên toàn bộ nền hành chính Tuy nhiên, đã đến lúc Thành phố Seoul tìm kiếm những những điểm chuyển đúng chất lượng nhằm phù hợp với quan điểm và vai trò “ Thành phố thông minh nhất thế giới làm hài lòng tất cả người dân”

Vấn đề lớn nhất là khó khăn để chạy các dịch vụ chính phủ điện tử có chất lượng cao ổn định 24/7 do các nguồn thông tin nằm rải rác ở mỗi sở ban ngành Seoul

đã lao vào xây dựng Trung tâm dữ liệu, nơi các nguồn thông tin được quản lý một cách độc lập có thể được tích hợp với các bộ xử lý công suất lớn và các hệ thống quản

lý tiên tiến Thực tế, Trung tâm dữ liệu của Seoul đã trở thành một diễn đàn cho việc quản lý chuyên nghiệp các nguồn thông qua sự tích hợp các nguồn thông tin đa dạng,

hệ thống quản lý tự động hóa, và một quy trình điều hành tiêu chuẩn (SOP) Trong khi

đó, Seoul đã cần nâng cấp, cách nước này cung câp các dịch vụ cho công dân, những người sử dụng quan tâm cao để thu hút những người sử dụng khác và tăng sự thỏa mãn của công dân Với nỗ lực đáp ứng nhu cầu của công dân, Thành phố Seoul đã khai trương Trung tâm gọi tại Trung tâm dữ liệu để nâng cấp chất lượng hệ thống CPĐT

c Các nội dung chính

(1) Trang bị cơ sở dữ liệu

Thành phố Seoul đã mở rộng phòng hệ thống hiện tới 893m² để chạy ổn định các hệ thống thông tin Phòng hệ thống được mở rộng trong đó sàn và chân là chống nước, có các thiết bị công nghệ cao như bảng điện tử số, máy cameras, hệ thống nhận dạng vân tay, v.v…

(2) Phòng kiểm soát

Trong phòng kiểm soát 50-inch DLPs đã được cài đặt để cho thấy các hệ thống chạy như thế nào, các thiết bị và các hệ thống có thể được điểu khiển quanh đồng hồ Phòng giành cho thính giả được chuẩn bị để khi có một cuộc họp trong trường hợp khẩn cấp

Trang 25

[ Phòng kiểm soát ] [ Phòng giành cho thính giả] [ Họp ]

Hình 1-7: Phòng kiểm soát và Phòng dành cho thính giả

(3)Hệ thống quản lý thông tin được tích hợp

Các hệ thống quản lý thông tin được tích hợp như SMS (Hệ thống quản lý hệ thống), APM (quản lý chỉ số thưc hiện), và FMS (hệ thống quản lý trang thiết bị) chạy trong Trung tâm dữ liệu Seoul Và mỗi hệ thống trên được kết nối với nhau hoàn toàn

(4) Sự tích hợp các nguồn thông tin

132 servers được chuyển tới Trung tâm dữ liệu và được kết nối với nhau để tạo thành

hệ điều hành liên tục

Hình 1-8: Trung tâm dữ liệu

(5) Bộ phận hỗ trợ

Bộ phận hỗ trợ trong Trung tâm dữ liệu đóng vai trò như một cửa sổ độc lập để

tư vấn về các vấn đề liên quan đến các dịch vụ và các hỏng hóc hệ thống (system breakdowns) Thành phố Seoul đã chứng kiến tỉ lệ hài lòng tăng lên nhanh chóng về hệ thống đầy chuyên nghiệp Trung bình khoảng 75 lần tư vấn được ghi lại mỗi ngày

Trang 26

d Các kết quả

Kết quả đạt được do mở Trung tâm dữ liệu Seoul như sau:

Đầu tiên, các hệ thống về chiến lược, cơ sở hạ tầng thông tin đã tăng lên đáng

kể do sự tích hợp hệ thống của các nguồn thông tin và các hệ thống máy tính được tăng lên Thời gian đầu trong các tổ chức công, Thành phố Seoul đã đảm bảo các tài năng nhân sự chuyên nghiệp, những người điều hành hệ thống, đã mở Trung tâm dữ liệu, tự động hóa hệ thống quản lý, phân bổ các nguồn một cách đúng đắn nhất và do

đó đảm bảo bảo mật thông tin Những nỗ lực như vậy đang tạo nên sự chú ý của nhiều người trong và ngoài nước, những người muốn tạo chấm điểm cho những nhiệm vụ đã hoàn thành

Thứ hai, trong dịch vụ, Thành phố Seoul đã nâng cấp chất lượng dịch vụ bằng các hệ thống điều hành xung quanh cái đồng hồ, giảm thiểu tỉ lệ lỗi hệ thống và do đó cung cấp cho công dân các dịch vụ ổn định Sau khi thành lập Trung tâm dữ liệu, tỉ lệ

hệ thống lỗi đã giảm xuống còn 76%

Hệ thống chính phủ nhờ đó cũng giúp các phòng bằng cách thỏa mãn công dân

và các cán bộ Thành phố Seoul có liên quan

Thư ba, trong khía cạnh kinh tế, khi lập Trung tâm dữ liệu, Seoul có thể tiết kiệm được 2.1 tỉ won bằng cách sửa lại các thiết bị sẵn có Hơn thế nữa, do tỉ lệ duy trì

đã tăng lên khoảng 2-3% do hợp đồng suy trì vẫn được tích hợp, ngân sách cho hệ điều hành và hệ duy trì đã giám xuống còn 800 won trong năm 2004 và 300 tỉ won mỗi năm kể từ năm 2005

Thứ tư, về khía cạnh quản lý, mô hình điều hành công nghệ chuyên sâu và có

hệ thống đã được chuẩn bị bằng cách thừa nhận những công nghệ mới nhất như SMS, SOP, và SLA Ngoài ra, việc bảo mật thông tin đã bị thắt chặt thêm trong khi các thiết

bị back-up tích hợp phạm vi rộng lớn nâng cao tính hiệu quả của việc bảo vệ công nghệ thông tin và quản lý nguồn

1.3.2 Chính phủ điện tử của chính quyền các nước khác

Có một xu hướng quốc tế về cải cách mô hình chính phủ Những thay đổi xuất phát từ một mô hình hướng chính phủ, tập trung vào phổ biến thông tin theo một chiều cho một mô hình hướng tới công dân mà tập trung vào liên kết và chia sẻ thông tin nhằm cung cấp một dịch vụ mà chính phủ và công dân tương tác qua lại với nhau

Từ năm 2002, các quốc gia phát triển trong khu vực ASEAN đang tạo ra sự thúc đẩy nhằm xây dựng CPĐT nhằm nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của quốc gia

Trang 27

Hình 1-9: Khuynh hướng về cải cách chính phủ theo nghiên cứu 2002 của Deloitte

Sự thông tin hóa và xu hướng công nghệ

Trải qua môi trường máy tính cá nhân những năm 1980 và môi trường máy khách/máy chủ (client/server) những năm 1990, CNTT gần đây cung cấp môi trường máy tính đồng bộ mạng Gần đây, CNTT đang hướng tới một môi trường tin học rộng khắp

Có những đặc trưng riêng khi nghiên cứu xu hướng thông tin hóa hiện nay

Đầu tiên, sự thông tin hóa tiêu chuẩn toàn cầu Giữa các tổ chức có liên quan đang hình thành một liên kết thực sự thông qua internet Tất cả không gian sẽ được đồng bộ hóa thông qua công nghệ truyền thông không dây/di động Cũng như vậy, các dịch vụ web cá nhân cũng đang được củng cố và các hệ thống đang tăng lên nhằm sử dụng các giải pháp trọn gói

Thứ hai, quy trình thông tin hoàn toàn dựa trên web Dịch vụ thông tin đang được cung cấp như một kiểu đồng bộ hóa không chỉ thông qua giao diện hệ thống 3 Tier C/S

Mô hình chính phủ hiện tại Model Mô hình chính phủ điện tử

Hướng tới chính phủ

Vào, ra Giao tiếp khách hàng không rõ ràng

Trung tâm thông tin

Dựa trên quy trình

Thuộc địa

Hướng tới khách hàng Mối quan hệ lâu dài Dịch vụ khách hàng ngay lập tức Phòng viên thông minh Dựa trên năng lực Dịch vụ được chia sẻ

Các khuynh hướng thay đổi nhanh chóng

Khuynh hướng về Cải cách chính phủ

Mỏng manh, mềm mại Phân quyền Minh bạch

Mô hình sự thay đổi

Direction

Trang 28

chiều, mà còn cả dịch vụ và thông tin của hệ thống phân liệt

Thứ ba, thay đổi cấu trúc công việc để dựa vào sự hiểu biết Thông tin cơ bản, kiến thức và các quy trình đang được hệ thống hóa lại để quản lý dựa trên sự hiểu biết Ngoài ra, chia sẻ văn hóa và môi trường đang được dấy lên để sử dụng Chính sách quản lý này là kết quả của việc phát triển phần mềm nhóm trong ngành CNTT và làm tăng vai trò của CIO/CKO trong tổ chức

Thứ tư, tái cơ cấu tổ chức CNTT Tổ chức điều hành hệ thống hiện tại sẽ thay đổi thành một tổ chức dạng quy trình cho sự hỗ trợ khách hàng và dịch vụ liên quan đến công cộng Đồng thời, các hoạt động đào tạo và giáo dục của hệ thống thông tin liên quan đến công chức sẽ cần phải đầu tư lớn

Tin học trực tuyến

Máy tính tích hợp mạng

Batch

Computing

Máy tính rộng khắp

1960’ 1970’ 1980’ 1990’ 2000’ 2005’ 2010’

Trang 29

CHƯƠNG 2 KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ (SOA) 2.1 Dịch vụ

Một điều quan trọng trong định nghĩa này bao gồm cả 2 hoạt động đó là các

cơ quan hành chính thực hiện đáp trả với các yêu cầu của khách hàng hay chuyển lên văn phòng của nó (như việc cung cấp thông tin mới nhất về các thủ tục pháp lí, vấn đề hộ chiếu…), và các dịch vụ khách hàng cần để thực hiện một lí do nào đó hay một yêu cầu pháp lí khác Mặc dù khách hàng có thể bị bắt buộc thực hiện yêu cầu hoạt động này, tuy nhiên nó lại tạo lên một dịch vụ trong cơ quan hành chính Điều này sẽ rõ ràng hơn nếu chúng ta xem xét rằng mặc dù các cơ quan hành chính

có thể cho khách hàng biết về nghĩa vụ liên quan cụ thể của mình thì những yêu cầu của nó không chỉ đuợc tạo bởi các cơ quan đó mà còn bởi cơ quan lập pháp

Trong chính phủ điện tử, thuật ngữ “dịch vụ” (service) không chỉ nói đến sản phẩm (kết quả) mà còn hoạt động được thưc hiện bởi các nhân viên của cơ quan hành chính Điều này nhấn mạnh quá trình – đặc biệt quan trọng cho CPĐT – cung cấp các dịch vụ Nếu sự khác biệt giữa sự cung cấp và kết quả là có liên quan đối với sự hiểu biết bất kì đoạn văn bản nào, điều này làm rõ ràng hơn trong chính văn bản đó

Định nghĩa dịch vụ:

• Thuật ngữ dịch vụ (theo cảm quan của việc cung cấp dịch vụ) nói đến sự thực thi một hành động bởi các dịch vụ công dành cho khách hàng (và

vì vậy phục vụ cho khách hàng này)

• Thuật ngữ dịch vụ (theo cảm quan của kết quả) là nói đến kết quả của một hành động (sản phẩm) bởi dịch vụ công dành cho khách hàng (và vì vậy phục vụ khách hàng này)

Các định nghĩa trên của dịch vụ không chỉ bao gồm việc đưa ra giao dịch điển hình mà còn cung cấp thông tin (trên Internet) và tiếp thị các sản phẩm của các cơ quan hành chính Vì cả hai đều là dịch vụ và phục vụ một khách hàng Trong

Trang 30

CPĐT, chúng ta không phân biệt các hình thức dịch vụ ví dụ như thuơng mại điện

tử hay dịch vụ điện tử

Các dịch vụ bên trong:

Chúng ta coi khách hàng là một cơ quan hành chính hay nhân viên/đơn vị trực thuộc của cơ quan Khi đó các dịch vụ đựơc cung cấp bên trong nội bộ một cơ quan hành chính Trước (hoặc trong khi) thu thập dữ liệu về các dịch vụ này, mỗi cơ quan phải quyết định cho mình phạm vi các dịch vụ bên trong cần đưa vào xem xét trong việc giới thiệu hệ thống CPĐT Mục tiêu của cơ quan có thể đựợc sử dụng như là tiêu chuẩn làm quyết định Nếu “định hướng khách hàng” chỉ là mục tiêu để đạt được trong CPĐT thì các dịch vụ bên trong chỉ cần được xem như các dịch vụ đuợc cung cấp bên ngoài là phụ thuộc trực tiếp vào chúng Nếu mục tiêu chính là

“hợp lý hoá” thì tập hợp dữ liệu nên được mở rộng với các dịch vụ bên trong

2.2 SOA định nghĩa

Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) cung cấp các phương thức cho việc mở rộng và tích hợp hệ thống bằng cách đóng gói các chức năng như các dịch vụ có thể tác động lẫn nhau Hướng dịch vụ bao gồm các dịch vụ được liên kết lỏng lẻo, dễ dàng

sử dụng lại, có thể tương tác và không phụ thuộc vào kĩ thuật hiện tại SOA cung cấp giải pháp để giải quyết các vấn đề tồn tại của các hệ thống hiện nay như: phức tạp, không linh hoạt và thiếu ổn định Một hệ thống triển khai theo mô hình SOA

có khả năng dễ mở rộng, liên kết tốt Đây chính là cơ sở và nền tảng cho việc tích hợp, tái sử dụng lại những tài nguyên hiện có

Trang 31

Hình 2-1 Mô hình SOA khái quát

Kiến trúc hướng dịch vụ hay được khái quát hóa như trong Hình 2-1: Nhà cung

cấp (Service Provider) dịch vụ cần cung cấp thông tin về dịch vụ của mình cho một Nhà môi giới dịch vụ (Service Broker) để lưu trữ thông tin dịch vụ (một số tài liệu gọi

là Nhà đăng kí dịch vụ - Service Registry) Người sử dụng (Service Consumer) thông qua Nhà môi giới dịch vụ để tìm kiếm thông tin mô tả về dịch vụ cần tìm và sau đó là

xây dựng kênh giao tiếp với phía nhà cung cấp

Các dịch vụ là yếu tố then chốt trong SOA Có thể hiểu dịch vụ như là hàm chức năng (mô-đun phần mềm) thực hiện qui trình nghiệp vụ nào đó Một cách cơ bản, SOA là tập hợp các dịch vụ liên kết lỏng lẻo với nhau (nghĩa là một ứng dụng có thể

“nói chuyện” với một ứng dụng khác mà không cần biết các chi tiết kỹ thuật bên trong), có giao tiếp (dùng để gọi hàm dịch vụ) được định nghĩa rõ ràng và độc lập với nền tảng hệ thống và có thể tái sử dụng SOA là cấp độ cao hơn của phát triển ứng dụng, chú trọng đến qui trình nghiệp vụ và dùng giao tiếp chuẩn để giúp che đi sự phức tạp kỹ thuật bên dưới

Thiết kế SOA tách riêng phần thực hiện dịch vụ (phần mềm) với giao tiếp gọi dịch vụ Điều này tạo nên một giao tiếp nhất quán cho ứng dụng khách (client) sử dụng dịch vụ bất chấp công nghệ thực hiện dịch vụ Thay vì xây dựng các ứng dụng đơn lẻ và đồ sộ, nhà phát triển sẽ xây dựng các dịch vụ tinh gọn có thể triển khai và tái

Trang 32

sử dụng trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ Điều này cho phép tái sử dụng phần mềm tốt hơn, cũng như tăng sự linh hoạt vì nhà phát triển có thể cải tiến dịch vụ mà không làm ảnh hưởng đến ứng dụng client sử dụng dịch vụ

Ưu điểm quan trọng nhất của SOA là khả năng kết nối “mềm dẻo” (nhờ sự chuẩn hóa giao tiếp) và tái sử dụng Các dịch vụ có thể được sử dụng với trình client chạy trên nền tảng bất kỳ và được viết với ngôn ngữ bất kỳ (Ví dụ, ứng dụng Java có thể liên kết với dịch vụ web NET và ngược lại)

SOA dựa trên 2 nguyên tắc thiết kế quan trọng:

Mô-đun: Tách vấn đề lớn thành nhiều vấn đề nhỏ

Đóng gói: Che đi dữ liệu và lô-gic trong từng mô-dun (hay "hộp đen")

đối với truy cập từ ngoài

Dựa vào quá trình giao tiếp SOA có thể chia thành hai loại :

• SOA đơn giản chỉ truyền dữ liệu giữa nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ

• SOA cấp cao gồm hai hoặc nhiều hơn các nhà cung cấp dịch vụ

2.3 Lợi ích của sử dụng SOA

Việc sử dụng SOA có 5 lợi ích chính như sau:

Trang 33

b) Có khả năng tái sử dụng:

Kiến trúc hướng dịch vụ tách biệt các chức năng vào các đơn vị hay các dịch vụ riêng biệt có thể được truy cập qua mạng để người sử dụng có thể kết hợp hoặc tái sử dụng chúng trong các ứng dụng Các dịch vụ đại diện các khối xây dựng sẵn cơ bản kết hợp các thông tin và hành vi, che giấu đi các hoạt động bên trong từ sự xâm nhập

từ bên ngoài, đưa ra một giao diện khá đơn giản Và mục tiêu của SOA là cho phép người sử dụng xâu chuỗi các đoạn chức năng với nhau tạo thành một ứng dụng được xây dựng gần như hoàn toàn từ các dịch vụ phần mềm có sẵn Một dịch vụ có thể được

sử dụng độc lập với hệ thống bởi các dịch vụ khác

Việc tận dụng các kĩ năng phát triển và các dịch vụ phần mềm đã có tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng và giảm chi phí xây dựng và quản lí Triển vọng lớn của SOA đã mở ra rằng các chi phí cho việc tạo ra ứng dụng thứ n là thấp

c) Tính trong suốt

Tính trong suốt là tách biệt giữa yêu cầu dịch vụ của khách hàng với chính dịch vụ

đó Thông qua kĩ thuật đăng kí và phát hiện, SOA cung cấp tính trong suốt vị trí cho phép khách hàng không biết được thành phần hay dịch vụ thực tế được đặt ở đâu Một dịch vụ được đăng kí vào một bản đăng kí chung hoặc riêng như cơ sở dữ liệu, danh mục, hay một file XML Khi một dịch vụ được đăng kí, các thành phần muốn gọi dịch

vụ đó có thể sử dụng bản đăng kí này để xác định và gọi dịch vụ đó

Với các dịch vụ trong suốt vị trí, những người phát triển không cần quan tâm vị trí và chi tiết truy cập dịch vụ trong suốt quá trình phát triển mà chỉ cần tập trung giải quyết vấn đề giao dịch Một ưu điểm khác là không cần gối lên nhau các tiến trình phát triển,

Trang 34

nghĩa là, vấn đề thiết kế được giải quyết trong thời gian thiết kế, vấn đề phát triển được giải quyết trong thời gian phát triển và vấn đề triển khai được giải quyết trong thời gian triển khai

d) Kiến trúc mở làm cho việc mở rộng dễ dàng

Định hướng dịch vụ nhằm mục tiêu tạo liên kết lỏng lẻo của các dịch vụ với các hệ điều hành, các ngôn ngữ lập trình và các công nghệ khác Kiến trúc kết nối lỏng lẻo cho phép dễ dàng tích hợp thành phần những chương trình, tiến trình hay những dịch

vụ phức tạp từ những dịch vụ đơn giản Những sự xác nhận và chứng minh của Người

sử dụng dicvụ về những tính năng bảo mật dựa trên giao tiếp dịch vụ tốt hơn cơ chế kết nối chặt chẽ

e) Dễ hiểu – dễ dàng liên kết giao dịch

Kiến trúc hướng dịch vụ cung cấp cầu nối dữ liệu giữa các công nghệ không tương thích Khả năng hồi đáp thích nghi tốt và nhanh hơn để đáp ứng với sự thay đổi về yêu cầu giao dịch Cho phép dễ dàng triển khai chương trình, môi trường chạy và quản lý dịch vụ dễ dàng hơn

Trang 35

Cần nhấn mạnh là lợi ích mà SOA mang lại không phải là ít mà là rất ấn tượng Thực tế giá trị kinh tế mà SOA mang lại lớn đến nỗi các tập đoàn trên thế giới đang suy xét xem làm thế nào để chuyển toàn bộ các kiến trúc phần mềm có sẵn của họ thành SOA

2.4 Các yêu cầu và nguyên tắc của SOA

2.4.1 Các yêu cầu của SOA:

Để sử dụng SOA hiệu quả, đòi hỏi các yêu cầu sau:

• Thao tác giữa các hệ thống và các ngôn ngữ lập trình khác nhau cung cấp cơ sở cho việc tích hợp giữa các ứng dụng trên những nền tảng khác nhau thông qua một giao thức giao tiếp Một ví dụ về giao tiếp như vậy dựa trên khái niệm về thông điệp Bằng cách sử dụng các thông điệp trên các kênh thông điệp đã được xác định làm giảm độ phức tạp của các ứng dụng cuối cùng, do đó cho phép các nhà phát triển ứng dụng tập trung vào đúng chức năng ứng dụng thay vì nhu cầu rắc rối của một giao thức giao tiếp mới

• Tạo ra một liên kết tài nguyên Thiết lập và duy trì luồng dữ liệu vào một kho tài nguyên liên kết Điều này cho phép chức năng mới được phát triển để tham chiếu tới một định dạng chung cho mỗi thành phần dữ liệu

Trang 36

2.4.2 Các nguyên tắc trong SOA:

2.4.2.1 Nguyên tắc phân định rạch ròi giữa các dịch vụ:

Các dịch vụ thực hiện quá trình tương tác chủ yếu thông qua thành phần giao tiếp Thành phần giao tiếp này sẽ qui định về những định dạng thông điệp sử dụng trong quá trình trao đổi: thông điệp nào sẽ được chấp nhận và thông điệp nào sẽ không được xử lý Và đây chính là cách duy nhất để các đối tượng bên ngoài có thể truy cập thông tin và chức năng của dịch vụ Ta chỉ cần gửi các thông điệp theo các định dạng

đã được định nghĩa trước mà không cần phải quan tâm đến cách xử lý của dịch vụ như thế nào (môi trường thực thi, ngôn ngữ lập trình ) Điều này đạt được do sự tách biệt giữa thành phần giao tiếp và thành phần xử lý trong kiến trúc của dịch vụ

2.4.2.2 Nguyên tắc chủ động:

Các dịch vụ cần phải được triển khai và hoạt động như những thực thể độc lập

mà không lệ thuộc vào một dịch vụ khác Dịch vụ phải có tính bền vững cao, nghĩa là

nó sẽ không bị sụp đổ khi có sự cố Để thực hiện điều này, dịch vụ cần duy trì đầy đủ thông tin cần thiết cho quá trình hoạt động của mình để có thể tiếp tục hoạt động trong trường hợp một dịch vụ cộng tác bị hỏng; và để tránh các cuộc tấn công từ bên ngoài (như gửi thông điệp lỗi, hay gửi thông điệp ồ ạt) bằng cách sử dụng các kỹ thuật về an toàn, bảo mật

2.4.2.3 Nguyên tắc chia sẻ:

Các dịch vụ nên cung cấp thành phần giao tiếp của nó (interface) ra bên ngoài,

và hỗ trợ chia sẻ các cấu trúc thông tin, các ràng buộc dữ liệu thông qua các lược đồ

dữ liệu (schema) chuẩn (độc lập ngôn ngữ, độc lập hệ nền) Như thế hệ thống sẽ có tính liên kết và khả năng dễ mở rộng

2.4.2.4 Nguyên tắc tương thích dựa trên chính sách:

Điều này nghĩa là, một dịch vụ khi muốn tương tác với một dịch vụ khác thì phải thỏa mãn các chính sách (policiy) và yêu cầu (requirements) của dịch vụ đó như là mã hóa, bảo mật Để thực hiện điều này, mỗi dịch vụ cần phải cung cấp công khai các yêu cầu, chính sách đó

Ngày đăng: 27/02/2021, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w