Người dùng có nhu cầu: nắm rõ thông tin các dịch vụ mà bản thân hiện tại đang sử dụng để có thể tự kiểm soát được quá trình tiêu dùng của bản thân, thao tác chức năng mà các dịch vụ cung
Trang 1VÀ QUẢN LÝ CÁC DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu và tìm hiểu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Hương Giang Các nội dung, kết quả là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ học vị nào Các nguồn thông tin, tài liệu được liệt kê chi tiết trong danh mục tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất
kỳ sự gian lận nào trong luận văn, cá nhân tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Vũ Thành Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình từ giáo viên hướng dẫn, đồng nghiệp và sự quan tâm động viên của gia đình, bạn bè Với sự giúp đỡ quý báu đó, cộng với cố gắng của bản thân, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn của tôi, TS Vũ Thị Hương Giang Sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của cô đã giúp tôi nhận ra sai sót, tìm được hướng đi đúng và hoàn thành luận văn tốt hơn
Bản luận văn này sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, do thời gian nghiên cứu hạn hẹp và kiến thức còn hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC VIẾT TẮT 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do lựa chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 10
4 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG, MỤC TIÊU VÀ NỀN TẢNG LÝ THUYẾT 13
1.1 Thực trạng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam 13 1.2 Các vấn đề cần khắc phục 17
1.3 Mục tiêu và định hướng 18
1.4 Cơ sở lý thuyết 19
1.4.1 Dịch vụ, giá trị gia tăng và dịch vụ giá trị gia tăng 19
1.4.2 Kiến trúc hướng dịch vụ 22
1.4.3 Dịch vụ web 25
CHƯƠNG 2 TỔNG THỂ GIẢI PHÁP, MÔ HÌNH TÍCH HỢP VÀ LUỒNG XỬ LÝ 28
2.1 Tổng thể giải pháp 28
2.2 Mô hình tích hợp 30
2.3 Luồng xử lý nghiệp vụ 32
2.3.1 Luồng nghiệp vụ tra cứu 33
Trang 62.3.2 Luồng nghiệp vụ đăng ký 34
2.3.3 Luồng nghiệp vụ hủy 35
2.4 Nhận xét giải pháp 36
CHƯƠNG 3 CÀI ĐẶT, THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ ỨNG DỤNG 37
3.1 Cài đặt 37
3.1.1 Mô tả dịch vụ web của hệ thống quản lý 37
3.1.2 Mô tả các bảng cơ sở dữ liệu 39
3.1.3 Mô tả thành phần tin nhắn 44
3.1.4 Mô tả thành phần hỗ trợ 45
3.1.5 Mô tả thành phần chuyển đổi 46
3.1.6 Mô tả thành phần điều khiển 48
3.1.7 Mô tả thành phần dịch vụ web 48
3.1.8 Mô tả thành phần tra cứu – đăng ký – hủy 49
3.2 Thử nghiệm 51
3.2.1 Môi trường thử nghiệm 51
3.2.2 Kịch bản thử nghiệm 52
3.2.3 Dữ liệu thử nghiệm 52
3.2.4 Một số hình ảnh thử nghiệm hệ thống 53
3.2.5 Đăng ký một dịch vụ 54
3.2.6 Đăng ký một nhóm dịch vụ 56
3.2.7 Tra cứu dịch vụ đang sử dụng 58
3.2.8 Hủy một dịch vụ 60
3.2.9 Hủy một nhóm dịch vụ 62
3.2.10 Hủy tất cả dịch vụ đang sử dụng 64
3.2.11 Các trường hợp khác 66
Trang 73.3 Đánh giá thử nghiệm 67
KẾT LUẬN 68
1 Kết quả đạt được 68
2 Vấn đề còn tồn tại 68
3 Định hướng phát triển đề tài 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Chỉ tiêu kinh doanh của các đơn vị viễn thông 14
Hình 2: Mô hình tổng quan của kiến trúc hướng dịch vụ 23
Hình 3: Các phân tầng của kiến trúc hướng dịch vụ 24
Hình 4: Mô hình tổng quan của dịch vụ web 26
Hình 5: Các phân tầng của dịch vụ web 26
Hình 6: Tổng thể giải pháp 28
Hình 7: Logic nghiệp vụ tích hợp 30
Hình 8: Mô hình tích hợp dịch vụ giá trị gia tăng áp dụng SOA 30
Hình 9: Luồng nghiệp vụ tra cứu 33
Hình 10: Luồng nghiệp vụ đăng ký 34
Hình 11: Luồng nghiệp vụ hủy 35
Hình 12: Sơ đồ tổ chức dữ liệu của giải pháp 49
Hình 13: Các bảng phục vụ tra cứu 50
Hình 14: Các bảng dữ liệu phục vụ đăng ký – hủy 51
Hình 15: Hình ảnh thử nghiệm hệ thống trên công cụ Netbean 53
Hình 16: Hình ảnh thử nghiệm hệ thống trên trình duyệt 53
Hình 17: Hình ảnh thử nghiệm hệ thống trên công cụ SoapUI 54
Hình 18: Hình ảnh thử nghiệm đăng ký một dịch vụ 56
Hình 19: Hình ảnh thử nghiệm đăng ký một nhóm dịch vụ 58
Hình 20: Hình ảnh thử nghiệm tra cứu dịch vụ đang sử dụng 60
Hình 21: Hình ảnh thử nghiệm hủy một dịch vụ 62
Hình 22: Hình ảnh thử nghiệm hủy một nhóm dịch vụ 64
Hình 23: Hình ảnh thử nghiệm hủy tất cả dịch vụ 66
Hình 24: Hình ảnh thử nghiệm sai cú pháp 67
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Một số dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu 14
Bảng 2: Ánh xạ sơ đồ tổng thể giải pháp theo chồng giải pháp SOA 32
Bảng 3: Ký hiệu thay thế của thành phần chuyển đổi 47
Bảng 4: Danh sách cú pháp tin nhắn 48
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
HTTP Hypertext Transfer Protocol Giao thức truyền tải siêu
văn bản JSON JavaScript Object Noattion Ký hiệu đối tượng kịch bản
ngôn ngữ java SOAP Simple Object Access Protocol Giao thức truy cập đơn
giản
WSDL Web Services Description Language Ngôn ngữ mô tả dịch vụ
web XML Extensible Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu mở
rộng
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ của lĩnh vực công nghệ viễn thông, điện thoại di động đã trở thành một vật dụng phổ biến đối với con người trong cuộc sống Đi kèm với sự phổ biến này là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các dịch
vụ giá trị gia tăng, là thuật ngữ sử dụng trong lĩnh vực viễn thông đối với người dùng di động, dùng để chỉ các dịch vụ cung cấp cho người dùng những tính năng đặc thù ngoài nghe – gọi Các dịch vụ này được cung cấp bởi chính nhà mạng hoặc đơn vị cung cấp thứ ba, ví dụ như: dịch vụ cuộc gọi lỡ Mca, dịch vụ nhạc chờ Imuzik, …
Tuy nhiên, bên cạnh các tiện ích mang lại thì bản thân các dịch vụ giá trị gia tăng cũng tồn tại những bất tiện cho cả người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý nhà mạng Đó có thể là người dùng thao tác hủy dịch vụ không được, nhà mạng không
hỗ trợ thuê bao ngoài, … Những bất tiện này là nguyên nhân mà nhu cầu của người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý nhà mạng được đưa ra
Người dùng có nhu cầu: nắm rõ thông tin các dịch vụ mà bản thân hiện tại đang sử dụng để có thể tự kiểm soát được quá trình tiêu dùng của bản thân, thao tác chức năng mà các dịch vụ cung cấp trở nên đơn giản và dễ sử dụng để không bị thụ động khi sử dụng, có một cơ sở tương quan nào đó để có thể so sánh chất lượng các dịch vụ cung cấp tiện ích tương đương từ các nhà mạng khác nhau để lựa chọn tùy theo nhu cầu cá nhân, …
Nhà mạng có nhu cầu: nâng cao khả năng kiểm soát thông tin các dịch vụ trong nội bộ nhà mạng do các dịch vụ bị quản lý theo từng đơn vị con, mở rộng phạm vi hỗ trợ người dùng trên thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh với các nhà mạng khác,
Đơn vị quản lý nhà mạng có nhu cầu: tăng khả năng giám soát hoạt động kinh doanh của các nhà mạng để có thể kịp thời xử lý và ngăn chặn ngay khi có sai phạm, nâng cao khả năng kiểm soát thông tin các dịch vụ từ các nhà mạng để nắm
rõ hoạt động thị trường và đưa ra phương hướng điều chỉnh hợp lý,
Dễ dàng nhận thấy những nhu cầu trên là vô cùng cấp thiết với người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý nhà mạng Nhưng thực tế thì các nhu cầu này rất khó có
Trang 12thể đáp ứng được đồng thời Không có giải pháp hoàn hảo nào có thể đồng thời đáp ứng toàn bộ các nhu cầu của cả 03 đối tượng: người dùng, nhà mạng và đơn vị quản
lý nhà mạng
Sau khi thực hiện nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả nhận thấy kiến trúc hướng dịch vụ là một giải pháp tiềm năng có thể đáp ứng phần nào nhu cầu của người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý trong thực tế Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Kiến trúc hướng dịch vụ và quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng” để thực hiện luận văn
đề xuất sẽ được gọi là hệ thống quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng
Các nhiệm vụ cụ thể được xác định như sau:
- Tìm hiểu về thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và đưa ra các vấn đề bất cập
- Tìm hiểu kiến thức liên quan tới các dịch vụ giá trị gia tăng, bao gồm khái niệm và đặc điểm
- Tìm hiểu kiến thức về kiến trúc hướng dịch vụ và dịch vụ web: bao gồm kiến trúc, thành phần, đặc điểm và nguyên tắc
- Đề xuất mô hình tích hợp các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông dựa trên việc tích hợp các dịch vụ web
- Xây dựng ứng dụng thử nghiệm mô hình tích hợp đã đề xuất
- Thử nghiệm dưới dạng một ứng dụng độc lập và đánh giá kết quả thử nghiệm để đảm bảo tính đúng đắn của giải pháp
Về mặt chức năng thì hệ thống quản lý sẽ đáp ứng:
- Người dùng có thể tra cứu – đăng ký – hủy trực tiếp qua hệ thống quản lý tập trung
Trang 13- Các nhà mạng có thể phối hợp và hỗ trợ được người dùng bất kỳ nhắn tin lên hệ thống
- Đơn vị quản lý các nhà mạng có kiểm soát được thông tin các dịch vụ giá trị gia tăng từ những nhà mạng khác nhau
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, tác giả khoanh vùng phạm vi nghiên cứu
là các dịch vụ giá trị gia tăng của 03 nhà mạng chiếm thị phần lớn nhất tại Việt Nam, gồm có: Viettel, Vinaphone và Mobifone
Tương ứng với phạm vi nghiên cứu trên thì đối tượng mà tác giả tập trung nghiên cứu là các thao tác chức năng mà dịch vụ cung cấp cho người dùng, gồm có: tra cứu, đăng ký và hủy
Phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng là bắt đầu bằng việc tìm hiểu thực trạng và lý thuyết, từ đó đưa ra các vấn đề cần giải quyết, xây dựng giải pháp giải quyết vấn đề, cuối cùng là thực nghiệm
Trong khuôn khổ luận văn này, để thuận tiện cho việc theo dõi, tác giả sẽ đề cập tới các dịch vụ giá trị gia tăng đại diện là Imuzik, Isign và Mca (các nhà mạng đều cung cấp các dịch vụ có tiện ích tương đương)
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1 – Thực trạng, mục tiêu và nền tảng lý thuyết: Tác giả trình
bày về thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông đối với người dùng di động tại Việt Nam và đưa ra các vấn đề bất cập còn tồn tại cần khắc phục Tác giả trong chương này cũng đặt ra các mục tiêu chi tiết mà đề tài luận văn cần đạt được và xác định ra định hướng giải pháp để thực hiện được mục tiêu đó Cuối chương sẽ là các cơ sở lý thuyết được sử dụng làm nền tảng để tác giả thực hiện luận văn
- Chương 2 – Tổng thể giải pháp, mô hình tích hợp và luồng xử lý: Tác
giả đề xuất giải pháp có tính khả thi cao nhằm giải quyết các vấn đề bất cập dựa trên các nền tảng đã đưa ra trong chương trước Các mô hình tích hợp, thành phần giải pháp, luồng xử lý, … sẽ được trình bày chi tiết trong
Trang 14chương này Cuối chương sẽ là phần tự đánh giá của tác giả về giải pháp được đưa ra
- Chương 3 – Cài đặt, thử nghiệm và đánh giá ứng dụng: Tác giả trình
bày chi tiết về quá trình cài đặt và xây dựng ứng dụng thử nghiệm cho giải pháp Thông tin về quá trình thử nghiệm các chức năng của ứng dụng trong môi trường giả lập sẽ được liệt kê chi tiết theo dữ liệu đầu và dữ liệu cuối Cuối chương sẽ là phần tự đánh giá của tác giả về ứng dụng thử nghiệm trong môi trường giả lập
Trang 15CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG, MỤC TIÊU VÀ NỀN TẢNG LÝ THUYẾT
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày chi tiết về các vấn đề sau:
- Trình bày thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn trông đối với người dùng di động tại Việt Nam
- Đưa ra các vấn đề bất cập còn tồn tại trong thực tế của 03 đối tượng: người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý các nhà mạng
- Xác định chi tiết mục tiêu và định hướng của luận văn
- Cơ sở lý thuyết: Các kiến thức liên quan tới dịch vụ - giá trị gia tăng - dịch vụ giá trị gia tăng, kiến trúc hướng dịch vụ và dịch vụ web
1.1 Thực trạng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam
Ngày nay, dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động đã không còn xa lạ đối với người dùng Cùng với sự bùng nổ của các loại điện thoại thông minh, các dịch vụ giá trị gia tăng này càng trở nên đa dạng và phong phú, để người dùng có thể tự do chọn lựa và sử dụng Hầu như hiện nay, bất cứ ai sử dụng điện thoại di động đều sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ giá trị gia tăng như dịch vụ cuộc gọi lỡ, dịch vụ nhạc chuông, …
Nhận thấy tiềm năng của dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực kinh doanh, các nhà mạng đưa ra rất nhiều dịch vụ giá trị gia tăng có những tính năng và tiện ích thú vị để thu hút người dùng di động, ví dụ một số dịch vụ tiêu biểu như: dịch vụ chữ ký cuộc gọi, dịch vụ nhạc chờ, … Tính đến hiện tại thì các nhà mạng đang hoạt động tại Việt Nam gồm có: Viettel, Vinaphone, Mobifone, Vietnamobile và Gmobile Riêng về số lượng các dịch vụ giá trị gia tăng đang hoạt động tại Việt Nam thì hiện nay vẫn chưa có một đơn vị nào đưa ra được con số thống kê chuẩn xác
Dưới đây là danh sách một số dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu mà 03 nhà mạng chiếm thị phần lớn nhất tại Việt Nam là Viettel, Vinaphone và Mobifone đưa ra: [4]
NHÀ MẠNG
DỊCH VỤ
Trang 16CHỮ KÝ CUỘC GỌI ISIGN VSIGN MSTATUS
BLOCKING
CALL BARRING
Bảng 1: Một số dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu Theo các chuyên gia viễn thông thì hiện nay dịch vụ giá trị gia tăng đang đóng góp xấp xỉ khoảng 40-50% doanh thu của các nhà mạng Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của loại hình dịch vụ này trong lĩnh vực viễn thông, và các nhà mạng khó có thể sống được mà không có các dịch vụ giá trị gia tăng Sau đây là các chỉ tiêu kinh doanh năm 2016 của 03 nhà mạng lớn: Viettel, Vinaphone và Mobifone [6]
Không thể phủ nhận lợi ích mà các dịch vụ giá trị gia tăng trên đem lại cho người dùng, nhưng cái gì cũng có hai mặt lợi và hại Bên cạnh những tiện ích là một
số bất tiện còn tồn tại, cụ thể:
Về phía người dùng:
Trang 17 Các nhà mạng không cung cấp đẩy đủ thông tin về dịch vụ giá trị gia tăng trên thuê bao cho người dùng khi mua hoặc chuyển đổi gói cước Khi người dùng thực hiện mua thuê bao trả trước hoặc đăng ký thuê bao trả sau thì đều không được cung cấp các thông tin liên quan đến dịch vụ giá trị gia tăng như: Thuê bao đã được kích hoạt dịch vụ nào chưa? Nếu có, đó là những dịch vụ giá trị gia tăng nào? Kích hoạt theo kiểu chính thức hay dùng thử? …
Các nhà mạng tự động đăng ký các dịch vụ giá trị gia tăng theo kiểu miễn phí lần đầu cho người dùng, có gửi thông báo yêu cầu người dùng phải hủy trước khi chương trình dùng thử kết thúc, nếu không sẽ tự động bị trừ cước gia hạn Thực tế là có rất nhiều trường hợp người dùng đã thực hiện khiếu nại lên tổng đài các nhà mạng để yêu cầu giải thích và đòi bồi thường
Các nhà mạng không thông báo cho người dùng khi người dùng thực hiện đăng ký sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng Tất nhiên là
có thể do người dùng vô tình kích hoạt các dịch vụ giá trị gia tăng, nhưng thực tế, đây là trường hợp thiếu minh bạch thông tin của nhà mạng khiến cho người dùng bị móc túi nhiều nhất
Các thao tác chức năng đăng ký – hủy của dịch vụ gây khó khăn cho người dùng vì phải nhớ các thông tin đầu số, cú pháp để thực hiện Các thông tin này thường có nội dung na ná như nhau nên rất
dễ khiến người dùng nhầm lẫn và thực hiện thao tác chức năng sai Trường hợp hay gặp nhất là người dùng muốn hủy dịch vụ do thấy chán nhưng không thể hủy được vì không nhớ nổi cú pháp hủy của dịch vụ
Về phía nhà mạng:
Nhà mạng không kiểm soát được số lượng và thông tin chi tiết của các dịch vụ đang hoạt động trên thị trường Do không có sự tập trung thông tin về một chỗ nên nhà mạng không thống kê được con số chính xác về các dịch vụ giá trị gia tăng thuộc đơn vị mình quản lý Các thông tin chi tiết của dịch vụ do nhiều đơn vị nhỏ
Trang 18riêng biệt trong nhà mạng đứng ra quản lý chứ không có sự tập trung, nên thông tin đưa ra cho người dùng cũng còn hạn chế
Nhà mạng không có sự quy hoạch dịch vụ nên người dùng thường gặp khó khăn trong việc tìm ra dịch vụ phù hợp với nhu cầu của bản thân, ví dụ như nhóm tiện ích đa phương tiện hay nhóm tiện ích data, thể loại dịch vụ chính thức hay dịch vụ dùng thử, … Tất
cả được nhà mạng quy hết thành một nhóm hỗn độn, được gọi là dịch vụ giá trị gia tăng, và người dùng thường ngập chìm trong ma trận dịch vụ này
Uy tín của nhà mạng sụt giảm trong mắt người dùng do các dịch
vụ đôi khi không có sự hợp lý trong kịch bản kinh doanh, ví dụ như việc tự động thực hiện đăng ký dịch vụ cho người dùng, không hề tính đến trường hợp rất phổ biến là người dùng không hề
có nhu cầu Nếu người dùng có nhu cầu thì họ đã tự đăng ký sử dụng từ lâu rồi, chứ không cần phải đợi nhà mạng tự động kích hoạt dịch vụ
Số lượng khiếu nại dịch vụ mà nhà mạng nhận từ người dùng là không hề nhỏ, do thông tin mà nhà mạng cung cấp cho người dùng không đầy đủ và thiếu hợp lý Thông tin dịch vụ thường được chuyển tới người dùng qua tin nhắn, nhưng do giới hạn ký tự nên thông tin thiếu hụt rất nhiều Các khiếu nại như trừ tiền dịch vụ không rõ ràng, người dùng muốn hủy mà hủy mãi không thành công, … là chuyện thường xảy ra
Nhà mạng mới chỉ đưa ra kênh tra cứu tập trung (không có thao tác chức năng đăng ký – hủy) cho riêng các thuê bao thuộc bản thân chứ không hỗ trợ được thuê bao bất kỳ do thiếu sự phối hợp chia sẻ thông tin lẫn nhau: Vinaphone thì nhắn TK gửi 123, Mobiphone thì nhắn KT gửi 994, Viettel thì nhắn TC gửi 1228, …
Về phía đơn vị quản lý nhà mạng:
Nhà quản lý không thể kiểm soát được số lượng và thông tin chi tiết các dịch vụ giá trị gia tăng đang hoạt động của từng nhà mạng
Trang 19Từng nhà mạng còn không kiểm soát được nội bộ thì tất nhiên nhà quản lý cũng không thể kiểm soát các nhà mạng được
Nhà quản lý không thể giám sát việc kinh doanh các dịch vụ của từng nhà mạng, trừ khi thực hiện thanh tra rà soát kịch bản kinh doanh của dịch vụ Rất nhiều nhà mạng bị phạt do vi phạm chính sách kinh doanh dịch vụ, nhưng tình hình cũng không cải thiện được bao nhiêu, người dùng vẫn là bên chịu thiệt
Nhà quản lý không thể trợ giúp được người dùng vì không có công
cụ hỗ trợ kiểm soát dịch vụ hay giám sát nhà mạng dưới quyền Nếu hỏi về thông tin một dịch vụ nào đó, ví dụ như dịch vụ cuộc gọi lỡ, dịch vụ nhạc chờ, … thì nhà quản lý cũng không thể đưa ra câu trả lời
và dễ nhầm lẫn do thiếu sự tập trung thông tin
- Trên quan điểm từng nhà mạng: Nhà mạng chỉ biết các thông tin của người dùng sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng thuộc nhà mạng đó, không biết các thông tin của người dùng sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng thuộc nhà mạng khác Có thể hiểu là các nhà mạng không có sự phối hợp chia sẻ thông tin để hỗ trợ người dùng sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng từ nhà mạng bất kỳ
- Trên quan điểm của đơn vị quản lý nhiều nhà mạng: Đơn vị chịu trách nhiệm quản lý các nhà mạng tại Việt Nam là Bộ Thông tin và Truyền thông, và tính đến nay, đơn vị này vẫn chưa giải quyết được vấn đề trong khâu kiểm soát đối với các dịch vụ giá trị gia tăng Rõ ràng là không hề
có một hệ thống quản lý tập trung nào được đưa ra để Bộ Thông tin và
Trang 20Truyền thông có thể kiểm soát được tất cả các dịch vụ giá trị gia tăng của toàn bộ các nhà mạng đang hoạt động tại Việt Nam
Tóm lại, nhu cầu cơ bản là cần có một hệ thống quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng làm kênh thông tin tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
đề xuất sẽ được gọi là hệ thống quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng
Các nhiệm vụ cụ thể được xác định như sau:
- Tìm hiểu về thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam và đưa ra các vấn đề bất cập
- Tìm hiểu kiến thức liên quan tới các dịch vụ giá trị gia tăng, bao gồm khái niệm và đặc điểm
- Tìm hiểu kiến thức về kiến trúc hướng dịch vụ và dịch vụ web: bao gồm kiến trúc, thành phần, đặc điểm và nguyên tắc
- Đề xuất mô hình tích hợp các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông dựa trên việc tích hợp các dịch vụ web
- Xây dựng ứng dụng thử nghiệm mô hình tích hợp đã đề xuất
- Thử nghiệm dưới dạng một ứng dụng độc lập và đánh giá kết quả thử nghiệm để đảm bảo tính đúng đắn của giải pháp
Trang 21Về mặt chức năng thì hệ thống quản lý sẽ phải đáp ứng:
- Người dùng có thể tra cứu – đăng ký – hủy trực tiếp qua hệ thống quản lý tập trung
- Các nhà mạng có thể phối hợp và hỗ trợ được người dùng bất kỳ nhắn tin lên hệ thống
- Đơn vị quản lý các nhà mạng có kiểm soát được thông tin các dịch vụ giá trị gia tăng từ những nhà mạng khác nhau
1.4 Cơ sở lý thuyết
1.4.1 Dịch vụ, giá trị gia tăng và dịch vụ giá trị gia tăng
Dịch vụ là gì? Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau, nhưng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chúng ta thường sử dụng cách định nghĩa đơn giản như sau: Dịch vụ là một tập các chương trình con hoặc thư viện, cho phép các chương trình chạy trên các máy tính khác trong mạng kết nối có thể triệu gọi và sử dụng [2]
Cũng có thể hiểu đơn giản rằng dịch vụ như là các hàm chức năng hoặc mô đun phần mềm thực hiện theo một quy trình nghiệp vụ nào đó Ví dụ: dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ thẩm mỹ, …
Dich vụ có 05 đặc điểm quan trọng, chi tiết như sau: [7]
- Tính vô hình: Các dịnh vụ đều vô hình và không thể nhìn thấy giống như các sản phẩm vật chất khác Người mua không thể hiểu được dịch vụ đó thế nào trước khi sử dụng chúng Do đó, để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, giá cả, … mà họ có thể nhìn thấy
- Tính không chia cắt được: Không giống các sản phẩm vật chất có thể chia tách riêng biệt thành quá trình cung cấp và quá trình tiêu dùng, các dịch
vụ có đặc điểm là hai quá trình này diễn ra đồng thời Tại một thời điểm, người dùng chỉ có thể sử dụng dịch vụ nếu nhà cung cấp có thể đáp ứng được nhu cầu người dùng vào thời điểm đó
- Tính không ổn định: Người ta thường kiểm tra chất lượng của dịch vụ theo một tiêu chuẩn thống nhất nào đó Chất lượng của dịch vụ sẽ phụ
Trang 22thuộc vào hoàn cảnh của phía cung cấp dịch vụ (thời gian, địa điểm, …) nên thông thường các dịch vụ không có sự đồng đều về chất lượng Dịch
vụ càng có nhiều người sử dụng thì tính không ổn định về chất lượng càng tăng
- Tính không dự trữ được: Dịch vụ không thể lưu kho giống như các hàng hóa vật chất mà chỉ tồn tại trong thời gian mà nó được cung cấp cho người dùng Do đó, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để lưu kho dự trữ, sau đó chờ đến khi thị trường có nhu cầu mới đem ra bán
- Tính không chuyển nhượng quyền sở hữu: Dịch vụ không thay đổi quyền
sở hữu khi thực hiện mua bán giống như hàng hóa vật chất Hàng hóa sau khi mua bán thì quyền sở hữu thuộc về người mua, nhưng dịch vụ sau khi mua bán thì quyền sở hữu vẫn thuộc về phía nhà cung cấp
Giá trị gia tăng là gì? Giá trị gia tăng là thuật ngữ dùng để chỉ việc cung cấp thêm các giá trị phụ trội ngoài các giá trị cốt lõi của một thứ gì đó, ví dụ như quần
áo có giá trị cốt lõi là khả năng bảo vệ cơ thể trước môi trường và giá trị gia tăng là khả năng làm đẹp Tương tự, đối với điện thoại di động, giá trị cốt lõi là tính năng nghe - gọi và các tính năng khác như gửi - nhận tin nhắn, nhạc chờ, nhạc chuông, …
là những giá trị gia tăng [10][11]
Dịch vụ giá trị gia tăng là gì? Dịch vụ giá trị gia tăng là thuật ngữ dùng để chỉ các dịch vụ cung cấp giá trị gia tăng đặc thù nào đó bên ngoài giá trị cốt lõi Trong lĩnh vực viễn thông, đối với người dùng di động, thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến để chỉ các dịch vụ cung cấp những tính năng đặc thù ngoài tính năng nghe - gọi Các tiện ích về tin nhắn, data, … đều được xếp vào nhóm các tiện ích gia tăng đối với người dùng di động Các dịch vụ nhạc chờ, nhạc chuông, cuộc gọi
lỡ, … tương ứng sẽ được coi là các dịch vụ giá trị gia tăng [10][11]
Tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, dịch vụ giá trị gia tăng được hiểu thông dụng là các dịch vụ được cung cấp cho người sử dụng điện thoại di động bởi chính nhà mạng hoặc đơn vị cung cấp thứ ba Các đơn vị cung cấp này thường được gọi là nhà cung cấp nội dung hoặc nhà cung cấp dịch vụ
Về cơ bản, các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông thường được xây dựng qua 04 bước cơ bản như sau: [8]
Trang 23- Lên ý tưởng cho dịch vụ: Sau khi khảo sát các nhu cầu của thi ̣ trường, nhà phát hành sẽ tổng hợp để đề ra mô ̣t ý tưởng cu ̣ thể cho viê ̣c kinh doanh sắp tới Có thể lấy những ý tưởng cũ của các nhà cung cấp khác, hoă ̣c làm mô ̣t di ̣ch vu ̣ hoàn toàn mới Viê ̣c nắm bắt được tâm lý người dùng là rất quan tro ̣ng bởi nhà phát hành sẽ không thể thành công nếu không có người dùng nào quan tâm tới di ̣ch vu ̣ mà họ đang làm
- Xây dựng kịch bản dịch vụ: Dựa trên các phác thảo ban đầu, nhà phát hành phải đưa ra một kịch bản kinh doanh hoàn chỉnh cho dịch vụ Các thông tin chi tiết như cú pháp, luồng nghiệp vụ, … đều phải liệt kê đầy đủ trong kịch bản này Kịch bản tốt là điều kiện tiên quyết để xác định sự thành công của dịch vụ, và đây là thứ cốt lõi không thể thiếu đối với mỗi dịch vụ giá trị gia tăng
- Thử nghiệm dịch vụ: Là công đoạn cuối cùng trước khi dịch vụ được đưa vào vận hành Các chi tiết nhu nội dung tin nhắn trả về, cú pháp gửi lên,
… được điều chỉnh kỹ lưỡng bởi nhà phát hành Công đoạn này giúp giảm thiểu sai sót đến mức thấp nhất để sẵn sàng tung ra thị trường một dịch vụ
- Quản lý và vận hành: Nhà phát hành phải có một đội ngũ thực hiện công tác quản lý và vận hành sau khi dịch vụ được tung ra thị trường Các khiếu nại của người dùng phải được giải quyết nhanh chóng và nếu có những trục trặc kỹ thuật thì phải khắc phục kịp thời Bên cạnh đó việc kiểm soát lượng người dùng, quảng bá truyền thông dịch vụ, … cũng góp phần đảm bảo doanh thu cho dịch vụ của nhà phát hành
Hiện nay, ngành viễn thông đang có xu hướng phát triển theo hướng tích hợp nhiều dịch vụ giá trị gia tăng và nhiều nhà cung cấp Tuy nhiên, nền tảng của các dịch vụ này là khác biệt, do đó, các nhà cung cấp có xu hướng là sẽ phát hành các dịch vụ ra thị trường, nhưng nội dung của dịch vụ đó sẽ do bên thứ ba cung cấp Xu hướng này có thể hiểu là nhà phát hành tham gia vào quá trình phân phối dịch vụ nhưng không tham gia vào quá trình kiểm soát và phân phối nội dung Khi ấy, các nhà cung cấp dịch vụ có thể nhận thức được nội dung các gói tin, nhưng không chịu
Trang 24trách nhiệm về mặt kiểm soát bản quyền, quyền sử dụng hoặc phân phối lại nội dung Skype, Viber, WhatsApp, … là ví dụ nổi bật cho xu hướng dịch vụ này [13]
1.4.2 Kiến trúc hướng dịch vụ
Kiến trúc hướng dịch vụ là gì? Kiến trúc hướng dịch vụ là một kiểu kiến trúc phần mềm gồm nhiều thành phần độc lập được thể hiện thành những dịch vụ con, mỗi dịch vụ con thực hiện quy trình nghiệp vụ nào đó của hệ thống Các thành phần được kết nối qua các cổng giao tiếp, có tính kế thừa các thành phần đã tồn tại và sự tương tác giữa chúng không cần quan tâm đến việc chúng được phát triển trên nền tảng công nghệ nào [5]
Hiểu theo cách đơn giản thì kiến trúc hướng dịch vụ là tập hợp các dịch vụ kết nối mềm dẻo với nhau, có giao tiếp được định nghĩa rõ ràng và độc lập với nền tảng hệ thống Nói cách khác thì kiến trúc hướng dịch vụ là cấp độ cao hơn của quá trình phát triển ứng dụng, chú trọng đến quy trình nghiệp vụ và dùng các giao tiếp chuẩn để che đi sự phức tạp kỹ thuật bên dưới [14][15]
Sự ra đời của kiến trúc hướng dịch vụ là để đáp ứng với thách thức ngày càng lớn của các doanh nghiệp: các yêu cầu bài toán doanh nghiệp thay đổi ngày càng nhanh và phức tạp, đến mức các kiến trúc kiểu truyền thống khó có thể giải quyết được Từ góc độ nào đó, có thể coi kiến trúc hướng dịch vụ là một phương pháp để tái cấu trúc hạ tầng thông tin của doanh nghiệp, do nó đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng vì có các ưu điểm sau: [5][14]
- Khả năng tái sử dụng: Nếu các dịch vụ con có quy mô và kích thước phù hợp thì có thể được tái sử dụng cho lần kế tiếp Điều này đồng nghĩa với việc giảm chi phí tài chính
- Khả năng linh hoạt: Nếu có dịch vụ con nào không còn đáp ứng được yêu cầu thì chỉ cần thay thế dịch vụ đó mà không phải tác động thay đổi toàn
bộ hệ thống Điều này đồng nghĩa với việc giảm thời gian thực hiện công việc
Nguyên tắc thiết kế của kiến trúc hướng dịch vụ bao gồm 02 nguyên tắc cơ bản sau: [2]
- Mô đun: Tách vấn đề lớn thành các vấn đề nhỏ để có thể dễ dàng giải quyết mà không gây ảnh hưởng lẫn nhau
Trang 25- Đóng gói: Che dấu dữ liệu và luồng logic trong từng mô đun đối với các truy cập từ bên ngoài
Mô hình tổng quan của kiến trúc hướng dịch vụ:
Hình 2: Mô hình tổng quan của kiến trúc hướng dịch vụ
- Nhà cung cấp dịch vụ: Cung cấp các dịch vụ phục vụ cho một nhu cầu nào đó
- Người sử dụng dịch vụ: Khách hàng sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ
- Nhà môi giới dịch vụ: Lưu trữ thông tin về các dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, người sử dụng dịch vụ có thể tìm kiếm và lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu của bản thân
Kiến trúc hướng dịch vụ được phân tầng chi tiết như sau (đôi khi được gọi là chồng giải pháp): [3]
Trang 26Hình 3: Các phân tầng của kiến trúc hướng dịch vụ
Có 05 tầng chức năng (từ dưới lên trên):
- Tầng 1: Các hệ thống vận hành, thể hiện các tài sản công nghệ thông tin hiện có, cho thấy rằng các sự đầu tư trước đó vẫn có giá trị và sẽ được sử dụng trong một kiến trúc hướng dịch vụ
- Tâng 2: Các thành phần dịch vụ, thực hiện các dịch vụ bằng cách sử dụng một hoặc nhiều ứng dụng trong tầng các hệ thống vận hành Người dùng
và các quy trình nghiệp vụ không có quyền truy cập trực tiếp tới các thành phần dịch vụ mà sẽ truy cập vào các dịch vụ Các thành phần dịch
vụ hiện có này có thể được tái sử dụng nội bộ hoặc được sử dung trong một kiến trúc hướng dịch vụ nếu thích hợp
- Tầng 3: Các dịch vụ, thể hiện các dịch vụ đã được triển khai Các dịch vụ này cũng có thể được quy hoạch thành nhóm dịch vụ và được người dùng
sử dụng
- Tầng 4: Quy trình nghiệp vụ, thể hiện các quy trình nghiệp vụ của dịch
vụ đã được triển khai Các quy trình này có thể được quy hoạch thành nhóm quy trình nghiệp vụ
- Tầng 5: Người tiêu dùng, thể hiện các kênh được sử dụng để truy cập vào các quy trình nghiệp vụ, các dịch vụ và các ứng dụng
Có 04 tầng khả năng (từ trái qua phải):
- Tầng 6: Tích hợp, cung cấp khả năng làm trung gian, định tuyến và vận chuyển các yêu cầu dịch vụ tới nhà cung cấp phù hợp
Trang 27- Tầng 7: Chất lượng dịch vụ, cung cấp khả năng đáp ứng các yêu cầu phi chức năng của một kiến trúc hướng dịch vụ, ví dụ như độ tin cậy, tính sẵn sàng, …
- Tầng 8: Kiến trúc thông tin, cung cấp khả năng hỗ trợ dữ liệu, siêu dữ liệu và trí tuệ doanh nghiệp
- Tầng 9: Quản trị, cung cấp khả năng hỗ trợ quản lý vòng đời vận hành của các nghiệp vụ trong kiến trúc hướng dịch vụ
Kiến trúc hướng dịch vụ có các phương pháp tiếp cận phổ biến:
- Từ dưới lên trên: Xuất phát từ thực trạng hệ thống hiện có, có thể tái sử dụng lại những thành phần đã có để xây dựng các dịch vụ mới
- Từ trên xuống dưới: Xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ của hệ thống, xác định các yêu cầu chức năng, các thành phần để xây dựng các dịch vụ mới
- Kết hợp: Kết hợp cả hai phương pháp trên
1.4.3 Dịch vụ web
Dịch vụ web được định nghĩa là một tập các phương thức có thể được định vị thông qua địa chỉ định vị tài nguyên xác định, các phương thức này được công bố trên hệ thống mạng và được dùng như những khối cơ bản để xây dựng một ứng dụng phân tán Dịch vụ web cung cấp chuẩn kết nối cho các phần mềm chạy trên các nền tảng khác nhau [9]
Dịch vụ web có một số đặc điểm quan trọng như sau: [9]
- Cho phép người dùng và máy chủ tương tác được với nhau ngay cả trong những môi trường khác nhau, ví dụ máy chủ sử dụng hệ điều hành Linux còn người dùng sử dụng hệ điều hành Windows thì vẫn tương tác được
- Phần lớn các dịch vụ web được xây dựng dựa trên mã nguồn mở và được phát triển từ các chuẩn đã được công nhận, cho nên rất dễ dàng để sử dụng
- Dịch vụ web hoạt động trên nguyên tắc kết hợp từng thành phần trong lĩnh vực cụ thể, nên có thể cung cấp lợi ích tối đa cho các khách hàng và doanh nghiệp
Trang 28Hình 4: Mô hình tổng quan của dịch vụ web
Mô hình tổng quan của dịch vụ web khá tương đồng với mô hình tổng quan của kiến trúc hướng dịch vụ, bao gồm:
- Nhà cung cấp dịch vụ web: Mô tả dịch vụ mà bản thân có thể cung cấp cho nhà môi giới dịch vụ web thông qua ngôn ngữ mô tả
- Người sử dụng dịch vụ web: Sử dụng các dịch vụ web được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ web
- Nhà môi giới dịch vụ web: Lưu trữ thông tin về các dịch vụ được đưa ra bởi những nhà cung cấp dịch vụ web, người sử dụng có thể tìm kiếm và lựa chọn dịch vụ web phù hợp với nhu cầu của bản thân
Các dịch vụ web được phân tầng cơ bản như sau:
Hình 5: Các phân tầng của dịch vụ web
- Tầng tìm kiếm dịch vụ: Chịu trách nhiệm trong việc công bố và tìm kiếm các dịch vụ web
- Tầng mô tả dịch vụ: Chịu trách nhiệm mô tả đặc điểm các dịch vụ web
- Tầng truyền tin: Chịu trách nhiệm mã hóa các thông điệp
Dịch vụ web bao gồm 04 thành phần cơ bản: [1][9][12][15]
Trang 29- XML: Là một chuẩn mở được W3C đưa ra để mô tả dữ liệu, nó được sử dụng để định nghĩa các thành phần dữ liệu trong trang web Về mặt hình thức thì XML có cấu trúc thẻ giống HTTP, nhưng HTTP định nghĩa các thành phần sẽ hiển thị thế nào còn XML định nghĩa các thành phần sẽ chứa gì XML giúp các thành phần có nền tảng khác nhau có thể giao tiếp được được với nhau
- WSDL: Là một ngôn ngữ dựa trên XML dùng để định vị và mô tả dịch
vụ web WSDL mô tả dịch vụ web theo cú pháp tổng quát XML, bao gồm: tên dịch vụ, giao thức mã hóa và loại thông tin Thông thường, WSDL sẽ bao gồm 02 phần: phần giao diện (mô tả giao diện và phương thức kết nối) và phần thực thi (mô tả thông tin truy xuất dữ liệu)
- UDDI: Định nghĩa một số thành phần cho biết các thông tin về địa chỉ, cách sử dụng và nhà cung cấp của một dịch vụ để người dùng có thể tìm kiếm và nhận lại những thông tin được yêu cầu khi sử dụng dịch vụ web Cấu trúc của UDDI bao gồm: trang trắng (chứa thông tin liên hệ), trang vàng (chứa thông tin mô tả), trang xanh (chứa thông tin kỹ thuật) và loại dịch vụ
- SOAP: Là một giao thức giao tiếp dựa trên XML cho phép trao đổi các thông tin qua HTTP, thường được dịch vụ web sử dụng trong quá trình truyền tải dữ liệu SOAP được xem như cấu trúc xương sống của các ứng dụng phân tán được xây dựng từ nhiều ngôn ngữ và hệ điều hành khác nhau
Trang 30CHƯƠNG 2 TỔNG THỂ GIẢI PHÁP, MÔ HÌNH TÍCH HỢP VÀ LUỒNG
XỬ LÝ
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày chi tiết về các vấn đề sau:
- Tổng thể giải pháp đề xuất nhằm đáp ứng các mục tiêu đã được xác định trong chương trước
- Đưa ra mô hình tích hợp của hệ thống quản lý đối với các dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên dịch vụ web
- Luồng xử lý nghiệp vụ chi tiết của các thao tác chức năng cơ bản trong hệ thống quản lý, gồm có tra cứu, đăng ký và hủy
- Đưa ra các đánh giá về mặt lý thuyết của bản thân tác giả về giải pháp
2.1 Tổng thể giải pháp
Về tổng thể, giải pháp đưa ra là một hệ thống quản lý trung gian đứng giữa người dùng di động và các dịch vụ giá trị gia tăng, có thể coi như sau:
Hình 6: Tổng thể giải pháp
Trang 31Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả quy ước một số giả định để đảm bảo rằng hệ thống quản lý đưa ra có khả năng tích hợp mạnh mẽ khi áp dụng vào thực tế:
- Dịch vụ Imuzik là dịch vụ giá trị gia tăng thuộc về nhà mạngViettel, có dịch vụ web được xây dựng theo chuẩn JSON
- Dịch vụ Isign là dịch vụ giá trị gia tăng thuộc về nhà mạngVinaphone, có dịch vụ web được xây dựng theo chuẩn HTTP POST
- Dịch vụ MCA là dịch vụ giá trị gia tăng thuộc về nhà mạng Mobifone, có dịch vụ web được xây dựng theo chuẩn SOAP
Các thành phần trong hệ thống quản lý gồm có:
- Thành phần điều khiển: Điều hướng luồng xử lý của hệ thống tùy theo yêu cầu của người dùng gửi lên
- Thành phần tin nhắn: Xử lý các tin nhắn người dùng gửi lên hệ thống và
hệ thống trả về người dùng sau khi xử lý xong các yêu cầu
- Thành phần hỗ trợ: Cung cấp các thông tin hỗ trợ để phục vụ quá trình điều hướng xử lý của hệ thống
- Thành phần tra cứu: Xử lý yêu cầu tra cứu của người dùng gửi lên
- Thành phần đăng ký: Xử lý yêu cầu đăng ký của người dùng gửi lên
- Thành phần hủy: Xử lý yêu cầu hủy của người dùng gửi lên
- Thành phần dữ liệu: Chứa thông tin các dịch vụ giá trị gia tăng mà người dùng đang sử dụng và thông tin hỗ trợ điều phối
- Thành phần chuyển đổi: Chuyển đổi các thông tin dịch vụ web của dịch
vụ giá trị gia tăng về một chuẩn chung để hệ thống có thể sử dụng
- Thành phần giao tiếp: Giao tiếp của hệ thống quản lý đối với bên ngoài,
có thể là để hỗ trợ cho các nhà mạng tùy theo chủ trương của đơn vị quản
lý các nhà mạng (dự thảo)
- Thành phần các dịch vụ giá trị gia tăng: Bao gồm:
Dịch vụ web đăng ký: Hỗ trợ đăng ký dịch vụ giá trị gia tăng
Dịch vụ web hủy: Hỗ trợ hủy dịch vụ giá trị gia tăng
Có thể nhận thấy là giải pháp đưa ra có logic nghiệp vụ tích hợp tuân theo kiểu kết hợp, có thành phần điều phối đứng giữa kết hợp các thành phần:
Trang 32Hình 7: Logic nghiệp vụ tích hợp
2.2 Mô hình tích hợp
Hình 8: Mô hình tích hợp dịch vụ giá trị gia tăng áp dụng SOA
Trang 33Mô hình tích hợp mà tác giả đưa ra cơ bản là dựa trên việc tích hợp các dịch
vụ web của các dịch vụ giá trị gia tăng Có thể khái quát việc tích hợp bằng mô hình tích hợp dịch vụ giá trị gia tăng áp dụng kiến trúc hướng dịch vụ như hình trên
Về cơ bản, vấn đề tựu chung lại của các đối tượng người dùng – nhà mạng – đơn vị quản lý các nhà mạng là vấn đề về thông tin Do đó, mục đích mà tác giả đề xuất mô hình tích hợp các dịch vụ giá trị gia tăng áp dụng kiến trúc hướng dịch vụ nêu trên là để tạo ra một kênh thông tin thống nhất, để các đối tượng này có thể dễ dàng tiếp cận Khi kênh thông tin thống nhất này được xây dựng thì kéo theo là nhu cầu của các đối tượng cũng được đáp ứng và cải thiện Có thể thấy ngay được là mô hình tích hợp các dịch vụ giá trị gia tăng mà tác giả đề xuất sẽ giải quyết được những nhu cầu sau:
- Nhu cầu chủ yếu:
Hỗ trợ đơn vị quản lý các nhà mạng kiểm soát được thông tin những dịch vụ giá trị gia tăng đang hoạt động từ các nhà mạng
- Nhu cầu thứ yếu:
Hỗ trợ người dùng thực hiện các thao tác chức năng cơ bản của dịch vụ: tra cứu – đăng ký – hủy trực tiếp lên hệ thống quản lý
Hỗ trợ các nhà mạng phối hợp, chia sẻ thông tin để hỗ trợ người dùng di động bất kỳ nhắn tin lên hệ thống quản lý
Nếu ánh xạ sơ đồ tổng thể giải pháp theo chồng giải pháp SOA thì ta có thể thu được bảng tương ứng các thành phần như sau:
- Tầng 1: Các hệ thống vận hành, chứa các ứng dụng đang hoạt động như
cơ sở dữ liệu
- Tâng 2: Các thành phần dịch vụ, chứa các dịch vụ web đăng ký – hủy
- Tầng 3: Các dịch vụ, ở đây là hệ thống quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng, sẽ được coi là một dịch vụ giá trị gia tăng, bao gồm các chức năng tra cứu – đăng ký – hủy
- Tầng 4: Quy trình nghiệp vụ, trong khuôn khổ luận văn này thì tác giả tập trung vào việc tích hợp chức năng theo mục đích chứ không thay đổi luồng nghiệp vụ tích hợp nên sẽ không có thành phần nào tương ứng
Trang 34- Tầng 5: Người tiêu dùng, người dùng tương tác với hệ thống qua tin nhắn
ở đây là thời điểm mà hệ thống tiếp nhận và xử lý yêu cầu của người dùng (cũng có thể coi là thời điểm người dùng nhắn tin lên hệ thống quản lý các dịch vụ giá trị gia tăng)
Vào thời điểm mà hệ thống bắt đầu xử lý, tùy thuộc vào thông tin của cá nhân người dùng, hệ thống sẽ tự điều hướng đưa vào các trường hợp xử lý khác nhau Ví dụ là cùng một yêu cầu hủy dịch vụ từ người dùng vào các thời điểm:
- Nếu vào thời điểm xử lý mà thông tin cá nhân của người dùng là đang sử dụng dịch vụ thì hệ thống quản lý sẽ thực hiện nhiệm vụ hủy dịch vụ
- Nếu vào thời điểm xử lý mà thông tin cá nhân của người dùng là đang không sử dụng dịch vụ thì hệ thống trả về kết quả cho người dùng là đang không sử dụng dịch vụ thay vì thực hiện nhiệm vụ hủy dịch vụ
Trang 35Với đặc điểm không phụ thuộc vào luồng quy trình xử lý yêu cầu thì hệ thống quản lý mà tác giả sẽ xây dựng sẽ có ưu điểm là xử lý yêu cầu của người dùng theo mẻ hoặc theo lô, tức là có thể đồng thời xử lý nhiều yêu cầu từ cùng một người dùng vào cùng một khoảng thời gian
2.3.1 Luồng nghiệp vụ tra cứu
Về cơ bản thì chức năng này sẽ chỉ tương tác chủ yếu với cơ sở dữ liệu để lấy thông tin các dịch vụ giá trị gia tăng hiện đang sử dụng để trả về cho người dùng chứ không tương tác với các dịch vụ web Thành phần hỗ trợ điều hướng sẽ xác định nhà mạng và bảng lưu trữ dữ liệu của thuê bao để phục vụ cho quá trình điều hướng
Chức năng tra cứu sẽ có luồng nghiệp vụ như sau:
Hình 9: Luồng nghiệp vụ tra cứu
Trang 362.3.2 Luồng nghiệp vụ đăng ký
Ngoài sự tương tác với cơ sở dữ liệu, nhóm chức năng này đã có sự tương tác với dịch vụ web đăng ký của các dịch vụ giá trị gia tăng để phục vụ người dùng đăng ký Thành phần hỗ trợ điều hướng sẽ xác định nhà mạng và bảng lưu trữ dữ liệu của thuê bao để phục vụ cho quá trình điều hướng
Nhóm chức năng đăng ký sẽ có luồng nghiệp vụ như sau:
Hình 10: Luồng nghiệp vụ đăng ký