Phân tích khái niệm ổ sinh thái của côn trùng và hướng tác động trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái : Có 2 loại ổ sinh thái: Ổ sinh thái thành phần Ổ sinh thái cơ bản Ổ sinh thái thành phần là tổng hợp các điều kiện môi trường cần thiết đảm bảo cho hoạt động chức năng nào đó của cơ thể. Ví dụ: ổ sinh thái dinh dưỡng, Tổ hợp các ổ sinh thái thành phần tạo nên ổ sinh thái cơ bản. Nơi sống là nơi sinh vật sống và xuất hiện ở đó, là điều kiện môi trường nơi mà loài đó sinh sống, nơi sống chỉ ra địa chỉ, ổ sinh thái chỉ ra nghề nghiệp. Ổ sinh thái phải được xác định từ góc độ thích ứng trong loài, ổ sinh thái là một thuộc tính của loài. Ổ sinh thái cơ bản ( Fundamental Niche)= ổ sinh thái lý thuyết lý tưởng nhất. Đáp ứng được mọi yêu cầu sinh thái của sinh vật. Là một không gian lớn nhất mà loài phân bố(không có cạnh tranh khác loài).
Trang 1Đề tài: Phân tích khái niệm ổ sinh thái của côn trùng và hướng tác động trong bảo vệ
thực vật đối với ổ sinh thái
I- Đặt vấn đề
Hiện nay, Việt Nam đã biết hơn 1,5 triệu loài côn trùng, mỗi loài có một tên la tinh gọi là tên khoa học được thống nhất trên toàn thế giới Giữa các loài có mối quan hệ dòng dõi nhất định và có mối quan hệ dinh dưỡng theo chuỗi dài ngắn khác nhau Giữa các loài càng có nhiều đặc điểm giống nhau thì chúng càng có họ hàng gần nhau hơn
Vì vậy, người ta căn cứ vào số lượng các đặc điểm chung nhiều hay ít mà quy nạp thành các quần loại riêng biệt, dần dần xây dựng thành một hệ thống phân loại tự nhiên phản ánh được mối quan hệ dòng dõi trong quá trình tiến hoá tương quan giữa các loài Côn trùng tồn tại dưới dạng quần thể( tập hợp các cá thể loài) và đòi hỏi các điều kiện cần thiết để sinh trưởng phát triển và sinh sản thuận lợi Mối quan hệ tương
hỗ của từng loài với môi trường bên ngoài, với các yếu tố ngoại cảnh tồn tại ổn định trong quần thể Côn trùng chỉ phân bố ở một khu vực sinh thái của lãnh thổ, nơi đáp ứng được nhu cầu sinh thái, đáp ứng được yêu cầu về điều kiện sống Nhu cầu sinh thái của từng loài là khác nhau, là thuộc tính sinh thái quan trọng nhất của loài Môi trường sống của côn trùng bao gồm các yếu tố hữu sinh và vô sinh Mỗi loài côn trùng
có nhu cầu nhất định đối với từng yếu tố môi trường để có thể tồn tại trong thiên nhiên
Các loài sống với những điều kiện môi trường cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của các thế hệ loài và cả quần thể của côn trùng được gọi là ổ sinh thái Một ổ sinh thái là sự phù hợp của một loài khi sống dưới những điều kiện môi trường cụ thể Trong đó thực vật là không gian sinh thái đáp ứng được các điều kiện sống cần thiết cho ổ sinh thái bao gồm: thực vật cung cấp thức ăn, nơi ở, nơi sinh sản, nơi trốn tránh kẻ thù, Mỗi loài côn trùng trong tự nhiên có đời sống gắn liền với từng loại thực vật nào đó nhất định Trong mối quan hệ khép kín của thực vật trong ổ sinh thái côn trùng, côn trùng sử dụng các bộ phận của cây thân, lá, rễ, cành, hoa, quả, sản phẩm tiết ra, xác thực vật để làm thức ăn có thể gây hoặc không gây phát sinh thành dịch và gây hại kinh tế Côn trùng sử dụng thực vật theo từng nhóm chuyên hóa khác nhau: Nhóm hại lá, nhóm hại quả, nhóm hại thân, nhóm chích hút dịch cây Tất cả các loài côn trùng đều tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất, thuộc vào một trong 3 khâu sau đây: sinh việt sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật tái sản xuất Thành phần sâu hại và mật độ mỗi loài sâu hại phụ thuộc vào cây trồng là ký chủ( cả về số lượng
và chất lượng) Người ta nói “ Cây nào sâu ấy” để nói rằng có cây mới có sâu, cây quyết định sự phân bố của côn trùng ăn thực vật, thành phần dinh dưỡng trong cây ảnh hưởng đến mọi chỉ tiêu sinh học của côn trùng sử dụng nó làm thức ăn Ngoài ra, thành phần và số lượng cá thể các kẻ thù tự nhiên lại phụ thuộc vào ký chủ của chúng, bắt đầu từ các loài ăn thực vật Côn trùng có thể có tính ăn nhiều loại(có phổ ký chủ rộng) hay ăn ít loại( có phổ ký chủ hẹp)
Trang 2Những loài có phổ thức ăn rộng thường phân bố rộng theo ký chủ của nó Với những loài có phổ ký chủ hẹp, biện pháp luân canh cây trồng để cắt nguồn thức ăn là biện pháp phòng chống khả thi và có ý nghĩa để hạn chế tác hại của chúng đối với thực vật Ngoài ra, hoạt động kinh tế của con người trong ổ sinh thái nông nghiệp tạo nên những biến đổi sâu sắc, ảnh hưởng trực tiếp đến côn trùng, bao gồm cả sâu hại cây trồng và các loại kẻ thù tự nhiên của sâu hại Các hoạt động của con người có những mặt tích cực như thực hiện các biện pháp để điều khiển sinh quần theo hướng có lợi cho con người và cải biến điều kiện ngoại cảnh để thuận lợi cho các loài có ích Thế nhưng, cũng có nhiều hậu quả tiêu cực, như việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học không hợp lý làm ảnh hưởng đến môi trường, đến cân bằng sinh học trong tự nhiên, làm xuất hiện nhiều loài sâu chống thuốc, trong hoạt động thương mại đã làm nhiều loài côn trùng hại nguy hiểm lan tràn từ nước này sang nước khác, một số trường hợp còn sử dụng côn trùng như vũ khí trong chiến tranh Tất cả các hoạt động có hại đó cần được khắc phục Công tác bảo vệ thực vật đòi hỏi phải cẩn trọng và khoa học để an toàn cho môi trường, cho con người và có hiệu quả bền vững, dựa trên phân tích hướng tác động trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái để đề xuất các biện pháp phù hợp Trước tình hình đó, tôi tiến hành phân tích khái niệm ổ sinh thái của côn trùng và hướng tác động trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái
II- Nội dung
2.1 Phân tích khái niệm ổ sinh thái của côn trùng
Ổ sinh thái cũng còn gọi là tổ sinh thái hoặc hốc sinh thái, trong tiếng Anh là ecological niche-khái niệm này được đưa ra năm 1917, nhưng G Evelyn Hutchinson
đã đưa ra một khái niệm tiên tiến hơn vào năm 1957 khi giới thiệu khái niệm được chấp nhận rộng rãi: "là một tập hợp các sinh học và phi sinh học mà trong đó các loài
có thể tồn tại và duy trì quy mô quần thể ổn định." Ổ sinh thái là một khái niệm chính trong hệ sinh thái của sinh vật và được chia nhỏ thành ổ cơ bản và ổ sinh thái thành phần Ổ sinh thái là một không gian mà ở đó những điều kiện môi trường cần thiết đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các thế hệ trong loài và cả quần thể
Ổ sinh thái miêu tả cách một sinh vật hoặc quần thể phản ứng lại với sự phân bố của tài nguyên và đối thủ cạnh tranh (một ví dụ điển hình là sự phát triển thuận lợi của một quần thể khi môi trường sống có nhiều tài nguyên và khi có ít kẻ săn mồi, ký sinh trùng và mầm bệnh) và thay đổi ngược lại chính những yếu tố đó (như là giới hạn khả năng tiếp cận tới nguồn tài nguyên của các sinh vật khác, đóng vai trò là nguồn thức ăn của sinh vật săn mồi và cũng đồng thời là một sinh vật tiêu thụ con mồi) "Kiểu và lượng biến số bao gồm các không gian của một ổ sinh thái thì biến đổi từ loài này tới loài khác và tầm quan trọng tương đối của các biến số môi trường cụ thể của một loài
có thể biến đổi dựa theo hoàn cảnh vùng và địa lý"
Có 2 loại ổ sinh thái:
- Ổ sinh thái thành phần
Trang 3- Ổ sinh thái cơ bản
Ổ sinh thái thành phần là tổng hợp các điều kiện môi trường cần thiết đảm bảo cho
hoạt động chức năng nào đó của cơ thể Ví dụ: ổ sinh thái dinh dưỡng,
Tổ hợp các ổ sinh thái thành phần tạo nên ổ sinh thái cơ bản Nơi sống là nơi sinh vật sống và xuất hiện ở đó, là điều kiện môi trường nơi mà loài đó sinh sống, nơi sống chỉ ra địa chỉ, ổ sinh thái chỉ ra nghề nghiệp Ổ sinh thái phải được xác định từ góc độ thích ứng trong loài, ổ sinh thái là một thuộc tính của loài
Ổ sinh thái cơ bản ( Fundamental Niche)= ổ sinh thái lý thuyết lý tưởng nhất Đáp
ứng được mọi yêu cầu sinh thái của sinh vật Là một không gian lớn nhất mà loài phân
Ổ sinh thái thực(Real Niche) là tập hợp các điều kiện sinh thái môi trường xét thêm
mà theo đó một loài vẫn tồn tại Là không gian mà sinh vật đó sinh phân bố, bị hạn chế
về mặt sinh học( có mặt các loài cạnh tranh) Phức hợp điều kiện môi trường quyết định sự phân bố của côn trùng trong ổ sinh thái Tính chất thức ăn có vai trò quan trọng
Ví dụ: Sâu tơ(Plutella xylostella), rệp muội xám( Brevicoryne Brassicae), bọ nhảy (Phyllotreta striolata)đều chỉ ăn lá cây họ thập tự, chỉ phân bố trong sinh cảnh cây rau
họ thập tự, có 1 ổ sinh thái giống nhau, chúng là những loài có họ hàng xa
Ví dụ khác: Bọ trĩ Haplothrips tritici(quan hệ với họ hòa thảo) và bọ trĩ Halothrips subti(quan hệ với cây gỗ và bụi) có ổ sinh thái không giống nhau Ổ sinh thái quyết định sự phân bố và mật độ của côn trùng trong không gian Các loài hẹp sinh cảnh(đồng quần xã) có ổ sinh thái hẹp Các loài rộng sinh cảnh(dị quần xã) có ổ sinh thái rộng Ví dụ: Cùng họ vòi voi nhưng Sitona Cylindrical hại đậu Medicago và đậu
Trang 4khác có ổ sinh thái rộng Phytonomus variabilis chỉ hại đậu Medicago có ổ sinh thái hẹp
Từng pha phát triển của một loài côn trùng có thể có quan hệ khác nhau với yếu tố môi trường và có ổ sinh thái không giống nhau Ví dụ: Ấu trùng chuồn chuồn Odonata sống trong nước, trường thành sống trên cạn
2.2 Hướng tác động trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái
2.2.1 Vai trò và đặc điểm của thực vật trong các ổ sinh thái côn trùng
Ổ sinh thái là một không gian sinh thái mà các yếu tố môi trường của nó quyết định sự tồn tại và phát triển ổn định của cá thể loài theo thời gian
- Thực vật là không gian sinh thái đáp ứng được các điều kiện sống(thức ăn, nơi
ở, nơi sinh sản, nơi trốn tránh kẻ thù) Thành phần sâu hại và mật độ mỗi loài sâu hại phụ thuộc vào cây trồng là ký chủ (cả về chất lượng và số lượng) Người ta nói “cây nào sâu ấy” để nói rằng có cây mới có sâu, cây quyết định sự phân bố của côn trùng ăn thực vật, thành phần dinh dưỡng trong cây ảnh hưởng đến mọi chỉ tiêu sinh học của côn trùng sử dụng nó làm thức ăn Tiếp đó, thành phần và số lượng cá thể các kẻ thù tự nhiên lại phụ thuộc vào ký chủ của chúng, bắt đầu từ các loài ăn thực vật
Ví dụ: Thức ăn của rầy RẦY NÂU (MUỘI NÂU) Nilaparvata lugens Stal trưởng thành và rầy non là dịch cây, rầy sử dụng miệng chích vào thân cây lúa Rầy nâu có rầy trưởng thành thường tập trung thành đám ở trên thân cây lúa phía dưới khóm để hút nhựa, nhựa cây lúa là nguồn thức ăn chủ yếu của rầy nâu Khi bị khua động thì rầy lẩn trốn bằng cách bò ngang hoặc nhảy sang cây khác hoặc bay xa đến chỗ khác Chiều tối rầy bò lên phía trên thân lúa hoặc lá lúa Khi lúa ở thời kỳ chín, phần dưới của thân lúa đã cứng khô thì ban ngày chúng tập trung phía trên cây lúa hoặc gần chỗ non mềm của cuống bông để hút nhựa
Trang 5- Trong tự nhiên: nhiều loài côn trùng trong một phần hay toàn bộ đời sống của chúng gắn liền với một loài thực vật nào đó Do đó cây chỉ là một phần, 1 điểm để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của côn trùng, như vậy từng đối tượng cây trồng, cây đó sẽ là một phần của ổ sinh thái Tập hợp các cây giống nhau và khác nhau sẽ tạo thành ổ sinh thái rộng hơn
Có loài chỉ ở trên cây một giai đoạn nhất định, sâu cuốn lá loại lớn Parnara guttata Bremer et Grey có sâu non nhả tơ cuốn lá thành bao lớn và cắn khuyết lá Khi sâu nở
ra ăn vỏ trứng rồi bò ra đầu, mép lá nhả tơ dệt thành bao nấp ở đó Sâu tuổi lớn hơn tiếp tục dệt các lá kế cận thành một bao lớn nằm ở trong gặm lá Trưởng thành đẻ trứng vào buổi sáng và đẻ rải rác ở mặt sau lá gần gân chính, mỗi lá từ 1-6 quả, một bướm cái có thể đẻ 120 quả trứng Sau khi vũ hóa 20 phút là bướm bay đi kiếm ăn
Có loài đẻ trứng trên cây này nhưng lại ăn và ẩn nấp ở chỗ khác, bọ nhảy hại rau(Phyllotreta spp.) Bọ trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, nhảy xa và bay khỏe, bọ trưởng thành ăn lá và giao phối trên cây Đẻ trứng chủ yếu trong đất, cách rễ chính khoảng 3cm Trứng đẻ rác rác xung quanh gốc cây, cách gốc khoảng 3cm, sâu khoảng 1cm nơi có nhiều rễ phụ Sâu non có 3 tuổi, sống trong đất, ăn rễ cây, làm cho cây bị còi cọc, héo hoặc bị thối Đẫy sức hoá nhộng ngay trong đất ở độ sâu 3-7cm Con non mới nở ăn từ rễ phụ tiến dần về phí rễ chính, ăn vỏ rễ, độ sâu của lớp đất sâu non sống tùy thuộc vào cây ký chủ: Củ cải thường sống ở độ sâu 4-5cm, sâu nhất 12cm; cải bẹ sống ở lớp đất 3-4 cm Sâu non hóa nhộng ở lớp đất 3-7 cm, thời gian tiền nhộng 2-12 ngày Giai đoạn trưởng thành bọ nhảy thường sống trên các cây dại họ hoa thập tự và các cây trồng khác
Côn trùng lựa chọn thực vật làm nơi ở vì không gian cây thuận lợi, nơi ở cao ráo, tránh ẩm thấp, ngập lụt Tán cây che phủ tạo khí hậu thuận lợi cho côn trùng ẩn nấp, sinh sống có thể tránh được các điều kiện bất lợi Môi trường sống trên cây tạo điều kiện tốt để lẩn trốn kẻ thù Côn trùng có thể biến đổi hình thái, ngụy trang, bắt chước(giả dạng) để hòa lẫn với môi trường giúp kẻ thù không phát hiện ra chúng(hiện tượng giả dạng, bắt chước) Điển hình ở loài bọ que (Phasmatodea) với hình dạng bề ngoài giống như một cành cây, với thân và chân rất dài, thông thường ở một số loài cánh của chúng bị thoái hoá hoặc rất nhỏ gần như không có Hình thù kỳ lạ rất đặc biệt này là sự ngụy trang hoàn hảo, giúp chúng tránh được sự phát hiện và ăn thịt của các loài săn mồi Ngoài ra với tài ngụy trang hoàn hảo loài vật này còn được mệnh danh là
"những chiếc que biết đi" Màu sắc của bọ que cũng thay đổi tùy theo môi trường xung quanh Loài bọ que màu nâu thường sống trên những cành cây khô, hoặc loài bọ que màu xanh có môi trường sống trên những cành lá màu xanh Đặc điểm ngụy trang
về hình dạng và màu sắc này là sự thích nghi kiểu gen được hình thành dưới tác dụng của chọn lọc tự nhiên qua một quá trình tiến hóa hàng triệu năm Khi bị các loài săn mồi tiếp cận, nó vẫn bình tĩnh nằm im để hòa mình vào màu sắc của cành lá cây, nhằm đánh lừa thị giác của kẻ săn mồi Ngoài ra, khả năng ngụy trang ẩn mình của loài
Trang 6bướm lá khô cũng vô cùng tinh vi, khi chúng đậu khép cánh lại, mặt dưới cánh giống hệt như một chiếc lá khô Với phần đuôi cánh sau kéo dài như một chiếc cuống lá và một đường màu nâu kéo dài đến chót cánh trước tạo thành gân chính của lá Hiện tượng ngụy trang màu giống với màu của môi trường xung quanh, màu của lá Loài bọ
lá xanh với vẻ bề ngoài giống tới 99,99 lá cây, tăng khả năng ngụy trang của chúng trước nanh vuốt của các loài chim tinh ranh
- Cây đóng vai trò như một bộ phận trong ổ sinh thái, thực vật cung cấp thức ăn
và nơi ở cho côn trùng Mỗi loài côn trùng khác nhau sống trên những cây khác nhau
sẽ hình thành các mối quan hệ khác nhau, phải kể tới mối quan hệ tay ba giữa kiến, cây keo và hươu cao cổ Cây keo tiết ra mật ngọt để thu hút các loài kiến đến, cây keo
là thức ăn của hươu cao cổ, trong quá trình tiến hóa cây keo phình to gai cho kiến làm
tổ và tiết ra mật làm thức ăn cho kiến Cả 3 loài cùng tồn tại và phát triển trên mối quan hệ này
- Thực vật đóng vai trò dinh dưỡng trong ổ sinh thái, cơ thể thực vật là kho dinh dưỡng phức tạp và có nhiều trở ngại không phải lúc nào cũng an toàn với cơ thể côn trùng Chính những trở ngại này mà trong HST tự nhiên, động vật ăn thực vật chưa khai thác được 1% sinh khối của thực vật
- Thực vật tạo ra các kiểu tiểu khí hậu không gian hẹp, đây là một kiểu khí hậu rất đặc biệt, có nhiều biến động ở các tầng, tàn, mặt lá của cây Nhiệt độ môi trường và cây chênh lệch có thể lên tới 20oC, thực vật có hàm lượng nước trên 70% được các loài côn trùng ưa thích, cây thân gỗ, cây ngô, cao lương có hàm lượng nước <70% nên nhiều loài côn trùng qua hè ngừng phát dục tạm thời Ngoài ra, côn trùng tự trang bị cho mình khả năng để thích nghi khác nhau như lớp vỏ giáp tăng cường chống thoát
Trang 7nước có bột sáp như ve sầu bọt hoặc thay đổi tập tính chỉ hoạt động vào điều kiện thích hợp nhất
2.2.2 Hướng tác động trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái
Hướng tác động bền vững trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái bao gồm:
- Biện pháp tác động nâng cao tính bền vững của cấu trúc quần thể để duy trì cân bằng sinh học trong ổ sinh thái, giảm tác động xấu trong bảo vệ thực vật đối với ổ sinh thái Hướng tác động bền vững trong bảo vệ thực vật làm gia tăng tính bền vững của các điều kiện môi trường sống của các cá thể loài theo thời gian Các biện pháp trong bảo vệ thực vật làm tăng tính bền vững của ổ sinh thái: Tăng đa dạng thảm thực vật, hạn chế dùng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc có độ độc cao, không diệt 1 loài đến cùng, mà chỉ làm giảm mật độ loài đó tới dưới ngưỡng gây hại kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch có ích(về điều kiện thức ăn, nơi cư trú, các điều kiện khác), bổ sung thêm vào đồng ruộng KTTN (du nhập loài mới, bổ sung số lượng cho loài đã có tại chỗ)
- Ngoài ra, cải biến điều kiện sinh sống của sâu hại bằng việc tiến hành các biện pháp khác nhau trong quá trình canh tác trên đồng ruộng hay bảo quản nông sản sau thu hoạch để làm cho điều kiện sống của các loài sâu hại không thuận lợi, dẫn đến chúng không thể sinh sản và phát triển số lượng nhiều đến mức có thể gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho con người Bằng cách đó con người không nhất thiết phải tiến hành các biện pháp diệt trừ mà vẫn bảo vệ được cây trồng để cho năng suất và sản lượng mong muốn, tính bền vững của các điều kiện môi trường vẫn được giữ vững Điều kiện sống của sâu hại gồm nhiều yếu tố quan trọng như: thức ăn, nơi cư trú,nhiệt
độ, độ ẩm, ánh sáng, thành phần hoá học, pH đất, v.v Khi tác động làm thay đổi các yếu tố trên đây ra ngoài khả năng thích ứng của sâu hại thì sẽ hạn chế số lượng của chúng Trên đồng ruộng có 1 phức hợp gồm nhiều loài sâu hại có hoá trị sinh thái khác nhau với từng yếu môi trường, nên việc cải biến điều kiện sống phải mang tính tình huống và mềm dẻo Thí dụ, khi mật độ bore đục thân cà phê cao thì trồng cây tạo bóng râm trên ruộng cà phê Các biện pháp cụ thể: luân canh (để cắt nguồn thức ăn của sâu hẹp thực), dùng giống chống chịu (tạo thức ăn không phù hợp hoặc có chất ức chế loài sâu cụ thể), làm đất (cày lật đất, phơi khô, làm dầm), xới xáo làm khó khăn cho sâu sống trong đất, làm luống to, vun luống, lấp các khe nứt nẻ trên mặt luống để ngăn cản sâu di chuyển lên xuống đất (như với bọ hà hại khoai lang), bón phân hữu cơ làm giảm
sự nứt nẻ bề mặt đất để hạn chế sâu từ dưới đất lên hoặc chui xuống đất, ngâm nước, tưới ngầm làm khó khăn cho các loài sâu sống trong đất, tỉa cành, tạo hình cây ăn quả, làm luống trồng theo hướng gió để giảm độ ẩm không khí trong tán cây và trong ruộng, làm không thuận lợi cho các loài ưa ẩm, trồng cây che bóng, hạn chế cường độ ánh sáng để chống các loài ưa ánh sáng trực xạ (như bore hại cà phê), phơi khô sản phẩm sau thu hoạch (giảm ẩm phần trong nông sản để không thuận lợi cho sâu mọt),
vệ sinh đồng ruộng, trừ cây dại để hạn nơi cư trú và nơi qua đông, qua hè
Trang 8- Giảm nhẹ khả năng bị hại cho cây trồng bằng chọn tạo giống chống chịu và né tránh sâu hại Sâu hại phát sinh phát triển có quy luật theo các tháng trong năm, phụ thuộc vào quy luật diễn biến của thời tiết từng vùng Mỗi loài sâu gây hại ở một giai đoạn phát triển nhất định của một cây trồng, nên nếu giai đoạn phát triển ấy không trùng với lúc loài sâu đó phát sinh nhiều theo quy luật vốn có của nó thì cây ít bị hại
Vì vậy người ta điều chỉnh thời vụ gieo trồng hay sử dụng các biện pháp khác nhau để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự sinh trưởng của cây trồng lệch với lúc nhiều sâu Các biện pháp cụ thể bao gồm: thu thập, bảo tồn nguồn Gen chống chịu sâu, chọn lọc các giống
có khả năng chống chịu đối với từng loài sâu cụ thể, lai tạo giống chống chịu, chuyển nạp Gen kháng, điều chỉnh thời vụ và dùng các biện pháp khác nhau (như bón phân, tưới nước, dùng chất điều hòa sinh trưởng v v ) để làm cho giai đoạn xung yếu của cây trồng không rơi vào lúc loài sâu chủ yếu phát sinh rộ
- Khi mật độ một loài sâu hại nào đó cao đến mức gây thiệt hại kinh tế cho con người thì phải tiến hành các biện pháp diệt trừ trực tiếp để giảm mật độ của chúng Đây là phương hướng quan trọng trong các trường hợp có các dịch sâu hại trên đồng ruộng và kho tàng Nó là tất yếu không phải chỉ ở các nước chậm phát triển, mà nó là một phương hướng không bỏ qua được cả ở các Sử dụng thuốc trừ sâu hoá học và các chế phẩm sinh học trong bảo vệ thực vật, đối với thuốc hoá học phải tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” (dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ & liều lượng, đúng cách), bắt tay và dùng các dụng cụ thô sơ, dùng bẫy, bả độc, cày lật đất, ngâm nước và một số biện pháp trong canh tác, chiếu xạ liều cao
2.3 Kết luận
Ổ sinh thái là không gian đáp ứng điều kiện môi trường sống cần thiết bào gồm
nguồn thức ăn, điều kiện môi trường, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, độ PH, cần thiết để đảm bảo sự sinh trưởng, phát triển và tồn tại lâu dài của các thế hệ trong loài, cả quần thể Hiện nay việc nghiên cứu ảnh hưởng của các tác động của bảo vệ thực vật tới ổ sinh thái là hết sức quan trọng Tìm ra được các biện pháp phù hợp, bền vững đảm bảo cho các điều kiện môi trường sống của các loài, quần thể Bên cạnh đó, hoạt động kinh
tế của con người trong hệ sinh thái nông nghiệp đang tạo nên những biến đổi sâu sắc tới điều kiện sống của các loài Tất cả hoạt động có hại cần được khắc phục và công tác bảo vệ cần phải an toàn cho môi trường và có hiệu quả bền vững
III- Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Đức Tùng, Bài giảng sinh thái côn trùng nâng cao, link: https://www.dropbox.com/s/725n2nrtotj1215/Bai%20giang%20STCT%20nang
%20cao%20%28Tung%29up.pdf?dl=0
- Nguyễn Đức Khiêm, Giáo trình côn trùng nông nghiệp, 2005, nhà xuất bản trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Ổ sinh thái, link bài viết: https://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BB%94_sinh_th
%C3%A1i