1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chiến lược phát triển du lịch hồ sông đà hòa bình của công ty du lịch hòa bình

112 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của gia đình, bạn bè, Ban giám hiệu, các thầy c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

======== W X ========

ĐẶNG THÚY HÀ

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH HỒ SÔNG ĐÀ HÒA BÌNH CỦA CÔNG TY DU LỊCH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN NGHIẾN

Hà Nội 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra, trong luận văn có

sử dụng các thông tin, các số liệu, các bản báo cáo của tỉnh, một số huyện và các thông tin điều tra trực tiếp từ du khách

Tôi xin cam đoan rằng tất cả các số liệu, thông tin trong luận văn hoàn toàn đúng sự thật và được trích nguồn rõ ràng, các số liệu tôi sử dụng trong luận văn này chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước nhà trường

Tác giả luận văn

Đặng Thúy Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của gia đình, bạn bè, Ban giám hiệu, các thầy cô Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Sở Kế hoạch và Đầu tư Hoà Bình, Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Hoà Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoà Bình, Ủy ban nhân dân thành phố Hoà Bình, Cục Thống kê Hoà Bình… và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các hộ gia đình trên địa bàn hồ Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình Đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của Thầy giáo Tiến sĩ Nguyễn Văn Nghiến - Giảng viên Viện Kinh tế và Quản

lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong suốt quá trình hình thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định khi thực hiện luận văn Kính mong các Thầy giáo, Cô giáo và bạn bè tiếp tục đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đặng Thúy Hà

Trang 4

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

CN & XDCB : Công nghiệp và xây dựng cơ bản

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 

LỜI CẢM ƠN

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC 

DANH MỤC BẢNG BIỂU 

PHẦN MỞ ĐẦU 1 

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6 

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch 6 

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6 

1.1.2 Những vấn đề có liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bền vững 11 

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 12 

1.1.4 Tác động của du lịch tới kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái 13 

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch 15 

1.2.1 Khái quát tình hình phát triển du lịch trên thế giới 15 

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch tại Việt Nam 16 

1.2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch 19 

1.3 Phương pháp nghiên cứu 20 

1.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 20 

1.3.2 Tổ chức điều tra thu thập số liệu 21 

1.3.3 Xử lý số liệu 21 

1.3.4 Phân tích số liệu 21 

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ - HÒA BÌNH 26 

2.1 Vị trí địa lý và địa hình 26 

2.1.1 Vị trí địa lý: 26 

2.1.2 Địa hình: 26 

Trang 6

2.2 Điều kiện khí hậu và chế độ thuỷ văn 26 

2.2.1 Khí hậu 26 

2.2.2 Thuỷ văn 27 

2.3 Hiện trạng kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 27 

2.3.1 Giao thông 27 

2.3.2 Hệ thống cấp điện 28 

2.3.3 Bưu chính viễn thông 28 

2.3.4 Cấp nước, thoát nước thải và vệ sinh môi trường 29 

2.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội khu vực hồ Sông Đà - Hoà Bình 30  2.4.1 Về kinh tế 30 

2.4.2 Về xã hội 32 

2.4.3 Về y tế 33 

2.4.4 Về giáo dục 33 

2.5 Vị trí du lịch của khu vực hồ Sông Đà - Hoà Bình 35 

2.5.1 Vị trí của du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và của cả nước 35 

2.5.2 Vị trí của du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương 36 

2.6 Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà - Hoà Bình 40 

2.6.1 Một số tài nguyên du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà - Hoà Bình 40 

2.6.2 Công tác quy hoạch phát triển du lịch 44 

2.6.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 45 

2.6.4 Các sản phẩm du lịch chủ yếu 48 

2.6.5 Lao động phục vụ du lịch 49 

2.6.6 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của hồ Sông Đà - Hoà Bình52  2.7 Đánh giá chung về sự phát triển du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà - Hoà Bình 61 

2.7.1 Nguyên nhân kết quả đạt được của việc phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hòa Bình 61 

Trang 7

2.7.2 Ảnh hưởng của việc phát triển khu du lịch hồ Sông Đà - Hòa Bình tới môi trường - xã hội 63 

Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC PHÁT

TRIỂN DU LỊCH HỒ SÔNG ĐÀ – HÒA BÌNH 65 

3.1 Định hướng phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình thời kỳ 2006 - 2020 65 3.1.1 Những quan điểm về phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình 65 3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình 66 3.1.3 Dự báo triển vọng phát triển du lịch ở hồ Sông Đà - Hòa Bình trong thời gian tới 68 3.2 Phân tích WSOT 72 3.2.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với du lịch hồ Sông

Đà - Hoà Bình 72 3.2.2 Những khó khăn đối với phát triển du lịch ở hồ Sông Đà -Hoà Bình 74 3.3 Một số giải pháp chiến lược để phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình 81 3.3.1 Hoàn thiện công tác quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện công tác quy hoạch phát triển du lịch 82 3.3.2 Hoàn thiện về cơ chế chính sách du lịch và kiện toàn hệ thống quản

lý Nhà nước về du lịch 83 3.3.3 Đa dạng hóa các nguồn vốn, thu hút đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển du lịch 85 3.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật 86 3.3.5 Nâng cao chất lượng dịch vụ 88 3.3.6 Phát triển mang tính tổng hợp và liên hoàn các loại hình, sản phẩm

du lịch dựa trên thế mạnh từng tài nguyên 89 3.3.7 Phát triển các tuyến điểm du lịch 91 3.3.8 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch 92 

Trang 8

3.3.9 Tăng cường tuyên truyền quảng bá, xúc tiến 94 3.3.10 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về du lịch và khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch 95 

PHẦN KẾT LUẬN 96  TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam (2005 – 2010) 18 

Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế của Hoà Bình giai đoạn 2008 - 2010 34 

Bảng 2.2: Một số lễ hội 44 

Bảng 2.3: Lao động phục vụ cho du lịch tỉnh Hòa Bình (2008 – 2010) 51 

Bảng 2.4 : Số lượt khách du lịch đến hồ Sông Đà -Hoà Bình (2008 – 2010)55  Bảng 2.5: Thời gian lưu trú của khách du lịch đến vùng 56 

hồ Sông Đà - Hoà Bình (2008 – 2010) 56 

Bảng 2.6: Doanh thu từ du lịch vùng hồ Sông Đà -Hoà Bình (2008 – 2010)60  Bảng 3.1: Dự báo lượng khách du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình tới năm 2020 69 

Bảng 3.2 : Dự báo doanh thu từ du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình đến năm 2020 70 

Bảng 3.3: Dự kiến nhu cầu lao động phục vụ du lịch trong 70 

vùng hồ Sông Đà - Hoà Bình đến năm 2020 70 

Bảng 3.4: Dự kiến nhu cầu phòng nghỉ phục vụ du lịch hồ Sông Đà - 71 

Hoà Bình đến năm 2020 71 

Bảng 3.5: Phân tích SWOT cho du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình 72 

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, khi cuộc sống của người dân đang ngày càng được nâng cao thì du lịch trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội Về mặt kinh

tế, du lịch đã trở thành một ngành quan trọng, một ngành kinh tế tổng hợp năng động và được coi là phương sách hiệu quả để mỗi vùng, mỗi quốc gia phát triển nền kinh tế của mình

Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều đó đã đánh dấu một bước ngoặt trên con đường chủ động hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế đất nước Gia nhập WTO mang đến những cơ hội mới nhưng cũng không ít những thách thức cho nền kinh tế nước ta Ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch các địa phương

sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn từ hội nhập kinh tế quốc tế:

- Cạnh tranh thu hút khách du lịch trên bình diện quốc gia và quốc tế sẽ ngày càng gay gắt

- Yêu cầu của khách du lịch về chất lượng sản phẩm ngày càng cao Trong khi đó du lịch Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, hoạt động du lịch chủ yếu dựa vào tự nhiên, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ lao động trong ngành còn nhiều bất cập; cơ sở

hạ tầng, cơ cở vật chất kỹ thuật du lịch còn yếu kém và thiếu đồng bộ

- Tài nguyên và môi trường du lịch đang có dấu hiệu suy giảm do khai thác, sử dụng thiếu tính bền vững

Trước bối cảnh đó, mỗi địa phương cần phải phân tích, đánh giá để tìm

ra những lợi thế về du lịch thực sự của địa phương mình, từ đó đề ra chiến lược phát triển, định hướng, giải pháp đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch phát triển

Tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, cách hơn 70 km theo phía Tây dọc đường

số 6, Hoà Bình là một vùng đất cổ với rất nhiều tiềm năng du lịch Đến với Hoà Bình, du khách sẽ được đến với hồ Sông Đà - Hoà Bình, đây là một trong những khu có rất nhiều điểm du lịch Quả thực sức người và thiên nhiên nơi đây đã tạo cho Hòa Bình một vùng lòng hồ và ven hồ thơ mộng với đầy đủ

Trang 11

vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản người Mường, bản người Dao, bản người Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình

Tuy nhiên, cho đến nay việc đầu tư, khai thác, phát triển các loại hình

du lịch ở hồ Sông Đà - Hoà Bình chưa mang đầy đủ những đặc trưng, tiềm năng vốn có của nó Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra hướng phát triển du lịch trên địa bàn này là rất cần thiết bởi những lý do sau:

- Phát triển du lịch là phù hợp với xu hướng và nhu cầu du lịch của thị trường trong nước cũng như quốc tế trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai

- Phát triển du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà - Hoà Bình theo hướng phát triển du lịch bền vững nhằm gia tăng tính hấp dẫn, kéo dài ngày lưu trú bình quân của du khách, tạo thêm nguồn thu, nâng cao hiệu quả của hoạt động

du lịch trong toàn tỉnh

- Phát triển du lịch sẽ góp phần cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương nói chung Đặc biệt nó sẽ góp phần vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng chính sách của cộng đồng dân cư; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

- Phát triển du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà - Hoà Bình đòi hỏi vốn đầu

tư ở mức độ vừa phải, phù hợp với thực tế và hoàn cảnh của địa phương

Xuất phát từ những lí do cơ bản trên, để góp phần xây dựng cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và định hướng phát triển du lịch trên địa bàn hồ Sông Đà

- Hoà Bình thời gian tới, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu

đề xuất một số giải pháp chiến lược phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình của Công ty Du lịch Hoà Bình ” làm đề tài tốt nghiệp cho mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động du lịch và tiềm năng phát triển du lịch của hồ Sông Đà - Hoà Bình đề xuất các giải pháp cơ bản để phát triển du lịch trên địa bàn trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 12

- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình mang lại lợi ích và những tác động gì cho kinh tế - xã hội của tỉnh?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình?

- Làm thế nào để phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình theo hướng khai thác bền vững các tài nguyên du lịch?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngành du lịch và các hoạt động du lịch vùng hồ Sông Đà - Hoà Bình, một số địa điểm du lịch được chọn nghiên cứu trên địa bàn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch ở hồ Sông Đà - Hoà Bình trong một số năm gần đây, từ đó đánh giá và đưa ra những giải pháp cơ bản

để phát triển du lịch ở hồ Sông Đà - Hoà Bình trong những năm tới

Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ Sông Đà - Hoà Bình thuộc tỉnh Hoà Bình Số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2006-2010

4 Kết quả đạt được

Mô tả chính xác thực trạng phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hòa Bình hiện nay, làm cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá Vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành và chuyên ngành từ đó mạnh dạn đưa ra một số giải pháp chiến lược phát triển du lịch hồ Sông Đà - Hòa Bình

Trang 13

+ Luận văn tiếp cận và đã khẳng định vị thế của du lịch hồ Sông Đà - Hoà Bình trong xu thế phát triển du lịch của tỉnh Hoà Bình hiện nay

+ Luận văn cũng phân tích những khả năng và lợi thế trong phát triển

du lịch hồ Sông Đà - Hòa Bình

+ Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu quý góp phần nhỏ vào việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển du lịch hồ Sông Đà – Hòa Bình nói riêng và du lịch tỉnh Hoà Bình nói chung

5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở rất nhiều quốc gia trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945), du lịch phát triển rất mạnh mẽ và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về tiềm năng cũng như giải pháp để phát triển du lịch ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ từ sau khi đất nước ta tiến hành đổi mới, cải cách kinh tế (1986) thì du lịch và các công trình nghiên cứu

về du lịch mới được quan tâm

Khơi dậy được những tiềm năng vốn có cũng như giải pháp để phát triển du lịch theo xu hướng phát triển bền vững, là một trong những vấn đề thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các chuyên gia kinh

tế quan tâm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề này: Khuất Hữu Oanh (2007) “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây ” Tác giả đã khái quát hoá được cơ

sở lý luận, cơ sơ thực tiễn về tiềm năng, khai thác, quản lý và định hướng phát triển du lịch Đồng thời đánh giá được thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất định hướng và giải pháp để phát triển du lịch trên địa bàn thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây

Nguyễn Sao Dần (2008) “Khai thác tiềm năng du lịch sinh thái trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình ” Sau khi phân tích đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, trên cơ sơ lý luận và thực tiễn về phát triển

du lịch sinh thái, tác giả đã có những nhận định, đánh giá về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, đưa ra

Trang 14

những định hướng, giải pháp nhằm phát huy tiềm năng to lớn về du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như: Nguyễn Anh Phương (2007) “Nghiên cứu một số giải pháp phát triển du lịch bền vững tại huyện Buôn Đôn - tỉnh ĐăkLăk” Sau khi phân tích tiềm năng du lịch tại huyện Buôn Đôn, tác giả kết luận: Du lịch Buôn Đôn có tiềm năng du lịch thiên nhiên, lịch sử, nhân văn, rất đa dạng và phong phú, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, mở rộng nhiều loại hình du lịch thân thiện với môi trường có tính bền vững Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất các giải pháp để phát triển bền vững du lịch ở địa bàn nghiên cứu trong đó nhấn mạnh các giải pháp như: Hoàn thiện công tác quy hoạch, quản lý và thực hiện công tác quy hoạch phát triển du lịch; Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch cũng như đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch, quảng bá du lịch và mở rộng thị trường du lịch

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch

Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch vùng lòng hồ Sông Đà - Hòa Bình Chương 3 Đề xuất một số giải pháp chiến lược phát triển du lịch hồ Sông

Đà - Hoà Bình

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Có rất nhiều khái niệm về du lịch Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

“Du lịch chỉ là hiện tượng đơn lẻ của một số người thuộc tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội” [8] Khi đó, khách du lịch vẫn tự do lấy việc đi lại và ăn ở của mình và người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn, dành riêng cho tầng lớp quý tộc, giàu có trong xã hội:

“Du lịch là hiện tượng những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình theo nhiều nguyên nhân khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác” [6] Thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người đã được tổ chức Du lịch thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada, Úc chấp thuận

Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, số lượng du khách ngày càng nhiều và khái niệm đi

du lịch càng ngày càng mang tính quần chúng hoá Do đó, nhu cầu về chỗ ăn,

ở, vui chơi giải trí… cho du khách ngày càng cao và trở nên cấp thiết Ngày nay, du lịch không những là hiện tượng nhân văn mà còn là hoạt động kinh tế: “Du lịch là toàn bộ những hoạt động và công việc được phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách” [6]

Du lịch càng phát triển thì những hoạt động này càng phong phú và gắn bó với nhau hơn tạo nên một ngành “Công nghiệp du lịch” mà sự phát triển của nó gắn liền với nhịp độ phát triển du lịch Cho đến nay du lịch được hiểu không chỉ là hoạt động nhân văn, hoạt động kinh tế mà còn là một ngành công nghiệp:

Trang 16

“Du lịch là toàn bộ các mục tiêu biến các nguồn lực thành sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách” [6]

Các khái niệm trên mới chỉ mô tả du lịch theo hiện tượng bên ngoài của

nó Để phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nhất về khái niệm của du lịch như sau:

“Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh

từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch” [6]

Trong hoạt động kinh doanh du lịch, tuỳ theo đối tượng và mục đích chuyến đi của du khách người ta thường chia ra thành các chuyên đề, loại hình du lịch cụ thể như: Du lịch thuần tuý, du lịch kinh doanh, du lịch sinh thái v.v… Ngoài ra, người ta còn có thể chia nhỏ hơn các chuyên đề, loại hình du lịch trên như: Du lịch nghiên cứu văn hoá ẩm thực, nghiên cứu văn hoá lịch sử, nghệ thuật (cả một đất nước, một vùng)… Tuy nhiên, các chương trình du lịch được xây dựng có thể không chỉ đơn thuần một chuyên đề hoặc một loại hình, mà nó có thể được xây dựng kết hợp theo yêu cầu của du khách

1.1.1.2 Khái niệm các bộ phận hợp thành và đặc điểm sản phẩm du lịch

* Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi những bộ phận hợp thành Đó là dịch vụ lưu trú, dịch vụ đi lại, dịch vụ ăn uống, dịch vụ giải trí, dịch vụ mua sắm v.v… “Những du khách khác nhau bao giờ trong chuyến đi du lịch cũng

có những nhu cầu khác nhau Điều chung nhất là sản phẩm du lịch mang lại cho họ là sự hài lòng” [8] Sự hài lòng này không phải là sự hài lòng như khi người ta mua một loại sản phẩm vất chất cụ thể mà là sự hài lòng về khoảng thời gian và cảm giác của mình đã đạt được:

Trang 17

“Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và những phương tiện vật chất nhằm cung cấp cho du khách một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [6]

* Các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch: gồm 04 bộ phận

- Dịch vụ vận chuyển: Đưa du khách từ vùng cư trú đến nơi du lịch, bao gồm nhiều loại phương tiện vận chuyển du khách như: Ô tô, tàu hoả, máy bay, tàu thủy…

- Dịch vụ lưu trú: Đảm bảo cho du khách nơi ăn, ở trong quá trình thực hiện chuyến du lịch của mình và du khách có thể chọn một trong những khả năng sau: Khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, cắm trại…

- Dịch vụ mua sắm: Đi du lịch mua sắm cũng là một cách giải trí Nhưng đồng thời, việc nhiều du khách mang về một ít vật kỉ niệm của chuyến

đi là không thể thiếu được Nó bao gồm các hình thức mua sắm tại quầy hàng lưu niệm, hàng tạp hoá, hàng mỹ nghệ

Nhìn chung, du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp Toàn bộ kỹ nghệ du lịch dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, những công trình kiến trúc, những tài nguyên văn hoá để thu hút khách như: các điều kiện thuận lợi

về khí hậu, về tự nhiên cũng như các di tích lịch sử, di sản văn hoá v.v…

Ngày nay, hiện tượng đi du lịch đã trở thành phổ biến Sự kết nối tất

cả các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch và thương mại hoá như: Công tác marketing, đại lý phân phối… có ý nghĩa rất quan trọng Đặc biệt

là sự đứng ra tổ chức kết nối và thương mại hoá của T.O (Tour Operators)

đã tạo kiện thúc đẩy sự phát triển của du lịch Các dịch vụ này được gọi là dịch vụ trung gian

Trang 18

cầu sinh lý (ăn, uống…) Chính vì vậy du lịch là một yêu cầu cao nên hệ số co giãn cầu của sản phẩm du lịch rất cao

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng thời gian và địa điểm của việc sản xuất ra chúng (quá trình tiêu dùng sản phẩm trùng với quá trình sản xuất sản phẩm)

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ (có ngày, có mùa, có tháng du khách đến rất đông và ngược lại) Tính thời vụ này chủ yếu bị ảnh hưởng bởi thời gian nghỉ của các cán bộ, công nhân viên, sinh viên, học sinh… Cũng như tính chất của vùng du lịch, đặc điểm khí hậu của từng vùng

- Sản phẩm du lịch chủ yếu là sản phẩm phi vật chất, do đó sản phẩm

du lịch không có nhãn hiệu Vì vậy không có độc quyền về sản phẩm du lịch Như vậy, với tính chất đặc thù riêng vốn có, sản phẩm du lịch khác xa các sản phẩm vật chất cụ thể của ngành sản xuất vật chất khác Những đặc điểm này đã làm nên tính đặc thù của hoạt động du lịch

1.1.1.3 Khái niệm về tiềm năng du lịch

Theo từ điển tiếng Việt thì “tiềm năng” có nghĩa là: Khả năng, năng lực tiềm tàng [5] Còn “tiềm tàng” lại có nghĩa là trạng thái bên trong chưa bộc lộ

ra, chưa phải là hiện thực (nguồn sức mạnh tiềm tàng, khai thác những khả năng tiềm tàng…) [5] Tiềm năng là một thuật ngữ mang tính khá trừu tượng, chúng ta có thể hiểu “tiềm năng” là khả năng, năng lực ẩn giấu có thể khai thác được theo một mục đích nào đó

Trong hoạt động du lịch, khái niệm về tiềm năng du lịch được nhiều giáo trình định nghĩa Trên khía cạnh có tính học thuật khái quát thì tiềm năng

du lịch là: “Những tài nguyên du lịch chưa khai thác hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và đưa vào sử dụng” [6] Còn trên khía cạnh có tính nghiệp vụ cụ thể, giáo trình thống kê du lịch đã định nghĩa: “Tiềm năng du lịch của một nước (hoặc vùng lãnh thổ) là những điều kiện tự nhiên và những di sản lịch sử thuận lợi cho việc xây dựng những cơ sở du lịch Ngoài ra, tiềm năng du lịch còn có trong các công trình xây

Trang 19

dựng lớn và đẹp, những quần thể kiến trúc hiện đại Tiềm năng có thể được khai thác một phần hoặc chưa được khai thác do những hạn chế nhất định” [4]

Người ta thường phân chia tiềm năng du lịch theo các loại hình sau: Tiềm năng ở dạng tài nguyên tự nhiên; tiềm năng ở dạng lịch sử; tiềm năng ở những công trình đương đại xuất hiện do quá trình xây dựng kinh tế và văn hoá đã và đang diễn ra Tiềm năng còn có ở phần nguồn khách du lịch như các thị trường tiềm năng chưa khai thác…

1.1.1.4 Khái niệm về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đời sống con người Theo nghĩa rộng “tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu (materials) năng lượng (energy), thông tin (information) có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình” [3]

Những tài nguyên nào có thể sử dụng cho phát triển du lịch đều coi là tài nguyên du lịch “Tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của

du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” [8]

Tài nguyên thường được phân chia thành tài nguyên tự nhiên (natural resources) gắn liền với các yếu tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn (human resources) gắn liền với các yếu tố con người và xã hội

Trong du lịch, cũng có rất nhiều khái niệm về tài nguyên du lịch nhưng nhìn chung có thể hiểu một cách khái quát nhất: “Tài nguyên du lịch bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành nên sự hấp dẫn và lôi cuốn của du lịch nhằm thoả mãn những nhu cầu đặc trưng của khách du lịch, chúng là nguyên liệu cho một chuyến du lịch, là yếu tố quan trọng đầu tiên cho việc phát triển du lịch của một địa phương, một quốc gia” [6]

Tài nguyên du lịch là một trong những điều kiện quan trọng bấc nhất để hình thành nên nguồn cung trong du lịch Nó ảnh hưởng lớn đến sức hấp dẫn, khả năng thu hút khách của điểm du lịch Một địa phương hay quốc gia có tài

Trang 20

nguyên du lịch phong phú và đa dạng sẽ có điều kiện lớn để phát triển hoạt động du lịch Tuy nhiên, đây mới chỉ là “khả năng” còn để biến nó thành

“hiện thực” thì phải cần có sự đầu tư hợp lý và đồng bộ cho du lịch phát triển

1.1.2 Những vấn đề có liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bền vững

Du lịch ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh, là ngành chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương ở nhiều vùng lãnh thổ Tuy nhiên, cần phải nhận thức được rằng nếu phát triển không có kế hoạch và thiếu sự quản lý chặt chẽ có thể làm trầm trọng hơn các tác động tiêu cực Khi đó xét trên toàn xã hội, cái lợi thu được không đủ bù đắp chi phí để khắc phục hậu quả của nó

Từ thực tế đó, người ta đã tiếp cận đến một quan điểm mới đó là “phát triển bền vững”

Theo Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ trong tương lai” [2] Phát triển bền vững luôn luôn bao gồm 5 yếu tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau:

- Yếu tố kinh tế: Sự sáng tạo ra của cải vật chất phải đi đôi với việc cải

thiện điều kiện sống

- Yếu tố xã hội: Đảm bảo sự hoàn thiện về giáo dục, y tế, dinh dưỡng,

nhà cửa

- Yếu tố an ninh an toàn: Đảm bảo các quyền con người, sự tự do chính

trị an ninh…

- Yếu tố văn hoá: Giới thiệu được bản sắc và giá trị độc đáo riêng đến

nhiều người và giữ gìn được bản sắc đó

- Yếu tố sinh thái: Ưu tiên cho việc giữ gìn và bảo toàn các tài nguyên

thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người

Trang 21

Phát triển du lịch bền vững có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái Nó bảo đảm cho sự phát triển của hoạt động du lịch sẽ không làm tổn hại đến các tài nguyên, môi trường và các giá trị văn hoá, xã hội trong một thời gian dài

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch

Du lịch là một ngành rất nhạy cảm với những biến động xã hội và chịu tác động của rất nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tổ chức quản lý…

1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình… Đây là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức hấp dẫn khách du lịch Đó là những

kỳ quan thiên nhiên, những danh lam thắng cảnh mà thiên nhiên dã ban tặng cho con người Vịnh Hạ Long, động Hương Tích, động Phong Nha, bãi biển Nha Trang, Vũng Tàu, Hòn Né đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biết cho du khách Đây chính là những tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch

Cảnh quan thiên nhiên càng kỳ vĩ, thơ mộng thì tiềm năng du lịch càng lớn và càng có điều kiện để phát triển du lịch

Tiềm năng du lịch tự nhiên là điều kiện tiền đề để phát triển du lịch

1.1.3.2 Điều kiện kinh tế

Để khai thác các tiềm năng du lịch, chỉ có các tài nguyên du lịch thì chưa đủ Cần có cả một hệ thống đồng bộ thì ngành du lịch mới có thể đi vào hoạt động được Đó là cơ sở kỹ thuật bao gồm các công trình như khách sạn, nhà hàng ăn uống, hệ thống điện, nước… Đó chính là mức độ đầu tư (điều kiện kinh tế) càng cao thì càng tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ du khách và như vậy càng tạo điều kiện để du lịch phát triển

1.1.3.3 Điều kiện xã hội

Đây chính là tài nguyên nhân văn trong du lịch Điều kiện xã hội chính

là con người, do con người tạo nên Đó là nền văn hoá, lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán Lễ hội càng phong phú, đa dạng, các di tích lịch sử, công trình

Trang 22

kiến trúc nghệ thuật độc đáo thì càng hấp dẫn du khách và là điều kiện tốt để phát triển du lịch Các Kim tự tháp Ai Cập, Lễ hội Canaval, Đền Ăngkovat (CamPuChia), Tháp Eiffel (Pháp), Vạn lý trường thành (Trung Quốc), Thánh địa Mỹ Sơn (Việt Nam) luôn tạo sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách bởi giá trị lịch sử, vẻ đẹp quyến rũ, sự khâm phục trước khả năng sáng tạo của con người

Tài nguyên nhân văn gắn kết, bổ sung và kết hợp với tài nguyên tự nhiên để tạo nên tiềm năng du lịch Tài nguyên nhân văn tốt là động lực thúc đẩy du lịch phát triển

Thực hiện xã hội hoá trong việc đầu tư, bảo vệ, tôn tạo các di tích, cảnh quan môi trường, các lễ hội, hoạt động văn hoá dân gian, các làng nghề phục

vụ phát triển du lịch

1.1.4 Tác động của du lịch tới kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

- Về kinh tế: Du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua

việc tiêu dùng của khách du lịch, góp phần làm sống động nền kinh tế ở nơi

du lịch, từ đó kích thích tăng cường huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào chu chuyển

Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thủ công mỹ nghệ… Ngoài ra du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá

Trang 23

giao thông vận tải, thương mại… góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, tăng thu nhập quốc dân

Ngoài ra, hoạt động du lịch quốc tế còn xuất khẩu được một số mặt hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm lương thực thực phẩm của ngành nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, đóng góp nguồn thu ngoại tệ đáng

kể cho đất nước

Như vậy, du lịch có ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế Phát triển du lịch

đã mang lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Đối với các địa phương, phát triển du lịch còn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khôi phục và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống

- Về xã hội: Du lịch phát triển tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho

người lao động và nhân dân địa phương Thông thường tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn thường tập trung nhiều ở nông thôn, vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay những vùng nguyên sơ khác Khi có kế hoạch để khai thác tiềm năng tài nguyên để phát triển du lịch, cần thiết phải có đầu tư về hệ thống cơ

sở hạ tầng như: giao thông, điện nước, bưu chính viễn thông… nhờ phát triển

du lịch sẽ góp phần thay đổi bộ mặt vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và làm giãn dân cư từ các khu dân cư tập trung, từ các đô thị ra các vùng du lịch Phát triển du lịch quốc tế còn là phương tiện quảng bá hữu hiệu cho đất nước làm du lịch và mở rộng củng cố mối quan hệ đầu tư quốc tế Du lịch nội địa phát triển tạo điều kiện để tái sản xuất sức lao động cho nhân dân, góp phần tăng năng suất lao động

Phát triển du lịch còn tăng cường mở rộng giao lưu văn hoá thông qua các cuộc giao tiếp giữa khách du lịch với người bản xứ hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, đạo đức lối sống, chế độ xã hội

Du lịch là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, từ

đó người dân nâng cao truyền thống dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 24

- Về môi trường sinh thái: Phát triển du lịch đã tạo điều kiên bảo vệ,

tôn tạo các công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, mở rộng hạ tầng cơ sở, tạo môi trường cảnh quan ngày càng xanh - sạch - đẹp, góp phần bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, bảo

vệ môi trường

Du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết của khách du lịch về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào việc bảo tồn, góp phần bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch

1.2.1 Khái quát tình hình phát triển du lịch trên thế giới

Hiện nay, du lịch đã phát triển rất phong phú và đa dạng với nhiều loại hình khác nhau, với những phương thức tổ chức khai thác quản lý hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, mang lai hiệu quả kinh tế cao

Sau chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt từ năm 1995 hoạt động du lịch thế giới phát triển với nhịp độ cao Số khách du lịch quốc tế tăng từ 25 triệu người năm 1950 đến 168 triệu người năm 1971, 350 triệu người năm 1985,

450 triệu người năm 1991 và 525 triệu người năm 1994 Những năm vừa qua do những diễn biến về chính trị thế giới còn rất phức tạp, đặc biệt là cuộc khủng hoảng về kinh tế toàn cầu đã làm cho ngành du lịch thế giới có

xu hướng giảm sút, cụ thể như ở khu vực bờ biển châu Á - Thái Bình Dương Tại châu Phi, mức tăng trưởng của ngành công nghiệp này trong năm 2008, 2009 và 2010 đã giảm một nửa, còn tại châu Âu tốc độ tăng trưởng của thị trường du lịch giảm xuống còn 1,7% tháng (theo Thông tấn

xã Việt Nam) Mặc dù có xu hướng giảm sút về lượng khách du lịch nhưng dường như bất chấp những hậu quả của cơn lốc khủng hoảng tài chính đang quét qua nền kinh tế thế giới, ngành Du lịch vẫn cho thấy sức phát triển ổn định Trong hơn 30 năm (1960 – 2001) số khách du lịch tăng 69 lần, thu

Trang 25

nhập từ du lịch của thế giới tăng bình quân 11,8 %/năm Du lịch đang dần trở thành ngành kinh tế hàng đầu của thế giới [12]

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch tại Việt Nam

1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xu hướng phát triển ngành du lịch

Tình hình trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, thách thức đan xen với những thuận lợi và cơ hội để phát triển du lịch Trong những năm tới, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá hướng tới mục tiêu đến năm 2020

cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trên cơ sở đó kết cấu hạ tầng sẽ phát triển; cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; chất lượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường vững chắc; môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện; vị thế nước ta trong quan hệ quốc tế được củng cố và nâng cao Tất cả những yếu tố trên là cơ sở vững chắc cho sự phát triển du lịch và cũng là đòi hỏi sự đóng góp ngày càng cao của ngành du lịch đối với đất nước

Trong tình hình hiện nay và điều kiện hiện có, phát triển du lịch với vai trò ngành kinh tế mũi nhọn là một hướng chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, phát huy được lợi thế của đất nước và phù hợp với xu hướng phát triển trên thế giới Trong phát triển du lịch cần kiên trì quan điểm của Đảng và Nhà nước: “Phát triển du lịch phải đồng thời đạt hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; phát động tối đa nội lực, chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, khuyến khích các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế tham gia phát triển cả du lịch quốc tế và du lịch nội địa, dưới sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của Nhà Nước Thực hiện theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là: “Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”

Trang 26

1.2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch tại Việt Nam

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội từ sau công cuộc đổi mới (1986)

Du lịch Việt Nam đã không ngừng phát triển, thu hút khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng Năm 2003, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam khoảng 2.429.600 lượt, đến năm 2008 đạt 4.253.700 lượt, gấp 1,8 lần so với năm 2003

Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2006 đạt 3.583.486 lượt người, tăng 3% so với năm 2005 Năm 2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 3.677.664 lượt, tăng 2,6% so với năm

2006 Năm 2008, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 4.253.740 lượt, tăng 15,6% so với năm 2007 Năm 2009, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 3.772.359 lượt, bằng 89,1% so với năm 2008 Năm 2010 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 5.049.855 lượt, tăng 134,8 so với 2009

Theo kết quả nghiên cứu của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, Việt Nam xếp hạng 6/10 các nước phát triển du lịch và lữ hành tốt nhất trong thời gian từ 2007 đến 2010 Du lịch Việt Nam đã lọt vào top 10 thế giới

Trang 27

Bảng 1.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam (2005 – 2010)

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch

đang có chiều hường phát triển mạnh và đã xác định chiếm vị trí quan

trọng đối với nhiều địa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa tương

xứng với tiềm năng du lịch của Việt Nam Một nước được đánh giá giàu

tiềm năng về du lịch bởi sự phong phú, tính đa dạng sinh học và có nhiều

cảnh quan, hang động đẹp, với trên 3.200 km bờ biển trải dài khắp đất

Trang 28

nước Các hoạt động du lịch mới chỉ phát triển mạnh ở một số vùng có nhiều thế mạnh và đối tượng khách chủ yếu là khách du lịch trong nước Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển du lịch không chỉ đóng góp việc phát triển kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và bản sắc văn hoá truyền thống Hiện nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đều đã và đang tiến hành xúc tiến triển khai hoặc mở rộng các dự án du lịch Trong đó, có rất nhiều dự án lớn như: Khu du lịch hồ Hoà Bình, Du lịch Cụm điểm Đồng

Mô – Làng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, làng Việt cổ Đường Lâm (Hà Nội); Tam Đảo, Hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc), hồ Ba Bể (Bắc Kạn); động Phong Nha (Quảng Bình) một loạt các dự án đầu tư cho du lịch Biển ở các bãi biển đẹp như: Hố Nai, Ba Hòn (Kiên Giang)…

Trong thời gian tới, với sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Chính phủ, ngành du lịch Việt Nam nói chung và các đơn vị kinh doanh du lịch nói riêng, chúng ta tin tưởng và hi vọng du lịch nước ta sẽ phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, đưa du lịch Việt Nam trở thành kinh tế mũi nhọn của đất nước, nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, xứng đáng với tiềm năng

và vị thế vốn có của nó

1.2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch

Kinh nghiệm về khai thác lợi thế so sánh: Mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có những thế mạnh riêng của mình nhờ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, con người… Việc khai thác những tiềm năng

đó một cách hợp lý có một ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển

du lịch Kinh nghiệm về phát triển du lịch từ Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, du lịch từ các Kim tự tháp cổ của Ai Cập trong việc phát triển du lịch là những bài học điển hình

Kinh nghiệm về việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho du khách: An toàn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các khách du lịch Trong cuộc chiến chống khủng bố hiện nay, nguy cơ đe doạ an toàn của du khách ảnh hưởng rất lớn đến quyết định du khách tham gia du lịch Việc ổn định tình

Trang 29

hình chính trị và trật tự xã hội của Việt Nam đã thu hút dáng kể lượng du khách khắp nơi trên thế giới đến Việt Nam trong thời gian gần đây Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2010 (5.049.855 lượt) tăng gấp 1,5 lần so với năm 2005 (gần 3,5 triệu lượt) đã cho thấy điều đó

Kinh nghiệm về việc khai thác phải đồng thời với việc đầu tư cơ cở vật chất, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái: Đất nước Singapore là một tấm gương sáng, họ đã rất thành công và đem lại nguồn thu nhập chính cho nền kinh tế từ du lịch nhờ vào việc đầu tư cơ sở vật chất cho du lịch gắn liền với việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái, Singapore được mệnh danh là quốc gia “xanh, sạch, đẹp” nhất trên thế giới

Kinh nghiệm về công tác tuyên truyền quảng cáo về du lịch: Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch có một ý nghĩa rất lớn trong việc thu hút khách du lịch, bởi du lịch khó áp dụng phương châm “hữu xạ tự nhiên hương” Có sản phẩm du lịch hấp dẫn, phải quảng bá, xúc tiến, giới thiệu công phu, khách mới đến Nếu công tác này tốt, du khách khắp nơi sẽ biết đến địa danh du lịch đó Theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO), ngân sách

về quảng cáo, tuyên truyền cho du lịch vào thập niên 80 của thế kỷ XX lên tới

200 triệu USD/năm Trong đó Singapore: 10 triệu USD, Hồng Kông: 8 triệu USD Đây là một kinh nghiệm quý báu cho công tác phát triển du lịch ở vùng lòng hồ Sông Đà Hoà Bình nói riêng và cho các đơn vị du lịch nói chung

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Các điểm du lịch vùng hồ Sông Đà - Hoà Bình nằm rải rác ở huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu và thành phố Hoà Bình Để đạt được mục đích đề ra, trong các khu vực trên chúng tôi đã chọn ra một số điểm đặc thù để khảo sát và thu thập các đặc điểm của từng tài nguyên du lịch đồng thời tiến hành điều tra du khách trong nước và quốc tế tại các địa điểm du lịch Cụ thể, chúng tôi đã chọn các điểm phục vụ cho việc nghiên cứu là: Điểm du lịch đền Chùa Thác Bờ, Vịnh Suối Hoa - Động Hoa Tiên, Bản dân

Trang 30

tộc Mường ở Giang Mỗ Chúng tôi chọn các khu du lịch này là điểm trọng tâm do tính chất đặc thù của các tài nguyên hiện đang được khai thác phục vụ

du lịch và được sự quan tâm đặc biệt của ngành du lịch tỉnh cũng như sự quan tâm của các du khách trong và ngoài nước

1.3.2 Tổ chức điều tra thu thập số liệu

Nguồn thông tin thứ cấp: Thu thập số liệu từ các báo cáo kinh tế, xã hội của tỉnh, của các sở, ban, ngành và của các huyện, các khu du lịch, niên giám thống kê của tỉnh và cả nước, các tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố, các chủ trương chính sách về khai thác tiềm năng du lịch của Đảng và Nhà Nước

Nguồn thông tin sơ cấp: Số liệu được thu thập qua việc điều tra, phỏng vấn du khách về những vấn đề liên quan đến mục đích và nội dung nghiên cứu theo các phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn Trong quá trình phỏng vấn chúng tôi kết hợp với việc quan sát và trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề có liên quan

1.3.3 Xử lý số liệu

Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel

1.3.4 Phân tích số liệu

1.3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả

Sử dụng các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân kết hợp với độ lệch chuẩn và phương sai để để tính toán các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động du lịch qua các năm như số khách đến từng khu du lịch và tất

cả các khu du lịch, doanh thu của khu du lịch, chi phí, đầu tư vào các khu du lịch, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ du lịch,…

1.3.4.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp này sử dụng để so sánh, đánh giá kết quả kinh doanh du lịch qua các năm, giữa các khu du lịch trong cùng năm và giữa các loại hình

du lịch khác nhau,…

Trang 31

1.3.4.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia: Đây là phương pháp được đánh giá cao trong lĩnh vực du lịch hiện nay Do nhu cầu về du lịch rất nhạy cảm với những biến động về an ninh - chính trị trên thế giới Mặt khác, đây là phương pháp rất có

ưu điểm trong việc sử dụng để đánh giá các vấn đề có tính chất ước định, làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất kinh tế, kỹ thuật phức tạp, đồng thời trắc nghiệm lại các tính toán và những nhận định làm căn cứ cho việc đưa ra các kết luận có tính khoa học và thực tiễn Vì vậy chúng tôi đã thu thập ý kiến của giáo viên hướng dẫn, của các nhà nghiên cứu về du lịch tại địa phương, doanh nghiệp về du lịch, các hướng dẫn viên du lịch…

1.3.4.5 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia (PRA)

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có sử dụng những ý kiến đóng góp của người dân địa phương gần các điểm du lịch cũng như lấy ý kiến của các du khách Qua đó góp phần nắm bắt được các thông tin một cách thực tế

về thực trạng tình hình, đưa ra được các giải pháp phát triển phù hợp với yêu cầu thực tế tại địa phương

1.3.4.6 Phương pháp phân tích ma trận SWOT

SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (thách thức) Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong sản xuất kinh doanh Ma trận SWOT dùng để tổng hợp những nghiên cứu về môi trường bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp (hoặc của ngành), nhằm đưa ra những giải pháp phát huy được thế mạnh, tận dụng được cơ hội, khắc phục các điểm yếu và né tránh các nguy cơ Phân tích môi trường bên ngoài để phát hiện ra cơ hội và những đe doạ đối với doanh nghiệp Phân tích môi trường nội bộ để xác định được thế mạnh và điểm yếu của chính doanh nghiệp

Ma trận SWOT có thể xem xét dưới hình như sau:

Trang 32

Trên cơ sở phân tích các yếu tố ma trận, căn cứ vào mục tiêu, phương hướng phát triển và các nguồn lực của mình, đơn vị có thể thiết lập và kết hợp, về nguyên tắc có bốn loại kết hợp:

(1) Cơ hội với điểm mạnh (OS): Doanh nghiệp sử dụng các mặt mạnh của mình nhằm khai thác cơ hội

(2) Đe doạ với điểm mạnh (TS): Doanh nghiệp sử dụng các mặt mạnh của mình nhằm đối phó với những nguy cơ

(3) Cơ hội với điểm yếu (OW): Doanh nghiệp tranh thủ các cơ hội nhằm khắc phục các điểm yếu

(4) Đe doạ với điểm yếu (TW): Doanh nghiệp cố gắng giảm thiểu các mặt yếu của mình và tránh các được các nguy cơ [Phạm Văn Lô, 2008]

Và trong đề tài này, chúng tôi dùng phương pháp ma trận SWOT để phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với du lịch

Trang 33

vùng hồ Sông Đà - Hòa Bình Trên cơ sở đó có những giải pháp để phát triển du lịch hồ Hoà Bình

Phát triển du lịch tạo ra nhiều sản phẩm du lịch và các loại hình du lịch

đa dạng, độc đáo, thỏa mãn nhu cầu cao của con người; là phương tiện quảng

bá hình ảnh đất nước, con người, tăng cường mở rộng giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền, quốc gia, tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán,

Trang 34

đạo đức, lối sống, nâng cao truyền thống dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG

2.1.2 Địa hình:

Địa hình vùng hồ Sông Đà - Hoà Bình khá đa dạng, phong phú và hấp dẫn du khách Địa hình bị che cắt bởi nhiều ngòi, khe, suối, độ dốc bình quân

300, độ che phủ bình quân 30%

Trong hồ có 47 đảo lớn nhỏ, trong đó có 11 đảo đá vôi với diện tích

116 ha và 36 đảo núi đất diện tích 157,5 ha Phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, hai bên bờ hồ là những cảnh núi rừng ngút ngàn, thơ mộng

2.2 Điều kiện khí hậu và chế độ thuỷ văn

2.2.1 Khí hậu

Cũng như các vùng khác thuộc miền Tây Bắc, hồ Sông Đà - Hoà Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng nội khí hậu vùng hồ Mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa Mùa hè dài, nóng, mưa nhiều

Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất

là 28,10C, thấp nhất là 20,40C Độ ẩm trung bình 83,3%, lượng mưa bình quân

Trang 36

167,8 mm/năm, mưa tập trung vào tháng 4 đến tháng 9 Tháng mưa nhiều nhất là tháng 5, 6, 7, 8

2.2.2 Thuỷ văn

Lưu vực Sông Đà có hệ thống sông suối dày đặc, với khoảng 200 chi

lưu, có tổng chiều dài 4.495 km Mật độ sông suối bình quân 0,17km/km2

Sông Đà có lượng nước bình quân năm 56,1 tỷ m3, lưu lượng trung bình năm tại Hoà Bình là 9.389m3/s, lưu lượng lớn nhất lên tới 21.000m3/s Do lượng mưa phân bố không đều nên lưu lượng nước cũng thay đổi lớn theo mùa Mực nước cao nhất mùa mưa cao hơn mực nước trung bình từ 18 đến 20m

Nước hồ Sông Đà - Hoà Bình được điều tiết trong năm Vào cuối mùa mưa, trữ lượng nước hồ Sông Đà - Hoà Bình trên thượng lưu ở cốt 117, trước mùa lũ, ở cốt 90 Sự chênh lệch cốt này khiến việc giao thông trên dòng sông không thuận lợi, cảnh quan thay đổi bất lợi cho việc khai thác du lịch Mặt khác, trong mùa mưa, việc giao thông trên lòng hồ gặp rất nhiều trở ngại (do

lũ, do rác, củi gỗ trôi trên sông, dòng sông bị đục, ngoại trừ hồ Ngòi Hoa)

2.3 Hiện trạng kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

2.3.1 Giao thông

Hệ thống giao thông hiện trong khu vực hồ Sông Đà - Hoà Bình là một

hệ thống đa dạng cả đường thuỷ lẫn đường bộ Đây chính là một ưu thế của việc phát triển du lịch

Hồ Sông Đà - Hoà Bình tạo nên tuyến đường thuỷ khá thuận tiện, tuyến chính dài 200 km từ Hoà Bình tới Tạ Bú, ngoài ra còn gần 150km các tuyến nhánh đi tới các điểm dân cư vùng lòng hồ Khi đập thuỷ điện Sơn La hoàn thành sẽ tạo nên một tuyến đường thuỷ dài trên 400 km tới Lai Châu và các tuyến nhánh Đó là những yếu tố tạo nên những thuận lợi lớn cho lưu vực

Đường quốc lộ gần khu vực hồ Sông Đà - Hoà Bình gồm: Quốc lộ 6, 12a, 15 và 21 Quan trọng nhất là quốc lộ 6 đã được nâng cấp cải tạo thành đường cấp 3 miền núi Các quốc lộ khác còn lại là cấp 4 hoặc cấp 5 miền núi,

Trang 37

đường quốc lộ đều cách xa hồ Sông Đà - Hoà Bình, bởi vậy những đường nối giữa các quốc lộ với hồ là rất quan trọng

2.3.2 Hệ thống cấp điện

Do điều kiện các điểm dân cư trong khu du lịch có quy mô nhỏ, không tập trung, nên việc cung cấp đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi năng lực tài chính của các địa phương có hạn, dẫn đến tỷ lệ hộ được dùng điện lưới quốc gia thấp (45%) Một số hộ gia đình dùng thuỷ điện nhỏ, phục vụ cho sinh hoạt nhưng chỉ sử dụng được 5 - 6 tháng (trừ các tháng mùa mưa và tháng mùa khô)

Hiện nay các tuyến điện đi xa hồ Sông Đà - Hoà Bình và vùng phụ cận

có hệ thống điện như sau:

+ Đường trung thế 22KV: Hoà Bình - Thung Nai; Thung Nai - Ngòi Hoa; Đà Bắc - Hiền Lương; Đồng Bảng - Bãi Sang; Cao Sơn - Xóm Xưng; Bến Hạt - Đồng Ruộng; Thẩm Luông - Bến Hạt

+ Đường hạ thế 220V đã được nối tới hầu hết các xã trong khu vực, những tuyến vào khu vực: Trung Hoà; Ngòi Hoa; Thung Nai và Phúc Sạn

2.3.3 Bưu chính viễn thông

Thông tin liên lạc là phương tiện quan trọng trong việc nâng cao trình

độ dân trí và đưa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của các địa phương

Đã có hệ thống bưu điện trong toàn tỉnh, từ tỉnh đến các huyện, xã,100% các xã có điện thoại Toàn bộ 100% các xã được phủ sóng phát thanh, 90% số xã được phủ sóng truyền hình Nhưng với các xã vùng cao, hệ thống thông tin chưa được đầu tư và phát triển đúng hướng Hệ thống thông tin liên lạc xung quanh hồ Sông Đà - Hoà Bình còn sơ sài và rất ít Điểm giao dịch trực tiếp ven bờ hồ chỉ khoảng dưới 20 máy điện thoại và chủ yếu là điện thoại vệ tinh nên thông tin liên lạc ở đây rất khó khăn Hệ thống bưu chính hữu tuyến cũng đã dẫn được tới các xã: Trung Hoà, Phúc Sạn, Hiền Lương, Bến Hạt…

Trang 38

2.3.4 Cấp nước, thoát nước thải và vệ sinh môi trường

+ Cấp nước

Thành phố Hoà Bình có hệ thống cấp nước sạch tập trung, các huyện cấp nước cục bộ (giếng, suối…) Một số nơi đang tiến hành xây dựng nhà máy nước và hệ thống cấp nước tập trung, chất lượng nước nhìn chung còn thấp

Hầu hết các huyện trong khu vực là các huyện trong vùng cao Ngoài diện tích mặt nước Sông Đà, diện tích còn lại là đồi núi, địa hình rất phức tạp, độ dốc lớn Trên địa bàn khu vực xa bờ sông, chỉ có suối nhỏ, độ dốc lớn, khả năng cung cấp và trữ nước rất hạn chế, mùa mưa nhiều nước, chảy xiết, mùa hạn thì khô cạn Chương trình nước sạch đang được đầu tư và triển khai ở đây

+ Thoát nước thải và vệ sinh môi trường

Hệ thống thoát nước: Trong khu vực chưa có hệ thống thoát nước (Mới

được đề cập ở thành phố Hoà Bình, còn các nơi khác vẫn để thoát nước tự nhiên, nước thải chưa được xử lý) Nước mưa tự thoát theo độ dốc địa hình tự nhiên và thoát về phía các sông, suối, ao, hồ và thoát nước chủ yếu vào hồ Sông Đà - Hoà Bình

Hồ Sông Đà - Hoà Bình đã được hình thành khá lâu, nên nhìn chung bờ

hồ tương đối ổn định, mức độ trượt lở xảy ra không đáng kể Đây là một đặc điểm thuận lợi cho việc hình thành những điểm du lịch lâu dài

Nước hồ hiện nay dao động trung bình từ 27 - 28m Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng đất đá lộ ra khá rõ khi mực nước rút, tuy nhiên đã phát triển và trồng loại cây xấu hổ có thể tồn tại trong môi trường ngập và trơ nước, tạo nên một thảm thực vật mới tương đối bền vững

Vệ sinh môi trường: tỉnh Hoà Bình đã ý thức được vấn đề môi trường,

vì vậy vấn đề này đang được dần bảo vệ Tuy nhiên, ý thức trong từng người dân về vệ sinh môi trường chưa được nâng cao, nên cần phải có biện pháp kịp thời để nâng cao chất lượng vệ sinh trong đời sống, nhất là vấn nạn khai thác

Trang 39

gỗ bừa bãi đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết dứt điểm, mặc dù nhiều khu khai thác gỗ để làm vật liệu xây dựng đã bị đình chỉ

2.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội khu vực hồ Sông Đà - Hoà Bình

+ Nông nghiệp [14]: Ngành nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn vươn lên đạt kết quả khá, tốc độ tăng trưởng đạt 5% qua 3 năm Tuy có giá trị đóng góp vào nền kinh tế của tỉnh ngày càng tăng nhưng tỷ trọng thì ngày càng giảm, từ 34,23% năm 2006 xuống còn 28,25% năm 2008 Điều này phù hợp với chung của cả nước là giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp xuống, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch

vụ lên

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chủ động bố trí vốn và chỉ đạo các cấp, các ngành chức năng tiến hành tu sửa các công trình thủy lợi có nguy cơ tiềm ẩn, đảm bảo an toàn cho các hồ đập xung yếu nên đã hạn chế được thiệt hại khi bão, lũ xảy ra Do nằm trong khu vực bị ảnh hưởng bởi các đợt bão lũ hàng năm, vụ chiêm xuân thường bị ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng lúa và hoa màu Với phương châm lấy mùa bù chiêm, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo thực hiện các biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cường công tác Khuyến nông - Khuyến lâm trong sản xuất vụ mùa và vụ hè - thu nhằm thực hiện đạt chỉ tiêu về sản xuất nông nghiệp đã đề ra

Công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm, long móng được thực hiện tốt, duy trì các chốt kiểm dịch nên không có dịch bệnh xảy ra

Trang 40

Hỗ trợ nhân dân đưa giống mới vào sản xuất, đẩy mạnh hoạt động Khuyến nông - Khuyến lâm, trợ giá, trợ cước vận chuyển giống, vật tư, phân bón phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp

Công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng được duy trì thường xuyên Hoàn thành rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Các cơ quan chức năng đã tích cực phối hợp trong việc ngăn chặn nạn khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép

+ Công nghiệp và xây dựng cơ bản [14]: Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản năm 2007 tăng nhanh nhưng đến năm 2008 thì chậm lại Năm 2008 đạt 2.245.150 triệu đồng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2007 Tiến hành mở rộng và quy hoạch mới các khu công nghiệp, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Lương Sơn lên trên 200ha Đầu tư vào khu công nghiệp đã được các nhà đầu tư quan tâm và đạt kết quả khá Phê duyệt quy hoạch khu công nghiệp Bắc Lương Sơn, Kỳ Sơn

và Phú Thành - Lạc Thuỷ đã chuẩn bị các điều kiện để triển khai lập quy hoạch; Khu các cơ sở bờ trái Sông Đà có 17 cơ sở đang hoạt động sản xuất

Có 16/17 cụm công nghiệp của các huyện và thành phố được phê duyệt Tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống được chú trọng phát triển + Dịch vụ [14]: Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đạt 25%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của GDP Đạt mục tiêu chung là đẩy mạnh tỷ trọng trong nền kinh tế của ngành dịch vụ lên

Thị trường hàng hoá đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng chính sách phục vụ miền núi, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Công tác quản lý thị trường được tăng cường Các hoạt động dịch vụ đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Hoạt động xuất, nhập khẩu còn gặp nhiều khó khăn do một số doanh nghiệp tham gia sản xuất chưa ký được hợp đồng mới và sản xuất cầm chừng Các hoạt động du lịch, vận tải, cung cấp điện và dịch vụ bưu điện được đẩy mạnh

Ngày đăng: 27/02/2021, 21:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w