Việc đầu tư tài sản cố định và tổ chức quản lý, sử dụng hợp lý tài sản cố định, phát huy tối đa năng lực TSCĐ hiện có vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các doanh ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
TẠI VIỄN THÔNG NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số đề tài: 2016BQTKD-VINH 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGÔ TRẦN ÁNH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: Nguyễn Thị Thanh Hương
Đề tài luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Tài sản cố định tại
- Viết lại phần mở đầu cho đầy đủ và chuẩn xác
- Trình bày format luận văn đúng quy định
- Đánh giá chung cần phân biệt hạn chế, nguyên nhân và tiêu chí đánh giá phải bắt nguồn từ nội dung phân tích
- Lưu ý sử dụng quy định cập nhật, bổ sung tài liệu tham khảo
Ngày 29 tháng 8 năm 2018
Nguyễn Thị Thanh Hương
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các nguồn
số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa hề dùng để bảo vệ một học vị khoa học nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Xin được chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội, Viện Sau đại học cùng các cán bộ, giảng viên đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Ngô Trần Ánh
- là giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo Viễn thông Nghệ An, các chuyên viên Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Kế hoạch Nhân sự, Phòng Kỹ thuật Đầu tư… và toàn thể cán bộ công nhân viên Viễn thông Nghệ An
đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Cảm ơn gia đình cùng toàn thể bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiết sót, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu! Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Những đóng góp của đề tài 3
6 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TSCĐ VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 4
1.1 những vấn đề cơ bản về tài sản cố định trong doanh nghiệp 4
1.1.1 Phân biệt tài sản và tài sản cố định 4
1.1.2 Khái niệm tài sản cố định 5
1.1.3 Đặc điểm tài sản cố định 7
1.1.4 Phân loại và kết cấu tài sản cố định 8
1.1.5 Đánh giá tài sản cố định 12
1.1.6 Khấu hao và các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định 17
1.2 Quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 21
1.2.1 Khái niệm về công tác quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 21
1.2.2 Mục tiêu quản lý tài sản cố định 22
1.2.3 Nguyên tắc quản lý tài sản cố định 22
1.2.4 Nội dung cơ bản của tổ chức quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 23
1.2.5 Sử dụng hạch toán kế toán trong quản lý tài sản cố định 30
1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 31
1.3.1.Tiêu chí đánh giá kết quả 32
1.3.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả 33
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 34
1.4.1 Các nhân tố chủ quan 34
1.4.2 Các nhân tố khách quan 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 36
Trang 7Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH TẠI VIỄN THÔNG NGHỆ AN 37
2.1 khái quát về viễn thông Nghệ An 37
2.1.1 Vị trí, quá trình hình thành và phát triển của Viễn thông Nghệ An 37
2.1.2 Hệ thống bộ máy quản lý chung của Viễn thông Nghệ An 38
2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán của Viễn thông Nghệ An 42
2.1.4 Tình hình lao động của Viễn thông Nghệ An 43
2.1.5 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Viễn thông Nghệ An 44
2.1.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của Viễn thông Nghệ An 47
2.2 Thực trạng công tác quản lý tài sản cố định của Viễn thông Nghệ An 49
2.2.1 Đặc điểm tài sản cố định của Viễn thông Nghệ An 49
2.2.2 Quản lý tài sản cố định của Viễn thông Nghệ An 53
2.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài sản cố định của Viễn thông Nghệ An 83
2.3.1 Các kết quả đạt được 83
2.3.2 Các hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý tài sản cố định tại đơn vị 83
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 87
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI VIỄN THÔNG NGHỆ AN 88
3.1 Quan điểm định hướng, mục tiêu phát triển của Viễn thông Nghệ An giai đoạn 2016-2020 88
3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn 88
3.1.2 Định hướng phát triển giai đoạn 2016-2020 90
3.1.3 Tầm nhìn của Viễn thông Nghệ An đến 2020 91
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định của Viễn thông Nghệ An 92
3.2.1 Giải pháp thực hiện trong ngắn hạn: Khắc phục các tồn tại 93
3.2.2 Giải pháp định hướng thực hiện trong dài hạn 96
3.3 kiến nghị và đề xuất 106
3.3.1 Kiến nghị đối với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam 106
3.3.2 Kiến nghị đối với Viễn thông Nghệ An 107
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính BCVT Bưu chính viễn thông BTC Bộ Tài chính
KHCB Khấu hao cơ bản KHNS Phòng kế hoạch nhân sự KTĐT Phòng Kỹ thuật đầu tư SXKD Sản xuất kinh doanh TCHC Phòng hành chính quản trị TCKT Phòng Tài chính Kế toán TLLĐ Tư liệu lao động
TSCĐ Tài sản cố định VNPT Nghệ An Viễn thông Nghệ An TTVT Trung tâm viễn thông VTCNTT Viễn thông công nghệ thông tin VTT Viễn thông tỉnh
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 9
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Viễn thông Nghệ An 42
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức phòng Tài chính kế toán 43
Sơ đồ 2.3 Quy trình hình thành TSCĐ từ XDCB tại Viễn thông Nghệ An 54
Sơ đồ 2.4 Quy trình mua sắm TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An 56
Sơ đồ 2.5 Quy trình thanh lý (nhượng bán) TSCĐ tại viễn thông Nghệ An 62
Bảng: Bảng 2.1 Tình hình lao động của Viễn thông Nghệ An 44
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán 46
Bảng 2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Viễn thông Nghệ An 48
Bảng 2.4 Phân loại TSCĐ của Viễn thông Nghệ An theo hình thái biểu hiện (31/12/2017) 50
Bảng 2.5 Phân loại TSCĐ của Viễn thông Nghệ An theo nguồn hình thành (31/12/2017) 51
Bảng 2.6 Phân loại TSCĐ của Viễn thông Nghệ An theo tình hình sử dụng (31/12/2017) 51
Bảng 2.7 Bảng phân tích tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư TSCĐ năm 2017 60
Bảng 2.8 Bảng phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khấu hao TSCĐ năm 2017 67
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp tăng giảm TSCĐ năm 2017 77
Bảng 2.10 Bảng phân tích tình hình sử dụng TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An 82
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tài sản cố định là một bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là bộ phận quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp, TSCĐ
là điều kiện cần thiết để giảm cường độ lao động, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tài sản cố định thể hiện trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và thế mạnh của doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào việc tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập cho người lao động Việc đầu tư tài sản
cố định và tổ chức quản lý, sử dụng hợp lý tài sản cố định, phát huy tối đa năng lực TSCĐ hiện có vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí, hạ giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm từ đó
có thể tăng doanh thu và lợi nhuận
Như vậy, vấn đề sử dụng đầy đủ, hợp lý công suất của TSCĐ sẽ góp phần phát triển sản xuất, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng TSCĐ, đó là những mục tiêu quan trọng khi TSCĐ được đưa vào sử dụng
Cùng với các đơn vị kinh tế khác trên địa bàn Nghệ An, VNPT Nghệ An - đơn
vị kinh tế trực thuộc Tập đoàn BCVT Việt Nam là một trong các doanh nghiệp có thị phần viễn thông lớn với hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà trạm, thiết bị băng rộng và truyền dẫn cung cấp tối đa các lợi ích dịch vụ VT-CNTT cho khách hàng Hàng năm giá trị tài sản cố định tham gia vào hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị vốn của doanh nghiệp Với mô hình quản lý bao gồm nhiều phòng, ban chức năng và các đơn vị trực thuộc, để theo dõi và quản
lý tốt tài sản cố định, sử dụng vốn hiệu quả trên tài sản, Viễn thông Nghệ An đã xây dựng các quy định tài chính dưới hình thức hệ thống văn bản pháp qui theo trục dọc
và mối quan hệ phụ thuộc giữa các đơn vị Tuy nhiên, do mô hình quản lý và hoạt động SXKD tại Viễn thôngNghệ An bao gồm nhiều đơn vị với các chức năng nhiệm vụ khác nhau trên cơ sở mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, một số TSCĐ mang tính chất đặc thù riêng của ngành VT-CNTT Mặt khác, trước đây để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển nên việc quản lý TSCĐ của Viễn thông Nghệ An từ khâu hình thành tài sản, đến quản lý sử dụng, thanh lý nhượng bán vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc, đòi hỏi phải tiếp tục tìm ra phương hướng hoàn thiện đặc biệt là qua
Trang 11thời gian chuẩn bị cho việc kiểm kê tài sản chuẩn bị phục vụ cổ phần hóa doanh nghiệp lại càng bộc lộ nhiều bất cập
Nhận thức được vai trò quan trọng của TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, với mong muốn được đóng góp vào việc nâng cao nhận thức và tìm giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý TSCĐ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An, tác giả đã chọn đề tài:
“Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định tại Viễn thông Nghệ
An” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ quản trị kinh doanh
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Góp phần nhận thức rõ những tư tưởng chủ đạo chi phối hệ thống quản lý TSCĐ, công tác quản lý TSCĐ và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu công tác quản lý TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An
- Đánh giá thực trạng hệ thống quản lý TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An
- Đưa ra một số giải pháp và ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý
và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý TSCĐ tại Viễn thông Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tại Viễn thông Nghệ An
Địa chỉ: Số 2B Đường Trường Thi Thành Phố Vinh Nghệ An
- Phạm vi thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ 11/2017 đến 4/2018 Do đó, các
dữ liệu thông tin tập trung đánh giá hiện trạng quản lý TSCĐ của Viễn thông Nghệ
An trong giai đoạn 2015 - 2017, các giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp quan sát
Quan sát chung tình hình hoạt động SXKD của công ty, quan sát cách làm việc của bộ máy kế toán, bộ phận quản lý TSCĐ Từ đó xác định đươc mục tiêu của người làm việc, nên làm việc gì trước, làm cái gì và làm việc với ai Đây là cách tiếp cận đầu tiên
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp này trong đề tài để thu thập số liệu trên các loại sổ sách, báo cáo, quy định tại các phòng ban phục vụ cho quá trình quản lý TSCĐ
Trang 124.3 Phương pháp thống kê, đánh giá và phân tích thực tiễn
- Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp này để so sánh quá trình hoạt động của các năm, sự biến động qua số liệu thu thập
- Phương pháp phân tích: Qua các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến TSCĐ sẽ phân tích, đánh giá tình hình hạch toán, quản lý TSCĐ của công ty Từ đó có cơ sở
để đề ra các biện pháp quản lý trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài sản cố định và quản lý tài sản cố định Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý tài sản cố định tại VNPT Nghệ An Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ tại
VNPT Nghệ An
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TSCĐ VÀ QUẢN LÝ
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1.1 Những vấn đề cơ bản về tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.1.1 Phân biệt tài sản và tài sản cố định
Bất kỳ một doanh nghiệp, một tổ chức hay thậm chí một cá nhân nào muốn tiến hành kinh doanh cũng đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó biểu hiện dưới dạng vật chất hay phi vật chất và được đo bằng tiền gọi là tài sản Hay nói cách khác tài sản của doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai như:
- Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng
- Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác
- Để thanh toán các khoản nợ phải trả
- Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp
Mặt khác vốn (tài sản) của doanh nghiệp lại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau gọi là nguồn vốn hay nói khác nguồn gốc hình thành của tài sản gọi là nguồn vốn Như vậy tài sản và nguồn vốn chỉ là 2 mặt khác nhau của vốn Một tài sản có thể được tài trợ từ một hay nhiều nguồn vốn khác nhau, ngược lại một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều tài sản Không có một tài sản nào
mà không có nguồn gốc hình thành cho nên về mặt tổng số ta có:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Tài sản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều được hình thành từ 2 nguồn vốn: nguồn vốn của chủ sở hữu và các món nợ phải trả Từ đó ta có đẳng thức:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản là giá trị của tất cả các loại tài sản hiện có của doanh nghiệp kể cả các loại tài sản có tính chất hữu hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, sản phẩm, hàng hóa và các loại tài sản có tính chất vô hình như phần mềm máy tính, bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại, bản quyền,
Tài sản doanh nghiệp được chia thành 2 loại:
- Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
- Tài sản cố định là một phần trong tài sản dài hạn
Như vậy, TSCĐ là một bộ phận cấu thành nên tài sản của doanh nghiệp và TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Trang 141.1.2 Khái niệm tài sản cố định
Hoạt động sản xuất kinh doanh là quá trình huy động và xử lý các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra, do đó điều kiện bắt buộc để một đơn vị có thể tiến hành sản xuất kinh doanh là phải tập hợp được đầy đủ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất gồm: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong các tư liệu lao động, tài sản cố định không những là một bộ phận chủ yếu mà còn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về TSCĐ cụ thể như sau:
Theo Giáo trình Kế toán tài chính của Học viện Tài chính: TSCĐ trong các
DN là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và giá trị của nó được chuyển dịch dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam năm 2005: Tài sản là tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của Nhà nước, có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: Lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên Như vậy, nói đến tài sản là nói đến những gì có giá trị, có thể đo được bằng tiền và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu TSCĐ là bộ phận tài sản của đơn
vị phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài, tham gia nhiều lần vào sản xuất sản phẩm theo mức độ hao mòn
Một cách tiếp cận phổ biến khác về khái niệm TSCĐ cho rằng: TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Cách tiếp cận này nhấn mạnh TSCĐ là tư liệu lao động, là vật mà người lao động dùng để tác động vào đối tượng lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động là một trong ba yếu tố cần thiết của quá trình lao động sản xuất là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong tư liệu lao động yếu tố công cụ lao động có ý nghĩa quyết định nhất, trình độ phát triển của công cụ lao động phản ánh trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội, là cơ sở để phân biệt
sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế Tuy nhiên, không phải tất cả các tư liệu lao động đều là TSCĐ, chỉ những tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài mới là TSCĐ
Như vậy, các khái niệm về TSCĐ phần lớn cho rằng TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp Mỗi quốc gia tùy vào trình độ phát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau có thể quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ
Trang 15Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ được quy định tại Thông tư 45/2013/TT-BTC (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp
dụng từ năm tài chính năm 2013) và được sửa đổi bổ sung tại Thông
tư 147/2016/TT-BTC (có hiệu lực thi hành từ ngày 28 tháng 11 năm 2016 và áp dụng từ năm tài chính 2016), Thông tư 28/2017/TT-BTC (có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 05 năm 2017 và áp dụng từ năm tài chính 2016) nêu rõ cách nhận biết TSCĐ như sau:
Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:
➢ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
➢ Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
➢ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên
TSCĐ thường là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Vì vậy, việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hay là một khoản chi phí SXKD trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
• TSCĐ hữu hình
Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả (3) tiêu chuẩn trên của TSCĐ
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập
Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình
Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình
Trang 16• TSCĐ vô hình
Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…
Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 điều 3 tại TT45/2013/TT-BTC, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình
Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận
là TSCĐ vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau:
➢ Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;
➢ Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán;
➢ Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó;
➢ Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai;
➢ Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó;
➢ Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;
➢ Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình
Những khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra nhưng không thỏa mãn đồng thời cả 3 tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
• TSCĐ thuê tài chính
Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính, Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động
1.1.3 Đặc điểm tài sản cố định
TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, vì vậy nó có đặc điểm của tư liệu lao động:
Trang 17TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và vẫn giữ được hình thái ban đầu cho đến khi nào hết thời gian sử dụng hoặc không còn có lợi về mặt kinh tế thì mới phải thay thế đổi mới Do đặc điểm này TSCĐ cần được theo dõi, quản lý theo nguyên giá, tức giá trị ban đầu của TSCĐ
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó chuyển dịch từng phần vào chi phí SXKD của doanh nghiệp Bộ phận giá trị chuyển dịch này được coi là một yếu tố chi phí SXKD của doanh nghiệp và được bù đắp khi doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm Do đặc điểm này, trong hạch toán TSCĐ cần theo dõi giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ Phần giá trị hao mòn này được kết chuyển bằng cách tính khấu hao TSCĐ theo các cách tính khác nhau Khi sản phẩm được tiêu thụ thì hao mòn này sẽ được chuyển thành vốn tiền tệ Vốn này hàng tháng phải tích lũy lại thành nguồn vốn để
có thể tái sản xuất lại TSCĐ khi cần thiết
TSCĐ là cơ sở vật chất chủ yếu giúp doanh nghiệp tổ chức SXKD Vì thế phải luôn luôn chú ý đến các đặc điểm của TSCĐ để quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng trong doanh nghiệp
1.1.4 Phân loại và kết cấu tài sản cố định
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ trong doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Phân loại TSCĐ giúp doanh nghiệp áp dụng các phương pháp thích hợp trong quản trị từng loại TSCĐ, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý TSCĐ Có nhiều cách khác nhau để phân loại TSCĐ dựa vào các chỉ tiêu khác nhau
1.1.4.1 Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:
- TSCĐ hữu hình), TSCĐHH là những tài sản có hình thái vật chất do đơn vị nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình
TSCĐ hữu hình bao gồm: Nhà cửa vật kiến trúc; Thiết bị máy móc; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị dụng cụ quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm; TSCĐ hữu hình khác
TSCĐ vô hình) TSCĐVH là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do đơn vị nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình
Trang 18TSCĐ vô hình bao gồm: Quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bản quyền bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vi tính, giấy phép và giấy phép nhượng quyền, TSCĐ vô hình khác
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp quản lý một cách khá toàn diện và chi tiết từng bộ phận, cơ cấu TSCĐ theo hình thái biểu hiện Trên cơ sở đó doanh nghiệp có những biện pháp kịp thời để điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư cho phù hợp với đặc điểm SXKD và có thể đề ra các biện pháp quản lý, tính toán khấu hao chính xác, hợp lí
1.1.4.2 Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu
Theo cách phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành TSCĐ tự
có và TSCĐ thuê ngoài
TSCĐ tự có: Là các TSCĐ do doanh nghiệp đầu tư, mua sắm, xây dựng bằng
nguồn vốn chủ sở hữu (vốn ngân sách cấp, cấp trên đầu tư, vốn liên doanh, vốn góp
tự bổ sung hay viện trợ, biếu tặng…); bằng vốn vay ngân hàng và vay các đối tượng khác Đây là TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
TSCĐ thuê ngoài: Tùy theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ thuê
ngoài được chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động
TSCĐ thuê tài chính: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho
thuê tài chính, nếu hợp đồng thuê thõa mãn ít nhất 1 trong 4 điều kiện sau (Quy định
tại NĐ 64/CP ngày 9/10/1995 của chính phủ)
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê hợp đồng, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của 2 bên
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại
- Thời hạn cho thuê tài sản ít nhất phải bằng 60% thời hạn cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê
- Tổng số tiền tài sản ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng
Đối với loại TSCĐ này, doanh nghiệp phải tiến hành theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp
TSCĐ thuê hoạt động: Là TSCĐ thuê không thỏa mãn bất cứ điều khoản nào
của hợp đồng thuê tài chính Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử dụng trong thời hạn hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng
Đối với loại TSCĐ này, doanh nghiệp không tiến hành trích khấu hao, chi phí thuê TSCĐ được hạch toán vào chi phí SXKD trong kỳ
Trang 19Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy kết cấu TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và TSCĐ thuộc sở hữu của người khác mà khai thác, sử dụng hợp lý TSCĐ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đồng vốn
1.1.4.3 Phân loại theo công dụng kinh tế
Theo cách phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại sau:
TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ hữu hình và vô hình
trực tiếp tham gia vào quá trình SXKD của doanh nghiệp Bao gồm: Quyền sử dụng đất, chi phí thành lập doanh nghiệp, vị trí cửa hàng, nhãn hiệu sản phẩm, nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị truyền dẫn, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, những TSCĐ không có hình thái vật chất khác,…
TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là
những TSCĐ dùng cho phúc lợi công cộng, không mang tính chất sản xuất kinh doanh Bao gồm: nhà cửa, phương tiện dùng cho sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao, nhà cửa và các công trình phúc lợi tập thể,…
TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước: Là những TSCĐ mà
doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc Nhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy rõ kết cấu TSCĐ và vai trò, nắm được trình độ trang bị kỹ thuật của đơn vị, từ đó có các giải pháp hợp lý trong công tác quản lý tài sản cố định Vì thế phương pháp này được thực hiện rộng rải trong công tác quản lý tài chính Tuy vậy phương pháp này chưa phản ánh được tình hình sử dụng tài sản cố định của đơn vị
1.1.4.4 Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành
Dựa vào nguồn gốc hình thành nên TSCĐ, người ta phân thành các loại:
* TSCĐ hình thành từ nguồn vốn ngân sách: Bao gồm các TSCĐ được hình
thành từ nguồn vốn ngân sách: ngân sách cấp trực tiếp, nguồn lợi nhuận để lại, nguồn thu sử dụng vốn để lại,…
* TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay: Bao gồm những TSCĐ được hình
thành từ các nguồn vốn vay tập trung tại Tập đoàn hoặc đơn vị tự vay
* TSCĐ hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung: Bao gồm các TSCĐ hình
thành từ nguồn tự bổ sung của đơn vị hoặc nguồn tự bổ sung tập trung của Tập đoàn
* TSCĐ hình thành từ nguồn khác: Bao gồm các TSCĐ không hình thành từ
các nguồn trên Thuộc loại này bao gồm TSCĐ được hình thành từ các nguồn: Liên doanh, TSCĐ thừa phát hiện trong kiểm kê…
Cách phân loại TSCĐ theo nguồn vốn hình thành giúp người quản lý thấy
Trang 20được TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn nào, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh, có kế hoạch đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, mua sắm, xây dựng TSCĐ phục vụ cho hoạt động SXKD của đơn vị mình Ngoài ra cách phân loại này còn giúp doanh nghiệp xác định tỷ trọng của từng loại TSCĐ được hình thành từ các nguồn vốn khác nhau phục vụ cho việc trích khấu hao để thu hồi vốn
1.1.4.5 Phân loại theo hình thức sử dụng
Theo tiêu thức này , TSCĐ của doanh nghệp có thể chia thành 3 loại:
* TSCĐ đang sử dụng: Là những tài sản đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia
vào các quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm tại doanh nghiệp hay các hoạt động khác của doanh nghiệp như: hoạt động phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng
* TSCĐ chưa sử dụng: Là những tài sản đã được đầu tư, xây dựng, mua sắm
nhưng chưa cần dùng cho các hoạt động của doanh nghiệp, đang được dự trữ để sử dụng sau này Ví dụ như các thiết bị dự phòng, các thiết bị thay thế nhưng chưa được dùng đến
* TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý: Là những tài sản mà doanh nghiệp
không dùng đến do không phù hợp về mặt kinh tế, kỹ thuật; hoặc các TSCĐ đã khấu hao hết, không sử dụng đến và đang chờ thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu
Cách phân loại này giúp người quản lý thấy rõ tình hình thực tế sử dụng TSCĐ về số lượng và chất lượng để từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả
sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp
Trên đây là năm cách phân loại TSCĐ thường dùng trong kế toán và thống kê Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của từng doanh nghiệp, tùy theo yêu cầu quản lý của mình mà tự phân loại chi tiết hơn các TSCĐ thành từng nhóm sao cho phù hợp Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó chiếm trong tổng nguyên giá toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu TSCĐ như:
- Tính chất sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ: Các doanh nghiệp thuộc loại hình công nghiệp nhẹ như công nghiệp chế biến thủy hải sản, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến nhà cửa chiếm tỷ trọng lớn Các doanh nghiệp thuộc loại hình công nghiệp nặng như công nghiệp điện, phần lớn TSCĐ là thiết bị động lực và thiết bị sản xuất, còn đối với doanh nghiệp Viễn thông thì TSCĐ phần lớn lại
là máy móc, thiết bị truyền dẫn (Mạng cáp, Cột anten, Cống bể…)
- Trình độ trang bị kỹ thuật và hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Tăng cường bộ phận tích cực của TSCĐ, trước hết là máy móc thiết bị sản xuất, nhà
Trang 21xưởng, thiết bị truyền dẫn… sẽ dẫn đến tăng sản lượng hàng hoá, nhà cửa, dụng cụ kinh doanh sản xuất và các TSCĐ khác thuộc về bộ phận hỗ trợ bởi chúng không trực tiếp tác động vào đối tượng lao động, mà chỉ tạo điều kiện để tiến hành sản xuất bình thường Bởi vậy cần chú trọng đến mối quan hệ hợp lý của tỷ trọng giữa
bộ phận tích cực và bộ phận hỗ trợ của TSCĐ Ở những doanh nghiệp có trình độ sản xuất cao thì máy móc thiết bị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, nhà cửa chiếm tỷ trọng nhỏ Ở những doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất thấp thì ngược lại
- Phương tiện tổ chức sản xuất: Ở những doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo lối dây chuyền, công cụ vận chuyển trong nội bộ chiếm tỷ trọng thấp Ở những doanh nghiệp tổ chức sản xuất không theo lối dây chuyền thì ngược lại
Nghiên cứu kết cấu TSCĐ, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kiểm tra vốn đầu tư xây dựng cơ bản và là căn cứ để ra quyết định đầu tư trong từng ngành kinh tế
1.1.5 Đánh giá tài sản cố định
Chỉ tiêu hiện vật của TSCĐ là cơ sở lập kế hoạch phân phối, sử dụng và đầu
tư TSCĐ Trong kế toán và quản lý tổng hợp TSCĐ theo chỉ tiêu tổng hợp phải sử dụng chỉ tiêu giá trị của TSCĐ, mà muốn nghiên cứu mặt giá trị của TSCĐ, phải tiến hành đánh giá chính xác từng loại TSCĐ thông qua hình thái tiền tệ
Đánh giá TSCĐ là một hoạt động thiết yếu trong mỗi doanh nghiệp, là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên tắc nhất định Thông qua hoạt động này người ta xác định được giá trị ghi sổ của TSCĐ Đánh giá TSCĐ là điều kiện cần thiết để hạch toán TSCĐ, trích KH, phân tích trình độ sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể được đánh giá lại trong quá trình sử dụng (doanh nghiệp chỉ đánh giá lại tài sản khi có quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hay dùng tài sản để liên doanh, góp vốn cổ phần, tiến hành thực hiện
cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu doanh nghiệp)
Trong mọi trường hợp, TSCĐ phải được đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại (GTCL) Việc ghi chép, phản ánh TSCĐ ở sổ kế toán và trên báo cáo kế toán phải phản ánh được cả ba chỉ tiêu về giá trị của TSCĐ như sau:
Giá trị còn lại trên
1.1.5.1 Nguyên giá của TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ là giá trị ban đầu của TSCĐ có ở doanh nghiệp, vì vậy còn gọi là giá trị nguyên thủy của TSCĐ Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí hợp
Trang 22lý mà doanh nghiệp đã chi ra để có TSCĐ cho tới khi đưa TSCĐ vào sử dụng Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, nguyên giá TSCĐ được xác định cho từng trường hợp cụ thể như sau:
(*) TSCĐ hữu hình:
TSCĐ hữu hình mua sắm:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ): là giá mua thực
tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác
TSCĐ hữu hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả chậm:
Trường hợp TSCĐ hữu hình mua trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ là giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có)
Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền
sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ
vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 4 - TT45/2013/TT-BTC, còn TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ hữu hình vào sử dụng
Trường hợp sau khi mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ để xây dựng mới thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 4 - TT45/2013/TT-BTC; nguyên giá của TSCĐ xây dựng mới được xác định là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành Những tài sản dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ được xử lý hạch toán theo quy định hiện hành đối với thanh
lý tài sản cố định
TSCĐ hữu hình do đầu tư xây dựng:
Nguyên giá TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác Trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng đã đưa vào sử dụng nhưng chưa
Trang 23thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành
Đối với tài sản cố định là con súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật, vườn cây đó từ lúc hình thành tính đến thời điểm đưa vào khai thác, sử dụng
TSCĐ hữu hình tự xây hoặc tự sản xuất:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng là giá trị quyết toán công trình khi đưa vào sử dụng Trường hợp TSCĐ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự sản xuất là giá thành thực tế của TSCĐ hữu hình cộng (+) các chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm đưa TSCĐ hữu hình vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (trừ các khoản lãi nội bộ, giá trị sản phẩm thu hồi được trong quá trình chạy thử, sản xuất thử, các chi phí không hợp lý như vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác vượt quá định mức quy định trong xây dựng hoặc sản xuất)
TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi:
Nguyên giá TSCĐ mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của TSCĐ đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ
đi các khoản phải thu về) cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có)
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự là giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đem trao đổi
TSCĐ hữu hình loại được cấp, được điểu chuyển đến:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồm giá trị còn lại của TSCĐ trên số kế toán ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của tổ chức định giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí thuê tổ chức định giá; chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử…
TSCĐ hữu hình tăng từ các nguồn khác:
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được tài trợ, được biếu, được tặng, do
Trang 24phát hiện thừa là giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp
TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận; hoặc do
tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được các thành viên,
cổ đông sáng lập chấp thuận
(*) TSCĐ vô hình:
Việc xác định nguyên giá TSCĐ vô hình tương tự như đối với TSCĐ hữu hình
đã trình bày ở trên và xác định cho các trường hợp cụ thể sau:
- TSCĐ vô hình mua sắm
- TSCĐ vô hình mua theo hình thức trao đổi
- TSCĐ vô hình được cấp, được biếu, được tặng, được điều chuyển đến
- TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất
- Nguyên giá của TSCĐ vô hình là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ: Là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra để có được quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đã chi để có được quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối giống cây trồng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
- Nguyên giá TSCĐ là các chương trình phần mềm: Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có chương trình phần mềm trong trường hợp chương trình phần mềm là một bộ phận có thể tách rời với phần cứng có liên quan, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
(*) TSCĐ thuê tài chính:
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê là giá trị tài sản thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản cộng (+) với các chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính
Việc ghi sổ theo nguyên giá cho phép đánh giá tổng quát năng lực sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô của doanh nghiệp.Vì thế, kế toán phải triệt để tôn trọng nguyên tắc ghi theo nguyên giá Nguyên giá của từng đối tượng TSCĐ ghi trên sổ và báo cáo kế toán chỉ được xác định một lần khi tăng tài sản và không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của TSCĐ tại doanh nghiệp Nguyên giá TSCĐ của doanh nghiệp chỉ được thay đổi trong các trường hợp sau:
• Đánh giá lại giá trị của TSCĐ trong các trường hợp
- Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 25- Thực hiện tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn
- Dùng tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
• Đầu tư nâng cấp TSCĐ;
• Tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ mà các bộ phận này được quản
lý theo tiêu chuẩn của 1 TSCĐ hữu hình
Khi thay đổi nguyên giá TSCĐ, đơn vị phải lập biên bản ghi rõ các căn cứ thay đổi và xác định lại chỉ tiêu nguyên giá, GTCL trên sổ kế toán, số KH lũy kế của TSCĐ và tiến hành hạch toán theo các quy định hiện hành
1.1.5.2 Giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động của doanh nghiệp, TSCĐ bị hao mòn dần Hao mòn TSCĐ gồm hai loại: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Hao mòn TSCĐ là tất yếu khách quan, bất kỳ một TSCĐ nào sử dụng đều bị hao mòn Vì thế, việc tính toán GTHM của TSCĐ có vai trò quan trọng trong công tác quản lý TSCĐ ở doanh nghiệp Ngoài ra, GTHM TSCĐ còn là cơ sở để tính toán, phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ phục vụ hoạt động SXKD trong doanh nghiệp vào chi phí trong thời gian sử dụng của TSCĐ Theo quy định hiện hành, GTHM lũy kế của TSCĐ là tổng cộng GTHM của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo
1.1.5.3 Giá trị còn lại của TSCĐ trên sổ kế toán
GTCL trên sổ kế toán của TSCĐ là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và Giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo Việc xác định Giá trị còn lại của TSCĐ là để phản ánh được trạng thái kỹ thuật của TSCĐ, cho ta biết số tiền còn lại phải tiếp tục thu hồi dưới hình thức khấu hao và là căn cứ để lập kế hoạch tăng cường, đổi mới TSCĐ
Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì GTCL của TSCĐ cũng được xác định lại Thông thường, GTCL của TSCĐ sau khi đánh giá lại được điều chỉnh theo công thức sau:
x
Giá trị đánh giá lại của TSCĐ Nguyên giá TSCĐ
Trang 26Giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại cũng có thể được xác định bằng giá trị thực tế còn lại theo thời giá căn cứ vào Biên bản kiểm kê và đánh giá lại TSCĐ
1.1.6 Khấu hao và các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định
1.1.6.1 Hao mòn và khấu hao TSCĐ
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn Hao mòn TSCĐ là sự giảm sút về giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ do TSCĐ tham gia vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp và do nguyên nhân khác TSCĐ bị hao mòn dưới hai hình thức: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Hao mòn hữu hình của TSCĐ: Là sự hao mòn về vật chất , giảm dần về giá trị
sử dụng và do đó giá trị cũng bị giảm dần
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân gây hao mòn hữu hình TSCĐ và mức độ tác động của chúng sẽ giúp doanh nghiệp có biện pháp hữu hiệu để hạn chế hao mòn
Hao mòn vô hình của TSCĐ: Trong quá trình sử dụng, ngoài hao mòn hữu hình, TSCĐ còn bị hao mòn vô hình Hao mòn vô hình là sự giảm sút thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ do nguyên nhân tiến bộ khoa học kỹ thuật gây ra
Tóm lại, hao mòn vô hình tình trạng TSCĐ bị lạc hậu, mất giá một cách tương đối sau khi mua hoặc mất giá hoàn toàn do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Biện pháp hiệu quả nhất để khắc phục hao mòn vô hình là doanh nghiệp phải theo sát sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ứng dụng kịp thời những thành tựu đó vào sản xuất
Muốn vậy, doanh nghiệp phải xây dựng một kế hoạch khấu hao linh hoạt đi cùng tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ Điều này hết sức có ý nghĩa trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường
Phần giá trị hao mòn đó được gọi là khấu hao TSCĐ Như vậy về bản chất, giá trị khấu hao TSCĐ chính là phần giá trị của TSCĐ bị hao mòn vào chuyển dịch vào chi phí SXKD của doanh nghiệp Để thu hồi phần giá trị hao mòn đó, nhằm tái đầu
tư TSCĐ, doanh nghiệp phải chuyển dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ theo các phương pháp thích hợp Sau khi sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ, một số tiền được rút ra từ tiền thu bán hàng (tương ứng với số trích khấu hao) tích lũy lại, hình thành quỹ khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp khi chưa tới thời hạn tái sản xuất TSCĐ Đó là khấu hao TSCĐ Vậy:
Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống, có phương pháp nguyên giá của TSCĐ vào chi phí SXKD trong thời gian sử dụng
Trang 27cuả TSCĐ đó
Mục đích khấu hao TSCĐ: Dưới góc độ tài chính, khấu hao TSCĐ là phương thức thu hồi vốn cố định của doanh nghiệp Thực hiện khấu hao TSCĐ nhằm thu hồi giá trị đầu tư TSCĐ, tạo nguồn tài chính quan trọng để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng TSCĐ Trong thực tiễn, khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm TSCĐ, các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này cho mục đích khác, đáp ứng nhu cầu SXKD
Về nguyên tắc, việc tính khấu hao TSCĐ phải phù hợp với mức độ của TSCĐ, đảm bảo thu hồi đủ giá trị đầu tư ban đầu Điều đó có nghĩa doanh nghiệp phải tính toán và trích đủ khấu hao cho cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Trên lý thuyết thì hoàn toàn có thể tính được mức độ hao mòn hữu hình Tuy nhiên, điều này lại hoàn toàn không dễ áp dụng cho hao mòn vô hình, bởi rất khó tính toán và xác định được chính xác tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Vì vậy, trên thực tế, khấu hao TSCĐ có thể không trùng khớp với giá trị hao mòn Xác định và tính khấu hao TSCĐ phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Nó không chỉ đảm bảo tính chính xác giá thành sản phẩm, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình tới hoạt động SXKD, góp phần bảo toàn vốn cố định của doanh nghiệp
1.1.6.2 Phương pháp tính khấu hao
Căn cứ khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng phương pháp trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với từng loại TSCĐ của doanh nghiệp Theo quy định của Bộ Tài Chính,
có 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ
• Phương pháp khấu hao đường thẳng:
Phương pháp khấu hao đường thẳng là phương pháp trích khấu hao theo mức tính ổn định từng năm vào chi phí SXKD của doanh nghiệp khi TSCĐ tham gia vào hoạt động SXKD
TSCĐ trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng như sau:
+ Căn cứ các quy định trong Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ
ban hành kèm theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 (có hiệu lực ngày 10/06/2013) doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ
+ Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho TSCĐ theo công thức dưới đây:
Trang 28Mức trích khấu hao trung
• Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
+ Là TSCĐ đầu tư mới
+ Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công thức thiết kế của TSCĐ
Mức trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như sau:
+ Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công thức dưới đây:
Mức trích khấu hao
hàng năm của TSCĐ = Giá trị còn lại của TSCĐ x
Tỷ lệ khấu hao nhanh
Trong đó:
+ Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ khấu hao nhanh
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo
phương pháp đường thẳng
Thời gian sử dụng của TSCĐ
+ Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian trích khấu hao của TSCĐ quy định tại bảng 1.1 như sau:
Trang 29Bảng 1.1 Hệ số điều chỉnh TSCĐ theo thời gian sử dụng
Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t <= 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t <= 6 năm 2,0
Nguồn: Thông tư Số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 + Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng
• Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:
TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc, thiết bị thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm
- Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công thức thiết kế của TSCĐ
Mức trích khấu hao
trong tháng
của TSCĐ
= Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng x
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm
Mức trích
khấu hao tháng
của TSCĐ
= Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng x
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm
Trang 301.2 Quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về công tác quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp
Quản lý TSCĐ không phải là mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị nhưng là một bước trung gian quan trọng để đạt được các lợi ích lớn hơn cho những đối tượng nhất định Quá trình quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp bắt đầu nảy sinh từ nhu cầu về TSCĐ đến khi nhu cầu đó không còn Quan niệm này đồng thời khẳng định công tác quản lý TSCĐ phức tạp hơn nhiệm vụ vận hành máy móc của một công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp Trong cả quá trình đó, yêu cầu tối đa hóa vòng đời của TSCĐ với chi phí thấp nhất luôn được đặt lên hàng đầu, nghĩa là phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và lợi ích kinh tế
Như vậy, Quản lý TSCĐ tại doanh nghiệp có thể hiểu là quá trình tổ chức, điều hành việc hình thành và sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, hướng tới chất lượng và hiệu quả trong SXKD
Quản lý TSCĐ tại doanh nghiệp là một công việc quan trọng cần phải thực hiện nghiêm túc, khoa học Quá trình này bao gồm một loạt các quyết định từ khi có
ý tưởng hình thành TSCĐ cho đến lúc loại bỏ và thay thế bằng một tài sản khác, thay vì chỉ tập trung vận hành, nâng cao hiệu quả sử dụng như một số quan niệm cũ Chính vì vậy, về lý thuyết quản lý TSCĐ của doanh nghiệp là một quá trình phức tạp, là tập hợp các quy chế, quy tắc, mô hình tổ chức quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ và hệ thống các công cụ được vận hành để thiết lập nên
hệ thống quản trị TSCĐ có hiệu lực, hướng tới chất lượng và hiệu quả trong SXKD
Hệ thống đó bao gồm:
- Các quy định về quản lý TSCĐ: bao gồm các quy định của Nhà nước (luật đầu tư, luật đấu thầu,…), của đơn vị cấp trên và các quy định, quy chế quản lý TSCĐ nội bộ của doanh nghiệp;
- Chiến lược đầu tư, tái đầu tư TSCĐ: bao gồm chiến lược mua sắm, XDCB
để tái đầu tư TSCĐ trong doanh nghiệp Chiến lược đầu tư TSCĐ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược SXKD chung của các doanh nghiệp;
- Bộ máy quản lý và phân cấp quản lý, hạch toán TSCĐ: được quy định theo đặc thù của từng đơn vị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ Việc phân cấp quản lý, hạch toán TSCĐ sẽ gắn với quyền lợi và trách nhiệm của đơn vị, cá nhân được phân cấp;
- Kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ: bao gồm các định chế, quy định để kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến sự biến động và quản lý, sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp;
- Hệ thống công cụ: kế toán (kế toán tài chính và kế toán quản trị), thống kê, các công cụ tài chính (dùng để phân tích, đánh giá);
Trang 31Hệ thống quản lý TSCĐ vận hành theo những định chế, điều lệ của doanh nghiệp đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả của hệ thống trong tổ chức quản lý TSCĐ nói riêng và quản lý doanh nghiệp nói chung
1.2.2 Mục tiêu quản lý tài sản cố định
Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý TSCĐ là đem lại lợi ích lớn hơn cho doanh nghiệp hay tối đa hóa giá trị tài sản
Mục tiêu quản lý TSCĐ là đáp ứng yêu cầu SXKD của doanh nghiệp và thu hồi (hay bảo toàn) được giá trị TSCĐ tạo cơ sở đổi mới công nghệ Việc quản lý hình thái vật chất của TSCĐ giúp kéo dài tuổi thọ, nâng cao công suất hoạt động Quản lý giá trị để tăng kinh tế của TSCĐ, đảm bảo thu hồi giá trị TSCĐ một cách hợp lý, là tiền đề đổi mới công nghệ
Khi tất cả các mục tiêu trên đạt được, hiệu quả quản lý TSCĐ nói chung ở mức cao nhất, góp phần quan trọng nâng cao giá trị TSCĐ của doanh nghiệp
1.2.3 Nguyên tắc quản lý tài sản cố định
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân không ngừng được đổi mới, hiện đại hóa và phát triển cả về số lượng và chất lượng Vì thế, việc tổ chức quản lý
và sử dụng hiệu quả TSCĐ trong doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết đối với công tác quản lý kinh tế Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành quy định nguyên tắc
về quản lý TSCĐ: Kể từ ngày 10/06/2013, theo điều 3 Thông tư số 45/2013/TT-BTC
ngày 25/04/2013 của Bộ tài chính quy định nguyên tắc về quản lý TSCĐ như sau:
- Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng (gồm biên bản giao nhận tài sản, hợp đồng, hóa đơn mua tài sản và các chứng từ giấy tờ khác liên quan) Mỗi TSCĐ phải được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ
- Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số khấu hao lũy kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán kể cả đối với TSCĐ không tham gia vào hoạt động SXKD
Giá trị còn lại trên sổ
kế Toán của TSCĐ =
Nguyên giá
Số hao mòn lũy kế của TSCĐ
- Đối với những TSCĐ không cần dùng, chờ thanh lý TSCĐ cho từng doanh nghiệp phải thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản theo quy định hiện hành và trích khấu hao theo quy định tại Thông tư 45/2013/TT-BTC
- Doanh nghiệp phải thực hiện quản lý đối với những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như những TSCĐ thông thường
Trang 321.2.4 Nội dung cơ bản của tổ chức quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp
Nhiều nhà quản lý cho rằng TSCĐ chỉ được quản lý khi đã xuất hiện, song nếu đưa ra quyết định đầu tư TSCĐ sai lầm, mọi công việc quản lý sau này không còn ý nghĩa, đặc biệt đối với những đơn vị sử dụng nhiều máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn như doanh nghiệp Viễn thông Công Nghệ thông tin TSCĐ được quản lý chặt chẽ sẽ đáp ứng đầy đủ, kịp thời những yêu cầu trong SXKD của doanh nghiệp, đồng thời, thu hồi (hay bảo toàn) được giá trị TSCĐ tạo
cơ sở đổi mới công nghệ
Cho tới nay, vẫn chưa có mô hình riêng để quản lý TSCĐ cho từng doanh nghiệp nói chung do các nhà khoa học trên thế giới đề xuất từ nhiều năm trước Từ
đó, căn cứ vào đặc thù ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp, nhà quản lý điều chỉnh nội dung quản lý cho thích hợp
1.2.4.1 Xác định nhu cầu TSCĐ
Hàng năm, doanh nghiệp cần căn cứ vào kế hoạch SXKD và năng lực tài chính của mình cũng như căn cứ vào tình hình TSCĐ hiện có để tiến hành xác định nhu cầu về TSCĐ cho đơn vị Các đơn vị bộ phận trình lên giám đốc những TSCĐ đang thiếu và cần phải đầu tư mới Bộ phận kỹ thuật cần xác định rõ ràng về cả số lượng cũng như chất lượng của TSCĐ cần mua sắm hoặc thuê mướn Trên cơ sở xác định được nhu cầu TSCĐ đơn vị tiến hành lập kế hoạch đầu tư TSCĐ Việc lập
kế hoạch sẽ giúp doanh nghiệp xác định được phương hướng đầu tư, giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránh được sự lãng phí và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra Công tác lập kế hoạch đầu tư TSCĐ cần được tiến hành hàng năm và sau khi kết thúc quá trình thực hiện cần có
sự đánh giá, kiểm tra để đảm bảo việc thực hiện
1.2.4.2 Quản lý đầu tư vào TSCĐ
Sau khi doanh nghiệp đã xác định được nhu cầu về TSCĐ cho đơn vị thì căn
cứ vào kế hoạch đơn vị tiến hành đầu tư TSCĐ Khi doanh nghiệp quyết định đầu
tư vào TSCĐ sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh ở hai khía cạnh là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước mắt và lợi ích mà doanh nghiệp thu được trong tương lai Chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng lên do chi phí đầu tư phát sinh đồng thời phải phân bổ chi phí khấu hao (tuỳ theo thời gian hữu ích) Còn lợi ích đem lại là việc nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra được sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, sản xuất và tiêu thụ chịu
sự tác động nghiệt ngã của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Do vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp khi tiến hành việc đầu tư TSCĐ là phải tiến hành tự
Trang 33thẩm định tức là sẽ so sánh giữa chi tiêu và lợi ích, tính toán một số chỉ tiêu ra quyết định đầu tư như NPV, IRR… để lựa chọn phương án tối ưu
Nhìn chung, đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý sử dụng TSCĐ
vì nó là công tác khởi đầu khi TSCĐ được sử dụng tại doanh nghiệp Những quyết định ban đầu có đúng đắn thì sẽ góp phần bảo toàn vốn cố định Nếu công tác quản
lý này không tốt, không có sự phân tích kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư xây dựng mua sắm sẽ làm cho TSCĐ không phát huy được tác dụng để phục
vụ quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả và như vậy việc thu hồi toàn bộ vốn đầu tư là điều không thể
1.2.4.3 Quản lý việc sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
Trong quá trình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, các bộ phận chi tiết, các phụ tùng,… bị hư hỏng, hoặc hao mòn, hoặc xảy ra những tình trạng không bình thường như nhờn ốc, vỡ tan… Ngoài việc phải giữ gìn, lau dầu… doanh nghiệp phải tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa nhằm bảo đảm năng lực sản xuất bình thường của TSCĐ Như vậy, việc giữ gìn và sửa chữa TSCĐ là một biện pháp quan trọng
để sử dụng TSCĐ có hiệu quả
Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề tăng cường đầu tư, đổi mới TSCĐ nhằm áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân không ngừng được đổi mới, hiện đại hóa và phát triển cả về số lượng và chất lượng Vì thế, việc tổ chức quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ trong doanh nghiệp là một
yêu cầu bức thiết đối với công tác quản lý kinh tế (Thông tư số 45/2013/TT-BTC,
ngày 25/04/2013)
* Về mặt giá trị:
Phải nắm chắc được nguyên giá, giá trị hao mòn lũy kế và giá trị còn lại của TSCĐ Nhất là trong thời kỳ khoa học kỹ thuật không ngừng đổi mới như hiện nay, hao mòn vô hình sẽ xảy ra rất lớn
Phải phân bổ khấu hao một cách hợp lý để đưa vào chi phí sản xuất, tính giá thành của sản phẩm, từ đó đảm bảo thu hồi vốn đầu tư ban đầu để tái sản xuất TSCĐ của doanh nghiệp
Trang 34- Công tác theo dõi TSCĐ:
Doanh nghiệp cần hoàn thiện hệ thống theo dõi và kiểm soát toàn bộ TSCĐ Việc theo dõi TSCĐ không tốn kém nhưng có khả năng tăng hiệu quả sử dụng các trang thiết bị hiện có Đơn giản nhất là lập các sổ theo dõi tổng hợp và chi tiết Sổ tổng hợp phản ánh khái quát tình hình quản lý sử dụng các nhóm TSCĐ, các chủng loại thiết bị, nhưng chỉ ghi những thông tin cơ bản nhất
Biện pháp tốt nhất là áp dụng máy tính để theo dõi các sổ nói trên Các thông tin về TSCĐ liên tục được cập nhật vào cơ sở dữ liệu (database) trong máy tính, khi cần thiết chỉ dùng một lệnh đơn giản để gọi ra màn hình hoặc in ra giấy Các công
ty hiện đại còn nối mạng máy tính với hệ thống camera theo dõi thiết bị tự động ghi lại tình hình vận hành và hiện trạng của thiết bị để tự động ghi lại tình hình vận hành và hiện trạng của thiết bị ở mức độ đơn giản
Các nhóm máy móc thiết bị hoặc các tổ hợp dây truyền thiết bị nên được giao cho từng nhóm hoặc cá nhân quản lý Phải căn cứ và quy trình công nghệ, sắp xếp ca kíp và cách thức tổ chức phân xưởng để phân định trách nhiệm Không
có mô hình nào chung cho mọi công ty, mọi doanh nghiệp mà chỉ nên áp dụng sự phân cấp hoặc giao trách nhiệm quản lý vận hành sao cho phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp
Chế độ phân định trách nhiệm nên gắn với chế độ bàn giao, theo dõi và thưởng phạt nhằm khuyến khích mọi người ý thức tốt hơn trong quản lý tài sản Nên quy định chế độ báo cáo định kỳ đối với các quản đốc phân xưởng, trưởng ca, tổ trưởng hoặc kỹ sư phụ trách dây truyền về tình hình sử dụng TSCĐ của từng bộ phận
Nhà kinh doanh muốn khai thác có hiệu quả nhất các TSCĐ thì cần lưu tâm trước hết về mặt quản lý kỹ thuật, quy phạm kỹ thuật và tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị Một số loại TSCĐ (như nhà cửa, khu văn phòng , đường giao thông nội bộ,…) không đòi hỏi thường xuyên về mặt bảo dưỡng duy tu Tuy nhiên phần lớn các thiết bị máy móc, hệ thống dây truyền công nghệ yêu cầu phải đảm bảo nghiêm ngặt về mặt kỹ thuật Thậm chí, có thể xảy ra tai nạn và sự cố nghiêm trọng nếu có trục trặc kỹ thuật
1.2.4.4 Quản lý công tác nâng cấp, sửa chữa TSCĐ
Đây là công việc thường xuyên và quan trọng của đơn vị Các TSCĐ trong quá trình sử dụng không những bị hao mòn mà còn bị hư hỏng Do đó, cần thiết phải nâng cấp, sửa chữa để TSCĐ phát huy được tác dụng, giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất liên tục, bình thường Vì kết cấu vật chất, mức độ cọ sát và điều kiện
Trang 35làm việc của các bộ phận TSCĐ không giống nhau, nên sửa chữa TSCĐ được chia thành: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Người ta phân sửa chữa vừa và nhỏ là sửa chữa thường xuyên
Sửa chữa thường xuyên chỉ có thể duy trì được năng lực công tác bình thường của TSCĐ Đặc điểm của sửa chữa này là phạm vi nhỏ, thời gian tiến hành sửa chữa ngắn, chi phí ít và được tiến hành thường xuyên đều đặn
Sửa chữa lớn không chỉ kéo dài thời gian sử dụng của TSCĐ mà còn có thể tăng thêm năng lực sản xuất, hiện đại hoá TSCĐ Đặc điểm của sửa chữa lớn là phạm vi rộng, thời gian sửa chữa kéo dài và chi phí lớn, nên không tiến hành sửa chữa đều đặn
Các chi phí doanh nghiệp chi ra để nâng cấp TSCĐ được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí kinh doanh trong kỳ
Các chi phí sửa chữa TSCĐ được coi như khoản phí tổn và được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm
Đối với một số ngành có chi phí sửa chữa TSCĐ lớn và phát sinh không đồng đều giữa các kỳ, các năm, doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ với điều kiện sau khi trích trước doanh nghiệp vẫn kinh doanh có lãi Doanh nghiệp phải lập kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý
Doanh nghiệp phải quyết toán chi phí sửa chữa thực tế phát sinh với chi phí sửa chữa đã trích trước Nếu chi phí sửa chữa thực tế lớn hơn số đã trích thì phần chênh lệch được hạch toán toàn bộ hoặc được phân bổ dần vào chi phí trong kỳ nhưng tối đa không quá 3 năm Nếu chi phí sửa chữa thực tế nhỏ hơn số đã trích thì phần chênh lệch được hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ
Các chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau ghi nhận ban đầu được đánh giá một cách chắc chắn, làm tăng lợi ích kinh tế của TSCĐ vô hình so với mức hoạt động ban đầu, thì được phản ánh tăng nguyên giá TSCĐ Các chi phí khác liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu được hạch toán vào chi phí SXKD
1.2.4.5 Quản lý khấu hao TSCĐ
Khi sử dụng TSCĐ, doanh nghiệp cần quản lý khấu hao một cách chặt chẽ vì
có như vậy mới có thể thu hồi được vốn đầu tư ban đầu Các doanh nghiệp thường thực hiện việc lập kế hoạch khấu hao TSCĐ hàng năm Thông qua kế hoạch khấu hao, doanh nghiệp có thể thấy nhu cầu tăng giảm vốn cố định trong năm kế hoạch,
Trang 36khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu đó Kế hoạch khấu hao là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét, lựa chọn quyết định đầu tư đổi mới TSCĐ trong tương lai
• Kế hoạch khấu hao:
Để lập được kế hoạch khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp thường tiến hành theo trình tự sau:
- Xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao và tổng nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao đầu kỳ kế hoạch
- Xác định giá trị TSCĐ bình quân tăng giảm trong kỳ kế hoạch và nguyên giá bình quân TSCĐ phải trích khấu hao trong kỳ
- Xác định mức khấu hao bình quân hàng năm
• Nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ:
- Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp đều phải huy động vào sử dụng và trích khấu hao trên cơ sở tính đúng và tính đủ nguyên giá Mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ được áp dụng thống nhất trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ đó
- Đơn vị không được tính và trích khấu hao đối với một số TSCĐ sau:
+ TSCĐ đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn được sử dụng vào hoạt động SXKD + TSCĐ khấu hao chưa hết bị mất
+ TSCĐ khác do doanh nghiệp quản lý mà không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (trừ TSCĐ đi thuê tài chính)
+ TSCĐ không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp
+ TSCĐ sử dụng trong các hoạt động phúc lơi phục vụ người lao động của doanh nghiệp (trừ các TSCĐ phục vụ cho người lao động làm việ tại doanh nghiệp như: nhà nghỉ giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do doanh nghiệp đầu tư xây dựng)
+ TSCĐ từ nguồn viện trợ không hoàn lại sau khi được cơ quan có thẩm quyền bàn giao cho doanh nghiệp để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học + TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất lâu dài có thu tiền sử dụng đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâu dài hợp pháp
Các TSCĐ không sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không trích khấu hao nhưng vẫn phải theo dõi và quản lý như đối với các TSCĐ khác và hàng năm phải tính giá trị hao mòn Nếu các TS này sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì trong thời gian nó tham gia vào sản xuất kinh doanh doanh nghiệp
Trang 37phải trích khấu hao
Như vậy, việc tính và trích lập quỹ khấu hao có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động quản lý TSCĐ Tuy nhiên, nhà quản lý phải căn cứ vào chế độ tài chính hiện hành, căn cứ vào các chuẩn mực kế toán có liên quan, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp tính và trích khấu hao phù hợp
1.2.4.6 Quản lý công tác kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ
Trong doanh nghiệp, việc kiểm kê tài sản nói chung và TSCĐ nói riêng là công tác quan trọng trong việc quản lý sử dụng TSCĐ tại doanh nghiệp Căn cứ vào tài liệu của đợt kiểm kê để có tài liệu đối chiếu giữa số thực tế với số trên sổ sách, qua đó xác định nguyên nhân gây ra số chênh lệch, xác định người có trách nhiệm
về tình hình mất mát, hư hỏng cũng như phát hiện những đơn vị, cá nhân giữ gìn,
sử dụng tốt TSCĐ, đồng thời báo cáo lên cấp trên về tình hình đã phát hiện ra để có những kiến nghị và giải quyết nhất là đối với trường hợp thừa TSCĐ, cũng như lập
ra kế hoạch năm tới
Mục đích và yêu cầu của công tác kiểm kê:
- Đánh giá thực trạng, cơ cấu, giá trị TSCĐ và các nguồn vốn hình thành TSCĐ do đơn vị đang quản lý và sử dụng;
- Xác định chính xác TSCĐ hiện có, đối chiếu với sổ sách để xác định TSCĐ thừa thiếu Trên cơ sở đó, lập phương án xử lý những tồn tại về TSCĐ góp phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp;
- Phản ánh được tình hình sử dụng tài sản trong các đơn vị: tài sản đang sử dụng, tài sản chưa cần, tài sản không cần dùng, tài sản dùng trong SXKD, quản lý
dự án đầu tư, tài sản hư hỏng trước thời gian quy định hoặc tài sản đã hết thời gian
sử dụng nhưng vẫn còn dùng Từ đó có kế hoạch sử dụng tài sản đạt hiệu quả;
- Định kỳ kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn bộ TSCĐ hiện có và các nguồn vốn hình thành TSCĐ Xác định chính xác số tài sản, công cụ thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm đồng thời để có căn cứ lập BCTC
Như vậy, thông qua công tác kiểm kê TSCĐ đã giúp cung cấp số liệu về chủng loại của TSCĐ, vừa tạo điều kiện để nắm cững tình hình chất lượng chung trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải có kế hoạch cụ thể để tiến hành việc kiểm kê hàng năm Bởi vì, kết quả của việc kiểm tra thời điểm này cho phép doanh nghiệp có tài liệu chính xác trong việc lập ra kế hoạch năm tới
Ngoài việc kiểm kê TSCĐ, doanh nghiệp còn tiến hành việc đánh giá lại TSCĐ Trong quá trình sử dụng lâu dài các TSCĐ có thể tăng năng lực sản xuất của
xã hội và việc tăng năng suất lao động đương nhiên sẽ làm giảm giá trị TSCĐ tái sản xuất, từ đó mà không tránh được sự khác biệt giữa giá trị ban đầu của TSCĐ với
Trang 38giá trị khôi phục của nó Nội dung của việc đánh giá lại TSCĐ là việc xác định thống nhất theo giá hiện hành của TSCĐ theo quy định của chính phủ Có như vậy thì mới xác định được hợp lý mức khấu hao nhằm hạch toán và tính giá thành sản phẩm được đúng đắn, và như vậy, việc tính toán các hiệu quả về tài chính mới được chính xác
Công tác đánh giá lại TSCĐ rất phức tạp, nó đòi hỏi trình độ cán bộ, thời gian cần thiết Vì vậy, khi tiến hành đánh giá lại TSCĐ cần phải thực hiện nghiêm túc, chính xác thì mới đem lại quyền lợi cho bản thân doanh nghiệp
Tóm lại, kiểm kê định kỳ TSCĐ và đối chiếu số lượng thực tế với số lượng trên sổ sách hạch toán kế toán và thống kê, xác định giá trị hiện còn của TSCĐ có tác dụng quan trọng đối với vấn đề quản lý TSCĐ
1.2.4.7 Quản lý công tác cho thuê, cầm cố, thế chấp, nhượng bán, thanh lý TSCĐ
Đây là khâu khép lại chu kỳ quản lý TSCĐ phục vụ cho SXKD Mọi hoạt động cho thuê, cầm cố, thế chấp, nhượng bán, thanh lý TSCĐ phải tuân theo đúng
các quy định của pháp luật hiện hành (Thông tư số 45/2013/TT-BTC, ngày
25/04/2013)
❖ Đối với thuê tài sản cố định hoạt động:
- Doanh nghiệp đi thuê phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản cố định theo các quy định trong hợp đồng thuê Chi phí thuê tài sản cố định được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Doanh nghiệp cho thuê, với tư cách là chủ sở hữu, phải theo dõi, quản lý tài sản cố định cho thuê
❖ Đối với thuê tài sản cố định tài chính:
- Doanh nghiệp đi thuê phải theo dõi, quản lý, sử dụng tài sản cố định đi thuê như tài sản cố định thuộc sở hữu của doanh nghiệp và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thuê tài sản cố định
- Doanh nghiệp cho thuê, với tư cách là chủ đầu tư, phải theo dõi và thực hiện đúng các quy định trong hợp đồng cho thuê tài sản cố định
❖ Đối với giao dịch bán và thuê lại tài sản cố định:
- Trường hợp doanh nghiệp bán và cho thuê lại tài sản cố định là thuê hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định hoạt động Các khoản chênh lệch phát sinh khi giá bán thỏa thuận, tiền thuê lại tài sản cố định ở mức thấp hơn hoặc cao hơn giá trị hợp lý được hạch toán ngay vào thu nhập trong kỳ phát sinh hoặc phân bổ dần vào chi phí theo quy định
- Trường hợp doanh nghiệp bán và thuê lại tài sản cố định là thuê tài chính, doanh nghiệp phải thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp đi thuê tài sản cố
Trang 39định tài chính Khoản chênh lệch giữa giữa thu nhập bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán được hạch toán vào thu nhập theo quy định
❖ Hội đồng giao nhận, Hội đồng thanh lý, Hội đồng nhượng bán TSCĐ:
Do doanh nghiệp quyết định thành lập gồm các thành viên bắt buộc là Giám đốc doanh nghiệp, Kế toán trưởng của doanh nghiệp, một chuyên gia kỹ thuật am hiểu về loại tài sản cố định (trong hay ngoài doanh nghiệp), đại diện bên giao tài sản (nếu có) và các thành viên khác do doanh nghiệp quyết định Trong những trường hợp đặc biệt hoặc theo quy định của chế độ quản lý tài chính hiện hành, doanh nghiệp mời thêm đại diện cơ quan tài chính trực tiếp quản lý và cơ quan quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật (nếu có) cùng tham gia các Hội đồng này
1.2.4.8 Đánh giá kết quả và hiệu quả TSCĐ trong doanh nghiệp
Công việc đánh giá kết quả và hiệu quả TSCĐ không những là một bộ phận không thể tách rời của công việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mà còn là công cụ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt được thực trạng và khả năng SXKD của mình, những ưu khuyết điểm trong hệ thống SXKD hiện có và từ
đó đề ra những biện pháp kịp thời để khắc phục những tồn tại
Doanh nghiệp cần thu thập những số liệu về các chỉ tiêu sau đó tính toán, so sánh và đưa ra các nhận xét Để đánh giá kết quả và hiệu quả TSCĐ trong doanh nghiệp, phương pháp đơn giản và đem lại kết quả tốt nhất đó là so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ của các chỉ tiêu cũng như so sánh giữa kết quả các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác có cùng ngành nghề kinh doanh hoặc với các chỉ tiêu chung của ngành
1.2.5 Sử dụng hạch toán kế toán trong quản lý tài sản cố định
TSCĐ đóng vai trò rất quan trọng trong công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp vì nó là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản của doanh nghiệp nói chung cũng như TSCĐ nói riêng Để quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả TSCĐ, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ và chính xác công tác kế toán TSCĐ Tuy nhiên, kế toán TSCĐ rất phức tạp vì các nghiệp vụ TSCĐ thường có quy mô lớn, thời gian phát sinh dài Chính vì thế để đảm bảo ghi chép kịp thời, chính xác, có hệ thống, đáp ứng yêu cầu quản lý TSCĐ thì kế toán TSCĐ phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác, kịp thời số lượng, giá trị TSCĐ hiện có; Tình hình tăng giảm và hiện trạng tài sản trong phạm vi toàn đơn vị, cũng như tại từng bộ phận sử dụng TSCĐ; Tạo điều kiện cung cấp thông tin để kiểm tra, giám sát thường xuyên việc giữ gìn, bảo quản, bảo dưỡng TSCĐ và kế hoạc đầu tư đổi mới TSCĐ trong từng đơn vị
Trang 40- Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ vào chi phí SXKD theo mức độ hao mòn của tài sản và chế độ quy định Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và
dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, giám sát việc sửa chữa TSCĐ về chi phí và kết quả của công việc sửa chữa
- Tính toán phản ánh kịp thời, chính xác tình hình xây dựng trang bị thêm, đổi mới, nâng cấp hoặc tháo dỡ bớt làm tăng nguyên giá TSCĐ cũng như tình hình quản lý, nhượng bán TSCĐ
- Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị, các bộ phận trực thuộc trong các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về TSCĐ; Mở các sổ; Thẻ kế toán cần thiết và hạch toán TSCĐ theo chế độ quy định
- Kế toán tham gia kiểm kê và đánh giá lại TSCĐ theo quy định của nhà nước, lập báo cáo về TSCĐ của doanh nghiệp; Tiến hành phân tích tình hình trang bị, huy động, bảo quản và sử dụng TSCĐ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của TSCĐ Trong điều kiện ứng dụng các phần mềm vi tính phục vụ cho công tác kế toán TSCĐ và các khoản đầu tư, cần lưu ý một số nội dung sau:
- Tổ chức mã hóa TSCĐ theo đối tượng ghi TSCĐ Việc mã hóa TSCĐ là tùy thuộc vào số lượng, chủng loại TSCĐ hiện có của Công ty, nhưng tuyệt đối phải đảm bảo nguyên tắc không trùng mã và dễ dàng nhận biết TSCĐ theo từng loại, từng nhóm
- Tổ chức khai báo các thông tin về TSCĐ: TSCĐ trong Công ty được quản lý đơn chiếc, do vậy phải khai báo thông tin chi tiết về từng TSCĐ của Công ty cho phần mềm, làm cơ sở quản lý, ghi chép và tính khấu hao TSCĐ Thông thường, các thông tin tối thiểu phải khai báo bao gồm: Mã, tên TSCĐ, nơi sử dụng, thời gian đưa vào sử dụng và thời gian dự kiến sử dụng
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán: Các phần mềm kế toán đều cung cấp hệ thống sổ
kế toán khá đa dạng để theo dõi TSCĐ như: sổ theo dõi TSCĐ theo từng đơn vị sử dụng, sổ theo dõi TSCĐ toàn doanh nghiệp, các sổ kế toán tổng hợp như: Sổ cái Tài khoản 211, 213, 214 Ngoài ra, người sử dụng còn có thể vận dụng các chức năng khác như: Lọc, tìm kiếm dữ liệu để tạo ra các bảng kê, sổ kế toán theo yêu cầu
1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp
Do tầm quan trọng của TSCĐ trong hoạt động SXKD nên yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải quản lý tốt và sử dụng hợp lý những TSCĐ hiện có
Vì vậy, việc phân tích tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Các tiêu chí thường được sử dụng để phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm: