Lý do chọn đề tài Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế thế giới, một quốc gia nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng muốn hòa
Trang 1-
LU ẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGÀNH: QU ẢN TRỊ KINH DOANH
GI ẢI PHÁP CẢI THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ CHO NHÂN VIÊN NH ẰM TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY TRUY ỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN VTC
BÙI TH Ị HẢI YẾN
Trang 2LU ẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
GI ẢI PHÁP CẢI THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ CHO NHÂN VIÊN NH ẰM TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY TRUY ỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN VTC
NGÀNH: QU ẢN TRỊ KINH DOANH NIÊN KHÓA: 2007 - 2009
BÙI TH Ị HẢI YẾN Người hướng dẫn khoa học: TS NGUY ỄN DANH NGUYÊN
HÀ N ỘI – 2009
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
i Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển lớn mạnh
của nền kinh tế thế giới, một quốc gia nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng muốn
hòa nhập được thì phải tạo động lực phát triển từ trong nội bộ của doanh nghiệp mà
xuất phát điểm chính là việc giải quyết một cách hợp lí, công bằng, rõ ràng các chế độ
đãi ngộ đối với người lao động Dù dưới bất kì loại hình doanh nghiệp nào, thì sức lao
động của con người đều tồn tại và đi liền với thành quả của doanh nghiệp
Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động trí tuệ ngày càng có
ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển sản xuất xã hội Tính tích cực và hoạt động
sáng tạo của người lao động, một yếu tố cơ bản của tăng năng suất lao động và là một
yếu tố không thể thiếu được của phát triển hiện đại, chỉ có được bởi việc sử dụng và
quản lý con người một cách khoa học, dân chủ và nhân văn Một cơ chế sử dụng lao
động từ chế độ tuyển chọn, bố trí, đánh giá đến đãi ngộ đúng đắn và một sự chú ý đúng
mức đến việc giải quyết những vấn đề xã hội của người lao động (như bảo hiểm, bảo
hộ lao động, thất nghiệp, cuộc sống lao động, cuộc sống gia đình) là nhân tố nâng cao
tính tích cực và óc sáng tạo, tạo ra những bước phát triển nhanh cho doanh nghiệp và
cho xã hội
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chế độ đãi ngộ là một
yếu tố quan trọng có quan hệ trực tiếp và tác động nhân quả đối với lợi nhuận của
doanh nghiệp Đối với các chủ doanh nghiệp, chế độ đãi ngộ là một yếu tố của chi phí
sản xuất mà mục tiêu của các chủ doanh nghiệp là lợi nhuận Đối với người lao động,
chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng
suất lao động Khi năng suất lao động tăng thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng, từ
đó lợi ích của người cung ứng sức lao động cũng tăng theo
Hơn nữa, khi người lao động được bảo đảm bằng các chế độ đãi ngộ hợp lý sẽ
tạo ra sự gắn kết người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xóa bỏ đi sự
Trang 4ngăn cách giữa người sử dụng lao động với người lao động, làm cho người lao động có
trách nhiệm hơn với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Ngược lại, khi chế độ đãi ngộ đối với người lao động không được chú ý và quan
tâm đúng mức, người lao động sẽ có tâm lý chán nản, không toàn tâm toàn ý với công
việc dẫn đến suy giảm năng suất lao động, hoặc người lao động từ bỏ doanh nghiệp
Khi đó doanh nghiệp sẽ bị mất người tài, và bị lộ bí quyết công nghệ nếu để rơi những
nguồn nhân lực giỏi vào tay đối thủ cạnh tranh Do đó, đối với doanh nghiệp việc xây
dựng hệ thống chế độ đãi ngộ tốt nhằm tăng năng suất lao động, khuyến khích người
lao động giỏi ở lại với doanh nghiệp, đem hết khả năng và sức sáng tạo của họ phục vụ
cho doanh nghiệp đang là một trong những công tác đặt lên hàng đầu của tất cả các
doanh nghiệp nhằm ổn định nhân lực phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Chế độ đãi ngộ cho nhân viên tốt cũng góp phần tạo nên văn hóa của doanh
nghiệp và tạo nên thương hiệu cho doanh nghiệp nhằm thu hút được những lao động
giỏi, những nhân tài từ các doanh nghiệp cạnh tranh
Tuy nhiên, một trong những phương thức tạo nên sức cạnh tranh của một doanh
nghiệp lại là tối thiểu hóa chi phí cho người lao động trong giá thành sản phẩm, nhằm
giảm bớt chi phí sản xuất và hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa của
doanh nghiệp Điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ sử dụng ngày càng có hiệu quả
hơn các sức lao động xã hội Chỉ có như vậy mới có thể giải quyết được hai đòi hỏi
tưởng chừng như đối nghịch nhau, đó là: một mặt, doanh nghiệp phải luôn quan tâm và
cải thiện chế độ đãi ngộ đối với người lao động; mặt khác, lại phải phấn đấu giảm chi
phí cho người lao động trong giá thành các loại sản phẩm, dịch vụ để tăng sức cạnh
tranh cho chúng Để có được như vậy, nguồn nhân lực hay là yếu tố con người không
chỉ được khai thác với tư cách là động lực phát triển mà điều quan trọng là phải lấy con
người làm mục tiêu của sự phát triển Do đó, các doanh nghiệp hiện nay quan tâm ngày
một nhiều hơn tới việc giải quyết những vấn đề xã hội của người lao động, trong đó
đặc biệt chú ý đến các chính sách nâng cao giá trị đích thực của người lao động và đáp
Trang 5ứng ngày càng tốt hơn lợi ích vật chất, tinh thần của họ, nhằm thu hút nguồn lực trí tuệ,
tránh hiện tượng “chảy máu chất xám” trong doanh nghiệp
Vì vậy, câu hỏi “Làm thế nào có thể kích thích nhân viên cống hiến hết khả năng
và tâm huyết của họ vào công việc, nâng cao năng suất lao động, góp phần tạo nên
thành công của doanh nghiệp” đang là câu hỏi lớn đối với tất cả các doanh nghiệp
trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ nhu cầu trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp cải
thiện chính sách đãi ngộ cho nhân viên nhằm tăng năng suất lao động tại Tổng Công
ty truyền thông đa phương tiện VTC”
ii Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu 02 nội dung:
- Phân tích tình hình lao động và chính sách đãi ngộ đối với người lao động
- Phân tích các chi phí cho người lao động và so sánh với những thành quả đạt
được của doanh nghiệp
Mục đích của việc phân tích tình hình lao động và chính sách đãi ngộ đối với
người lao động để thấy được tình hình thực tế của công ty về công tác quản lý lao
động, đánh giá được hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng lao động, các chính sách đãi
ngộ đối với người lao động có phù hợp với chính sách Nhà nước đã ban hành, từ đó
đưa ra những điểm còn tồn tại cần khắc phục nhằm thu hút người lao động gắn bó
quyền lợi của cá nhân họ với công ty, đảm bảo nâng cao năng suất lao động
Phân tích các khoản chi phí cho người lao động, so sánh với tổng chi phí quản
lý, tổng doanh thu và lợi nhuận thu được của công ty, từ đó đánh giá được mức độ hợp
lý về chi phí cho người lao động, tác động của chi phí này tới năng suất lao động và
nhận biết được các ảnh hưởng khác nhau của các chi phí cho người lao động đối với
năng suất lao động để áp dụng các biện pháp phù hợp mang lại hiệu quả cao
iii Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tập trung nghiên cứu tại khối văn phòng Tổng công ty trực tiếp quản
lý chứ không đi sâu nghiên cứu vào các đơn vị thành viên trực thuộc và độc lập vì mỗi
Trang 6đơn vị có ngành nghề kinh doanh khác nhau và ở xa nhau nên các số liệu thu thập được
sẽ rất khó để tổng hợp, phân tích và đánh giá
iv Phương pháp nghiên cứu
Nguồn số liệu
Những số liệu trong đề tài này được thu thập từ Ban Tài chính – Kế toán, Ban
Kế hoạch và Ban Tổ chức cán bộ Tổng Công ty
- Bảng lương, quỹ tiền lương
- Bảng phân phối tiền lương
- Bảng giao kế hoạch và thực hiện kế hoạch kinh doanh năm
- Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh, bảng Cân đối kế toán
- Danh sách lao động, bảng phân công lao động
- Các quy chế, chính sách về lao động và tiền lương ở Tổng công ty
Phương pháp phân tích số liệu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ
bản như phương pháp điều tra chọn mẫu các đối tượng liên quan, phân tích dữ liệu,
tổng hợp, thống kê và so sánh Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này được
sử dụng một cách linh hoạt, hoặc riêng lẻ hoặc kết hợp để giải quyết vấn đề một cách
tốt nhất
v Nội dung của luận văn
Luận văn được chia thành 3 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách đãi ngộ
Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách đãi ngộ đối với người lao động và
ảnh hưởng của nó tới năng suất lao động tại Tổng Công ty VTC
Chương 3: Giải pháp cải thiện chính sách đãi ngộ nhằm tăng năng suất lao động
tại Tổng Công ty VTC
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ VÀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ
1.1.1 Khái niệm và bản chất
Theo Nguyễn Hữu Thân (2008), chính sách đãi ngộ là chỉ về mọi loại phần
thưởng mà một cá nhân nhận được để đổi lấy sức lao động của mình
Chính sách đãi ngộ đối với người lao động là quá trình chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần của người lao động để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua
đó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp
Chính sách đãi ngộ là một quá trình vì tất cả các nhà quản trị đều phải trải qua
một khoảng thời gian từ việc xây dựng các chính sách đãi ngộ đến việc tổ chức thực
hiện công tác đãi ngộ trong doanh nghiệp
Chính sách đãi ngộ hướng tới việc thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của
người lao động, giúp họ dồn hết tâm huyết và sức lực của mình để cống hiến cho doanh
nghiệp
Chính sách đãi ngộ giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệp thông qua hiệu quả
về năng suất lao động của nguồn nhân lực
1.1.2 Vai trò của chính sách đãi ngộ
Đối với người lao động
Chính sách đãi ngộ tốt tạo điều kiện cho người lao động nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần, giúp cho họ yên tâm công tác, tạo động lực kích thích người lao động
làm việc với hiệu quả cao nhất và cống hiến hết mình vì lợi ích của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp
Chính sách đãi ngộ là điều kiện đủ để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp Khi người lao động nhận thấy quyền lợi của họ cả
về vật chất và tinh thần được doanh nghiệp trân trọng và nâng cao thì họ sẽ gắn bó hơn
với doanh nghiệp, tạo ra sự gắn kết người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh
Trang 8nghiệp, từ đó năng suất lao động tăng cao làm tăng hiệu quả và chất lượng hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách đãi ngộ góp phần duy trì nguồn nhân lực ổn định, có chất lượng cho
doanh nghiệp Người lao động nhận được chính sách đãi ngộ thỏa đáng sẽ không có
nhu cầu chuyển công tác dù cho các doanh nghiệp cạnh tranh có trả mức lương cao hơn
hoặc tương đương vì đối với người lao động, mức lương không phải là yếu tố quyết
định việc đi hay ở của họ mà là chính sách đãi ngộ hợp lý, thỏa đáng theo đúng nhu cầu
của họ
Chính sách đãi ngộ giúp nâng cao hiệu quả các chức năng quản trị nhân sự khác
trong doanh nghiệp
Đối với xã hội
Chính sách đãi ngộ đối với người lao động trong doanh nghiệp giúp duy trì
được nguồn nhân lực ổn định và có chất lượng cho xã hội Chính sách đãi ngộ tốt làm
tăng sức mua hàng hóa và dịch vụ của người lao động, làm tăng sự thịnh vượng chung
cho xã hội Tuy nhiên, mặt trái của việc cải thiện chính sách đãi ngộ cho người lao
động là làm tăng sự chênh lệch về thu nhập và mức sống của người dân
1.1 3 Các hình thức đãi ngộ đối với người lao động
Chính sách đãi ngộ được hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm toàn bộ lương,
thưởng, các chế độ phúc lợi hữu hình cũng như vô hình, mang tính tài chính hay phi tài
chính, liên quan đến thể chất hoặc tinh thần của người lao động do doanh nghiệp cung
cấp
Chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp gồm hai hình thức cơ bản: chế đãi ngộ tài
chính (gồm các lợi ích tài chính trực tiếp, các lợi ích tài chính gián tiếp) và chế độ đãi
ngộ phi tài chính (sự hài lòng về mặt tâm lý cho người lao động) Chế độ đãi ngộ tài
chính rất dễ được nhận thấy tại các doanh nghiệp còn chế độ đãi ngộ phi tài chính khó
xác định hơn và và số lượng các doanh nghiệp chú ý đến yếu tố này trong việc thiết kế
Trang 9và thực hiện các cơ chế đãi ngộ cũng ít hơn (Các yếu tố của chế độ đãi ngộ được thể
hiện chi tiết trong hình 1.1)
Hình 1.1 Các yếu tố của chế độ đãi ngộ
(Nguồn: Nguyễn Hữu Thân, Quản trị nhân sự, 1996, Tr.328)
Chế độ đãi ngộ tài chính
Gồm có lương cơ bản, phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi, trợ cấp, cổ phần, …
và được chia làm hai nhóm là đãi ngộ tài chính trực tiếp và đãi ngộ tài chính gián tiếp
CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ Tài chính Phi tài chính
Trực tiếp Gián tiếp Bản thân công việc Môi trường làm việc
Trang 10Chế độ đãi ngộ tài chính trực tiếp là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất Biểu
hiện của hình thức này là việc doanh nghiệp trả tiền lương, các khoản tiền thưởng, hoa
hồng cho người lao động Các hình thức trả lương, thưởng có thể khác nhau Ví dụ
nhiều doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo giờ, theo tuần hay tháng Mức
lương có thể áp dụng theo thứ bậc, theo thâm niên, hoặc lương theo hiệu quả hoạt động
của nhân viên
Chế độ đãi ngộ tài chính gián tiếp thường được hiểu là các chế độ phúc lợi mà
người lao động được hưởng ví dụ xe, nhà công vụ, điện thoại, đồng phục, bảo hiểm,
nghỉ phép, học tập… Sở dĩ hình thức đãi ngộ này được coi là gián tiếp vì nó là phần bổ
trợ cho các lợi ích vật chất như lương, thưởng và hoa hồng Nếu hình thức đãi ngộ vật
chất trực tiếp biểu hiện mối quan hệ giữa cá nhân người lao động đối với doanh nghiệp
thì các chế độ đãi ngộ vật chất gián tiếp biểu hiện mối quan hệ của doanh nghiệp với
tập thể người lao động Các chế độ này thường được áp dụng chung cho các các nhóm
công việc giống nhau hoặc các chức danh ở vị trí thứ bậc tương đương, hoặc khi người
lao động đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của doanh nghiệp Theo xu
hướng chung, doanh nghiệp ngày càng đưa ra các hình thức phúc lợi phong phú hơn để
nâng cao tính cạnh tranh trong việc thu hút và khuyến khích người lao động gắn bó lâu
dài
Chế độ đãi ngộ phi tài chính
Là hình thức đãi ngộ được sử dụng phổ biến gần đây khi nền kinh tế chuyển từ
nền sản xuất công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Sự hài lòng về mặt tâm lý của
người lao động là kết quả của nhiều lợi ích phi vật chất mà người lao động có được khi
làm việc cho doanh nghiệp Một môi trường làm việc an toàn, không nhàm chán và
thân thiện là mong muốn của phần lớn người lao động Bên cạnh đó, người lao động sẽ
cảm thấy gắn bó với doanh nghiệp hơn nếu thành tích của họ được ghi nhận và đánh
giá, nếu họ có được nhiều cơ hội để học tập hoặc thăng tiến trong việc phát triển nghề
nghiệp của mình Nhu cầu về cuộc sống của con người ngày càng cao Đặc biệt đối với
Trang 11các lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi nhiều chất xám Theo lý thuyết mức thang nhu cầu của
Maslow, khi các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý, an toàn đã được thỏa mãn, người lao
động sẽ hướng đến các nhu cầu cao hơn về mặt tâm lý Đối với các “nhân tài”, điều
này càng đúng hơn vì thường thì các doanh nghiệp đều đưa ra những hình thức lợi ích
vật chất và phi vật chất tương đối cạnh tranh Họ có nhiều sự lựa chọn và thường sẽ
quyết định làm việc cho một doanh nghiệp ở đó họ có được sự hài lòng về mặt tâm lý
trong khi vẫn đảm bảo các lợi ích vật chất của mình Khi đó, họ sẽ tin vào mục đích, lý
tưởng của doanh nghiệp, trung thành tuyệt đối với doanh nghiệp và cống hiến hết sức
lực, kiến thức và lòng nhiệt tình của họ cho công việc chung của doanh nghiệp
Một chế độ đãi ngộ hiệu quả phải kết hợp nhịp nhàng được cả hai hình thức trên
và mỗi hình thức đều phải được quan tâm một cách thỏa đáng Các hình thức này có
mối quan hệ đan xen vì vậy chúng phải được thiết kế làm sao để đảm bảo sự cân bằng
thích hợp Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng, đãi ngộ bằng vật chất là vô cùng quan
trọng đối với người lao động Nó là động lực cơ bản để thúc đẩy người lao động cố
gắng hơn, đảm bảo cho người lao động có một cuộc sống ổn định, duy trì thể thực và
trí lực để làm việc hiệu quả hơn Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng đãi ngộ vật chất trong chế
độ đãi ngộ của doanh nghiệp thì chưa đủ vì một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng
người lao động chỉ coi tiền lương, thưởng là thứ yếu trong các nhân tố quan trọng nhất
quyết định tới việc họ làm việc cho một tổ chức Do đó, doanh nghiệp cần phải chú ý
đến các nhân tố khác thúc đẩy người lao động gắn bó với doanh nghiệp
Bên cạnh việc duy trì cả hai hình thức đãi ngộ, doanh nghiệp cần đảm bảo
nguyên tắc về sự công bằng và minh bạch trong việc thực hiện các hình thức đãi ngộ
này Người lao động sẽ có phản ứng tiêu cực ở mức cao hơn nếu cho rằng họ được đối
xử không công bằng so với trường hợp họ nhận được mức đãi ngộ thấp nhưng công
bằng Nguyên tắc công bằng đòi hỏi cơ chế đãi ngộ phản ánh đúng sự đóng góp của cá
nhân người lao động đối với hoạt động của doanh nghiệp Người lao động có đóng góp
nhiều hơn đối với sự thành công của doanh nghiệp cần nhận được mức đãi ngộ cao
Trang 12hơn Các công việc, và vị trí có trách nhiệm và độ phức tạp trong thực hiện các nhiệm
vụ tương tự nhau, đòi hỏi kỹ năng, trình độ và kinh nghiệm tương tự nhau cần nhận
được các hình thức đãi ngộ tương tự Các hình thức thưởng, ghi nhận sự thành công
của cá nhân cần phải được thực hiện một cách thống nhất và liên tục Trình tự để thực
hiện các chức năng này cũng cần được xem xét một cách cẩn thận để đảm bảo sự công
bằng Người lao động cần phải được thông tin đầy đủ, rõ ràng về các tiêu chí để đánh
giá sự thành công của họ Đồng thời, việc thực hiện các hình thức đãi ngộ phải kịp thời
để động viên, khuyến khích người lao động đúng thời điểm
(Nguồn: Nguyễn Tiến Đức, Trưởng Ban đối ngoại - Viện Công nghệ quản trị
nhân sự Châu Á - AIM, bài báo “Cơ chế đãi ngộ thoả đáng trong việc trọng dụng nhân
tài”)
1.1 4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đãi ngộ:
Thị trường lao động:
Thị trường lao động chất lượng cao khan hiếm làm cho các doanh nghiệp quan
tâm hơn tới chế độ đãi ngộ lao động, bởi sự thay đổi cơ cấu đội ngũ lao động làm cho
năng suất lao động giảm và do đó ảnh hưởng tới mức chi trả tiền lương của doanh
nghiệp Khi đó, chế độ đãi ngộ đối với người lao động của doanh nghiệp cần quan tâm
tới là lương bổng trên thị trường, chi phí sinh hoạt, công đoàn, luật pháp, xã hội, nền
kinh tế,…
Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Để thực hiện được chế độ đãi ngộ tốt, doanh nghiệp cần phải đầu tư một phần
lớn vật chất cho quá trình này Do đó nguồn tài chính của doanh nghiệp góp phần quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng của chế độ đãi ngộ Các doanh nghiệp lớn thường
có khả năng chi trả chế độ đãi ngộ cao hơn, do đó thường thu hút đuợc nhiều lao động
giỏi
Năng suất lao động chung, yêu cầu của công việc, năng lực, kỹ năng của
người lao động: quyết định chế độ đãi ngộ mà người lao động sẽ nhận được
Trang 13 Vị trí của các bên khi đàm phán hợp đồng lao động:
Các doanh nghiệp đều muốn thu hút lao động giỏi, người tài từ các công ty
khác, do đó, những lao động giỏi có cơ hội đàm phán được chế độ đãi ngộ cao hơn các
lao động khác trước khi nhận lời vào làm việc cho doanh nghiệp
Chính sách của công ty:
Chế độ đãi ngộ là một loại chi phí lao động, thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn
trong công việc, nhằm nâng cao năng suất lao động và tạo ra nguồn nhân lực ổn định
cho doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp có chính sách giảm chi phí dành cho chế độ đãi
ngộ nhân viên, điều này không những không tiết kiệm được chi phí mà còn làm cho
doanh nghiệp tốn kém hơn vì năng suất lao động sẽ giảm, doanh nghiệp không đạt
được mục tiêu kinh doanh đề ra, đồng thời, số lượng lao động giỏi từ bỏ công ty tăng
cao, làm cho doanh nghiệp bị chảy máu chất xám mà sẽ phải mất một thời gian dài
doanh nghiệp mới có thể đào tạo lại được
Các quy định của pháp luật về lương, thưởng và các lợi ích khác:
Các quy định này cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới chế độ đãi ngộ của doanh
nghiệp Quy định của pháp luật về thang bảng lương và xây dựng đơn giá tiền lương
của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang hạn chế mức chi trả lương của các
doanh nghiệp cho các lao động giỏi, do đó các doanh nghiệp nhà nước thường khó giữ
được nhân tài ở lại trung thành với doanh nghiệp
Tình trạng của nền kinh tế:
Tình trạng nền kinh tế đang suy thoái hay tăng trưởng nhanh sẽ tạo cho
doanh nghiệp có khuynh hướng hạ thấp hoặc tăng chế độ đãi ngộ cho người lao động
Bởi vì, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, nguồn cung về lao động tăng lên, còn
trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng thì việc làm được tạo ra và cầu về lao động
((Nguồn: Nguyễn Tiến Đức, Trưởng Ban đối ngoại - Viện Công nghệ quản trị
nhân sự Châu Á - AIM, bài báo “Cơ chế đãi ngộ thoả đáng trong việc trọng dụng nhân
tài”; Nguyễn Hữu Thân, Quản trị nhân sự, 2008))
Trang 14Các doanh nghiệp tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình sẽ lựa chọn áp
dụng các hình thức đãi ngộ cho người lao động Doanh nghiệp phân tích tất cả các yếu
tố ảnh hưởng đến việc đưa ra một cơ chế đãi ngộ cụ thể đối với người lao động
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ
1.2.1 CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG
1.2 1.1 Tiền lương
Khái niệm, bản chất và vai trò của tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất
hàng hóa
Tiền lương được định nghĩa là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội
mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình
sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động
Tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra, tùy
theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản
xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm hay được xác định là một bộ phận
của thu nhập - kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp (Nguồn: Đại học KTQD, Giáo trình kinh tế vĩ mô, NXB Lao động, 2007)
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập,
có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao
động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao
động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng
miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện
Theo TS.Trần Kim Dung (2006), bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo
các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người Trước đây,
tiền lương thường được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường Giờ đây
với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào trong các doanh nghiệp, tiền lương
không chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động nữa Quan hệ giữa người chủ sử dụng sức
Trang 15lao động và người lao động đã có những thay đổi căn bản, quan hệ lao động chuyển từ
hình thức bóc lột, mua bán hàng hoá sang hình thức hợp tác song phương, đôi bên cùng
có lợi
Tiền lương, thu nhập là một phạm trù kinh tế- xã hội phức tạp, do đó nghiên cứu
hoàn chỉnh chính sách tiền lương là một quá trình Chính sách tiền lương được thể hiện
ở 3 nội dung, đó là tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương và cơ chế trả lương
Một trong những công cụ để bảo vệ người lao động, đồng thời là nền tảng của hệ
thống tiền lương là mức lương tối thiểu Bất kỳ một quốc gia nào khi hình thành mức
lương tối thiểu đều phải dựa trên mức sống tối thiểu và điều kiện kinh tế - xã hội theo
từng thời kỳ của nước đó Tiền lương tối thiểu là mức lương để trả cho người lao động
giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường Tiền lương tối thiểu ngoài việc
đảm bảo các nhu cầu tối thiểu về sinh học và đời sống của người lao động, còn có thể
đảm bảo về mặt xã hội là nuôi một người ăn theo, theo nghĩa rộng là để tái sản xuất sức
lao động và phát triển khía cạnh xã hội của con người (Nguồn: Học viện hành chính
quốc gia, Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực xã hội, NXB Giáo dục, 2007)
Trong hệ thống tiền lương, ngoài tiền lương tối thiểu, còn có tiền lương danh
nghĩa và tiền lương thực tế
Tiền lương danh nghĩa là tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động dưới hình thức tiền tệ Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng
suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh
nghiệm làm việc trong quá trình lao động
Tiền lương thực tế được hiểu là các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ
cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa
Tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: số lượng tiền lương danh nghĩa và
chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ
Mối quan hệ tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa được thể hiện qua công
thức sau:
Trang 16Itldn Itltt = - Igc
Itltt : Chỉ số tiền lương thực tế
Itldn : Chỉ số tiền lương danh nghĩa
Igc : Chỉ số giá cả (hàng tiêu dùng và dịch vụ)
(Nguồn: Trần Kim Dung, Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê,
2006, Tr 272)
Như vậy, nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế giảm đi Điều này có thể xảy
ra ngay cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên nếu chỉ số giá cả vượt chỉ số lương danh
nghĩa Đây là một quan hệ rất phức tạp do sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa, của
giá cả và phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau
Trong thực tế tiền lương là mục tiêu trực tiếp của người lao động hưởng lương,
đó cũng chính là đối tượng quan tâm của Nhà nước trong các chính sách thu nhập, tiền
lương và đời sống
Đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập chủ yếu mà họ nhận được
từ người sử dụng lao động, giúp họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch
vụ cần thiết Tiền lương, thưởng kiếm được có ảnh hưởng lớn đến địa vị của người lao
động trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các đồng nghiệp cũng như giá
trị tương đối của họ đối với tổ chức và đối với xã hội Do đó tiền lương là mối quan
tâm hàng đầu và là động lực làm việc của người lao động Họ muốn được trả lương
đúng với tính chất công việc, được tăng lương theo kết quả công việc và nỗ lực của
mình, được trả lương công bằng trên cơ sở so sánh với những lao động khác trong
doanh nghiệp và với vị trí tương tự trên thị trường lao động và quan trọng nhất là việc
trả lương phải nhất quán, minh bạch và rõ ràng Người lao động luôn muốn đạt được
mức lương cao nhất Khả năng được hưởng mức lương cao sẽ tạo ra động lực thúc đẩy
người lao động cố gắng hơn nữa trong học tập nâng cao trình độ và trong công tác để
Trang 17nâng cao giá trị của họ đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, mục đích của hệ thống tiền
lương không hẳn phải là trả lương cao nhất mà là đạt được sự hài lòng của người lao
động với những mong muốn của họ nêu trên
Còn về phía doanh nghiệp, doanh nghiệp luôn nhận thức được rằng tiền lương là
một trong những động lực chủ yếu hoặc kích thích người lao động hăng hái làm việc,
hoặc làm cho họ trì trệ, bất mãn, từ bỏ công ty Nhưng tiền lương cũng là một phần
quan trọng của chi phí sản xuất, quyết định tới giá thành sản phẩm, dịch vụ và khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, việc xây dựng một hệ thống tiền lương
khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kinh tế quan trọng, kích thích nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động luôn được lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm
Đối với xã hội, người lao động được trả mức lương cao sẽ có sức mua cao, làm
tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng điều này có thể dẫn tới việc tăng giá trên thị
trường, làm giảm mức sống của những người có thu nhập không đuổi kịp mức tăng của
giá cả Giá cả tăng cao còn có thể làm giảm cầu về sản phẩm, dịch vụ, dẫn tới giảm
công ăn việc làm, gia tăng tỷ lệ thất nghiệp cho xã hội Mặt khác, tiền lương đóng góp
một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua thuế thu nhập, giúp cho chính phủ
tăng nguồn thu để điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Những nguyên tắc cơ bản của việc chi trả tiền lương
Dù cho doanh nghiệp thực hiện bất kì chế độ tiền lương nào, muốn phát huy đầy
đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của tiền lương đối với sản xuất và đời sống phải thực hiện
đầy đủ những nguyên tắc sau:
- Trả lương bằng nhau cho các lao động làm công việc có độ phức tạp như nhau:
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động Trả lương
bằng nhau cho lao động như nhau có nghĩa là khi quy định tiền lương, tiền thưởng cho
công nhân viên chức nhất thiết không được phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc mà
phải trả cho mọi người đồng đều số lượng, chất lượng mà họ đã cống hiến cho xã hội
Trang 18- Bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân trong toàn đơn vị và trong kỳ kế hoạch:
Tiền lương bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu do nâng
cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian tổn thất
cho lao động, còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố trên mà
còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như: áp dụng kỹ thuật mới, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt lao động và các quá trình sản xuất Như
vậy tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ
tăng tiền lương bình quân Đây là nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền lương Có
như vậy mới tạo cơ sở giảm giá thành, hạ giá cả, tăng tích lũy để tái mở rộng sản xuất
- Đảm bảo thu nhập tiền lương hợp lý giữa các bộ phận, ngành nghề lao động
khác nhau trong nền kinh tế:
Tiền lương được trả cho từng bộ phận, cá nhân người lao động chủ yếu phụ
thuộc vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác, giá trị cống hiến của từng bộ phận,
cá nhân người lao động trong từng ngành nghề lao động khác nhau, tránh phân phối
bình quân Đối với lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giỏi, giữ vai trò và
đóng góp quan trọng cho việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị thì
mức tiền lương và thu nhập phải được trả thỏa đáng Đối với lao động làm công việc
chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ giản đơn, phổ biến thì mức lương được trả cần cân
đối với mức lương của lao động cùng loại trong đơn vị và trong địa bàn
Cá c hình thức chi trả tiền lương
Hiện nay, việc tính trả lương cho người lao động được tiến hành theo ba hình
thức chủ yếu: hình thức trả lương theo thời gian, hình thức trả lương theo sản phẩm và
hình thức trả lương khoán
• Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động theo thời
gian làm việc thực tế và mức tiền lương đã được xác định cho công việc, với điều kiện
Trang 19người lao động phải đáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây
dựng trước nếu muốn tiếp tục được nhận mức tiền lương cho công việc đó
Có hình thức tính tiền lương đơn giản theo suất lương cao hay thấp và thời gian
làm dài hay ngắn quyết định; lại có hình thức tính tiền lương kết hợp giữa thời gian với
tiền khen thưởng khi đạt hoặc vượt chỉ tiêu chất lượng và số lượng
Tiền lương theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, tuần, ngày hoặc ngày làm
việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động
của doanh nghiệp, thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như: hành
chính, quản trị, tổ chức lao động, thống kê, tài vụ-kế toán,… Hoặc áp dụng cho các
công việc sản xuất nhưng khó định mức được cụ thể, các công việc đòi hỏi chất lượng
cao, các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc, thiết bị
hay các hoạt động tạm thời, sản xuất thử
Công thức tính lương theo thời gian:
Tiền lương tháng đã được quy định cho từng bậc lương trong bảng lương,
thường áp dụng cho nhân viên làm công việc quản lý hành chính, quản lý kinh tế
TL = (HSL + PC) x LCB (1.1) Trong đó: TL: Tiền lương tháng (đồng)
HSL: Hệ số lương PC: Phụ cấp
LCB: Tiền lương cơ bản (đồng)
Ưu điểm của hình thức này là dễ hiểu, dễ quản lý, tạo điều kiện cho cả người
quản lý và nhân viên có thể dễ dàng tính toán được tiền lương
Hình thức chi trả tiền lương tính theo thời gian cũng hạn chế là tiền lương tính
trả cho người lao động chưa đảm bảo đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì
chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động và sự đóng góp của người lao động
trong một chu kỳ thời gian cụ thể, do đó chưa phát huy đầy đủ chức năng đòn bẩy kinh
Trang 20tế của tiền lương trong việc kích thích sự phát triển của sản xuất, chưa phát huy hết khả
năng sẵn có của người lao động
Do những hạn chế trên, khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian cần thực
hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng, động viên khuyến
khích vật chất, tinh thần dưới các hình thức tiền thưởng; thường xuyên kiểm tra việc
chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian lao động Việc phối hợp nhiều biện
pháp sẽ tạo cho người lao động có kỷ luật, có kỹ thuật và năng suất cao
Tiền lương thời gian có thể được trả theo hai chế độ:
- Trả lương theo thời gian đơn giản: theo số ngày (hoặc giờ) công lao động thực
tế và mức tiền lương xác định theo ngày (hoặc giờ) của công việc
- Trả lương theo thời gian có thưởng: gồm tiền lương theo thời gian đơn giản
cộng với tiền thưởng Tiền thưởng được tính cho tất cả các sản phẩm được sản xuất,
cho số sản phẩm vượt định mức hoặc cho mức độ thực hiện công việc xuất sắc
Là việc trả lương cho công nhân (nhóm công nhân) theo kết quả lao động, số
lượng sản phẩm sản xuất ra (đơn vị tính là chiếc, kg, tấn, mét ), khối lượng công việc
đã hoàn thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá
tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, được tính bằng tích số giữa số lượng sản
Công thức tính:
TL = SPTT x ĐGTL (1.2) Trong đó: TL: Tiền lương (đồng)
SPTT: Số lượng sản phẩm thực tế (chiếc, kg, tấn, mét,…) ĐGTL: Đơn giá tiền lương trên một sản phẩm (đồng/sản phẩm) Đơn giá được tính bằng cách chia mức lương giờ của công việc cho số đơn vị
sản phẩm định mức mà người lao động có nghĩa vụ phải sản xuất trong một giờ hoặc
Trang 21nhân mức lương giờ của công việc với số giờ định mức để sản xuất được một đơn vị
sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thể được thực hiện theo nhiều chế độ khác
nhau, tùy thuộc vào đối tượng trả lương:
- Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Áp dụng đối với người lao động thuộc bộ phận trực tiếp làm ra sản phẩm, mà
công việc của họ mang tính chất độc lập tương đối, có thể định mức và kiểm tra,
nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt Đơn giá sản phẩm có thể được tính
theo công thức (1.3) hoặc (1.4)
Đơn giá = Mức lương cấp bậc của công việc
Đơn giá = Mức lương cấp bậc của công việc x Mức thời gian (1.4)
- Trả lương theo sản phẩm tập thể:
Áp dụng đối với một số công việc sản xuất theo phương pháp dây chuyền hoặc
một số công việc thủ công nhưng có liên quan đến nhiều công nhân, đòi hỏi sự phối
hợp giữa các công nhân, năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào sự đóng góp của cả
nhóm Đơn giá tính theo sản phẩm tập thể được tính theo một trong hai công thức (1.5)
hoặc (1.6)
Đơn giá =
Tổng mức lương cấp bậc của cả nhóm Tổng mức sản lượng của cả nhóm (1.5)
Mức thời gian
- Trả lương theo sản phẩm gián tiếp:
Chỉ áp dụng đối với một số công nhân phục vụ mà công việc của họ có ảnh
hưởng lớn đến thành quả lao động của công nhân chính hưởng theo sản phẩm, được
Trang 22tính bằng tích số giữa tiền lương được lĩnh của bộ phận trực tiếp và tỷ lệ nhân lương
gián tiếp
Tỷ lệ lương của bộ phận gián tiếp do đơn vị xác định căn cứ vào tính chất, đặc
điểm của lao động gián tiếp phục vụ sản xuất Cách tính lương này có tác dụng làm cho
những người phục vụ sản xuất quan tâm đến kết quả hoạt động sản xuất vì nó gắn liền
với lợi ích kinh tế của bản thân họ
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến:
Là hình thức trả lương phần sản lượng trong định mức khởi điểm tính theo đơn
giá bình thường; phần sản lượng vượt mức khởi điểm sẽ tính theo đơn giá cao hơn
Suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất
sản phẩm do doanh nghiệp quy định Ví dụ như cứ vượt 10% định mức thì tiền thưởng
tăng thêm cho phần vượt là 20%; vượt từ 11% - 20% định mức thì tiền thưởng tăng
thêm cho phần vượt là 40%; vượt từ 50% trở lên thì tiền thưởng tăng thêm cho phần
vượt là 100% Có thể được áp dụng ở những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy mạnh
tốc độ sản xuất
Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ
thuật nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo cho đơn vị thực hiện kế hoạch sản
xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú ý, khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến cần hạn
chế 2 trường hợp có thể xảy ra đó là:
+ Người lao động phải tăng cường độ lao động đưa đến việc không đảm bảo sức
khỏe cho lao động lâu dài
+ Tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động
- Trả lương theo sản phẩm có thưởng:
Là trả lương sản phẩm trực tiếp kết hợp với chế độ tiền thưởng Khi áp dụng
chế độ trả lương này, toàn bộ sản phẩm được áp dụng theo đơn giá, còn tiền thưởng sẽ
căn cứ vào trình độ hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu về số lượng của chế độ tiền
Trang 23thưởng quy định.Cách tính này có tác dụng kích thích người lao động không chỉ quan
tâm đến số lượng sản phẩm làm ra mà còn quan tâm nâng cao chất lượng sản phẩm,
tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu,…Khoản tiền thưởng này trích từ lợi
ích kinh tế mang lại do việc tăng tỷ lệ sản phẩm có chất lượng cao, giá trị số nguyên
vật liệu tiết kiệm được…
- Tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng:
Đối với các doanh nghiệp có tính chất chế biến, doanh nghiệp cần tạo ra các điều
kiện ổn định sản xuất, tổ chức lại từng dây chuyền ổn định sản xuất và xác định rõ giai
đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành phẩm Trên cơ sở xác định giai
đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành phẩm để xác định tiền lương tính
theo sản phẩm cuối cùng cho từng người lao động hay một tập thể người lao động
Cách tính lương này là tiến bộ nhất vì nó gắn trách nhiệm của cá nhân hoặc tập
thể người lao động với chính sản phẩm mà họ đã làm ra Như vậy trong trường hợp
tính lương theo sản phẩm cuối cùng, tiền lương phải trả cho người lao động không
thuộc chi phí sản xuất mà nằm trong thu nhập còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí
hợp lý và các khoản phân phối lợi nhuận theo quy định
• Hình thức trả lương theo giờ chuẩn:
Cách trả lương cũng giống như hệ thống trả lương theo sản phẩm (Công thức 1.4),
nhưng sử dụng yếu tố thời gian chuẩn quy định cho công nhân để thực hiện một khối
lượng công việc nhất định Theo Halsey, khi công nhân thực hiện công việc nhanh hơn
mức quy định, họ sẽ được thưởng thêm một số tiền công bằng một nửa đơn giá thời
gian tiết kiệm được
Chế độ tiền lương trả theo giờ chuẩn khuyến khích người lao động hoàn thành
nhiệm vụ trước thời hạn mà vẫn đảm bảo chất lượng công việc thông qua hợp đồng
giao khoán chặt chẽ
(Nguồn: Nguyễn Văn Điềm - Nguyễn Ngọc Quân, Giáo trình quản trị nhân lực, NXB
Lao động – Xã hội, 2004, Tr.217)
Trang 24Như vậy, hình thức tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức có nhiều ưu điểm,
đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động làm cho người lao động quan tâm đến số
lượng và chất lượng lao động của mình Tiền lương theo sản phẩm có tác dụng khuyến
khích tài chính đối với người lao động, thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động, vì
tiền lương họ nhận được phụ thuộc trực tiếp vào lượng sản phẩm làm ra Tiền lương
tính theo sản phẩm phát huy đầy đủ vai trò đòn bẩy kinh tế, kích thích sản xuất phát
triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm cho xã hội, đồng thời việc tính
toán tiền lương cũng đơn giản và có thể được giải thích dễ dàng đối với người lao
động
Tuy nhiên, để áp dụng một cách thuận lợi và phát huy đầy đủ những ưu điểm
của hình thức này doanh nghiệp phải xây dựng được một hệ thống định mức lao động
thật hợp lý, xây dựng được đơn giá tiền lương trả cho từng loại sản phẩm, từng loại
công việc một cách khoa học, xây dựng được chế độ thưởng phạt rõ ràng, xây dựng
suất thưởng lũy tiến thích hợp với từng loại sản phẩm, công việc, tổ chức quản lý chặt
chẽ việc nghiệm thu sản phẩm: đảm bảo đủ, đúng số lượng, chất lượng theo quy định
Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao động
trong tập thể lao động có phù hợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với cấp bậc công
việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ thuật cao … để lựa chọn
phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên, khuyến khích và tạo điều kiện
cho người lao động phát huy hết năng lực lao động của mình
Việc áp dụng chế độ trả lương phù hợp với từng đối tượng lao động trong doanh
nghiệp cũng là một trong những điều kiện quan trọng để huy động và sử dụng có hiệu
quả lao động, tiết kiệm hợp lý về lao động sống trong chi phí sản xuất kinh doanh, góp
phần hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 251.2.1.2 Tiền thưởng
Tiền thưởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với người
lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn, thường có rất nhiều loại
Trong thực tế doanh nghiệp có thể áp dụng một số loại thưởng sau đây:
• Thưởng tiết kiệm: áp dụng khi người lao động sử dụng tiết kiệm các loại vật tư,
nguyên liệu, có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn bảo đảm được chất
lượng theo yêu cầu
• Thưởng sáng kiến: áp dụng khi người lao động có các sáng kiến, cải tiến kỹ
thuật, tìm ra các phương pháp làm việc mới, v v… có tác dụng nâng cao năng suất lao
động, giảm giá thành, hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ
• Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp: áp dụng
khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, người lao động trong doanh nghiệp sẽ được chia một
phần lợi nhuận dưới dạng tiền thưởng
• Thưởng bảo đảm ngày công: áp dụng khi người lao động làm việc với số ngày
công vượt mức quy định của doanh nghiệp
(Nguồn: Trần Kim Dung, Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê, 2006,
Tr 274)
1.2.1.3 Tiền hoa hồng
Tiền hoa hồng thường áp dụng để trả cho nhân viên bán hàng Có thể áp dụng
hai kiểu tính hoa hồng:
- Tiền lương hoàn toàn tính bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh số bán hàng
- Tiền lương được tính bằng lương thời gian và tỷ lệ phần trăm trên doanh số bán
được theo tháng
Tỷ lệ phần trăm hoa hồng được tính rất khác biệt trong các doanh nghiệp, phụ
thuộc vào tính chất của loại mặt hàng kinh doanh, theo vị trí thuận lợi của điểm bán
hàng, tính chất cạnh tranh trên thị trường đối với sản phẩm bán hàng, … (Nguồn: Trần
Kim Dung, Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê, 2006, Tr 274)
Trang 261.2.2 Phúc lợi cho người lao động:
Khái niệm:
Trong hầu hết các tổ chức, người quản lý đều nhận thấy sự cần thiết phải cung
cấp các loại bảo hiểm và các chương trình khác liên quan đến sức khỏe, sự an toàn, các
loại bảo hiểm và các lợi ích khác cho người lao động Những chương trình đó gọi là
các phúc lợi cho người lao động, bao gồm tất cả các khoản thù lao tài chính mà người
lao động nhận được ngoài những khoản thù lao tài chính trực tiếp Tổ chức phải chi phí
để cung cấp các phúc lợi, nhưng người lao động luôn nhận được dưới dạng gián tiếp
Ví dụ tổ chức có thể trả toàn bộ hay một phần chi phí để mua bảo hiểm sức khỏe cho
người lao động Người lao động không được nhận khoản tiền đó nhưng lại nhận được
những lợi ích từ chương trình bảo hiểm sức khỏe mang lại
Như vậy, phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ về
cuộc sống cho người lao động
Ngoài ra người lao động còn được hưởng chế độ đãi ngộ tài chính dưới dạng
dịch vụ Dịch vụ cho người lao động là những khoản cũng có tác dụng to lớn như phúc
lợi nhưng người lao động phải trả một khoản tiền nào đó
(Nguồn: Nguyễn Văn Điềm - Nguyễn Ngọc Quân, Quản trị nhân lực, NXB Lao động –
xã hội, 2004)
Ý nghĩa của chương trình phúc lợi:
Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống cho người lao
động như hỗ trợ tiền mua nhà, xe, tiền khám chữa bệnh…
Phúc lợi làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, làm người lao động
thấy phấn chấn, từ đó giúp tuyển mộ và gìn giữ được lực lượng lao động có trình độ
cao cho doanh nghiệp
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, góp phần thúc đẩy
và nâng cao năng suất lao động
Trang 27Phúc lợi còn giúp giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong việc chăm lo cho người
lao động như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Các loại phúc lợi:
Có hai loại phúc lợi và dịch vụ doanh nghiệp thường cung cấp cho người lao
động:
• Phúc lợi bắt buộc:
Là các khoản phúc lợi tối thiểu mà các tổ chức phải đưa ra theo yêu cầu của
pháp luật Phúc lợi bắt buộc có thể là các loại hình bảo hiểm mà người lao động và
người sử dụng lao động buộc phải tham gia theo yêu cầu của pháp luật, gồm có: bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trợ cấp thất nghiệp
Bảo hiểm xã hội là khoản trợ cấp cho người lao động trong trường hợp tạm thời
hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí
mất sức hay tử tuất… nhằm giúp họ giảm bớt khó khăn trong cuộc sống
Bảo hiểm y tế nhằm xã hội hóa việc khám chữa bệnh, người lao động được hưởng
chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện phí, thuốc
men… khi bị ốm đau, bệnh tật
Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách của nhà nước nhằm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi họ thất nghiệp
• Phúc lợi tự nguyện:
Là phúc lợi mà các tổ chức đưa ra để thu hút lao động, tùy thuộc vào khả năng tài
chính và sự quan tâm của lãnh đạo trong tổ chức Gồm có các loại sau:
Các phúc lợi bảo hiểm:
- Bảo hiểm sức khỏe: trả cho việc ngăn chặn bệnh tật như các chương trình thể dục, thể
thao để tránh căng thẳng sau giờ làm việc hoặc chăm sóc ốm đau, bẹnh tật
- Bảo hiểm nhân thọ: trả tiền cho gia đình người lao động khi người lao động qua đời
Người sử dụng lao động có thể hỗ trợ đóng một phần tiền bảo hiểm hoặc toàn bộ khoản
tiền bảo hiểm
Trang 28- Bảo hiểm mất khả năng lao động: khoản tiền này được trả cho người lao động khi họ
bị mất khả năng lao động
Các phúc lợi bảo đảm:
- Bảo đảm thu nhập: Những khoản tiền trả cho người lao động bị mất việc làm có lý do
từ phía người sử dụng lao động như thu hẹp sản xuất, giảm biên chế, giảm khối lượng
sản xuất…
- Bảo đảm hưu trí: là khoản tiền trả cho người lao động đến một mức tuổi nào đó phải
nghỉ hưu theo số năm do công ty quy định
- Tiền trả cho thời gian không làm việc: là khoản tiền trả cho những thời gian người lao
động không làm việc do thoả thuận ngoài mức quy định của pháp luật như nghỉ phép,
nghỉ giữa ca, vệ sinh cá nhân, đi du lịch…
- Phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt: Nhằm trợ giúp cho người lao động bằng giờ làm
việc linh hoạt như tổng số giờ công lao động trong ngày, tuần,… ít hơn quy định hoặc
thời gian làm việc thay đổi linh hoạt theo mùa, …
- Các loại dịch vụ cho người lao động:
Các dịch vụ tài chính nhằm tạo ra các ưu đãi về tài chính cho người lao động của
tổ chức gồm:
+ Dịch vụ bán giảm giá: Công ty bán sản phẩm cho nhân viên với giá rẻ hơn
mức giá bán bình thường hay với phương thức thanh toán ưu đãi như trả góp không lãi
suất và trừ dần vào tiền lương hàng tháng
+ Mua cổ phần của công ty: Người lao động trở thành người sở hữu công ty
bằng việc mua được một số cổ phiếu với giá ưu đãi
+ Giúp đỡ tài chính của tổ chức: cho người lao động vay tiền để mua tài sản có
giá trị như mua nhà, xe,… và khoản tiền vay này sẽ được khấu trừ vào tiền lương hàng
tháng
+ Các cửa hàng, căng tin: công ty tổ chức dịch vụ chỉ bán cho nhân viên với giá
rẻ hơn giá phục vụ trên thị trường
Trang 29Các dịch vụ xã hội:
+ Trợ cấp về giáo dục, đào tạo: tổ chức trợ cấp một phần hay toàn bộ kinh phí
cho người lao động học tập nhằm mục đích phục vụ cho công việc
+ Dịch vụ nghề nghiệp: tổ chức lấy nhân viên của mình để phục vụ cho người
lao động trong tổ chức không mất tiền như: cố vấn kế toán kê khai thuế, tư vấn cho
người lao động về các vấn đề riêng tư, chăm sóc y tế tại chỗ, thư viện và phòng đọc, …
+ Dịch vụ giải trí: tổ chức cung cấp nhằm tạo cho người lao động cơ hội để sử
dụng thời gian nhàn rỗi hiệu quả, giúp người lao động thoải mái, phấn chấn hơn và có
cơ hội gần nhau hơn Dịch vụ này có thể là: các chương trình thể thao, văn hoá, chương
trình dã ngoại, du lịch, nghỉ mát hàng năm, mở các lớp học cho con em nhân viên hay
giúp đỡ chăm sóc bố mẹ già cho nhân viên yên tâm công tác, dịch vụ nhà ở và đi lại
(xây nhà bán rẻ cho nhân viên, cho xe đưa đón nhân viên)
Chế độ ăn ca, nghỉ ngơi:
2 Căn cứ khẩu phần ăn để bảo đảm sức khỏe cho người lao động, chỉ số giá sinh
hoạt và khả năng chi trả của công ty, Giám đốc công ty sau khi thống nhất ý kiến với
Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định mức ăn cho một bữa ăn giữa ca nhưng tối
đa tiền chi cho bữa ăn giữa ca tính theo ngày làm việc trong tháng cho một người
không quá 450.000 đồng/tháng Việc thực hiện chế độ ăn ca giúp cho người lao động
yên tâm công tác, đồng thời tạo bầu không khí vui vẻ, ấm cúng trong tổ chức
Người lao động được hưởng chế độ nghỉ ngơi theo đúng quy định của Nhà nước
Tại nhiều công ty, đặc biệt là các công ty lớn, người lao động được tổ chức đi nghỉ tại
các khu an dưỡng hoặc được bố trí đi du lịch dài ngày, có thể tất cả các CBCNV đều
được hưởng chế độ này hoặc chỉ những nhân viên có thành tích công tác tốt, được tập
thể bầu chọn Việc này kích thích người lao động cố gắng nỗ lực hơn vì đó không chỉ
là hình thức giải trí đơn thuần về mặt tâm lý và thể chất cho người lao động mà còn thể
hiện giá trị và tầm quan trọng của người lao động đối với người sử dụng lao động
Trang 30(Nguồn: Nguyễn Văn Điềm - Nguyễn Ngọc Quân, Quản trị nhân lực, NXB Lao động –
xã hội, 2004)
1.2.3 Bản thân công việc và môi trường làm việc:
Bản thân công việc:
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thân (2008), bản thân công việc hấp dẫn nhân viên
làm việc sẽ có tác dụng tích cực đối với hiệu quả lao động của nhân viên Các yếu tố
sau của công việc sẽ có tác dụng tích cực đối với người lao động:
- Công việc phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhân viên: giúp
cho nhân viên có khả năng hoàn thành được công việc, tạo cho họ tâm lý thoải mái khi
làm việc
- Nhiệm vụ hứng thú: Nhân viên chỉ cảm thấy thỏa mãn và có trách nhiệm hơn
với công việc khi được làm một công việc hứng thú Các công ty đang có xu hướng
đưa chương trình phong phú hóa công việc đến với các nhân viên Đây là một chương
trình cấu trúc lại nội dung công việc cấu trúc lại mức độ trách nhiệm của công việc
nhằm làm cho công việc đòi hỏi mức phấn đấu nhiều hơn, có ý nghĩa hơn và hứng thú
nhiều hơn, làm cho người lao động thực sự yêu thích công việc được giao và giành
nhiều thời gian cho nó
- Công việc đòi hỏi sự phấn đấu để khẳng định năng lực cá nhân
- Công việc đòi hỏi tính trách nhiệm: khi giao hoàn toàn trách nhiệm cho nhân
viên trong công việc, họ sẽ thấy tự hào và toại nguyện khi được cấp trên tin tưởng giao
phó công việc, do đó nhân viên sẽ cố gắng hết sức để đạt được kết quả công việc tốt
nhất
- Có cơ hội thăng tiến, thành đạt
- Người lao động được tự chủ và có thẩm quyền với công việc của mình
Môi trường làm việc:
Môi trường làm việc quyết định sự thành công của nhân viên ở tại doanh nghiệp
Môi trường tốt giúp cho nhân viên làm việc hết mình, phát huy ý tưởng, khả năng sáng
Trang 31tạo cũng như kinh nghiệm quản lý Môi trường làm việc tốt là môi trường có bầu
không khí thân thiện, gắn kết tập thể có cùng niềm tin và phấn đấu vì mục tiêu chung
của tổ chức, là nơi người lao động luôn có những đồng nghiệp chan hòa, những lãnh
đạo biết quan tâm, chia sẻ với nhân viên, khiến nhân viên thấy thoải mái, coi tổ chức
như là nhà và toàn tâm, toàn ý làm việc cho tập thể Ngược lại, khi nhân viên không
cảm thấy hài lòng về môi trường làm việc, họ sẽ chán nản, không có hứng thú và cuối
cùng phải ra đi
Một môi trường làm việc tốt cần có những điều kiện sau:
- Sự quan tâm, động viên của cấp quản lý
- Chính sách hợp lý
- Đồng nghiệp thân thiện
- Biểu tượng địa vị phù hợp
- Điều kiện làm việc thoải mái
- Giờ làm việc uyển chuyển: người lao động được chọn giờ giấc làm việc phù
hợp với hoàn cảnh của từng người
- Tuần lễ làm việc dồn lại: nhân viên được phép làm việc khẩn trương, làm thêm
giờ để hoàn thành công việc thay vì phải làm việc cả tuần
- Hợp tác và chia sẻ: các nhân viên hợp tác và hỗ trợ nhau trong công việc
- Có căng – tin
- Làm việc ở nhà truyền qua internet
1.2.4 Chính sách đào tạo:
Trong khi các doanh nghiệp trên thế giới coi đào tạo như một chiến lược đầu tư
quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh thì có nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa
nhận thức được sự cần thiết của công tác đào tạo, họ coi đào tạo như một khoản chi phí
cắt giảm càng nhiều càng tốt Nhưng người lao động khi được tuyển dụng lại rất quan
tâm tới chính sách đào tạo của doanh nghiệp Người lao động luôn có nhu cầu được
Trang 32đào tạo và khẳng định năng lực bản thân, do đó họ muốn tìm cơ hội được đào tạo khi
làm việc cho doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không có chiến lược đào tạo gắn liền với
tầm nhìn và mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp, kế hoạch đào tạo hàng năm cũng không
có, hoặc có thì cũng rất sơ sài, hình thức Nguyên nhân chủ yếu là do ban lãnh đạo
doanh nghiệp không thực sự quan tâm đến công tác đào tạo, không có cán bộ phụ trách
đào tạo, hoặc có thì cũng thiếu năng lực, kinh phí đào tạo quá hạn hẹp, không xác định
được nhu cầu đào tạo của nhân viên, không có các biện pháp triển khai kế hoạch đào
tạo, không đánh giá được hiệu quả của công tác đào tạo
Nhiều giám đốc doanh nghiệp quan niệm đào tạo là trách nhiệm của xã hội Họ
chỉ tuyển dụng những cán bộ lành nghề, đã được đào tạo và biết làm việc Nhưng thực
tế đã chỉ ra rằng chiến lược tuyển dụng thông minh cũng không thay thế được công tác
đào tạo trong doanh nghiệp Các nhà tuyển dụng khôn ngoan này thường xuyên gặp
phải các vấn đề như: giá của những ứng viên giỏi ngày càng leo thang và không phải
khi nào trên thị trường lao động cũng có sẵn những ứng viên phù hợp với yêu cầu của
họ Đặc biệt với những chuyên môn gắn liền với thực tiễn của doanh nghiệp, đào tạo
phát triển nhân sự có sẵn bên trong doanh nghiệp vẫn là biện pháp tối ưu nhất
Do đó, việc đào tạo được quan tâm đúng mức sẽ tạo động lực cho người lao
động gắn bó hơn với doanh nghiệp vì họ nhận thấy nhiều cơ hội được đào tạo từ doanh
Năng suất lao động được định nghĩa bởi OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển
kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development) là tỷ số giữa sản
lượng đầu ra với số lượng đầu vào được sử dụng Đối với doanh nghiệp, thước đo sản
Trang 33lượng đầu ra thường là doanh thu, lợi nhuận và thước đo sản lượng đầu vào là sức lao
động, số người tham gia lao động
Vai trò của việc tăng năng suất lao động
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất để cải tiến năng suất lao động Mục
tiêu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được bằng cách tăng doanh thu
thông qua mở rộng thị trường, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và hạ giá thành sản
phẩm Cải tiến năng suất giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu nêu trên Có thể
nói, tăng năng suất là nhu cầu tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và
xã hội Năng suất chính là thước đo hiệu quả và có hiệu lực nhất trong việc sử dụng các
nguồn lực và trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng tới tăng năng suất lao động
- Yếu tố lao động: có ý nghĩa quyết định tới việc tăng năng suất lao động
Yếu tố lao động tác động đến sản xuất ở cả hai mặt của nó: số lượng và chất
lượng Việc phân tích và xác định yếu tố lao động giúp đánh giá được biến động của
lực lượng lao động và tình hình bố trí lao động của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp
sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động nhằm tăng năng suất lao động
- Nhu cầu của khách hàng và xã hội:
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến năng suất, đạt được lợi thế cạnh tranh
chủ yếu thông qua việc sản xuất được sản phẩm tốt hơn, giao hàng nhanh hơn chứ
không phải chỉ là việc giảm chi phí Hàng hoá và dịch vụ phải được thiết kế và sản xuất
sao cho thoả mãn được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chi phí, thời gian giao
hàng, đồng thời nâng cao được chất lượng cuộc sống Ta có thể hiểu yêu cầu này bao
gồm các yếu tố: (1) không tạo ra tác động xấu tới xã hội, ví dụ sự ô nhiễm trong sản
xuất, (2) thoả mãn yêu cầu về sức khoẻ, giáo dục của người dân và đóng góp vào việc
đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế các doanh nghiệp cần phải
hiểu được các nhu cầu của khách hàng và nhu cầu xã hội để nâng cao khả năng thiết kế
ở cấp quốc gia và cấp doanh nghiệp, làm tăng năng suất cho doanh nghiệp
Trang 34- Các nguồn lực vô hình (thái độ, sự huy động thông tin, kiến thức và thời gian): con
người, cùng với khả năng tư duy và sáng tạo, xây dựng và thực hiện các thay đổi, là
nguồn lực cơ bản trong cải tiến năng suất
- Các chi phí lao động:
Là nguồn lực có tác động trực tiếp và hiệu quả nhất tới năng suất lao động Các
chi phí này góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, gắn lợi ích
người lao động với lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp, tạo ý thức tăng năng suất cho
người lao động
- Chất lượng quản lý:
Tạo ra sắc thái và phương hướng của tổ chức thông qua việc xây dựng một tầm
nhìn chiến lược, các chính sách và phương thức hoạt động để đáp ứng kịp thời những
thay đổi không ngừng của môi trường Sự năng động của lãnh đạo đóng vai trò quan
trọng nhất trong việc phát triển các phương thức nhằm cải thiện môi trường làm việc
sao cho người lao động được động viên, khích lệ, và chuẩn bị thích ứng một cách hiệu
quả với những thay đổi không ngừng của môi trường kinh tế - xã hội – công nghệ, là
yếu tố quyết định tăng năng suất lao động
- Chất lượng môi trường:
Cải tiến năng suất phải được thực hiện theo hướng nâng cao chất lượng cuộc
sống và thúc đẩy phong cách sống lành mạnh Nâng cao chất lượng cuộc sống không
chỉ là việc cung cấp nhiều hàng hoá mà còn là cho phép mỗi cá nhân tìm kiếm hạnh
phúc và hoàn thành sứ mạng trong cuộc sống của họ Năng suất trong tương lai không
những nhằm thoả mãn vật chất mà còn thoả mãn tinh thần của con người Xem xét các
vấn đề môi trường và việc định hướng đầu ra là các bước đi theo hướng này Nó đòi
hỏi tất cả chúng ta phải bắt đầu có một tư duy mới về khái niệm và cách tiếp cận cải
tiến năng suất để giải quyết các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mỗi người
Trang 351.3.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ VÀ NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG
Mối quan hệ giữa tiền lương, tiền thưởng và năng suất lao động
Tiền lương có liên quan đến vấn đề lý luận lợi ích, lý luận về sự phân phối và
thu nhập của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động Tiền lương hàm chứa
nhiều mối quan hệ biện chứng, đó là các mối quan hệ cơ bản như giữa sản xuất và nâng
cao đời sống, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa thu nhập và các thành phần dân cư
Đối với người lao động làm công ăn lương, tiền lương luôn là mối quan hệ đặc
biệt hàng ngày đối với họ Bởi vì tiền lương là nguồn thu nhập chính nhằm duy trì và
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và gia đình họ Sự phân
phối công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự tận tâm, tận lực của người lao
động đó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Ở mức độ nhất định, tiền lương có thể
được xem là bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao động trong xã hội
Vì vậy, tiền lương và thu nhập phải thể hiện được sự công bằng trong phân phối
theo kết quả lao động và hiệu suất công tác của mỗi người hay có thể nói tiền lương có
mối quan hệ chặt chẽ với năng suất lao động
Trong thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu ở nước ta được thể
hiện một phần của thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước
phân phối có kế hoạch cho cán bộ, công nhân viên chức phù hợp với số lượng và chất
lượng lao động của mỗi người đã cống hiến cho xã hội Theo quan điểm này, chế độ
tiền lương ở nước ta một thời gian dài mang nặng tính phân phối bằng tiền và hiện vật,
thông qua bao cấp nhà ở, y tế, giáo dục, các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và các khoản
phúc lợi khác Chế độ tiền lương này mang nặng tính bao cấp, tính bình quân, sự phân
biệt giữa các ngành, đặc biệt là người có trình độ cao và người có trình độ thấp không
rõ rệt Nhược điểm của chế độ tiền lương cũ là nguồn gốc tiền lương không rõ ràng, về
số lượng và chất lượng không phản ánh trong tiền lương, mức độ tiền tệ hóa tiền lương
thấp nên nó không khuyến khích người lao động nâng cao trình độ chuyên môn, năng
Trang 36suất lao động không gắn với lợi ích, thành quả lao động Vì thế, nó hạn chế, không kích
thích thúc đẩy sản xuất phát triển
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, nước ta đổi mới cơ chế quản lý
theo cơ chế thị trường có định hướng XHCN, sự hoạt động của thị trường lao động -
sức lao động là một hàng hóa đặc biệt, vì nó nằm trong con người, tiền lương là tiền
công, là giá cả hàng hóa sức lao động Theo quan niệm mới thì tiền lương không chỉ
tuân theo nguyên tắc phân phối theo lao động mà còn phải tuân theo các quy luật khác
của thị trường sức lao động như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu… Tiền lương
vừa là yếu tố phân phối, vừa là yếu tố sản xuất, tiền lương đối với người lao động và
người sử dụng lao động có ý nghĩa khác nhau Đối với người lao động tiền lương là
động lực kinh tế thúc đẩy người lao động quan tâm đến công việc của họ Trả đúng, trả
đủ tiền lương cho người lao động sẽ khuyến khích họ quan tâm đến hoạt động và gắn
bó với công việc mà họ đảm nhận Chính vì vậy, tiền lương là yếu tố phân phối Người
lao động có năng suất lao động cao sẽ nhận được mức lương cao và ngược lại Đối với
người sử dụng lao động, tiền lương là một bộ phận chi phí sản xuất nên chi cho tiền
lương là chi cho đầu tư phát triển
Tiền lương, tiền công trả cho người lao động, như là một yếu tố quyết định của
sản xuất, phải tương xứng với sự đóng góp của lao động tùy thuộc vào năng suất lao
động của từng cá nhân Tiền lương được trả cho người lao động tỷ lệ thuận với năng
suất lao động
Theo ThS.Nguyễn Văn Điềm và PGS.TS.Nguyễn Ngọc Quân (2004), không có
mối quan hệ phù hợp tuyệt đối hoàn toàn giữa sự hài lòng công việc (trong đó tiền
lương nhận được là một nhân tố chính quyết định sự hài lòng công việc của nhân viên)
và kết quả thực hiện công việc, cá biệt có trường hợp người lao động không hài lòng
công việc nhưng lại cố gắng đạt năng suất lao động cao Tuy vậy, sự hài lòng công việc
do tiền lương nhận được chi phối có ảnh hưởng quyết định, tỷ lệ thuận với kết quả thực
hiện công việc Tiền lương nhân được càng cao thường dẫn đến kết quả thực hiện công
Trang 37việc càng tốt và ngược lại Do đó, tiền lương sẽ động viên nhân viên nếu nhân viên tin
chắc rằng hoàn thành công việc tốt sẽ nhận được tiền lương cao hơn và ngược lại Từ
đó, năng suất lao động mới được nâng cao
Mối quan hệ giữa các chương trình phúc lợi và năng suất lao động
Chương trình phúc lợi được xây dựng vừa có lợi cho người lao động, vừa có lợi
cho tổ chức quản lý lao động Chi phí cho phúc lợi đưa đến kết quả là tăng năng suất
lao động, chất lượng phục vụ, sự trung thành hơn của người lao động với tổ chức do
chế độ phúc lợi có mục đích nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao
động, đồng thời giảm sự mâu thuẫn giữa người lao động và tổ chức
Ngày nay, khi cuộc sống của người lao động đã được cải thiện rõ rệt, trình độ
văn hoá chuyên môn của người lao động được nâng cao, người lao động đi làm không
chỉ muốn các yếu tố vật chất như tiền lương, thưởng mà còn mong muốn có chế độ
phúc lợi cao nhằm đảm bảo đời sống tinh thần cho họ Do đó, việc quan tâm tới
chương trình phúc lợi cho người lao động làm cho người lao động yên tâm công tác,
góp phần tăng năng suất lao động chung của doanh nghiệp
Các chế độ bảo hiểm, ăn ca, nghỉ ngơi, phúc lợi, trợ cấp thể hiện mối quan tâm
của doanh nghiệp và xã hội đối với người lao động Các yếu tố này làm cho người lao
động cảm thấy yên tâm khi làm việc và họ sẽ tập trung hết tâm huyết cho công việc của
doanh nghiệp, làm tăng năng suất lao động, đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho doanh
nghiệp
Mối quan hệ giữa môi trường làm việc và năng suất lao động:
Môi trường làm việc tốt là môi trường có bầu không khí thân thiện, gắn kết tập
thể có cùng niềm tin và phấn đấu vì mục tiêu chung của tổ chức, là nơi người lao động
luôn có những đồng nghiệp chan hòa, những lãnh đạo biết quan tâm, chia sẻ với nhân
viên, khiến nhân viên thấy thoải mái, coi tổ chức như là nhà và toàn tâm, toàn ý làm
việc cho tập thể Môi trường làm việc tốt giúp cho nhân viên làm việc hết mình, phát
huy ý tưởng, khả năng sáng tạo cũng như kinh nghiệm quản lý Ngược lại, khi nhân
Trang 38viên không cảm thấy hài lòng về môi trường làm việc, họ sẽ chán nản, không có hứng
thú làm việc, công việc bị trì trệ, làm giảm hiệu suất lao động
Mối quan hệ giữa chính sách đào tạo và năng suất lao động
Nhiều doanh nghiệp có quy chế đào tạo rõ ràng, mang tính khuyến khích nhân
viên thi đua công tác để nhận được suất đào tạo nâng cao Điều này tạo ra động lực cho
người lao động phấn đấu trong công tác vì càng những lao động giỏi lại càng mong
muốn được đào tạo nâng cao và họ coi những khóa đào tạo miễn phí của doanh nghiệp
là cơ hội tốt để đạt được mục tiêu của họ Những lao động này cũng sẽ thấy gắn bó hơn
với doanh nghiệp, đồng thời với trình độ lao động cao hơn thì năng suất lao động của
doanh nghiệp chắc chắn cũng được cải thiện
Ngược lại, khi doanh nghiệp không quan tâm tới chính sách đào tạo đối với
người lao động, sự gắn kết giữa người lao động và doanh nghiệp thấp vì những người
lao động giỏi nhận thấy họ không có cơ hội được đào tạo gì tại doanh nghiệp, do đó họ
không cố gắng hết sức vì lợi ích chung của doanh nghiệp và việc họ rời bỏ doanh
nghiệp để tìm kiếm cơ hội đào tạo cho mình là điều tất yếu sẽ xảy ra
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn tập trung vào trình bày cơ sở lý luận của chính sách
đãi ngộ Các nội dung chính của chính sách đãi ngộ như chính sách tiền lương, tiền
thưởng, chương trình phúc lợi, chính sách đào tạo, bản thân công việc, môi trường làm
việc cũng được đề cập chi tiết Nội dung của chương còn chú trọng tới việc nêu bật các
mối quan hệ giữa các nội dung của chính sách đãi ngộ với năng suất lao động, những
sự thay đổi của các nội dung của chính sách tác động như thế nào tới tâm lý người lao
động và năng suất lao động chung của các doanh nghiệp Cơ sở lý thuyết của chương
này là nền tảng lý luận cho việc phân tích, đánh giá thực trạng của chính sách đãi ngộ
đang áp dụng tại Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC trong chương 2 với
mục đích tìm ra những yếu tố tích cực cần được bổ sung, phát huy và những tồn tại cần
Trang 39phải khắc phục nhằm cải thiện chính sách đãi ngộ cho người lao động, giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu tăng năng suất lao động đề ra
Trang 40CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO
ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI TỔNG
CÔNG TY VTC 2.1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG
CÔNG TY TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN VTC
2.1.1 Lịch sử hình thành
Tổng Công ty VTC là công ty nhà nước, được hình thành trên cơ sở tổ chức lại
Công ty đầu tư và phát triển công nghệ truyền hình Việt Nam thuộc Bộ Bưu chính viễn
thông, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước
2.1 2 Mục tiêu và ngành nghề kinh doanh
Mục tiêu hoạt động của Tổng công ty là :
• Kinh doanh có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu đầu tư tại Tổng công ty
và các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ do đại diện chủ sở hữu giao, trong
đó có chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
• Tối đa hoá hiệu quả hoạt động của tổ hợp Công ty mẹ - Công ty con
Ngành, nghề kinh doanh của Tổng công ty bao gồm:
• Đầu tư, quản lý vốn đầu tư và trực tiếp sản xuất kinh doanh trong các ngành
nghề, lĩnh vực chính là:
- Nghiên cứu ứng dụng, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, lắp đặt, chuyển
giao công nghệ, bảo dưỡng, sửa chữa các máy móc, thiết bị thuộc ngành phát thanh,
truyền hình, bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học, điện tử dân dụng, thang máy, thiết
bị lạnh, thang cuốn, băng chuyền, máy hút bụi, hút ẩm, điện tử công nghiệp, điện tử
phục vụ các chuyên ngành khác như: y tế, giáo dục, hàng không, hàng hải, đường sắt,
dầu khí, khai khoáng, điện lực
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các máy móc, thiết bị vật tư chuyên dùng ngành
phát thanh, truyền hình, điện ảnh, bưu chính, viễn thông, tin học, y tế, điện lực, cơ khí,