1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự báo nhu cầu sử dụng điện thoại di động tại việt nam và thị phần của viettel đến 2010 2015

129 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp ngoại suy Ngoại suy dự báo có nghĩa là nghiên cứu lịch sử của đối tượng kinh tế và chuyển tính quy luật của nó đã phát hiện được trong quá khứ và hiện tại sang tương lai bằn

Trang 1

NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

DỰ BÁO NHU CẦU SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG TẠI VIỆT NAM VÀ THỊ PHẦN CỦA VIETTEL ĐẾN

Trang 2

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ đề tài nào khác

Học viên

Lâm Ngọc Hoạt

Trang 3

STT Hình Nội Dung Trang

1 Hình 1.1 Lược đồ của phương pháp ngoại suy 2

3 Hình 1.3 Các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ

4 Hình 2.1 Sơ đồ các sản phẩm dịch vụ của Viettel 35

5 Hình 2.2 Đồ thị biểu diễn thị phần viettel năm 2004 50

6 Hình 2.3 Đồ thị biểu diễn thị phần viettel năm 2005 51

7 Hình 2.4 Đồ thị biểu diễn thị phần viettel năm 2006 52

8 Hình 2.5 Đồ thị biểu diễn thị phần viettel năm 2007 52

9 Hình 2.6 Cơ cấu doanh thu của viettel mobile 58

10 Hình 2.7 Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm 1995-2008 67

11 Hình 2.8 Cơ cấu ngành Viễn thông Việt Nam 77

12 Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chuỗi số liệu thuê bao di động

Trang 4

1 Bảng 1.1 Bảng kết quả ý kiến của các chuyên gia 21

2 Bảng 1.2 Bảng tóm tắt một số phương pháp dự báo chính 29

3 Bảng 1.3 Bảng một số nước có điều kiện giống Việt Nam 31

4 Bảng 2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Viettel qua 3 năm

5 Bảng 2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Viettel qua 3 năm

6 Bảng 2.4 Cơ cấu phát triển thuê bao theo tháng của năm 2007 49

7 Bảng 2.5 Cơ cấu thị phần theo thuê bao và doanh thu năm 2005 51

8 Bảng 2.6 Cơ cấu thị phần theo thuê bao và doanh thu năm 2006 51

9 Bảng 2.7 Cơ cấu thị phần theo thuê bao và doanh thu năm 2007 52

10 Bảng 2.8 Tóm tắt danh mục đầu tư lắp đặt mới BTS phục vụ

mở rộng mạng lưới năm 05-07 ở các vùng 56

12 Bảng 2.10 Cơ cấu dân số Việt Nam qua các năm 67

13 Bảng 2.11 Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người 69

14 Bảng 2.12 Cơ cấu ngành viễn thông và các nhà cung cấp dịch vụ 72

15 Bảng 2.13 Những chỉ số viễn thông của các nước ASEAN 81

16 Bảng 3.1 Cạnh tranh trong thị trường di động Việt Nam 89

18 Bảng 3.3 Mức độ quan trọng của sản phẩm và dịch vụ viễn

20 Bảng 3.5 Đánh giá mức cước dịch vụ viễn thông 94

21 Bảng 3.6 Đánh giá chất lượng dịch vụ kết nối 95

Trang 5

nghiệp

26 Bảng 3.11 Số liệu thống kê số thuê bao di động của Việt Nam 99

27 Bảng 3.12 Kết quả dự báo nhu cầu theo đường cong parabol 101

28 Bảng 3.13 Kết quả dự báo nhu cầu theo đường Logarit 104

29 Bảng3.14 Kết quả dự báo nhu cầu theo GDP 106

30 Bảng 3.15 Kết quả dự báo nhu cầu theo GDP/ đầu người và giá

Trang 6

PHẦN I: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ DỰ BÁO NHU CẦU

1.1 Dự báo và các phương pháp dự báo nhu cầu

Dự báo là một thuật ngữ bắt nguồn từ hai chữ Hy Lạp: “PRO-GNOIS”

có nghĩa là “biết trước” nói lên một thuộc tính không thể thiếu của bộ não con người, đó là sự phản ánh vượt trước hình thành trong quá trình phát triển của nhân loại qua nhiều Thế kỷ Nói một cách khác dự báo là sự tiên đoán khoa học mang tính xác suất, tính phương án trong một khoảng thời gian hữu hạn

về tương lai phát triển của đối tượng kinh tế - xã hội

Dự báo là khâu quan trọng không thể thiếu trong việc ra quyết định Nó

dự báo các xu hướng tương lai và trở thành điều căn bản để lập kế hoạch kinh doanh được kinh tế và có hiệu quả

Lĩnh vực dịch vụ Viễn thông có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người và các hoạt động kinh tế và nó là một ngành có quy mô lớn với các thiết bị đòi hỏi liên tục đầu tư rất nhiều Bởi vậy, điều đặc biệt quan trọng với ngành này để mở rộng kinh doanh ổn định và đầu tư thiết bị có hiệu quả phải dựa vào dự báo nhu cầu dài hạn Trong phần này sẽ trình bày các bước và các phương pháp dự báo nhu cầu

1.1.1 Phương pháp ngoại suy

Ngoại suy dự báo có nghĩa là nghiên cứu lịch sử của đối tượng kinh tế

và chuyển tính quy luật của nó đã phát hiện được trong quá khứ và hiện tại sang tương lai bằng các phương pháp xử lý chuỗi thời gian kinh tế

Như vậy thực chất của phương pháp ngoại suy là kéo dài quy luật phát triển của đối tượng dự báo đã có trong quá khứ và hiện tại sang tương lai với giả thiết quy luật đó vẫn còn phát huy tác dụng Ta có lược đồ (1.1) của phương pháp ngoại suy như sau:

Trang 7

Hình: 1.1 Lược đồ của phương pháp ngoại suy

1 Điều kiện áp dụng phương pháp

- Đối tượng kinh tế đã phát triển tương đối ổn định theo thời gian (có cơ

sở thu thập thông tin lịch sử và phát hiện tính quy luật)

- Những nhân tố ảnh hưởng chung nhất cho sự phát triển đối tượng kinh

tế vẫn được duy trì trong 1 khoảng thời gian nào đó trong tương lai

- Không có những tác động mạnh từ bên ngoài dẫn tới những bước phát triển nhảy vọt trong quá trình phát triển đối tượng kinh tế

2 Nội dung của phương pháp

Xử lý chuỗi thời gian kinh tế:

- Bổ xung chuỗi thời gian

Các tiêu chuẩn kiểm định:

- Sai số tuyệt đối

- Sai số tương đối

- Không tin cậy hàm xu thế Kiểm định

Dự báo và cập nhật dự báo

Phù hợp

Trang 8

Đó là một quá trình gồm nhiều giai đoạn quan trọng như sau:

- Xử lý chuỗi thời gian kinh tế

- Phát hiện xu thế đối tượng kinh tế

- Xây dựng hàm xu thế

- Kiểm định hàm xu thế

- Dự báo bằng hàm xu thế

a/ Xử lý chuỗi thời gian kinh tế

Chuỗi thời gian kinh tế biểu hiện là một dãy quan sát theo đặc trưng thời gian của đối tượng kinh tế, mỗi quan sát là 1 giá trị chuỗi (mức của chuỗi), các giá trị (mức) của chuỗi có thể biểu diễn bằng số tuyệt đối, giá trị

trung bình hoặc số tương đối

Chuỗi thời gian với các điều kiện của nó cần thiết được xử lý sơ bộ cho hoàn chỉnh Các trường hợp xảy ra:

+ Bổ sung chuỗi thời gian: Nếu chuỗi thiếu một giá trị yi nào đó, lúc này ta xác định giá trị yi bổ sung bằng trung bình cộng hai giá trị đứng trước

y y y

+ Xử lý dao động ngẫu nhiên: Không dễ dàng phát hiện ngay được xu

thế f(t) khi căn cứ vào chuỗi thời gian ban đầu Đối với những chuỗi có dao động lớn do ảnh hưởng các yếu tố ngẫu nhiên thì phải sử dụng các phương pháp san chuỗi thời gian với mục đích tạo ra một chuỗi thời gian mới có hướng dao động ổn

định hơn dĩ nhiên chuỗi thời gian tìm được chắc chắn vẫn giữ nguyên xu thế chuỗi thời gian xuất phát

Các phương pháp san chuỗi thời gian cơ bản thường dùng là:

- Phương pháp trung bình không có trọng số: Phạm vi áp dụng cho các

Trang 9

chuỗi số có khả năng tuân theo xu hướng đường thẳng

- Phương pháp trung bình trượt có trọng số: Phạm vi áp dụng cho các chuỗi có xu hướng là đường cong (xu thế phi tuyến)

Loại bỏ sai số “thô”: Sự xuất hiện của sai số “thô” của chuỗi thời gian kinh tế dẫn đến việc dự báo sai lệch xu thế Để khắc phục tình trạng này người ta sử dụng phương pháp kiểm định thống kế toán

b/ Phát hiện xu thế

Đây là giai đoạn quyết định kết quả dự báo ngoại suy Vấn đề cho rằng

xu thế và dạng hàm xu thế tương ứng phải được xác định theo lôgic nội tại của đối tượng kinh tế song qua chuỗi thời gian thực nghiệm ta cũng chỉ phân tích được xu thế trên những nét chung nhất Có nhiều phương pháp phát hiện

xu thế và chọn dạng hàm xu thế tương ứng như phương pháp đồ thị, phương pháp phân tích số liệu quan sát, phương pháp sai phân Tuy nhiên trong lĩnh vực bưu chính viễn thông thường sử dụng phương pháp đồ thị Nội dung phương pháp đồ thị như sau:

Biểu diễn các cặp số (ti, yi) lên hệ trục toạ độ sau đó nối liền các điểm trên hệ trục thành một đường gãy khúc liên tục từ đó nhận xét sự phân bố các điểm và so sánh đường biểu diễn thực nghiệm với đường biểu diễn hàm số y

= f(ai, t) thường gặp trong kinh tế làm cơ sở xác định xu thế và dạng hàm tương ứng

-Các dạng hàm f(t) thường gặp trong bưu chính viễn thông:

t a a

0

t a

y=

t a a

e

a y

2 1

t a y

Nhận xét: Việc lựa chọn xu thế theo phương pháp đồ thị hoàn toàn phụ

thuộc vào suy lý và kinh nghiệm của người nghiên cứu, do vậy sự lựa chọn

Trang 10

chủ quan ở đây là rất lớn Tuy nhiên, dừng lại ở bước phát triển này chúng ta mới hoàn toàn kết luận chuỗi thời gian có khả năng tuân theo một hoặc nhiều dạng hàm xu thế, việc lựa chọn một hàm xu thế tối ưu cần phải qua bước kiểm định

c/ Xây dựng hàm xu thế

Sau khi phát hiện ra các khả năng về dạng hàm xu thế vấn đề kế tiếp phải mô tả chuỗi thời gian thông qua các dạng hàm xu thế cụ thể với điều kiện xác định những tham số ai của nó với những giá trị bằng số cụ thể Các phương pháp thường được áp dụng để xác định các tham số ai là phương pháp điểm chọn và phương pháp tổng bình phương bé nhất, trong đó phương pháp tổng bình phương bé nhất là phương pháp có độ chính xác cao

* Phương pháp điểm chọn:

Đây là phương pháp đơn giản song lại khắc phục được nhược điểm của phương pháp khác và cũng xác định được các tham số ai ở mức độ xấp xỉ

Phương pháp này giả định dạng hàm lý thuyết chọn ở bước phát hiện

xu thế, chọn các cặp số (ti, yi) theo các điều kiện:

- Khoảng cách các điểm chọn bằng nhau

- Tổng số các điểm chọn bằng tổng số các tham số ai

- Do yêu cầu về độ chính xác mà cần chọn những điểm thực nghiệm

mà đường biểu diễn của hàm xu thế có khả năng đi qua cao nhất

Nhận xét: Phương pháp điểm chọn tuy khống chế được một số dạng

hàm đặc biệt như dạng hàm logisic Tuy nhiên vẫn có nhược điểm là lãng phí thông tin và tuỳ theo cách chọn ban đầu khác nhau của chúng ta sẽ được các

bộ tham số ai khác nhau

* Phương pháp tổng bình phương bé nhất

Đây là một trong những phương pháp được ứng dụng rộng rãi nhất để xác định các tham số của hàm xu thế mức độ chính xác của nó thể hiện ở chỗ

Trang 11

tổng bình phương độ lệch giữa giá trị lý thuyết hàm xu thế và giá trị thực tế của chuỗi thời gian là nhỏ nhất

S = ∑=n − →

i

y y

1

2

ˆ (

Trong đó: n - là số giá trị của chuỗi thời gian

1

ˆy - là giá trị lý thuyết của hàm xu thế

y1 - là giá trị thực tế của chuỗi thời gian

Lấy đạo hàm bậc nhất phương trình (*) và cho các biểu thức bằng 0 ta được:

n

i

n

i i i

t a t a t y

t a na y

2 1 1 0

1 0

Dạng tổng quát: = +∑=n

i i

t a a

y

1

2 0

i t y a a

2 2

+

=

+ + +

+

=

+ + +

i p

i p

i p

i

p i p i

i i

n

i i

n

i

p i p i

i i

t a t

a t a t a t y

t a t

a t a t a t y

t a t

a t a na y

1

2 2

2 1 1 0

1 3

2 2 1 0

1

1

2 2 1

- Phương pháp bình phương bé nhất tạo cho chúng ta xác định tham số

ai cùng hàm xu thế với độ chính xác cao hơn nhiều so với các phương pháp

Trang 12

khác

- Trong quá trình áp dụng phương pháp này chỉ áp dụng cho các dạng hàm = a0 + ∑=n

i i

i t a

1

2, nếu rơi vào dạng hàm phi tuyến mà vẫn còn muốn áp dụng phương pháp này để tìm ai thì trước hết chung ta phải tuyến tính hoá bằng nhiều cách khác nhau

Nhược điểm phương pháp tổng bình phương bé nhất: Nếu như suốt

chuỗi thời gian nghiên cứu các tham số của hàm xu thế không thay đổi và điều này có xảy ra trong thực tế thì phương pháp tổng bình phương bậc nhất được áp dụng là hoàn toàn hợp lý Song cũng thường xảy ra trường hợp các tham số của hàm xu thế phải thay đổi theo thời gian cho phù hợp với xu thế của đối tượng và sự thay đổi này dựa trên quan điểm: Các mức độ càng ở xa

so với thời điểm nghiên cứu thì càng có ít giá trị thông tin do đó càng ít ảnh hưởng đến mức độ dự báo, còn mức độ càng gần thời điểm nghiên cứu có giá trị thông tin cao nhất Vì vậy, trong trường hợp này nếu cứ máy móc áp dụng phương pháp tổng bình phương bé nhất thì có thể dẫn đến kết quả sai lầm cho

dự báo Để khắc phục tình trạng này người ta áp dụng phương pháp san bằng hàm mũ với mục đích sử dụng hệ thống quyền số cho phép gia quyền lớn hơn

với mức độ gần hơn ở thời điểm nghiên cứu

d/ Kiểm định hàm xu thế

- Do trong bước phát hiện xu thế, hàm xu thế tạm kết luận ở đây chỉ mang tính khả năng vì vậy cần có các tiêu thức nhằm đánh giá lựa chọn các hàm xu thế tối ưu

- Tiêu thức sai số tuyệt đối

^ 2 1

2

n

i i i

y

y y S

2

n

i i i

y

y y S

Trong đó: yi - là giá trị thực tế của chuỗi thời gian

- là giá trị lý thuyết hàm xu thế

Trang 13

n - là số mức độ của chuỗi

- Tiêu thức sai số tương đối: 100

1 100

y y

y

y n

S y

S V

- Giới thiệu lựa chọn hàm xu thế

Trong trường hợp ở bước phát hiện xu thế chỉ xảy ra một khả năng = f(t) thì lúc này chúng ta lựa chọn với điều kiện:

- Nếu Vy > 10% thì hàm f(t) sẽ không sử dụng cho dự báo;

- Nếu Vy < 10% thì hàm f(t) sẽ sử dụng cho dự báo;

Trong trường hợp ở bước phát triển xu thế xảy ra nhiều khả năng yˆ = f(t)thì lúc này hàm dự báo được lựa chọn với điều kiện: Min (Vy1, Vy2, ) < 10%

e/ Dự báo bằng hàm xu thế đã kiểm định

- Xác định khoảng cách dự báo thích hợp (1): phụ thuộc rất nhiều vào mức ổn định của đối tượng kinh tế, thông thường để đảm bảo sự chính xác người ta chỉ lấy khoảng cách 1max như sau:

1max < n

3

- Dự báo điểm với khoảng cách dự báo được xác định

) 1 (

ˆ +1 = f n+

y n DB

1.1.2 Phương pháp mô hình hóa

Mô hình hoá là phương pháp nhận thức, phương pháp nghiên cứu khoa học xuất hiện đã lâu Trong quá trình nhận thức khi gặp cái gì đó chưa biết con người thường so sánh với cái đã biết Khi so sánh như vậy thường các kiến thức về cái đã biết chuyển sang cái chưa biết có nghĩa là cái đã biết trở thành mô hình của cái chưa biết Phương pháp mô hình hoá không nghiên cứu trực tiếp quá trình, hiện tượng hoặc đối tượng mà nghiên cứu chúng thông qua

mô hình Bản chất của mô hình chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Trang 14

1 Cơ sở phương pháp luận của phương pháp mô hình hoá

Quan điểm cơ bản của điều khiển học cho rằng giữa các hiện tượng xảy

ra trong xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật đều có những điểm tương tự, có quan hệ "đồng hình", bất kể bản chất vật lý cụ thể giữa chúng Do đó, nhờ công cụ toán học người ta có thể mô tả đối tượng bằng cách liên kết các tham

số chủ yếu của nó theo các qui luật vận động và tương tác giữa chúng

Trong phần này sẽ đi sâu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp mô hình hoá để lập dự báo nhu cầu phát triển bưu chính viễn thông mà chủ yếu là sử dụng các mô hình hồi qui tương quan đơn và mô hình hồi qui tương quan bội

2 Trình tự dự báo bằng phương pháp mô hình hoá

Bước 1 Xác định mục đích và nhiệm vụ của việc xây dựng mô hình

Đây là bước quan trọng nhất vì nó xác định phương hướng nghiên cứu, đảm bảo nội dung và ý nghĩa kinh tế của mô hình kết quả Đồng thời còn qui định việc lựa chọn một cách đúng đắn các nhân tố đưa vào mô hình Trong bước này cần vạch rõ phạm vi nghiên cứu, xác định các giả thiết cơ bản

Ví dụ: dự báo nhu cầu sử dụng điện thoại cố định trong thời kỳ nào đó, các giả định nêu lên ban đầu chẳng hạn như giả định về sự tăng trưởng dân số, giả định về tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ dự báo

Bước 2 Thu thập và xử lý thông tin

Tuỳ theo nhiệm vụ đã được xác lập mà có phương án thu thập thông tin thích hợp Thông tin đòi hỏi phải đảm bảo, tính chất đồng nhất, so sánh được với nhau Vì vậy nếu thông tin không đảm bảo tính chất đó đòi hỏi phải tiến hành chỉnh lý

Không những chú ý đến những thông tin có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng mô hình mà còn phải chú ý đến thông tin có liên quan gián tiếp và thông tin môi trường Đôi khi vì không chú ý đến loại thông tin bổ sung này

mà mô hình trở nên không thích ứng với thực tế

Trang 15

Quá trình thu thập và xử lý thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần Nó có liên quan chặt chẽ đến các bước sau Nếu mô hình xây dựng ở bước sau chưa đáp ứng được yêu cầu hoặc xuất hiện thông tin mới thì phải trả lại bước thu thập thông tin sau đó xây dựng lại mô hình

Bước 3 Xây dựng mô hình

Chủ yếu sử dụng phương pháp tổng bình phương bé nhất Trong phương pháp này, vấn đề quan trọng nhất là xác định dạng của mối liên hệ Nhiều khi người ta có xu hướng phức tạp hoá các mô hình, tức là chọn dạng phức tạp với nhiều biến số khác nhau với hy vọng mô hình phản ánh chính xác thực tế Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy, trong nhiều trường hợp mô hình tuyến tính đơn giản tỏ ra không kém phần hữu hiệu

Bước 4 Kiểm tra mô hình

Thường dùng các tiêu chuẩn sau đây để kiểm tra các mô hình

- Sai số chuẩn của hàm là nhỏ nhất

- Miêu tả đúng mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật

- Hệ số tương quan bội đủ lớn

- Không có hiện tượng tự tương quan

- Không có hiện tượng tự cộng tuyến

- Sai số chuẩn của các tham số phải đủ độ tin cậy

Trong trường hợp qua kiểm tra thấy các mô hình hay từng phần trong hệ

số, tham số của nó không thích hợp, hay vi phạm các tiêu chuẩn kiểm định, thì phải lập lại từ bước thu thập thông tin (tăng thêm số quan sát, kiểm tra tính chất so sánh được ) sau đó xây dựng lại mô hình Nếu cần có thể xem lại cả cách đặt vấn đề xây dựng mô hình

Các bước 2, 3, 4 thường lặp đi, lặp lại nhiều lần cho đến khi mô hình thu được là tốt nhất trên quan điểm mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Bước 5 Rút ra kết luận cho đối tượng nghiên cứu

Trang 16

Khi mô hình hoá với mục đích dự đoán thì sau bước 5 người ta cần

chuyển sang bước ngoại suy mô hình

3 Ưu nhược điểm của phương pháp dự báo bằng mô hình

Ưu điểm: Mô hình hóa có thể mô tả được bất kỳ đối tượng nào, dù là có

số liệu thống kê hay không, đã hay chưa phát sinh Nó cũng có thể dự báo được cả các quá trình “đột biến” theo nghĩa khả năng sảy ra rất nhỏ, nhưng nếu xuất hiện thì hậu quả lại cực kỳ lớn Nó là công cụ tốt để mô tả những đối tượng đang trong thời kỳ chuyển đổi, những đối tượng mới nảy sinh Nó là nguồn hứng khởi cho các nhà phát minh sáng tạo

Nhược điểm: Trừ những trường hợp sử dụng mô hình đã biết, nói chung

có hai nhược điểm:

- Đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ mô hình hóa ở mức độ khá cao

- Phải có máy tính điện tử vạn năng với khả năng lập trình khá

1.1.3 Phương pháp chuyên gia

So với các phương pháp khác như: Phương pháp ngoại suy xu thế, phương pháp mô hình hoá, phương pháp nghiên cứu thị trường thì phương pháp chuyên gia có lịch sử ra đời và phát triển lâu đời nhất Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, khoa học dự đoán đứng trước các bài toán khổng lồ về mục tiêu, nội dung, đối tượng, mối liên hệ và nhân tố tác động và các bài toán này phức tạp về cấu trúc bên trong, tính chất chiều hướng vận động khiến cho hàng loạt các phương pháp dựa trên công cụ chính xác của toán học đều chịu

bó tay thì phương pháp chuyên gia được các nhà dự báo tập chung chú ý được xem như là "con đường đúng đắn nhất" để đi đến mục tiêu.(có đến xấp xỉ 40% công trình dự báo trên thế giới vào những năm 80 là sản phẩm của phương pháp chuyên gia)

Phương pháp chuyên gia được mô tả bằng sơ đồ như sau: (sơ đồ 1.2)

Trang 17

1 Phạm vi ứng dụng của phương pháp

Phương pháp chuyên gia có ưu thế hơn hẳng khi dự báo những hiện tượng hay quá trình có tầm quan sát rộng, cấu trúc nội dung có nhiều phức tạp, nhiều chỉ tiêu, nhiều nhân tố chi phối làm cho xu hướng vận động cũng như hình thức biểu hiện đa dạng, khó định lượng bằng con đường tiếp cận trực tiếp để tính toán, đo đạc thông qua các lượng và công cụ chính xác

Thành lập nhóm

chuyên gia lâm thời

Chỉ tiêu

Thành lập nhóm chuyên gia thường trực

Thu thập xây dựng các tư liệu về lĩnh vực cần dự báo

Xu hướng định hướng của đối tượng dự báo

Nội dung xu thế Chủ trương Đường lối dẫn tin

Xây dựng biểu câu hỏi lấy ý kiến

Cung cấp thông tin cần thiết cho các chuyên gia

Trưng cầu lấy ý kiến

Xử lý kết quả các đánh giá Kết quả dự báo

Nhiệm vụ dự báo

Tầm nhìn Đối tượng

Hình 1.2 Sơ đồ phương pháp chuyên gia

Trang 18

Phương pháp chuyên gia thích hợp để dự báo trong trường hợp sau đây:

- Đối tượng dự báo thiếu thông tin, thiếu thống kê toàn diện đầy đủ và đáng tin cậy về hình thức biểu hiện trong thực tế của quy luật vận động đối tượng dự báo trong quá khứ và hiện tại

- Đối tượng dự báo thiếu hoặc không có cơ sở lý luận thực tiễn chắc chắn bảo đảm cho việc mô tả quy luật vận động của đối tượng bằng cách sử dụng các phương pháp giải thích thực nghiệm và mô hình toán học nói chung

- Đối tượng dự báo có độ bất định lớn, độ tin cậy thấp về hình thức thể hiện, về chiều hướng biến thiên, về phạm vi bao hàm cũng như quy mô và cơ cấu

- Đối tượng dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, phần lớn là các nhân tố rất khó lượng hoá đặc biệt là các nhân tố thuộc về tâm lý xã hội (thị hiếu, thói quen, lối sống, đặc điểm dân cư ) hoặc tiến bộ kỹ thuật (phát minh

và ứng dụng "mốt" mới xuất hiện ) Vì vậy trong quá trình phát triển của mình, đối tượng dự báo có nhiều đột biến về quy mô và cơ cấu mà nếu không nhờ đến tài nghệ của chuyên gia thì mọi sự trở nên vô nghĩa

- Dự báo dài hạn và siêu dài hạn thì phương pháp chuyên gia đặc biệt phát huy ưu điểm của mình (các phương pháp khác không tính đến sự thay đổi lớn của phát minh, ứng dụng khoa học kỹ thuật)

- Phương pháp chuyên gia tốt áp dụng trong trường hợp xác định vấn đề xuất phát và các mục tiêu cơ bản của một phương trình nghiên cứu hoặc của

Trang 19

Đối chiếu và xem xét thực tế nước ta hiện nay và những năm tới, có thể khẳng định rằng: phương pháp chuyên gia là hoàn toàn thích hợp và cần được xem là phương pháp quan trọng, nếu để dự báo nhu cầu thị trường và tính hình thị trường, cấc vấn đề lớn mang tầm cỡ quốc gia đến các vấn đề của một doanh nghiệp Khả năng hạn chế một cách đáng kể việc các mô hình toán học, các phương pháp kinh trắc ở nước ta, được bù đắp lại bằng sự mở ra một khả năng rộng lớn cho việc khai thác một lợi thế của phương pháp chuyên gia và ứng dụng chúng trong công tác dự báo

2 Ưu - nhược điểm của phương pháp chuyên gia

* Ưu điểm của phương pháp:

- Là phương pháp tương đối đơn giản dễ áp dụng và có khả năng tìm ra tức thời các thông số mà các thông số này không dễ dàng lượng hoá được và

mô tả quy luật vận động dưới dạng hàm số

- Các phương pháp chuyên giá cũng phù hợp với quy mô, loại hình phạm

vi và tính chất hoạt động của các doanh nghiệp nước ta hiện nay, đặc biệt là doanh nghiệp còn đang trong quá trình "làm quen, thích ứng" với cơ chế thị trường, trong một hoàn cảnh biến động với những thử thách có tính sàng lọc,

cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác dự báo nhu cầu thị trường còn rất nghèo nàn và lạc hậu, nghiệp vụ chuyên môn cũng rất hạn chế

- Phương pháp chuyên gia thích ứng được với đặc điểm và yêu cầu của một dự báo nhu cầu và tình hình hiện tại là tính khả thi cao, cho kết quả nhanh, tạo căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, ứng xử tức thời, phù hợp với diễn biến sôi động và trạng thái muôn vẻ của thị trường Mặt khác, chúng cho phép dự báo được những hiện tượng "đột biến" hay "bước nhảy" của thị trường - thực tế đã xảy ra những "cơn sốt" như thế này mà nếu có sử dụng các phương pháp khác rất khó và cũng rất lâu đưa ra kết quả, cũng khó lòng yên tâm độ tin cậy của những giá trị dự báo ấy

Trang 20

- Không phải bất cứ trường hợp nào, bất cứ lúc nào cũng đòi hỏi kết quả

dự báo phải thể hiện những thông số nhất định, nhiều khi kết quả dự báo cũng tồn tại dưới dạng những nhận định mang tính chất định tính, những xu hướng, chiều hướng vận động

- Ưu điểm nữa là dự báo phản ứng của thị trường trước những quyết sách kinh doanh, các hành vi nghiệp vụ đã và tiến hành (nói cách khác đây là

dự báo của dự báo) Phương pháp chuyên gia cũng rất hữu hiệu đối với dự báo nặng về "chất" không về "lượng"

* Nhược điểm của phương pháp:

- Nhược điểm cơ bản là mang tính chủ quan do đó lựa chọn chuyên gia

mà không đúng tiêu chuẩn thì độ tin cậy dự báo thấp

- Khi các ý kiến chuyên gia tản mạn, trái ngược nhau thì quá trình xử lý

ý kiến chuyên gia sẽ khá phức tạp

- Nhiều chuyên gia đưa ra số liệu dự báo nhưng cơ sở lý luận lại không

rõ ràng, biên độ dao động lớn, khiến cho việc đánh giá sai số và khoảng tin cậy gặp khó khăn

- Cuối cùng là việc tập trung các chuyên gia đầy đủ trong một cuộc họp, việc thu hồi phiếu trả lời đúng thời hạn cũng không được dễ dàng

3 Nội dung của phương pháp chuyên gia

Nhiệm vụ của phương pháp chuyên gia là đưa ra những dự đoán khách quan về tương lai phát triển của một lĩnh vực hẹp của khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất dựa trên việc xử lý có hệ thống các đánh giá của chuyên gia

Trong phương pháp này phải giải quyết được các vấn đề chính sau đây:

- Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia dự đoán và nhóm chuyên gia dự đoán và nhóm các nhà phân tích

- Phương pháp trưng cầu

- Tổng hợp và xử lý các đánh giá dự đoán

Trang 21

a) Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia

Để tiến hành phương pháp cần có 2 nhóm chuyên gia:

* Nhóm chuyên gia dự báo: đưa ra những đánh giá dự báo về đối tượng cần dự báo Thực tế đã khẳng định trình độ tin cậy của dự đoán bằng phương pháp chuyên gia phụ thuộc chủ yếu vào trình độ chất lượng của các chuyên gia dự báo Ưu thế của các chuyên gia dự báo phải đạt các yêu cầu sau:

-Có trình độ hiểu biết chung tương đối cao ngoài lĩnh vực hẹp của mình

-Có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực dự báo

-Có lập trường khoa học và có khả năng tiên đoán thể hiện ở sự phản ánh nhất quán xu thế phát triển của đối tượng dự báo

-Có định hướng và suy nghĩ về tương lai trong lĩnh vực mình quan tâm

* Nhóm chuyên gia phân tích (còn gọi là nhóm các nhà quản lý): bao gồm những chuyên gia về hành chính, sự vụ, những người có cương vị lãnh đạo, những người có quyền quyết định chọn phương pháp dự báo Các chuyên gia phân tích có nhiệm vụ:

-Chuẩn bị các danh mục sự kiện cần dự đoán và xác định những nhân tố đặc trưng cho sự kiện đó

-Cung cấp những thông tin khách quan dễ hiểu có liên quan đến vấn đề

-cần dự đoán cho chuyên gia dự báo Thông báo cho các chuyên gia biết

về nguồn gốc xuất hiện các vấn đề và những con đường giải quyết vấn

đề tương tự trong quá khứ

-Nghiên cứu đưa ra mô hình trưng cầu ý kiến thích hợp

-Chọn chuyên gia dự báo

-Tổ chức quá trình trưng cầu

-Phân tích, khái quát đánh giá kết quả dự báo

Như vậy nhiệm vụ của các chuyên gia phân tích rất nặng nề nên cần đạt các yêu cầu sau:

Trang 22

-Phải là người có trình độ chuyên môn cao về vấn đề cần dự báo thì mới

có khả năng phân tích và quyết định phương án dự báo

-Phải có kiến thức về dự báo

-Do quá trình tiếp xúc và hợp tác với các chuyên gia là một quá trình phức tạp nên đòi hỏi các chuyên gia phân tích phải có lòng kiên nhẫn, tính lịch thiệp

b) Phương pháp trưng cầu

Trưng cầu ý kiến chuyên gia giai đoạn quan trọng của phương pháp chuyên gia Tuỳ theo đặc điểm thu nhận và xử lý thông tin, có những phương pháp trưng cầu cơ bản sau đây:

-Trưng cầu theo nhóm và cá nhân

-Trưng cầu vắng mặt và có mặt

-Trưng cầu trực tiếp hay gián tiếp

Các phương pháp tổ chức trưng cầu ý kiến chuyên gia

* Phương pháp não công (Brainstorming method):

Những nguyên tắc chủ yếu của phương pháp não công:

- Trong nhóm phát ý tưởng cần có những người có ngành nghề, chuyên môn khác nhau, thậm chí khác xa với lĩnh vực chuyên môn của bài toán (vấn

đề dự báo) Những người hay nghi ngờ và thích phê bình không được lấy vào nhóm này Trước buổi não công, các thành viên của nhóm cần có thời gian làm quen với vấn đề

- Việc phát ý tưởng cần tiến hành một cách tự do thoải mái, hoàn toàn không có sự hạn chế nào về nội dung đưa ra, không cần phải chứng minh tính chất đúng đắn của ý tưởng và không cần biết chúng có thể thực hiện được hay không và thực hiện như thế nào Mỗi lần phát biểu ý tưởng không quá hai phút, thời gian cho buổi não công có thể từ 15 phút đến 01 giờ Các phát biểu ược ghi lại bằng tốc ký, hoặc băng từ Trên thực tế, có thể có những ý tưởng

Trang 23

sai, buồn cười hoặc không tưởng nhưng không vì thế mà hạn chế đưa ra ý kiến

- Trong khi phát ý tưởng, tuyệt đối cấm mọi hình thức phê bình, chỉ trích, những nụ cười không tin tưởng, chế nhạo Ở đây, cần tạo không khí thân thiện giữa những người tham gia và khuyến khích việc ý tưởng của một người đưa ra, được những khác phát triển tiếp Nói chung, không khí thân thiện cần có trước, trong và cả sau những buổi não công

Vai trò của người lãnh não công thể hiện ở chỗ, người đó cần phát biểu bằng các khái niệm chung, đơn giản và rõ ràng, khuyến khích việc đề ra những ý tưởng không quen thuộc, có thể đặt các câu hỏi gợi ý hoặc làm cho

rõ để tránh thời gian chết Ở đây, người hướng dẫn não công có thể dùng các thủ thuật, các câu hỏi kiểm tra và các kinh nghiệm riêng

Trong khi phân tích, phê phán, các chuyên gia phải hết sức chú ý, suy nghĩ cẩn thận từng ý tưởng, kể cả đối với ý tưởng thấy không nghiêm chỉnh hoặc phi lý Khi đánh giá ý tưởng phải trả lời câu hỏi tại sao ý tưởng đó tồi và cho điểm theo thang 10 Nếu các điểm của chuyên gia quá chênh lệch (ví dụ: hầu hết cho điểm 2, một cho điểm 9) thì phải tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch đó

Nếu vấn đề còn mâu thuẫn (bài toán không giải được), cần tổ chức não công lần nữa, nhưng tốt nhất với tập thể khác

* Phỏng vấn (Interview)

Là một trong những kỹ thuật cơ bản để thu thập thông tin Thông qua cuộc phỏng vấn, chuyên gia bày tỏ những quan điểm cá nhân tốt hơn là những cuộc khảo sát viết hay qua những bản câu hỏi

* Xử lý ý kiến chuyên gia

Sau khi thu thập những thông tin của những nhà chuyên sâu, cần phải tiến hành một loạt các biện pháp xử lý các ý kiến này Nói chung thường có

Trang 24

hai dạng vấn đề cần giải quyết khi xử lý ý kiến chuyên gia:

- Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện, thời gian xuất hiện sự kiện mới

- Đánh giá tầm quan trọng tương đối giữa các sự kiện

1) Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện, thời gian xuất hiện sự kiện mới

Xử lý ý kiến chuyên gia phải xác định được đại lượng đặc trưng cho ý kiến của nhóm, có thể dùng số trung vị, và số trung bình, mốt và khoảng tứ phân vị

* Số trung vị (kí hiệu là Me): Số trung vị là giá trị của định giá dự báo có tổng số những đánh giá trước giá trị đó bằng tổng số những đánh giá sau giá trị đó Cách tính số trung vị của tiêu thức thời gian có chia tổ (tổ là các khoảng thời gian trong giai đoạn đánh giá của các chuyên gia):

Trong đó: xMemin - là giá trị dưới của tổ chứa số trung vị

d M e - là khoảng cách của tổ chứa số trung vị

f M e- là tần số của tổ chứa số trung vị

* Khoảng tứ phân vị là khoảng chứa 50% những đánh giá dự báo của

nhóm chuyên gia nằm ở giữa, 25% những đánh giá cao nhất và 25% những đánh giá thấp nhất Giá trị giới hạn dưới của khoảng tứ phân vị được gọi là số

4 1

e e

'' min

) 1 (

M

M

M M

e

f

F n d x

− +

=

Trong đó:

min '

min , e

M : Giới hạn dưới của tổ chứa số tứ phân vị dưới và tứ phân vị trên

Trang 25

'' ' ,

f :Tần số của tổ chức số tứ phân vị dưới và tứ phân vị trên

* Mốt (Kí hiệu là Mo): Mốt là giá trị đánh giá dự báo có tần số cao nhất Công thức tính mốt đối với tiêu thức thời gian có chia tổ:

M0 = xM0min + d ( 1) ( 1)

1 0

0 0 0

0

0 0

M M M

M

M M

f f f

f

f f M

Mo là giá trị dưới của tổ chức Mo

0

M

d là khoảng cách của tổ chức Mo

f là tần số của tổ đứng trước tổ chứa M0

f M0+ 1 là tần số của tổ đứng sau tổ chứa M0

2) Đánh giá tầm quan trọng tương đối giữa các sự kiện

Để thực hiện được mục tiêu của chiến lược phát triển của doanh nghiệp hoặc để đạt được mục tiêu nào đó thì cần thực hiện được các mục tiêu con Trong trường hợp đó phải đánh giá mục tiêu nào quan trọng hơn mục tiêu nào

để tập trung vào mục tiêu mũi nhọn

Khi sử dụng phương pháp chuyên gia để giải quyết vấn đề này người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Giá trị điểm trung bình của từng mục tiêu

- Hệ số nhất trí riêng Wj

- Hệ số nhất trí chung Wi

* Giá trị trung bình cho từng mục tiêu

Khi xem xét một vấn đề nào đó, người ta có thể đưa ra nhiều mục tiêu Khi lấy ý kiến chuyên gia cho mục tiêu và đề nghị họ đánh giá các mục tiêu

Trang 26

bằng cách cho điểm theo một thang nào đó, thông thường mục tiêu đánh giá tốt thì cho điểm cao hơn Cuối cùng, ta tổng hợp các ý kiến đánh giá cảu cá chuyên gia về tầm quan trọng của các mục tiêu theo bảng sau

Bảng kết quả ý kiến của các chuyên gia (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Bảng kết quả ý kiến của các chuyên gia

Trang 27

- Không phản ánh ý kiến giữa các chuyên gia với nhau về một mục tiêu

- Không đánh giá được trình độ tương đối của các chuyên gia, xem năng lực của các chuyên gia là như nhau

n i

j ij

j

j j

C n

C C

C W

Như vậy nếu tất cả m đánh giá là khác nhau thì m’=m, còn nếu có những chuyên gia nào đó cho nhiều phương án cùng một điểm thì m’<m

Ta ký hiệuRij là giá trị của cij đã được đánh số lại theo nội dung trên và gọi là hạng của mục tiêu j do chuyên gia i đánh giá

Ta lần lượt làm các bước sau:

Bước 1: Tính tổng hạng mục của mục tiêu j (j= 1, )m

Trang 28

ij

1

n

j i

S S

=

− − ∑ 0≤ ≤w 1

- W=1: Hoàn toàn nhất trí với nhau về tất cả các mục tiêu

- W ≥0.75: Cách xếp hạng của các chuyên gia được chấp nhận

- W<0.75: Phải điều chỉnh và đánh giá lại các ý kiến của chuyên

gia

1.1.4 Một số phương pháp dự báo nhu cầu khác

a) Phương pháp dự báo phát triển viễn thông dựa trên mức đầu tư phát triển mạng lưới:

Phương pháp dự báo phát triển viễn thông dựa trên mức đầu tư phát triển mạng lưới tiến hành như sau:

Ký hiệu:

I: tốc độ tăng trưởng GDP

Trang 29

G: Giá trị GDP hiện tại (năm bắt đầu tiến hành dự báo) n: Khoảng thời gian tiến hành dự báo (năm)

Giá trị GDP tại năm n: G n =G(1 +i)n

GDP lũy kế trong n năm: S n =G i q( )

r: tỷ trọng GDP dùng để đầu tư phát triển viễn thông

Lượng đầu tư tuyệt đối cho viễn thông trong n năm là: V =rS n

Do đó, số máy điện thoại mới lắp đặt trong n năm: N =rSn M/

Trong đó: M: Chi phí bình quân lắp đặt một máy điện thọai

b/ Dự báo nhu cầu thị trường bằng câu hỏi

Khi dự báo nhu cầu thị trường các dịch vụ bưu chính viễn thông mới trong điều kiện các số liệu không có, sử dụng phương pháp dự báo nhu cầu của thị trường bằng các câu hỏi

Ví dụ: dự báo nhu cầu dịch vụ điện thoại di động nội vùng ở Việt Nam Dịch vụ điện thoại di động nội vùng là dịch vụ mới, để triển khai một cách có hiệu quả cần phải dự báo được nhu cầu sử dụng dịch vụ Trong điều kiện các số liệu thuê bao di động nội vùng hoàn toàn không có, ta có thể dự báo nhu cầu thị trường bằng các câu hỏi như sau:

-Bạn đã có điện thoại di động chưa? Nếu chưa có bạn có ý định sử dụng dịch vụ này không? Nếu có một loại dịch vụ di động nữa ra đời

Trang 30

sử dụng di động của bạn?

Từ bảng câu hỏi này sẽ tập hợp và phân tích làm căn cứ dự báo nhu cầu

thị trường theo phương pháp dự báo bằng các câu hỏi

1.2 Các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin di động

Hình 1.3 Các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin di động

- Các yếu tố ngoại sinh bao gồm các yếu tố kinh tế như tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tiêu dùng dân cư, và các yếu tố xã hội như dân số, số hộ gia đình, và số người đang làm việc

- Các yếu tố nội sinh bao gồm các loại giá cước như giá thiết bị, cước

cơ bản hàng tháng và cước phụ trội đối với lĩnh vực viễn thông, cước dịch vụ như cước bưu phẩm, bưu kiện, chuyển tiền… đối với lĩnh vực bưu chính và chiến lược marketing như chiến lược sản phẩm, quảng cáo… dự báo nhu cầu phải dựa vào và phân tích các yếu tố này để xác định nhu cầu tương lai về số lượng

Chiến lược marketing

- Chiến lược sản phẩm

- Chiến lược quảng cáo

Các yếu tố ngoại sinh

Trang 31

tế từ mức không đáng kể lên đến 27% GDP vào năm 2000 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP tăng lên đến 39,1% Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11% Song những thành tựu và tiến bộ về kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua chưa đủ để vượt qua được tình trạng nước nghèo và kém phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước Trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp xa so với mức trung bình của Thế giới và kém nhiều nước xung quanh Sức cạnh tranh còn yếu, tích luỹ nội bộ và sức mua trong nước còn thấp Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng thường bị thiên tai Tóm lại, sự phát triển kinh tế ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu sử dụng các dịch vụ thông tin

di động

Mức sử dụng dịch vụ: Việt Nam cũng như các nước đang phát triển, cũng sẽ chịu tác động mang tính quy luật của xu thế tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ thông tin di động, nếu nền kinh tế giữ tốc độ ổn định và phát triển Cho tới hiện tại, mức sử dụng các dịch vụ bưu chính của Việt Nam có tốc độ thâm nhập các dịch vụ thông tin cao

Yếu tố phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất của đất nước cũng có tác động đáng kể, cùng với phân vùng kinh tế sẽ có phân bố lại dân

cư, nên nhu cầu trao đổi tỉnh cảm, hàng hoá sẽ tăng

Mở cửa hội nhập Quốc tế: trong những năm tới, thị trường các dịch vụ bưu chính cũng sẽ bị chia sẻ bởi nhiều nhà khai thác trong và ngoài nước Việc thông tin di động Việt Nam bắt buộc phải chia sẻ thị phần với nhiều nhà khai thác trong và ngoài nước là điều hiển nhiên Nhưng với một thị trường dịch vụ bưu chính giàu tiềm năng khai thác như ở Việt Nam, và với cơ hội của người đi trước, với lợi thế sẵn có về tổ chức mạng lưới, thông tin di động Việt Nam sẽ có ưu thế vượt trội về khai thác nhu cầu sử dụng dịch vụ thông

Trang 32

tin di động

1.2.2 Các yếu tố về bưu chính

Mạng lưới thông tin di động: yếu tố này tác động mạnh đến nhu cầu

của người tiêu dùng được đáp ứng Các chỉ tiêu mạng lưới bao gồm: Tổ chức mạng lưới cung cấp các dịch vụ Bưu chính cho khách hàng, mạng bưu cục phục vụ, bán kính và số dân phục vụ, thời gian phục vụ của các bưu cục tại mỗi vùng, miền khác nhau; Tổ chức mạng vận chuyển các sản phẩm bưu chính từ Trung ương đến địa phương và ngược lại; Tổ chức mạng thu gom tại tỉnh, thành phố, huyện thị và xã

là nhân tố mà khi bỏ ra chi phí cho bất cứ hàng hoá nào cũng được người tiêu dùng quan tâm hàng đầu Theo nghiên cứu của các chuyên gia các nước có ngành Bưu chính phát triển thì giá cước tăng 5% nhu cầu sẽ giảm khoảng 1% Tất nhiên đây là ở các nước phát triển, nhu cầu thường tăng rất chậm (gần bão hoà) thì giảm lưu lượng khi giá cước tăng là hợp lý Ngược lại, khi giá cước được điều chỉnh hợp lý thì sản lượng bưu chính sẽ quay trở lại với mức tăng trưởng cao

Thị hiếu.,thói quen tiêu dùng: là yếu tố tác động rất tích cực đối với

dịch vụ mới, với các dịch vụ như EMS, chuyển tiền nhanh thì hiện nay yếu tố này vẫn tác động tích cực Với các dịch vụ cao cấp khác như Datapost, Bưu chính điện tử thì yếu tố này càng tác động mạnh hơn nữa do những đối tượng

sử dụng là những người có thu nhập cao và trách nhiệm xử lý thông tin lớn hơn các đối tượng khác Với những dịch vụ truyền thống như bưu phẩm, bưu kiện thì yếu tố này đến nay ít tác động

Chất lượng phục vụ của Bưu chính: yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến

nhu cầu được đáp ứng Các chỉ tiêu chất lượng đây chính là:

+ Vận chuyển bưu gửi nhanh

Trang 33

+ An toàn, không hư hỏng, mất mát

+ Sử dụng thuận tiện (để tiếp nhận)

1.2.3 Các yếu tố về nhân khẩu, hộ khẩu và pháp lý

Dân số: Khối lượng dịch vụ phụ thuộc vào dân số (khách hàng) Việt

Nam là một nước đông dân trong khu vực và trên thế giới, có tỷ lệ tăng trưởng dân số với mức thấp nhất trong 10 năm vừa qua là 1,35% (mỗi năm tăng hơn một triệu người), nếu với tốc độ tăng trưởng dân số như ở mức thấp nhất trong 10 năm vừa qua thì đến năm 2010 dân số Việt Nam sẽ xấp xỉ khoảng 90 triệu dân - vượt hơn 11 triệu dân so với thời điểm hiện tại Như

vậy, tăng trưởng dân số sẽ tạo đà phát triển nhu cầu sử dụng các dịch vụ nói chung và các dịch vụ Bưu chính nói riêng

Cơ cấu xã hội, trình độ văn hoá: nhu cầu về bưu chính còn phụ thuộc

vào cơ cấu xã hội, trình độ văn hoá và mức độ xoá nạn mù chữ Qua các tài liệu ta dễ thấy rằng những nước có mức sống văn hoá càng cao thì nhu cầu bưu chính càng tăng

Môi trường pháp lý: môi trường trong nước luôn thay đổi cũng ảnh

hưởng lớn tới kinh doanh Bưu chính Trong hoàn cảnh hiện nay, tự do hoá thị trường và thương mại tăng, tính độc quyền sẽ dần dần mất đi Xu hướng này

sẽ dẫn đến tình trạng kinh doanh Bưu chính ngày càng khó khăn hơn

1.2.4 Các yếu tố về công nghệ

• Công nghệ Viễn thông - Tin học:

• Sự phát triển dịch vụ điện thoại và truyền số liệu:

Những yếu tố được đề cập trên là những yếu tố cơ bản chính yếu có tác động ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu sử dụng dịch vụ Bưu chính, ngoài ra còn

có rất nhiều các yếu tố khác (trong nhóm các yếu tố về kinh tế, công nghệ, Bưu chính, nhân khẩu và xã hội ) kết hợp đan xen với nhau tác động ảnh hưởng đến khối lượng dịch vụ Bưu chính trong giai đoạn tiếp theo Việc phân

Trang 34

tích các yếu tố này sẽ giúp Bưu chính Việt Nam không những hoàn thành bước đầu của công việc dự báo mà còn đánh giá tầm quan trọng trong tương lai của các yếu tố có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển trong tương lai của bưu chính Việt Nam

Đến đây ta có bảng tóm tắt một số phương pháp dự báo chính như sau: Bảng 1.2 : Bảng tóm tắt một số phương pháp dự báo chính

Độ ổn định trong quá khứ và hiện tại tốt

Các yếu tố ảnh hưởng liên tục trong quá khứ, hiện tại và còn tiếp tục trong tương lai

* Đối tượng ít có biến động đột biến

Kết quả dự báo được quyết định bởi những

số liệu thu thập được,

do vậy cần quan tâm đến tính thực tiễn của kết quả dự báo

Trong các trường hợp thiếu nhiều thông tin

Các đối tượng kinh tế chưa có thực tiễn

Có độ bất ổn định lớn

Chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố tác động mà đều quan trọng

Thích hợp trong dự báo dài hạn và siêu dài hạn hoặc trong trường hợp phải đưa ra quyết định trong thời gian ngắn

mô hình của đối tượng kinh tế tương tự

Đối tượng nghiên cứu và đối tượng được mô hình hoá có nhiều đặc tính giống nhau

Các quan hệ giữa hai đối tượng nghiên cứu có quan hệ xác định

Cần xác định mức độ tương đồng (định lượng) giữa các đặc tính của hai đối tượng

nhu cầu thị trường viễn thông

Trong những năm qua, nhằm mục đích xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển ngành Bưu chính - Viễn thông Việt Nam , Tổng cục và Tổng

Trang 35

công ty Bưu chính - Viễn thông luôn chú trọng công tác dự báo một cách thích đáng Trên cơ sở các số liệu thống kê về dân số, thu nhập Quốc dân, tình hình phát triển trong những năm trước, ngành Bưu điện đã hợp tác với các chuyên gia Đức, chuyên gia Nhật Bản đã tiến hành thu thập số liệu, phân tích tình hình, hoàn cảnh cụ thể Việt Nam và đã đưa ra một số phương pháp

dự báo, xác định các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đối với nhu cầu viễn thông và

đã tiến hành dự báo nhiều lần Các dự án cụ thể là :

- Vào những năm 1991-1993 đã hợp tác với các chuyên gia Detecon (Đức) triển khai dự án VIESA/006

- Vào năm 1997-1998 đã hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản trong dự

án JICA

Qua nghiên cứu, các chuyên gia đã khuyến nghị một số phương pháp

dự báo thông qua các yếu tố kinh tế như sau :

a/ Tương quan với mức thu nhập quốc dân trên đầu người

Nếu Y là mật độ điện thoại trên 100 dân,

X là Thu nhập quốc dân trung bình trên đầu người, a,b là những tham số hiệu chỉnh,

Thì ta có tương quan sau :

logY = a + b.logX Qua các số liệu của Việt Nam , các chuyên gia Detecon (Đức) đã xác định được các hệ số tương ứng là a = - 2,66411 và b = 4,009725% Với các tham số được xác định trên, cho phép ta dự báo được mật độ nhu cầu điện thoại Y của các năm tương ứng với các mức thu nhập quốc dân trung bình trên đầu người

b/ Tương quan với tốc độ tăng trưởng thu nhập Quốc dân

Thực chất của phương pháp này là dựa trên các số liệu thống kê về tương quan giữa tốc độ phát triển điện thoại trên tốc độ gia tăng về thu nhập

Trang 36

quốc dân của các nước có điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá tương đồi giống Việt Nam để xác định một tỷ lệ tăng trưởng phù hợp Sau khi đã có tỷ

lệ tăng trưởng này ta sẽ dựa trên dự báo về tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân để xác định mức thu nhập tăng trưởng số thuê bao điện thoại Ở đây không phải chỉ tính bình quân mà có điều chỉnh

Qua số liệu của các nước có điều kiện gần giống Việt Nam trong bảng sau: Bảng 1.3 Bảng một số nước có điều kiện giống Việt Nam

Nam tại thời điểm hiện tại là Ấn Độ, Indonexia, Thái Lan, và xác định số

bình quân cho Việt Nam là 1,7545 Có nghĩa là để dự báo tốc độ tăng trưởng

nhu cầu điện thoại của Việt Nam, ta lấy số bình quân là 1,7445 nhân với tốc

Trang 37

độ tăng trưởng của tăng thu nhập GDP là khoảng 10% Ta được số liệu tốc độ tăng trưởng điện thoại hàng năm ở Việt Nam là 17,5%

Nhận xét ưu điểm của các phương pháp trên ta thấy:

*Ưu điểm :

- Việc tính toán đơn giản,

- Không yêu cầu số liệu thống kê lớn

Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng dựa trên tốc độ tăng trưởng thu nhập Quốc dân tương đối phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam Phương pháp này đang được ứng dụng rộng vào tại các nước trong khu vực như Philippin, Camphuchia

*Nhược điểm :

- Kết quả dự báo không được chính xác

- Chưa tính được các yếu tố bất thường trong quá trình phát triển Mặt khác, trên Thế giới người ta đã tính được doanh thu bưu điện chiếm khoảng từ 1,7% đến 2,3% GDP Đầu tư cho bưu điện khoảng từ 30% đến 40% doanh thu nhận được Như vậy, đầu tư cho bưu điện chiếm khoảng 0,5% đến 0,9% GDP của các nước

Để phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất trong từng giai đoạn và hàng năm các chuyên gia ngành Bưu điện cũng đã chọn cho mình những phương pháp dự báo riêng Phương pháp thường được sử dụng là phương pháp ngoại

suy xu thế, tức là dựa trên tốc độ phát triển các dịch vụ trong các năm trước

đó để dự báo nhu cầu cho các năm tiếp theo Kết qủa thu được sẽ qua điều chỉnh bằng những kinh nghiệm của các chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong ngành viễn thông Việt Nam Qua đó ta có những dự báo nhu cầu phát triển cho các loại dịch vụ viễn thông trong thời kỳ tới được chính xác hơn

Phương pháp này thường chỉ cho ta kết quả tương đối chính xác trong khoảng thời gian ngắn (một năm) Để có các số liệu dự báo phục vụ cho công

Trang 38

tác quy hoạch, hay chiến lược phát triển dài hạn thì cần phải đầu tư xây dựng nghiên cứu thêm nữa

Trên đây là một số phương pháp được dùng phổ biến để dự báo nhu cầu ở Việt Nam Tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp nào còn tùy vào từng điều kiện, từng đối tượng dự báo cụ thể Việc áp dụng các phương pháp này cho luận văn sẽ được trình bày ở phần sau:

Trang 39

PHẦN II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VIETTEL VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THÔNG TIN DI ĐỘNG VIỆT NAM

2.1 Đặc điểm và tình hình hoạt động của viettel

2.1.1 Các đặc điểm về sản phẩm, khách hàng, công nghệ của Viettel

2.1.1.1 Các đặc điểm sản phẩm và dịch vụ của viettel mobile

a/ Đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ Viễn thông:

Ngoài những đặc điểm của các hàng hóa thông thường, các sản phẩm dịch vụ Viễn thông có một số đặc điểm sau:

Sản phẩm Viễn thông không phải là sản phẩm hữu hình thông thường,

mà sản phẩm Viễn thông là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức thời từ người gửi đến người nhận như điện thoại, truyền hình, truyền thanh, truyền số liệu,… Các sản phẩm Viễn thông rất cần thiết đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Các sản phẩm Viễn thông có tính không gian và tính thời gian Đó là nhu cầu truyền tin xuất hiện không đều theo thời gian và không gian Lượng nhu cầu thường tập trung nhiều ở những nơi dân cư đông đúc, các trung tâm kinh tế, văn hóa, những khu du lịch,… và ít hơn ở những nơi dân cư thưa thớt, những nơi văn hóa, kinh tế chậm phát triển Và lượng nhu cầu không đồng đều theo thời gian trong ngày mà phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của đời sống xã hội

b/ Đặc điểm của thông tin di động:

Bên cạnh những đặc điểm nói trên dịch vụ thông tin di động còn có một

số đặc điểm khác so với các các dịch như Internet, điện thoại có định có dây

Đó là những đặc điểm có ảnh hưởng tới những người sử dụng dịch vụ ấy như: Tính tiện ích của thiết bị đầu cuối không dây, Người sử dụng có thể di chuyển

mà không mất thông tin liên lạc, vẫn có thể kết nối được Internet, và những nhu cầu thông tin khác, Ngoài ra giá cả thiết bị đầu cuối, giá dịch vụ cũng

Trang 40

ảnh hưởng tới người sử dụng dịch vụ

c/ Các dịch vụ của Viettel mobile

Hình 2.1 Sơ đồ các sản phẩm dịch vụ của Viettel

Các dịch vụ cơ bản

Nhắn tin ngắn (SMS) Chờ cuộc gọi

Truyền Fax, dữ liệu Gọi hội nghị

Các số điện thoại khẩn cấp Hiển thị số gọi đến

Ngày đăng: 27/02/2021, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w