Tuy nhiên đây cũng chính là những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi phải có sự năng động, sáng tạo, biết vận
Trang 1CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH DOANH CÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG QUỐC TẾ
GIAI ĐOẠN 2005-2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS - TS PHAN THỊ NGỌC THUẬN
H ỌC VIÊN: LƯU VĨNH TÚ
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC 7
1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh 8
1.2 Qui trình hoạch định chiến lược kinh doanh 9
1.3 Phân tích các căn cứ hoạch định chiến lược 9
1.3.1 Phân tích môi trường kinh doanh 9
1.3.2 Phân tích mối đe dọa của đối thủ mới và cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện có 11
1.3.3 Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế 11
1.3.4 Phân tích quyền lực của khách hàng 11
1.3.5 Phân tích quyền lực của nhà cung cấp 12
1.3.6 Phân tích nội bộ 12
1.4 Hình thành chiến lược 12
1.5 Các phương pháp hoạch định chiến lược 13
PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 32
2.1 Phân tích môi trường vĩ mô 33
2.1.1 Phân tích môi trường kinh tế 33
2.1.2 Phân tích sự ảnh hưởng của chính trị - luật pháp 36
2.1.3 Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường văn hóa - xã hội 38
2.1.4 Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường kỹ thuật và công nghệ 39
2.2 Phân tích môi trường ngành 40
2.2.1 Phân tích mối đe dọa của đối thủ cạnh tranh 42
2.2.2 Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế 49
2.2.3 Phân tích quyền lực của khách hàng 49
2.2.4 Phân tích quyền lực của nhà cung cấp 53
2.2.5 Phân tích mối đe dọa của đối thủ tiềm ẩn 54
2.3 Phân tích nội bộ 56
Trang 32.3.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 56
2.3.2 Nhân lực 64
2.3.3 Tài chính 66
2.3.4 Trình độ cán bộ quản lý 67
2.3.5 Tình hình quản lý, khai thác và phát triển mạng lưới 68
2.4 Tổng hợp các cơ hội và nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu 73
2.5 Dự báo nhu cầu của thị trường viễn thông việt nam đến năm 2010 74
PHẦN III: HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC 82
3.1 Các căn cứ hình thành chiến lược 83
3.2 Lập ma trận SWOT để hình thành chiến lược 83
3.3 Đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược 85
3.4 Đề xuất các biện pháp cụ thể để triển khai giải pháp 86
3.4.1 Biện pháp về dịch vụ thoại quốc tế 87
3.4.2 Biện pháp về dịch vụ thuê kênh riêng 88
3.4.3 Biện pháp về dịch vụ VSAT 90
3.4.4 Biện pháp về dịch vụ thu/phát hình quốc tế 91
3.4.5 Biện pháp về dịch vụ Inmarsat 92
3.4.6 Biện pháp về các dịch vụ trên mạng NGN 93
3.4.7 Biện pháp về bán buôn dung lượng truyền dẫn quốc tế 95
3.4.8 Biện pháp hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng 96
3.4.9 Biện pháp về quan hệ hợp tác quốc tế 102
3.5 Kiến nghị 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 109
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Bằng đường lối phát triển kinh tế đúng đắn, từ sau đại hội Đảng Cộng
sản Việt Nam lần thứ VI (tháng 12/1986) và nhất là những năm gần đây, đất
nước ta đang thực sự chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là yêu cầu cấp thiết và cũng là cơ hội
tốt cho các doanh nghiệp được chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
được tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị
trường Tuy nhiên đây cũng chính là những thách thức lớn đối với các doanh
nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi
phải có sự năng động, sáng tạo, biết vận dụng phù hợp các quy luật kinh tế thị
trường vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời biết đánh giá đúng
đắn về năng lực, kinh nghiệm của mình, đặc biệt là có chiến lược kinh doanh
phù hợp thì có thể vượt qua những khó khăn và chiến thắng trong cạnh tranh
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp cần có những giải pháp
đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, phản ứng tích cực và hiệu quả
trước những hiện tượng bất ngờ có thể xảy ra, chủ động khắc phục mặt yếu
kém của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đã hình thành tại Việt Nam
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Viễn thông Quốc tế (VTI) là một đơn vị thành viên của Tổng
Công ty Bưu chính, Viễn thông Việt Nam (VNPT) và là đơn vị duy nhất được
VNPT ủy quyền kinh doanh tất cả các dịch vụ viễn thông quốc tế Mặc dù
mới được thành lập và phát triển trong 15 năm nhưng các dịch vụ viễn thông
quốc tế đã đem lại nguồn doanh thu đặc biệt quan trọng trong tổng doanh thu
(chiếm khoảng 60% tổng doanh thu của cả ngành Bưu điện trong 5 năm đầu)
và hiện chiếm khoảng 20% tổng doanh thu của VNPT Đây là một lĩnh vực
Trang 5kinh doanh siêu lợi nhuận và được rất nhiều doanh nghiệp quan tâm, khai
thác
Hiện nay, Nhà nước đã cấp phép kinh doanh các dịch vụ viễn thông
quốc tế cho các doanh nghiệp mới nhằm đẩy mạnh tính cạnh tranh trên thị
trường Việt Nam VNPT/VTI có nguy cơ gặp nhiều khó khăn trong việc kinh
doanh các dịch vụ này do ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh ở
trong và ngoài nước Trước đây VNPT/VTI hoạt động độc quyền do đó chưa
tự xây dựng chiến lược đầy đủ cho từng dịch vụ nói chung và các dịch vụ viễn
thông quôc tế nói riêng Sự xuất hiện các đối thủ mới trên thị trường Việt
Nam đặt VNPT/VTI trước một thách thức lớn do nguy cơ chia sẻ thị phần và
sự cạnh tranh quyết liệt của các nhà khai thác mới với những ưu thế về công
nghệ, quy mô hợp lý, sự năng động nhạy bén trong kinh doanh thì việc xây
dựng một chiến lược phát triển là rất cần thiết
Để tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông
quốc tế, nắm bắt và khai thác triệt để các cơ hội, đảm bảo giúp VNPT nói
chung và VTI nói riêng duy trì tốc độ tăng trưởng cao, phát triển bền vững
thì việc xây dựng đề tài “Chiến lược kinh doanh các dịch vụ viễn thông
quốc tế giai đoạn 2005-2010” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận cũng như
thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về chiến lược kinh doanh và
tổng quan các loại hình công nghệ đang được áp dụng, đề tài đi sâu phân tích
môi trường kinh doanh, thực trạng kinh doanh các dịch vụ viễn thông quốc tế
để từ đó rút ra những điểm mạng, yếu, cơ hội, thách thức của VNPT/VTI
trong quá trình cung cấp dịch vụ này Đề tài cũng lưu ý phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu để từ đó dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ trong thời
gian tới Đây là những sở cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển
Trang 6xuất phương hướng kinh doanh cụ thể, có tính khả thi cao và đề xuất một số
giải pháp thực hiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các dịch vụ viễn thông quốc tế của
VNPT nói chung và đặc biệt là VTI
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng
kinh doanh các dịch vụ viễn thông quốc tế, từ đó đề xuất chiến lược phát triển
các dịch vụ viễn thông quốc tế của VNPT/VTI từ nay đến 2010, đồng thời
nêu ra các giải pháp phù hợp để thực hiện chiến lược
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh của một
doanh nghiệp
- Phân tích môi trường kinh doanh các dịch vụ viễn thông quốc tế để từ
đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của VNPT/VTI
trong việc cung cấp các dịch vụ này, đồng thời nghiên cứu, phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến nhu cầu để từ đó dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ trong thời
gian tới
- Hoạch định chiến lược phát triển các dịch vụ viễn thông quốc tế đến
2010 dựa trên tình hình thực tế của Việt Nam và xu hướng phát triển của thế
giới, từ đó lựa chọn, đề xuất phương hướng kinh doanh có tính khả thi và các
kế hoạch, các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát triển các dịch vụ này
5 Ph ương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn thì các phương pháp nghiên cứu đã
được sử dụng là: Phương pháp thống kê toán học, phương pháp mô phỏng (dự
đoán, dự báo), phương pháp so sánh tổng hợp, phân tích kinh tế dựa trên cơ
sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu, khảo sát, số liệu của VNPT
6 Kết cấu của luận văn
Trang 7Đề tài “Chiến lược kinh doanh các dịch vụ viễn thông quốc tế giai
đoạn 2005-2010” bao gồm 3 phần:
- Phần I: Cơ sở lý thuyết về chiến lược kinh doanh
- Phần II: Phân tích các căn cứ hoạch định chiến lược kinh doanh các
dịch vụ viễn thông quốc tế của Công ty VTI
- Phần III: Xây dựng chiến lược kinh doanh các dịch vụ viễn thông
quốc tế của Công ty VTI
Và cuối cùng luận văn đã đưa ra những kết luận và một số kiến nghị
lớn cần lưu ý để triển khai thực hiện chiến lược này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những
khiếm khuyết Vì vậy, tác giả kính mong nhận được sự cảm thông từ các thầy
cô giáo thuộc Khoa Kinh tế và Quản lý, Trung tâm đào tạo sau đại học -
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình tham
gia giảng dạy trong khoá đào tạo cao học 2003-2005 Nhân dịp này, tác giả
xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Trường Đại học Bách Khoa Hà
Nội và các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong những năm tháng qua
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn Nhà giáo, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phan Thị
Ngọc Thuận đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này
Ngoài ra, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, công
nhân viên đã và đang công tác tại Trung tâm thông tin Bưu điện - Bộ Bưu
chính Viễn thông; các Ban chức năng của VNPT, các phòng chức năng của
VTI đã nhiệt tình giúp đỡ tôi tìm hiểu, sưu tầm tài liệu cũng như những góp ý,
tham gia giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trang 8PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC
Trang 91.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “Strator”
(quân đội, bầy, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển) Chiến lược được sử
dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên
cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương có thể
không làm Thông thường người ta hiểu chiến lược là khoa học và nghệ thuật
chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập kế hoạch tổng thể và tiến hành những
chiến dịch có quy mô lớn
Từ thập kỷ 50 (thế kỷ XX) chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh
doanh và thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” ra đời Tuy chiên, quan niệm về
chiến lược kinh doanh cũng được phát triển dần theo thời gian và người ta
cũng tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau
* Một số khái niệm về chiến lược mang tính cạnh tranh:
- Micheal Porter cho rằng:”Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây
dựng lợi thế cạnh tranh”
- Theo K.ohmae thì: “Mục đích của chiến lược là mang lại điều thuận lợi
nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định
ranh giới của sự thoả thuận”
Như vậy không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược Mục
đích của chiến lược là đảm bảo thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh
* Một số khái niệm về chiến lược khi coi chiến lược là một phạm trù
quản lý:
- Alfred Chandle cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là xác định các mục
tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương
trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đó”
- Theo James B.Quinn: “Chiến lược kinh doanh là một dạng thức hay là
một kế hoạch phối hợp các mục tiêu, chính sách và hành động thành một tổng
Trang 10- Theo William J.Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang
tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các
mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn
phải phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động
và khả năng khai thác; vẫn tập trung chủ yếu vào các câu hỏi sau: Hiện nay
doanh nghiệp đang ở đâu? Doanh nghiệp muốn đi đâu và đến đó bằng cách
nào?
1.2 Qui trình hoạch định chiến lược kinh doanh
Bao gồm việc phân tích các căn cứ hoạch định chiến lược và hình thành
chiến lược
1 Phân tích các căn cứ
- Phân tích môi trường kinh doanh
- Phân tích mối đe dọa của đối thủ cạnh tranh
- Phân tích áp lực của các sản phẩm thay thế
- Phân tích quyền lực khách hàng
- Phân tích quyền lực của nhà cung cấp
- Phân tích nội bộ
2 Hình thành chiến lược
- Đề xuất chiến lược tổng quát
- Đưa ra các giải pháp thực hiện ý đồ chiến lược đã chọn
- Đưa ra các biện pháp cụ thể để triển khai giải pháp
1.3 Phân tích các c ăn cứ hoạch định chiến lược
1.3.1 Phân tích môi trường kinh doanh
a) Môi tr ường kinh tế: Môi trường kinh tế được đặc trưng bởi các yếu tố sau:
Trang 11- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao sẽ làm phát sinh thêm các nhu
cầu mới cho sự phát triển các ngành kinh tế (cơ hội) Nhưng mối đe dọa mới
lại là xuất hiện thêm các đối thủ cạnh tranh
- Tỷ lệ lạm phát tăng làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, đến hiệu quả
của đầu tư, gây bất lợi cho doanh nghiệp hay cơ hội mới?
- Tỷ lệ thất nghiệp tăng tạo cho doanh nghiệp cơ hội thuê lao động rẻ hay
mối đe dọa của các dịch vụ cạnh tranh xuất hiện?
- Sự ổn định của đồng tiền, tỷ giá đe dọa gì hay tạo cơ hội gì cho doanh
nghiệp?
- Xu hướng và thực tế đầu tư nước ngoài tăng lên (hoặc ngược lại) tạo cơ
hội gì đối với doanh nghiệp?
- Thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người tăng (hoặc giảm) có
mối đe dọa nào, có cơ hội thuận lợi nào đối với công ty?
b) Môi trường chính trị, pháp luật:
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật phảp và
chính sách quản lý vĩ mô có thể gây sức ép (nguy cơ) hay tạo cơ hội cho
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn Phải nhận thức được những cơ hội
hay nguy cơ đối với từng sự thay đổi
c) Môi tr ường kỹ thuật và công nghệ:
Là yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của ngành
và nhiều doanh nghiệp Sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh vực
nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới hoàn thiện hơn Trong
các lĩnh vực điện tử, tin học, công nghệ sinh học, doanh nghiệp phải quan tâm
nhiều hơn đối với sự thay đổi công nghệ, phải dành số vốn nhất định cho
nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ để hạn chế ảnh hưởng của môi
trường này Mặt khác, đứng trước mỗi sự thay đổi trong công nghệ của ngành,
doanh nghiệp cần nhận thức được sự thách đố đối với mình, hay là cơ hội để
Trang 12áp dụng? Nhờ có vốn lớn mới có thể mua được sáng chế, áp dụng ngay công
nghệ mới để vươn lên hàng đầu trước các đối thủ cạnh tranh
d) Môi tr ường văn hóa – xã hội:
Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, hoặc khi dân trí nâng cao thì
doanh nghiệp sẽ thế nào? Những nguy cơ nào đe dọa, những cơ hội nào có thể
nắm bắt? Nhiệm vụ của nhà quản lý, nhà hoạt động chiến lược phải phân tích
kịp thời cả những thay đổi này, có như vậy thông tin mới đầy đủ và có hệ
thống giúp cho hoạch định chiến lược có căn cứ toàn diện hơn
1.3.2 Phân tích mối đe dọa của đối thủ mới và cường độ cạnh tranh của
các doanh nghiệp hiện có
Doanh nghiệp phải biết được đối thủ nào mới xuất hiện Nó có bị cản
trở xâm nhập thị trường bởi các đối thủ khác không? Có thể làm gì để cản trở
đối thủ này?
Cường độ cạnh tranh đặc trưng bởi số lượng đối thủ cạnh tranh và tỷ
trọng đối thủ ngang sức chiếm bao nhiêu trong số đó? Các đối thủ ngang sức
có những điểm nào mạnh hơn, điểm nào yếu hơn? Đánh giá chung bằng hệ
thống điểm thì doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ mấy? Làm gì để vươn lên vị trí
trội hơn? Một loạt các câu hỏi trên cần được phải trả lời
1.3.3 Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế
Liệu có sản phẩm nào xuất hiện trên thị trường làm cho người tiêu dùng
bỏ thói quen mua hàng của mình không? Vì sao người tiêu dùng thích sản
phẩm đó? Có bao nhiêu loại hàng hóa tương tự như thế cản trở sự tăng trưởng
của công ty? Làm thế nào để sản phẩm thay thế suy yếu hoặc không gây cản
trở cung ứng hàng ra thị trường của công ty?
1.3.4 Phân tích quyền lực của khách hàng
Doanh nghiệp cũng cần phân tích khách hàng bằng việc trả lời các câu
hỏi sau:
Trang 13Những khách hàng nào quan trọng nhất? Số lượng hàng hóa do những
khách hàng đó tiêu thụ chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng số Nếu khách
hàng này từ bỏ công ty thì sẽ gây thiệt hại cho công ty như thế nào? Liệu có
đối thủ nào cản trở khách hàng trung thành với ta và họ sử dụng thủ đoạn
nào? Phải làm gì để giữ được khách hàng hiện có và phát triển thêm?
1.3.5 Phân tích quyền lực của nhà cung cấp
Phân tích quyền lực của nhà cung cấp nào gây sức ép nhiều nhất đối
với công ty giúp cho doanh nghiệp có được những chiến lược ứng xử linh
hoạt một khi đã có sự chuẩn bị trước Việc phân tích này bắt đầu bằng những
câu hỏi: Nhà cung cấp nguyên vật liệu hay dịch vụ nào có quyền lực mạnh mẽ
nhất đối với công ty Nếu nhà cung cấp không hữu hảo đối với công ty? Nếu
họ gây cản trở bằng việc nâng giá dịch vụ hay sản phẩm, hoặc thay đổi điều
kiện cung cấp thì gây thiệt hại cho công ty như thế nào? Họ sẽ làm gì đối với
mình và sao? Công ty phải làm gì để không bị lệ thuộc vào nhà cung cấp có
quyền lực đó hoặc để nhà cung cấp tạo thêm điều kiện cung cấp tốt nhất cho
công ty
1.3.6 Phân tích nội bộ
Những phân tích nội bộ sẽ góp phần tạo nên một hệ thống căn cứ hoạch
định chiến lược hoàn chỉnh, không bỏ qua một căn cứ nào
Nhà chiến lược phân tích uy tín sản phẩm, năng lực sản xuất, các nguồn
lực tài chính, nhân lực, trình độ cán bộ quản lý, trình độ công nghệ hiện có
của doanh nghiệp để xác định vị trí của mình mới có thể đưa ra chiến lược
kinh doanh phù hợp với khả năng và có hiệu quả nhất
1.4 Hình thành chiến lược
1 Các căn cứ hình thành chiến lược
Các mục tiêu chiến lược cần phải đạt được của doanh nghiệp cần phải
thể hiện rõ ràng Các mục tiêu bao gồm phân tích các căn cứ xây dựng chiến
Trang 142 Lập ma trận SWOT để hình thành chiến lược
Mục đích của bước này nhằm xác định điểm mạnh (S), điểm yếu (W),
cơ hội (O) và rủi ro (T) Và trên cơ sở các thông tin thu thập được, doanh
nghiệp sẽ định ra bốn loại chiến lược bằng cách kết hợp các yếu tố với nhau,
bao gồm:
- Chiến lược điểm mạnh – cơ hội (SO);
- Chiến lược điểm yếu – cơ hội (SW);
3 Đề xuất các giải pháp
Dựa vào chiến lược đề xuất, doanh nghiệp thiết kế các giải pháp để
thực hiện chiến lược
4 Đề xuất các biện pháp
Doanh nghiệp đề ra các biện pháp cụ thể, chi tiết đến từng lĩnh vực, bộ
phận trong doanh nghiệp, đồng thời lên kế hoạch, chương trình chi tiết để
triển khai thực hiện các giải pháp đề ra
1.5 Các ph ương pháp hoạch định chiến lược
1 Mô hình phân tích môi trường cạnh tranh của M.Porter
Mô hình này được áp dụng để nhằm xác định thời cơ và các đe doạ từ
môi trường ảnh hưởng đến thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Các yếu tố của môi trường ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thể hiện rõ trong hình 1.1:
a Đe dọa của người mới nhập ngành (đối thủ tiềm ẩn)
Đối thủ tiềm ẩn bao gồm các doanh nghiệp hiện nay chưa có mặt trong
môi trường cạnh tranh của ngành nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong
tương lai bởi: Những người mới vào ngành bao giờ cũng mang đến cho ngành
đó những tiềm năng mới về công nghệ, về con người, về tài chính Những
Trang 15người mới vào ngành tạo ra một sức ép là giảm lợi ích chung của toàn bộ
ngành đó Vì vậy Porter coi những người mới vào ngành như một sức ép, một
lực lượng cạnh tranh, là đối thủ tiềm ẩn và ông đưa ra khái niệm “rào cản
nhập ngành” (entry barrie)
Hình 1.1: Các yếu tố của môi trường ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
“Rào cản nhập ngành” bao hàm ý nghĩa một doanh nghiệp cần phải tốn
kém rất nhiều mới có thể tham gia vào một ngành nghề kinh doanh nào đó
Phí tổn càng cao thì rào cản cũng cao tương ứng và ngược lại Để có thể ngăn
chặn được việc ra nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh mới, doanh nghiệp
phải tạo cho mình một hàng rào hợp pháp để ngăn chặn
“Rào cản nhập ngành” gồm các yếu tố sau:
- Tính kinh tế nhờ quy mô: Sản xuất quy mô lớn bao giờ cũng tiết kiệm
chi phí do sản xuất đại trà những sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá, do giá trị
chiết khấu với số lượng lớn vật tư, nguyên vật liệu, do chi phí quảng cáo đại
trà, do chi phí tiền công thấp nhờ sản xuất hàng loạt Những người sản xuất
lâu trong ngành bao giờ cũng sản xuất với quy mô lớn nên giá thành sản phẩm
hạ Còn những người mới nhập ngành thì do chưa có thị trường nên sản xuất
Người nhập ngành tiềm năng
Các nhà cạnh tranh trong ngành
Các ngành cung
Sản phẩm thay thế
Đe doạ của người nhập ngành mới
Đe doạ của sản phẩm thay thế
Trang 16với số lượng ít Do vật đây sẽ là một rào cản đổi với những người mới nhập
ngành
nghiệp có vị thế uy tín vững vàng hoặc đã đứng vững: Thường các doanh
nghiệp này có ưu thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về dịch vụ sau bán
hàng hoặc khả năng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự trung thành với nhãn hiệu
của khách hàng là rào cản hữu hiệu khiến các doanh nghiệp tiềm năng khó có
thể giành giật được thị trường
- Nhu cầu vốn lớn, đặc biệt nhu cầu vốn tối thiểu càng lớn thì rào cản đối
với những người mới nhập ngành càng cao vì độ rủi ro mang lại cũng tỷ lệ
thuận với vốn
- Chi phí chuyển dịch: Đó là chi phí mà khách hàng phải chịu khi họ thay
đổi nhà cung cấp Yếu tố này sẽ góp phần giữ khách hàng lại với nhà cung
cấp cũ, tạo rào cản đối với đối thủ tiềm năng
- Khó thâm nhập vào mạng phân phối: Trong thực tế có nhiều ngành
mạng phân phối bị độc chiếm Ví dụ như nước sạch, điện tạo ra rào cản đối
với người mới nhập ngành
* Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo dựng “rào cản”, sự đấu tranh
chống lại sự ra nhập ngành của những nhà sản xuất hiện tại:
- Thứ nhất, phụ thuộc vào truyền thống đấu tranh “chống ngoại xâm” của
doanh nghiệp đó như thế nào
- Thứ hai, doanh nghiệp phải có nguồn lực lớn để có thể đấu tranh được
với các đối thủ tiềm năng
- Các doanh nghiệp đã đầu tư lớn vào thị trường đó và nếu để mất thị
phần thì sẽ bị ảnh hưởng rất lớn Do vậy doanh nghiệp buộc phải đấu tranh để
chống lại sự ra nhập ngành của các doanh nghiệp tiềm năng
- Mức tăng trưởng của thị trường thấp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến
sự đấu tranh của các nhà sản xuất hiện tại
Trang 17Các “rào cản” được các doanh nghiệp hiện tại dựng lên với mục đích
nhằm ngăn chặn sự ra nhập ngành mới, tuy nhiên bản thân nó cũng có những
hạn chế, cụ thể:
- Rào cản có thể bị vô hiệu hoá do những sáng tạo, đổi mới về sản phẩm
và quy trình dẫn đến một công nghệ mới
- Việc theo đuổi giảm chi phí thông qua kinh nghiệm có thể cuốn sự chú
ý chệch lệch khỏi những phát triển của thị trường hoặc có thể che mờ khả
năng chấp nhận công nghệ mới
- Việc theo đuổi chi phí thấp thông qua kinh nghiệm có thể thay đổi bằng
các rào cản khác như tính dị biệt của sản phẩm hoặc tính tiên tiến của công
nghệ
b Sức ép của sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trong cùng
ngành hoặc các ngành hoạt động kinh doanh cùng chức năng đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng giống nhau của khách hàng Ví dụ do giá cà phê cao người ta có thể
thay thế bằng cách uống trà, khi trời lạnh người ta uống rượu thay cho bia
Sức ép của sản phẩm thay thế được tạo nên bởi:
- Sản phẩm mới có suất lợi nhuận cao hơn
Để đánh giá sức ép này, người ta dùng mối tương quan giữa giá cả và
chất lượng
Sự hiện hữu của sản phẩm thay thế ngày càng đa dạng tạo thành nguy
cơ cạnh tranh giá cả làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp một cách đáng kể
để giảm sức ép của nguy cơ này, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ
khuynh hướng giá cả mới của sản phẩm thay thế và dự báo sự phát triển của
Trang 18bùng nổ công nghệ Muốn đạt được ưu thế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải
dành nguồn lực để vận dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, trên cơ
sở thực hiện chiến lược nghiên cứu và phát triển (Reserach and Development
– R&D)
c Quyền lực thương thuyết của khách hàng
Theo Porter thì khách hàng cũng là một lực lượng của môi trường cạnh
tranh
Khách hàng là những người mua sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp,
là nhân tốt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh; quan hệ giữa
doanh nghiệp và khách hàng là quan hệ thương mại, quan hệ mua bán Trong
quan hệ số khách hàng luôn có xu hướng sử dụng quyền lực của mình để đặt
ra những điều kiện bất lợi cho doanh nghiệp, điều kiện bất lợi đó có thể là
chất luyượng sản phẩm, điều kiện cung cấp, giá cả, phương thức giao nhận
vận chuyển
Khách hàng có ưu thế mạnh trong mặc cả khi họ có các điều kiện:
mua của khách hàng
- Mua một khối lượng lớn trong doanh thu bán hàng của doanh nghiệp
- Sản phẩm tiêu chuẩn hoá thì sức ép càng lớn vì khách hàng có thể mua
sản phẩn tại nhiều doanh nghiệp
- Nhóm khách hàng có lợi nhuận thấp tìm cách giảm chi phí mua sắm
Trang 19- Khách hàng là người bán lẻ có thể tác động tới hành vi của người tiêu
dùng
Để thoả mãn nhu cầu khách hàng và đem lại lợi nhuận, cần thiết phải
phân loại khách hàng trên cơ sở các yếu tố địa lý, nhân khẩu học, thái độ, tâm
lý , từ đó phân tích hoạch định chiến lược Marketing - Mix
d Quyền lực thương thuyết của nhà cung cấp
Thông thường các doanh nghiệp phải mua các yêu tố sản xuất của các
nhà cung cấp như mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ, dịch vụ
quảng cáo, vận chuyển và quan hệ đó cũng là quan hệ thương trường
Trong mối quan hệ đó nhà cung cấp sử dụng quyền lực của mình đặt ra những
điều kiện bất lợi đối với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, giá cả và nó
đe doạ lợi ích của ngành nên Porter cũng coi đây là một lực lượng cạnh tranh
Những yếu tố tạo nên quyền thương thuyết của nhà cung cấp bao gồm:
- Mức độ tập trung của nhà cung cấp cao hơn, tức là có ít người bán và
có nhiều người mua
- Các nhà cung cấp không có sức ép của sản phẩm thay thế
- Sản phẩm cung cấp là phương tiện sản xuất quan trọng
- Nhà cung cấp có ưu thế khác biệt hoá sản phẩm cung cấp khiến doanh
nghiệp không có sự lựa chọn
- Nhóm nhà cung cấp tạo nên sự đe doạ hội nhập dưới
Để giảm nguy cơ mặc cả của nhà cung cấp, doanh nghiệp cần thiết lập
mối quan hệ lâu dài theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi hoặc tích cực tìm
kiếm nguồn cung cấp đa dạng khác Khi lựa chọn nhà cung cấp cần phải có sự
phân tích dựa vào các thành tích trong quá khứ, phẩm chất đạo đức, uy tín,
tiềm lực tài chính để tránh các rủi ro tới mức thấp nhất
e Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành
Trong một ngành, các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau về giá cả, chất
Trang 20Trong quá trình cạnh tranh làm cho chất lượng sản phẩm ngày càng
nâng cao và giá cả càng hạ Điều đó giúp cho lợi ích của người tiêu dùng tăng
lên nhưng quá trình cạnh tranh cũng làm suy giảm lợi ích chung của toàn bộ
ngành công nghiệp
Những nhân tố tạo nên sự cạnh tranh của các nhà sản xuất trong ngành
gồm:
- Các nhà cạnh tranh đông và cân bằng
- Không có sự khác biệt hoá sản phẩm và chi phí chuyển dịch
- Tăng năng lực sản xuất bởi những nấc lớn (nấc giữa các mức sản xuất
lớn)
- Các nhà cạnh tranh có những đặc điểm giống nhau
- Những thách thức chiến lược lớn (thành công sẽ rất lớn và thất bại thì
nặng nề)
- Rào chắn doanh nghiệp ra khỏi ngành cao: Khi hoạt động trong một
ngành nào đó không còn thuận lợi, sự cạnh tranh về giá cả ngày càng gay gắt,
càng sản xuất càng lỗ vốn, doanh nghiệp có xu hướng rút khỏi ngành, nhưng
điều này không dễ dàng vì họ sẽ bị mất mát nhiều do rào cản rất cao, đó là:
+ Vốn đầu tư quá lớn;
+ Thiết bị chuyên dùng khó chuyển đổi;
+ Rào chắn pháp lý: sức ép về luật pháp, công đoàn, xã hội ;
+ Rào chắn tâm lý: không muốn mang tiếng thất bại;
+ Cộng hưởng chiến lược giữa các doanh nghiệp với công thức 2 + 2 = 5
có nghĩa là: các đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) hoặc lĩnh vực kinh
doanh chiến lược (SBF) phối hợp với nhau thì cộng hưởng, mang lại lợi
ích cao hơn Nếu cộng hưởng mà rút ra thì kéo theo thất bại của doanh
nghiệp cùng cộng hưởng
Trang 21Phương pháp này là một nhóm các mô hình
Mục đích của phương pháp là đánh giá cơ hội đầu tư và các định các
thành phần PORTFORLIO Nhóm các mô hình này có điểm chung là xếp các
lĩnh vực vào các ngăn (cái ví)
Nhóm phương pháp này dựa trên hai tiêu chuẩn:
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong từng
đơn vị kinh doanh chiến lược
Hình I.2: Mức thị phần tương đối trong ngành
Chú thích: Sản phẩm A; Sản phẩm B; Sản phẩm C; Sản phẩm D
a Mô hình BCG (Boston Consulting Group)
Nhóm này đưa ra hai nhóm chỉ tiêu:
- Tỷ lệ tăng trưởng thị phần hàng năm đặc trưng cho sự hấp dẫn của một
ngành công nghiệp
Ngôi sao
Bò sữa Điểm chết
0
Trang 22- Thị phần tương đối: Là thị phần của một doanh nghiệp chiếm được so
với thị phần của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất hoặc là so với người thứ hai
nếu doanh nghiệp là người dẫn đầu trong ngành
Phương pháp này khó đánh giá được thị trường của một nền kinh tế, chỉ
đánh giá được mức độ cạnh tranh trên thị trường
Mô hình này được sử dụng đối với các công ty đa ngành, hoạt động
trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và có nhiều đơn vị kinh doanh
chiến lược khác nhau Nó mô tả sinh động bằng hình vẽ sự khác nhau giữa
các đơn vị kinh doanh chiến lược về mặt vị trí thị phần và mức tăng trưởng
Tất cả các đơn vị kinh doanh chiến lược và lĩnh vực kinh doanh chiến
lược đều được thể hiện trên mô hình BCG Toạ độ của nó được xác định bởi
thị phần tương đối và tỷ lệ tăng trưởng thị trường Mức thị phần tương đối
nằm trên trục X, điểm giữa của trục X được đặt tại vị trí 0,5 Trục Y biểu thị
tỷ lệ tăng trưởng về doanh số bán hàng trong ngành, được đo bằng tỷ lệ phần
trăm Tỷ lệ phần trăm lấy điểm giữa là 10%
Đường kính của vòng tròn đặc trưng cho doanh thu trong lĩnh vực
chiến lược đó trên tổng doanh thu của doanh nghiệp
Các đơn vị kinh doanh chiến lược nằm ở góc I của mô hình được gọi là
thế đôi ngả, nằm ở góc II là ngôi sao, nằm ở góc III là Bò sữa và cuối cùng
nằm ở góc IV gọi là điểm chết
* Một số chiến lược mẫu thường được áp dụng đối với các lĩnh vực
kinh doanh khác nhau
- Thế đôi ngả: Các đơn vị kinh doanh nằm ở góc I có mức thị phần tương
đối thấp nhưng lại cạnh tranh trong ngành có mức tăng trưởng cao Thông
thường nhu cầu tiền mặt của những công ty này cao và phát sinh tiền mặt của
chúng thì thấp Trong trường hợp này doanh nghiệp hoặc cải thiện thị phần
tương đối và theo chiến lược ngôi sao, hoặc là rơi vào điểm chết
Trang 23- Thế ngôi sao: Những doanh nghiệp nằm trong góc II biểu thị những cơ
hội lâu dài và tốt nhất cho sự tăng trưởng và doanh lợi của doanh nghiệp Các
sản phẩm của doanh nghiệp có mức thị phần tương đối cao và mức tăng
trưởng của ngành cũng cao Do vậy doanh nghiệp tiếp tục duy trì, tăng thị
phần tương đối, đầu tư nguồn lực và Market và chịu đựng dòng tiền (Cash
flow) âm Chiến lược kết hợp về phía trước, phía sau và theo chiều ngang,
thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm và tham gia
liên doanh đều là những chiến lược thích hợp
- Con bò sữa: Những sản phẩm thuộc góc III có mức thị phần tương đối
cao nhưng cạnh tranh trong ngành có mức tăng trưởng thấp Gọi là Bò sữa vì
được quản trị để duy trì vị trí vững mạnh của chúng càng lâu càng tốt, cụ thể
phải bảo toàn thị phần tương đối, đầu tư có tính chất bảo vệ vào nguồn lực và
marketing, tập trung trọng điểm vào việc cực đại dòng tiền (cash flow) chúng
làm ra tiền vượt quá nhu cầu của chúng, và chúng bị “vắt sữa” Nhiều bò sữa
hôm nay là những ngôi sao trước đây Bộ phận bò sữa cần được chiến lược
phát triển sản phẩm hay đa dạng hoá tập trung có thể là những chiến lược hấp
dẫn để các bò sữa vững mạnh Tuy nhiên khi bộ phận bò sữa yếu đi thì chiến
lược giảm bớt chi tiêu hay loại bỏ bớt lại là những chiến lược thích hợp
thấp và cạnh tranh trong ngành có mức tăng trưởng thấp hay không có thị
trường Đối với khu vực này thì doanh nghiệp cần tối thiểu hoá đầu tư, tiếp
tục sản xuất chừng nào cash flow còn dương, bán hạ hoặc thanh lý SBD (đơn
vị kinh doanh chiến lược) nếu cash flow trở nên âm
Nhận xét: Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng, trực quan nên dễ
nhìn và dễ hiểu Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là với mỗi một
tiêu chuẩn chỉ dùng một chỉ tiêu
Để khắc phục nhược điểm này các nhà quản lý áp dụng phương pháp
Trang 24TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TÍNH HẤP DẪN CỦA NGÀNH VÀ VỊ
TRÍ CẠNH TRANH CỦA HILL&JONES
* Để đánh giá sức hấp dẫn của một ngành công nghiệp, người ta
dùng các chỉ tiêu:
- Quy mô của thị trường lớn hay bé;
- Mức tăng trưởng trung bình hàng năm của ngành đó;
- Mật độ vốn đầu tư: Tỷ lệ vốn đầu tư / doanh thu;
- Cường độ cạnh tranh
* Để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành
đó, người ta cũng đưa ra nhiều chỉ tiêu chứ không một chỉ tiêu là thị phần
Mô hình Mc Kinsey sử dụng hai tiêu chuẩn: sự hấp dẫn của ngành và
ưu thế của doanh nghiệp và chia làm 3 mức:
- Mức hấp dẫn của ngành có 3 mức: Cao, trung bình và thấp
- Ưu thế của doanh nghiệp có 3 mức: Lớn, trung bình và nhỏ
Từ đó người ta phân loại thành 3 miền chiến lược: A, B và C
Nếu lĩnh vực kinh doanh rơi vào miền A thì tương ứng áp dụng chiến
lược vùng A và tương tự như vậy đối với miền B,C
Trang 25Hình I.3: Mô hình Mc Kinsey
Mức hấp dấn của ngành
cao, do vậy chiến lược nhóm A là chiến lược đầu tư, tăng trưởng
- Các doanh nghiệp ở miền B thì ưu thế của doanh nghiệp tỷ lệ nghịch
với mức hấp dẫn của ngành, chiến lược tại miền này là áp dụng chiến lược
phát triển có lựa chọn
mức trung bình hoặc thấp Chiến lược nhóm C là chiến lược thu hẹp
Bảng I.1: Các nhóm chiến lược theo mô hình Mc.Kinsey
Giảm, ưu tiên lợi ích trước mắt
tăng thị phân Ổn định để tăng lợi nhuận Tăng cho dù có giảm cầu
lượng và các Thay đổi Mix và Loại bỏ các sản phẩm lợi nhuận thấp
Cao
TB Thấp
Ưu thế của doanh nghiệp
Trang 26sản phẩm mới
6 R & D Tập trung cho
nghiên cứu Ưu tiên cho phát triển Từ bổ nghiên cứu và phát triển
Giảm nhẹ bộ máy, giảm tối đa chi phí cố định
tuyển dụng và đào tạo
Hạn chế tuyển dụng Chuẩn bị chương
trình chuyển đổi
QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY KHI ÁP DỤNG
CÁC PHƯƠNG PHÁP PORTFOLIO
Bước 1: Xác định các đơn vị kinh doanh chiến lược và lĩnh vực kinh
doanh chiến lược của công ty
Bước 2: Phân tích PORTFOLIO hiện tại (theo 2 mô hình trên)
Bước 3: Phân tích các yếu tố của môi trường ngành (Sử dụng mô hình
5 lực lượng cạnh tranh của PORTER)
Bước 4: Trên cơ sở phân tích ở bước 3, xây dựng Portfolio mục tiêu
của Công ty hướng tới trong tương lai như thế nào
3 Mô hình ADL (Athur D.Little)
Người ta chia vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh
lược mà không đặt chiến lược của mình vào hiểm hoạ trong tương lai xa
- Vị trí thuận lợi:
Trang 27+ Doanh nghiệp có nhiều lợi thế tiềm năng thích hợp cho một số chiến
lược
+ Doanh nghiệp có khả năng duy trì vị trí của mình lâu dài
+ Vị trí không thuận lợi:
+ Doanh nghiệp có thành tích vừa đủ để duy trì hoạt động của mình
+ Doanh nghiệp còn tồn tại được là nhờ sự khoan dung của các nhà cạnh
tranh mạnh nhất
+ Bản thân doanh nghiệp có một số khả năng để duy trì hoạt động lâu dài
- Vị trí yếu:
Hình I.4: Mô hình ADL
Vị trí thống
trị
nhiên Thuận lợi
+ Doanh nghiệp có thể có những đặc điểm của một vị trí cao hơn nhưng
hiện đang có một số yếu điểm lớn
+ Có thể duy trì hoạt động tạm thời trong một thời gian nhất định
* Đồng thời, căn cứ vào chu kỳ sống của doanh nghiệp, người ta chia
thành 3 miền chiến lược (xem hình I.4):
Trang 28- Những sản phẩm rơi vào vùng phát triển tự nhiên: đòi hỏi một lượng
đầu tư lớn, tương ứng với các sản phẩm mà doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh
tốt, bao gồm những “ngôi sao” nhưng đồng thời cũng bao gồm cả sản phẩm
mới ra đời
- Vùng phát triển có lựa chọn: đòi hỏi doanh nghiệp phải có các giải
pháp nhằm tìn kiếm những chỗ trống trên thị trường, thực hiện các khoản đầu
tư có chọn lọc nhằm cải thiện vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp
- Chiến lược từ bỏ có liên quan đến các sản phẩm mà vị trí cạnh tranh
yếu, nghề mới hoặc những thị trường có mức rủi ro quá lớn
* Giai đoạn 1:
Bước 1: Phân tích những cơ hội và môi trường của doanh nghiệp
Mục đích của bước này là nhằm nhận dạng những cơ hội và đánh giá
sự tác động của cơ hội đói với các định hướng chiến lược của doanh nghiệp
dựa trên cơ sở hai tiêu chí:
- Xác suất tận dụng cơ hội khi nó xảy ra
Quy trình phân tích đi đến việc phân chia các cơ hội thành 3 miền:
- Miền ưu tiên cao: Là miền mà xác suất tận dụng cơ hội cao và tác động
của cơ hội đến doanh nghiệp cao
- Miền ưu tiên trung bình: Là miền mà xác suất tận dụng cơ hội và tác
động của cơ hội nằm ở mức trung bình
- Miền ưu tiên thấp: Là miền mà xác suất tận dụng cơ hội và tác động
của cơ hội nằm ở mức thấp
Để xây dựng ma trận này, người ta thường áp dụng phương pháp: thông
qua phiếu thăm dò gửi tới chuyên gia, sau đó xử lý và đánh giá
Bước 2: Phân tích các nguy cơ
Bước này cũng được tiến hành tương tự như phân tích các cơ hội
Trang 29Mục đích là để nhận dạng những nguy cơ, mối đe doạ của môi trường
tác động đến doanh nghiệp trong tương lai và đánh giá các nguy cơ đó đối với
định hướng công nghiệp của Công ty dựa trên 2 tiêu chí: Mức độ tác động của
nguy cơ và xác suất xảy ra nguy cơ đó Người ta phân loại thành 3 nhóm:
Nguy cơ khẩn cấp; Nguy cơ trung bình và Nguy cơ nhẹ
Miền ưu tiên cao
Miền ưu tiên trung
bình
Miền ưu tiên thấp
Bước 3: Phân tích nội bộ (phân tích bên trong) nhằm nhận dạng những
điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh ở 3 cấp độ
Các cấp độ thể hiện như sau:
- Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu
- Ưu thế về sản phẩm và dịch vụ (về giá, chất lượng)
Quá trình đánh giá thể hiện qua ma trận đánh giá các yếu tố bên trong
như hình I.6 Sau khi nhận dạng điểm mạng, điểm yếu, người ta có thể biểu
diễn cạnh tranh bằng nhiều cách, trong đó có một số cách được thể hiện như
Hình I.5: Phân tích cơ hội và môi trường của
Trang 30Hình I.6: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE)
Các yếu tố
cần đánh giá
Mức quan trọng của yếu tố đối với chiến lược của doanh nghiệp
Tác động đến chiến lược doanh nghiệp
Tính chất tác động
Điểm đánh giá
Nhiều : 3 Trung bình: 2
Ít : 1
Tốt: (+) Xấu: (– )
(5) = (2) x (3) Lấy dấu (+)
* Biên dạng cạnh tranh:
Hình I.7: Biểu diễn cạnh tranh dưới dạng biên dạng cạnh tranh
Trang 31Hình I.8: Biểu diễn cạnh tranh dưới dạng ngôi sao
* Giai đoạn 2: Phân tích TOWS (viết ngược lại của SWOT)
Mục đích của giai đoạn này là nhằm đánh giá mối tương quan, quan hệ,
sự tác động qua lại của 4 yếu tố: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe doạ
với nhau
Giai đoạn 2 trả lời câu hỏi: Nếu nguy cơ xuất hiện có làm yếu đi các
điểm mạnh của doanh nghiệp hay không? Trả lời câu hỏi đó chính là phân
tích TOWS
Khi phân tích TOWS doanh nghiệp cần phải thăm dò ý kiến của nhiều
chuyên gia để đưa ra đánh giá về sự tác động qua lại của 4 yếu tố với nhau
Từ phân tích TOWS người ta đưa ra ma trận chiến lược SWOT và đưa
ra định hướng chiến lược cho doanh nghiệp
Cách xây dựng ma trận SWOT như sau: Trước tiên liệt kê các mặt
mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ được lập bằng các thứ tự ưu tiên theo các ô
tương ứng Sau đó tiến hành so sánh một cách có hệ thống các cặp tương ứng
Chất lượng sản phẩm Mức độ tiện dụng
Dịch vụ sau bán hàng
Bản quyền
Mạng phân phối
Nhân viên Vốn
Trang 32các yếu tố nói trên để tạo ra các cặp phối hợp logic Quá trình này tạo ra 4 cặp
chiến lược phối hợp sau:
Bảng I.2: Ma trận chiến lược SWOT
Phối hợp WT
Giảm thiểu những điểm yếu và tránh khỏi các mối đe doạ
a) Phối hợp SO là chiến lược sử dụng những điểm mạnh bên trong của
Công ty để tận dụng cơ hội bên ngoài
b) Phối hợp ST là chiến lược sử dụng các điểm mạnh của Công ty để
tránh khỏi hay giảm đi tác động của nguy cơ đe doạ
c) Phối hợp WO là chiến lược nhằm cải thiện những điểm yếu bên
trong bằng cách tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài
d) Phối hợp WT là chiến lược doanh nghiệp giảm thiểu các điểm yếu
của mình và tránh nguy cơ bằng cách đề ra các kế hoạch phòng thủ
Trên đây là một số mô hình phân tích chiến lược giúp cho doanh
nghiệp có thể nhận biết được những cơ hội và nguy cơ chính, đánh giá đúng
tiềm năng để có thể lựa chọn cho mình một con đường tối ưu nhất để tiến tới
cái đích đề ra
Trang 33PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
Trang 342.1 Phân tích môi tr ường vĩ mô
2.1.1 Phân tích môi tr ường kinh tế
Kể từ khi bắt đầu đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đã và đang đạt được
tố độ tăng trưởng kinh tế cao, chủ yếu là nhờ khu vực kinh tế tư nhân Trong
những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế ổn định ở mức 7-7,5%/năm, đứng
thứ 2 Châu Á, sau Trung Quốc Gần đây nhất, Tổ chức kinh tế thương mại và
phát triển (UNCTAD) thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc đã đưa Việt Nam ra
khỏi các nước kém phát triển nhất dựa trên 3 tiêu chí cơ bản là: Thu nhập
thấp, mức độ dễ bị tổn thương về kinh tế, yếu kém về nguồn vốn con người
Đó là dấu hiệu tốt cho sự phát triển ngành Bưu chính Viễn thông
Yếu tố chủ yếu đóng góp cho quá trình tăng trưởng kinh tế là chính
sách kinh tế, hệ thống pháp luật đã được hình thành và củng cố, tạo điều kiện
đầu tư tăng lên đáng kể trong mọi lĩnh vực Lĩnh vực công nghiệp có những
chuyển biến mạnh mẽ nhờ vào chính sách đổi mới và nới lỏng Công cuộc cải
cách kinh tế cũng góp phần thúc đẩy mở rộng lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
Dự đoán những năm tới, cùng với việc tiếp tục các chính sách mở cửa,
các hiệp định thương mại được ký kết, đầu tư của nước ngoài vào Việt nam
tiếp tục tăng lên, kích thích các ngành phát triển Tốc độ tăng trưởng sẽ đạt
mức cao và ổn định, tổng sản phẩm quốc nội sẽ không ngừng tăng lên
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, sự ra đời hàng loạt các khu chế
xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao đòi hỏi các điều kiện cơ sở hạ tầng phải có
trước, trong đó viễn thông đóng vai trò quan trọng không thể thiếu
Thị trường chứng khoán hình thành và việc phát hành trái phiếu ở Việt
Nam đòi hỏi phải dựa trên việc cung cấp các dịch vụ viễn thông mới, cao cấp
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, tỷ trọng của các ngành
dịch vụ sẽ ngày càng tăng do nhu cầu về dịch vụ ngày càng lớn, tỷ lệ thu nhập
cho tiêu dùng các dịch vụ ngày càng cao Xã hội càng phát triển thì nhu cầu
sử dụng các dịch vụ thông tin, liên lạc sẽ càng tăng, nhu cầu giao tiếp giữa các
Trang 35tầng lớp dân cư tăng lên đòi hỏi các dịch vụ viễn thông phải được phát triển
đúng tầm
Chúng ta điểm lại một số chỉ số kinh tế vĩ mô trong năm 2004 và 7
tháng đầu năm 2005:
Năm 2004, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế là 7,7%, đây là một
cố gắng lớn khi vượt qua những ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và hạn hán
trong 6 tháng đầu năm
Mặc dù kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh trong năm 2004, một số
yếu tố mới cũng đang làm Chính phủ Việt Nam lo lắng Thứ nhất đó là tỷ lệ
lạm phát đã tăng từ 3% vào thời điểm đầu năm lên tới 10% tính đến cuối năm
Thứ hai là thâm hụt cán cân vãng lai - tỷ lệ này đạt tới 4,75% GDP tính vào
thời điểm năm 2003 (dữ liệu cuối cùng có được của IMF) Mặc dù mức thâm
hụt này đã được bù đắp gần đủ bởi nguồn vốn đầu tư dài hạn chảy vào trong
nước, lượng dự trữ ngoại tệ của các nhân hàng Việt Nam đã giảm đáng kể,
đây là nguyên nhân khiến ngành ngân hàng đứng trước nguy cơ tăng trưởng
chậm hơn so với các năm trước
Mặc dù cán cân thương mại sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu nhập khẩu tăng
mạnh và tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ ngày càng giảm Đồng thời,
cải cách mạnh cần tiếp tục được triển khai trong khu vực doanh nghiệp nhà
nước và ngành ngân hàng
Trong năm 2004, công nghiệp Việt Nam tăng trưởng 16%, chiếm 41%
trong tổng GDP so với 39% trong năm 2003 Trong đó khu vực kinh tế nhà
nước có vốn đầu tư nước ngoài đều chiếm tỷ trọng 37% và khu vực kinh tế tư
nhân chiếm 26% Các sản phẩm công nghiệp chính đều tăng trưởng mạnh,
như dầu thô 14%, dệt may 17% và giầy dép 15%
Khu vực dịch vụ cũng tăng trưởng cao với tốc độ 7,5% trong năm
2004, tuy nhiên mức đóng góp vào GDP có xu hướng giảm Chính phủ Việt
Trang 36tăng mức đóng góp GDP từ 38,2% trong năm 2004 lên 42-43% vào năm
2010, tiến gần tới mức chung của các nước đang phát triển
Năm 2004, ngành Viễn thông nộp ngân sách trên 5.155 tỷ đồng, tương
đương với 322 triệu USD, chiếm gần 7,3% GDP (trong đó riêng VNPT đã
nộp ngân sách trên 4.900 tỷ đồng) (theo Báo cáo Tổng kết năm 2004 của Bộ
Bưu chính Viễn thông và thống kê của BMI)
Việt Nam cũng đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ đói
nghèo, tuy nhiên mức thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp, đứng ở mức
534 USD/người/năm (theo Báo cáo viễn thông Việt Nam quý II/2005)
Ngoài ra, kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2005 tiếp tục phát triển theo
chiều hướng tích cực, GDP tăng trưởng ở mức khá cao (7,6%), trong đó nổi
bật là:
- Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao Giá trị sản
xuất công nghiệp tháng 7 tăng 17,4% so cùng kỳ năm 2004 Trong đó, khu
vực công nghiệp nhà nước tăng 9%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng
21,2% và khu vực có vốn FDI tăng 21,8%
- Xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, tính chung 7 tháng đầu năm đạt 17,38
tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2004
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt khá, tính chung 7 tháng đầu
năm 2005 đạt 265,6 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so cùng kỳ năm 2004
- Thu ngân sách đạt khá so với cả năm, đạt 63,6% dự toán cả năm
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá, 7 tháng có 419 dự án được cấp
phép với tổng số vốn đạt tới 2.100 triệu USD, tăng 21% về số dự án và 23%
về vốn đăng ký cấp mới so với năm 2004
- Tuy nhiên, trong 7 tháng đầu năm 2005, chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục
tăng cao (7,5%), nhất là nhóm phương tiên đi lại và bưu điện Một số mặt
hàng xuất khẩu chủ lực không giữ được vai trò đầu tầu tăng trưởng do áp lực
cạnh tranh và ách tắc trong quản lý
Trang 372.1.2 Phân tích s ự ảnh hưởng của chính trị - luật pháp
Môi trường pháp lý của Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện, xu hướng
hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc hoạch định các chính
sách của Chính phủ Ngoài Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông là văn bản cao
nhất có liên quan đến vấn đề kinh doanh các dịch vụ viễn thông, các hệ thống
văn bản có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp trong nước cũng dần
được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện thực tế
- Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ra đời đã làm thay đổi rất nhiều môi
trường kinh doanh của các doanh nghiệp Theo Pháp lệnh, chính sách của Nhà
nước là khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia kinh
doanh Bưu chính, Viễn thông trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh
bạch do Nhà nước quản lý với đầy đủ các loại hình dịch vụ, đảm bảo chất
lượng và giá cước hợp lý Đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về Bưu chính,
Viêễnthông trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi,
phù hợp với pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập Với những chính sách này, môi trường kinh doanh dịch vụ
viễn thông tại Việt Nam sẽ ngày càng sôi động hơn với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế cả trong và ngoài nước Đặc biệt đối với 2 dịch vụ thành
công nhất trong lịch sử ngành viễn thông là di động và Internet, cạnh tranh sẽ
rất gay gắt vì nhu cầu và xu hướng sử dụng 2 dịch vụ này ngày càng cao
- Hiện tại, đầu tư nước ngoài liên quan đến lĩnh vực khai thác các dịch vụ
viễn thông đều được thực hiện dưới hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh
(Business Cooperation Contract - BCC) Đây là phương thức mà các công ty
nước ngoài đầu tư vào dự án và thu một phần doanh thu hay lợi nhuận theo
thỏa thuận và không có hình thức sở hữu thực sự Họ không có quyền tham
gia vào điều hành hoạt động của mạng lưới, cho nên có nhiều nhà đầu tư nước
ngoài không thỏa mãn với hình thức đầu tư này Khi môi trường luật pháp của
Trang 38lý của khu vực và thế giới, khả năng sẽ có nhiều hình thức hợp tác theo kiểu
liên doanh ra đời và như vậy nghĩa là vấn đề cạnh tranh đối với doanh nghiệp
trong nước sẽ khó khăn hơn vì có sự tham gia điều hành khai thác của các đối
thủ nước ngoài
- Việt Nam là thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế như
ASEAN, AFTA, APEC và đang trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, do đó các ràng buộc về mở cửa thị trường viễn thông là không
thể tránh khỏi Xu hướng mở cửa, hội nhập cùng với nhu cầu giao lưu páht
triển đã và sẽ có ảnh hưởng sâu sắc tới ựu phát triển của thị trường viễn thông
Việt Nam nói riêng Thị trường viễn thông Việt Nam cần phát triển để hạ tầng
cơ sở thông tin của Việt Nam ngang bằng với các nước trong khu vực và trên
thế giới, tránh tình trạng tụt hậu, đặc biệt là tụt hậu về hạ tầng thông tin
- Trong tương lai, Chính phủ sẽ cho phép các công ty nước ngoài đầu tư
kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông và dự kiến đến năm 2006, Hiệp định
Thương mại Việt-Mỹ được ký kết, các tập đoàn viễn thông lớn của Mỹ và các
nước sẽ đầu tư vào Việt Nam thì đây sẽ là cơ hội để Việt Nam tiếp cận với
những công nghệ tiên tiến nhất, học tập kinh nghiệm kinh doanh của các tập
đoàn viễn thông lớn, nhưng đi đôi với nó cũng sẽ là sự cạnh tranh khốc liệt,
nguy cơ chiếm thị phần là hoàn toàn có thể xảy ra Vì vậy, VNPT/VTI cần có
sự chuẩn bị trước với vấn đề này
- Hiện tại, việc quản lý giám sát các tỏa thuận kết nối giữa các nhà khai
thác cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình kinh doanh của VNPT/VTI Việc giải
quyết vấn đề cước kết nối một cách công bằng cho các bên doanh nghiệp tại
Việt Nam đang phụ thuộc rất nhiều vào Bộ Bưu chính, Viễn thông Trong giai
đoạn cạnh tranh hiện nay, không chỉ VNPT mà cả những daonh nghiệp mới
tham gia thị trường đều gặp rất nhiều bức xúc trong giải quyết vấn đề kết nối
mạng do có sự giám sát của Bộ Bưu chính, Viễn thông với quyền định ra mức
cước kết nối
Trang 39- Tình hình chính trị ở Việt Nam ổn định, cơ chế chính sách của Chính
phủ luôn giành ưu tiên cho phát triển lĩnh vực Viễn thông và Công nghệ thông
tin, đồng thời cũng sẽ có bảo hộ nhất định cho ngành viễn thông trong nước
Đây là một cơ hội tốt cho VNPT
Về quan hệ quốc tế, Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các quốc
gia trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, hợp tác bình
đẳng, đôi bên cùng có lợi Trên cơ sở đó, chúng ta đã thiết lập ngoại giao và
kinh tế với phần lớn các nước trên thê giới Kim ngạch buôn bán hai chiều
giữa Việt Nam và các nước luôn tăng trưởng, đặc biệt là thị trường Mỹ Tuy
nhiên, trong thời gian gần đây, một tòa án Mỹ tại New York đã bác bỏ đơn
kiện của phía Việt Nam về việc Mỹ đã sử dụng chất độc màu da cam trong
cuộc chiến tranh ở Việt Nam Bên nguyên đơn đã yêu cầu được công ty sản
xuất ra loại hóa chất đó bồi thường, vì những hậu quả của nó để lại là những
đứa trẻ mới sinh ra bị khuyết tật hay ung thư Hóa chất làm rụng lá được sử
dụng trong suốt cuộc chiến tranh nhằm san bằng sự che phủ của các cánh
rừng Mối quan hệ hai nước Việt-Mỹ đã có những bước tiến đáng kể từ sau
cuộc chiến tranh, mặc dù vụ việc lần này có thể làm xấu đi mối quan hệ tốt
đẹp của hai nước trong thời gian gần đây
2.1.3 Phân tích s ự ảnh hưởng của môi trường văn hóa - xã hội
Cùng với sự phát triển, tiên bộ của xã hội của loài người, sự phát triển
của Việt Nam đã làm cho đời sống của người dân ngày càng được cải thiện,
trình độ dân trí của Việt Nam được nâng cao không ngừng, mong muốn được
tiếp cận với nền văn minh nhân loại mà chỉ có sự phát triển vượt bậc của viễn
thông mới có khả năng đáp ứng được nhu cầu này Tỷ lệ hộ gia đình loại khá
và trung bình khá trở lên xét theo tiêu thức thu nhập sẽ tăng lên một cách
đáng kể Ngoài những nhu cầu thiết yếu để đảm bảo cuộc sống hàng ngày,
những nhu cầu cao cấp như các hoạt động vui chơi giải trí, các dịch vụ thông
Trang 40Theo dự đoán đến năm 2005, dân số của Việt Nam khoảng 90 triệu
người Đây là thị trường rộng lớn, là điều kiện thuận lợi để các nhà cung cấp
dịch vụ viễn thông khai thác
Thị hiếu của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng rất lớn Đa số người dân
Việt Nam vẫn có thói quen tiêu dùng các sản phẩm truyền thống, không thích
thay đổi đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông Tâm lý của người dân nhìn
chung là không thích mạo hiểm, sợ rủi ro, không thích thay đổi khi chưa thực
sự biết rõ về sản phẩm cạnh tranh trong khi sản phẩm mà họ đang sử dụng đã
tạo niềm tin nhất định VNPT là một tổng công ty lớn nhất nằm trong phạm vi
quản lý của Nhà nước và VTI là đơn vị trực thuộc, là đơn vị duy nhất được
giao nhiệm vụ quản lý, khai thác và phát triển thị trường viễn thông quốc tế
tại Việt Nam Do đó, việc khách hàng lựa chọn, sử dụng các dịch vụ viễn
thông quốc tế của VTI thay vì lựa chọn dịch vụ của các công ty khác mới
tham gia thị trường là điều tất yếu
Tuy nhiên, khi các sản phẩm mới ra đời với chất lượng phục vụ tốt hơn,
dịch vụ đa dạng hoặc giá thành rẻ hơn tương đối thì thói quen này sẽ thay đổi
VNPT/VTI cần lường trước được điều này để có giải pháp khắc phục hiệu
quả
2.1.4 Phân tích sự ảnh hưởng của môi trường kỹ thuật và công nghệ
Trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam nói chung chưa phát triển,
tuy nhiên mạng viễn thông Việt Nam đã được Chính phủ cho phép đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại so với các nước trong khu vực
Năm 2003, Việt Nam là nước được đánh giá là nước có thị trường viễn thông
phát triển nhanh thứ hai trên thế giới Tuy vậy xét về chỉ số tiếp cận công
nghệ số (Digital Access Index - DAI), Việt Nam đạt 0,31, được xếp thứ 122
trong số 178 nước
Viễn thông là một trong những lĩnh vực có thay đổi về công nghệ một
cách nhanh chóng VNPT/VTI với lợi thế về vốn và kinh nghiệm phát triển