1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận hai bà trưng

75 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 682,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay, những mục đích, yêu cầu đặt ra trong quá trình thực thi chức năng quản lý của nhà nước đối với DNVVN cần hướng vào các nội dung sau: + Tạo điề

Trang 1

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NguyÔn Minh DuÖ

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cam đoan 5

Danh mục các từ viết tắt 6

Danh mục bảng biểu 7

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 11

1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp nói chung 11

1.1.1 Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế 11

1.1.1.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn 11

1.1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1

1.1.1.3 Công ty cổ phần 11

1.1.1.4 Công ty hợp danh 12

1.1.1.5 Doanh nghiệp tư nhân 12

1.1.1.6 Nhóm công ty 12

1.2 Khái niệm về DNVVN 12

1.3 Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 15

1.4 Vai trò của DNVVN trong phát triển kinh tế 16

1.5 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với DNVVN 16

1.6 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với DNVVN 18

1.7 Nội dung quản lý nhà nước đối với DNVVN 20

Tóm tắt chương I 25

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ

TRƯNG 26

2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội 26

2.2 Khái quát tình hình phát triển DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 27

2.2.1 Hiện trạng các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 27

2.2.2 Về kết quả hoạt động 31

2.3 Công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 32

2.3.1 Đối với cấp Quận 32

2.3.2 Đối với cấp Phường 36

2.4 Những hạn chế về công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 36

2.5 Nguyên nhân của những hạn chế về công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 41

2.5.1 Về phân cấp quản lý nhà nước 41

2.5.2 Về tổ chức và cơ chế vận hành 43

2.5.3 Về hệ thống thông tin trong quản lý 45

2.5.4 Một số vấn đề khác 48

Tóm tắt chương II 48

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG 49

3.1 Quan điểm, chức năng và vai trò về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với DNVVN trên địa bàn quận 49

3.1.1 Quan điểm về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với DNVVN trên địa bàn quận 49

Trang 5

3.1.2 Chức năng quản lý nhà nước của chính quyền cấp Quận đối với

DNVVN trên địa bàn quận 50

3.1.3 Vai trò quản lý nhà nước của chính quyền cấp quận 52

3.2 Định hướng về đổi mới phân cấp chức năng quản lý của thành phố Hà Nội cho cấp quận 53

3.3 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 59

3.3.1 Giải pháp 1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp từ phía chính quyền cấp trên của quận 59

3.3.1.1 Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp 59

3.3.1.2 Nội dung của giải pháp 60

3.3.1.3 Kỳ vọng của giải pháp 61

3.3.2 Giải pháp 2 Tăng cường phân cấp cho chính quyền cấp quận 61

3.3.2.1 Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp 61

3.3.2.2 Nội dung của giải pháp 61

3.3.2.3 Kỳ vọng của giải pháp 62

3.3.3 Giải pháp 3 Cải tiến sự phối hợp kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối DNVVN trên địa bàn quận 62

3.3.3.1 Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp 62

3.3.3.2 Nội dung của giải pháp 62

3.3.3.3 Kỳ vọng của giải pháp 64

3.3.4 Giải pháp 4 Tiếp tục nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ công chức trong bộ máy chính quyền quận để thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với DNVVN 64

3.3.4.1 Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp 64

3.3.4.2 Nội dung của giải pháp 64

3.3.4.3 Kỳ vọng của giải pháp 66

3.3.5 Giải pháp 5 Hoàn thiện hệ thống thông tin trong quản lý của chính quyền quận đến các chủ thể DNVVN trên địa bàn 67

Trang 6

3.3.5.1 Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp 67

3.3.5.2 Nội dung của giải pháp 68

3.3.5.3 Kỳ vọng của giải pháp 69

Tóm tắt chương III 70

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Nguyễn Hoành Dũng, học viên lớp cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh - trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội - Khóa học 2011A Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu, kết quả phân tích, đánh giá trong bản luận văn này là dựa vào thực tế và những phân tích của cá nhân tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về mọi vấn đề liên quan tới nội dung đề tài này

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng DNVVN hàng năm trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 27

Bảng 2.2 DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng phân theo ngành kinh tế 28

Bảng 2.3 DNVVN phân bố theo địa bàn 29

Bảng 2.4 Vốn của DNVVNtrên địa bàn quận Hai Bà Trưng 30

Bảng 2.5 Lao động trong các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng qua các năm 30

Bảng 2.6 Doanh thu của các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 31

Bảng 2.7 Tình hình thu ngân sách của các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 31

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt là những minh chứng rõ nét cho nhận định đó

Thời gian qua, DNVVN đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh

tế nhiều thành phần, tạo công ăn việc làm cho người lao động, huy động tối đa nguồn lực trong cộng đồng dân cư góp phần thực hiện tốt các mục tiêu chung của

xã hội Thực tế hiện nay, DNVVN được đánh giá là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả và năng động, thích ứng nhanh với yêu cầu của thị trường và ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân

Trong các yếu tố đóng góp vào sự phát triển của DNVVN thời gian qua có vai trò hết sức quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước Thông qua việc định hướng và sử dụng các công cụ quản lý, Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý cho sự ra đời, khuyến khích, hỗ trợ và quản lý các hoạt động của DNVVN một cách có hiệu quả

Thời gian qua trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, các DNVVN phát triển mạnh

mẽ về số lượng cũng như quy mô, lĩnh vực sản xuất và đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của Quận Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, DNVVN còn gặp nhiều khó khăn về thủ tục hành chính, vốn, mặt bằng sản xuất, kỹ thuật công nghệ… và cũng bộc lộ các hạn chế tiêu cực như: hoạt động sản xuất kinh doanh trái pháp luật, kinh doanh không đúng đăng ký, trốn lậu thuế đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh

Từ các khó khăn, hạn chế của các DNVVN, vấn đề đặt ra là cần có các chính sách từ phía Nhà nước nhằm tháo gỡ các khó khăn cho các DNVVN đồng thời quản lý hoạt động của loại hình doanh nghiệp này theo định hướng và mục tiêu đề

ra Đây là vấn đề được các cấp chính quyền quận Hai Bà Trưng rất quan tâm

Trang 11

Xuất phát từ lý do đó, học viên chọn đề tài “Tăng cường công tác quản lý

nhà nước với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng” làm nội

dung nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với sự phát triển DNVVN

- Phân tích thực trạng quản lý của nhà nước với DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là nhiệm vụ quản lý

nhà nước của các đơn vị chức năng thuộc quận đối với DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng làm đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với DNVVN bao hàm nhiều nội

dung Tuy nhiên trong nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung vào các nội dung sau: Các vấn đề về cấp đăng ký kinh doanh; Các chính sách của nhà nước nhằm, khuyến khích, hỗ trợ DNVVN; Công tác thanh kiểm tra hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước với DNVVN

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Trong nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích kinh tế, thống kê, đối chứng so sánh

5 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

nhỏ

Trang 12

Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp nói chung

1.1.1 Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Căn cứ pháp lý để xác định các loại hình DN trong nền kinh tế của nước ta đến thời điểm nghiên cứu là Luật Doanh nghiệp năm 2005,

có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006 Các loại hình Doanh nghiệp bao gồm:

1.1.1.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;

Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào Doanh nghiệp;

Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của luật Doanh nghiệp

1.1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Là Doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

1.1.1.3 Công ty cổ phần

Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào Doanh nghiệp;

Trang 14

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật Doanh nghiệp

1.1.1.4 Công ty hợp danh

Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

1.1.1.5 Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của Doanh nghiệp

1.1.1.6 Nhóm công ty

Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau

về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác

1.2 Khái niệm DNVVN

Trong nền kinh tế, nếu dựa vào quy mô hoạt động của các DN có thể chia

DN thành 2 loại: DN lớn, DNVVN

Các DNVVN là loại hình DN phổ biến ở hầu hết các nước

Ở nước ta, tuỳ theo điều kiên và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô DN Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNVVN giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô

DN và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu thức phân loại DNVVN nhưng nhìn chung nó có các nội dung:

Trang 15

- Là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân

- Vì mục đích lợi nhuận

- Có quy mô trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức: vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng, những tiêu thức phân loại DNVVN được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển, hỗ trợ DNVVN của các Chính phủ

DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức về vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia

DNVVN là những doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu tập thể, sở hữu gia đình, sở hữu hỗn hợp

Ở Việt Nam, DNVVN được xác định là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10

tỷ đồng và số lao động từ 10 đến 50 (đối với doanh nghiệp nhỏ) và từ trên 10 tỷ đến dưới 50 tỷ đồng và số lao động từ 50 đến 100 người

Về cơ bản, DNVVN có nhiều ưu thế so với các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác, đó là:

- Dễ dàng thành lập doanh nghiệp vì đòi hỏi ít vốn, diện tích mặt bằng không nhiều, các điều kiện sản xuất đơn giản, có thể tận dụng được các tư liệu sản xuất thô

sơ, có sẵn

- Nhạy cảm với những thay đổi của thị trường

- Dễ dàng thay đổi mặt hàng, thay đổi thiết bị kỹ thuật và công nghệ

- Quản lý đơn giản, gọn nhẹ

Bên cạnh những ưu thế, DNVVN thường gặp khó khăn nhiều mặt, trong đó tập trung vào các mặt sau:

Thứ nhất, thiếu vốn: DNVVN gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở

rộng sản xuất tuy mức độ không giống nhau Thị trường cung ứng vốn cho DNVVN chủ yếu là thị trường tài chính không chính thức, các doanh nghiệp thường phải vay

Trang 16

với lãi suất cao, vay vốn của thân nhân, bạn bè, ít được tiếp cận đến vốn tín dụng chính thức của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Tình trạng thiếu vốn của DNVVN có nhiều nguyên nhân, trong đó chú ý là:

- Hệ thống tín dụng ngân hàng chưa tiếp cận với cầu của loại hình doanh nghiệp này vì nguồn vốn bị phân tán, chi phí vay lớn, khó đòi nợ, độ rủi ro cao

- Nhiều DNVVN không có khả năng đáp ứng đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục lập dự án, thủ tục thế chấp và điều kiện lãi suất

- Một số chủ DNVVN không muốn vay vốn ngân hàng vì như vậy khó trốn nghĩa vụ nộp thuế nên thường vay của tư nhân

- Trình độ kinh doanh yếu, rủi do lớn nên khó tích tụ vốn và khó trả nợ ngân hàng

Thứ hai, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ yếu

Trình độ trang thiết bị máy móc và công nghệ của DNVVN nói chung là yếu kém, lạc hậu Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị thấp và nhiều DNVVN sử dụng thiết bị thải loại của các doanh nghiệp nhà nước, thiết bị chế tạo trong nước hoặc tự chế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp Đáng chú ý là các trang thiết bị và công nghệ của các DNVVN thiếu trang bị xử lý môi trường như tiếng ồn, bụi, chất thải… nên thường gây ô nhiễm môi trường xung quanh, có hại tới sức khoẻ của người lao động

và người dân trong vùng

Thứ ba là, trình độ tay nghề của người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý thấp

Lao động trong các DNVVN chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá thấp Ở nước ta, theo số liệu điều tra chỉ có khoảng 30% lao động trong khu vực có trình độ đại học Phần lớn chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo, khoảng 48% chủ doanh nghiệp không có bằng cấp chuyên môn, chỉ

có 31% số chủ doanh nghiệp có trình độ từ cao đẳng trở lên Khó khăn lớn nhất đối với đội ngũ doanh nhân của DNVVN là trình độ và kỹ năng quản trị kinh doanh yếu, thiếu cơ bản và lúng túng trước biến động thị trường

Trang 17

Thứ tư là, thị trường hạn hẹp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá thấp

Do nước ta có 80% dân số sống ở nông thôn, có nhu cầu khiêm tốn về chất lượng hàng hóa là điều kiện thuận lợi về thị trường cho DNVVN Tuy nhiên, thị trường này bị thu hẹp do sức mua của nông dân là quá thấp Do trang thiết bị thấp, công nghệ lạc hậu nên các sản phẩm, hàng hoá chưa có chất lượng cao, mẫu mã không đa dạng, chưa cạnh tranh được mạnh trên khu vực, do vậy chưa thể xuất khẩu được nhiều

1.3 Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

Theo quan điểm mác-xít, chế độ sở hữu tư nhân ra đời là kết quả phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung của phát triển xã hội loài người Theo đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất - thể hiện sự chinh phục tự nhiên của con người và tính chất của lực lượng sản xuất phát triển từ tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hoá Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Sự tồn tại trên thực tế của các kiểu tổ chức sản xuất, loại hình Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (xét về mặt quan hệ sản xuất) thích ứng với trình độ, năng lực và quy mô sản xuất khác nhau (xét về mặt lực lượng sản xuất) ở mỗi ngành, khu vực, Doanh nghiệp trong nền kinh tế, tồn tại trong sự đa dạng về quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Theo đó, các Doanh nghiệp xuất hiện, tồn tại và phát triển với các hình thức biểu hiện đa dạng, phong phú và mang tính khách quan

Nhìn nhận từ góc độ quy luật lợi nhuận và yêu cầu hiệu quả kinh tế, các DNVVN xuất hiện và tồn tại với mọi quy mô từ nhỏ đến lớn nhằm kiếm tìm các lợi ích, chủ yếu là giá trị thặng dư Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, sản xuất giản đơn vì kế sinh tồn, kinh tế tư nhân được biểu hiện ở hình thức các hộ sản xuất

Trang 18

cá thể Với sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh

tế tư nhân biểu hiện ở hình thức tổ chức sản xuất mới là Doanh nghiệp có quy mô lớn hơn và tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn các hộ cá thể, hoạt động theo quy luật tái sản xuất mở rộng Tuy nhiên, vì lợi nhuận hay tính vụ lợi mà các Doanh nghiệp phát triển tự phát và bằng mọi giá Sự tồn tại và phát triển của các Doanh nghiệp này có lợi cho sự cạnh tranh, làm nảy sinh cơ chế khuyến khích giữa các tác nhân tham gia trong nền kinh tế và thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Theo lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại, sự phát triển của các Doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của kinh tế thị trường Sự phát triển của kinh tế thị trường có thể được phân tích từ các khía cạnh: sự phân công lao động xã hội, quá trình lưu chuyển hàng hoá và thể chế, cơ chế của giao dịch thị trường Từng cá nhân

và hộ gia đình, những chủ thể tham gia thị trường, từng bước chuyển đổi từ trạng thái tự cung tự cấp sang phân công và đa dạng hoá nghề nghiệp, đa dạng hoá các ngành kinh tế, chuyên môn hoá trong nghề quản trị Doanh nghiệp để mua các yếu tố sản xuất ngoài gia đình, bắt đầu phát triển thành các tổ chức kinh doanh phức tạp hơn Doanh nghiệp được hoàn thiện không ngừng với tư cách là chủ thể thị trường Vai trò chủ thể thị trường của Doanh nghiệp được xác định rõ bởi việc đảm bảo trước pháp luật về quyền tài sản, thực thi hợp đồng và các lợi ích của Doanh nghiệp Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy mô hình tổ chức Doanh nghiệp vẫn tiếp tục là mô hình tổ chức kinh tế có hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường hiện đại

Như vậy, các DNVVN tồn tại và phát triển là tất yếu khách quan Khi có chính sách đúng đắn khuyến khích các Doanh nghiệp này sẽ tạo ra những luồng đầu

tư mới, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.4 Vai trò của DNVVN trong phát triển kinh tế

Với các đặc điểm thuận lợi riêng của mình, các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Trong những năm qua, DNVVN đã có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển chung của đất nước

Trang 19

Thứ nhất, các DNVVN góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế

Theo số liệu thống kê đánh giá thì giá trị sản phẩm hàng hoá của các DNVVN cả nước chiếm gần 24% GDP DNVVN tạo ra khoảng 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 70% tổng mức bán lẻ, gần 100% giá trị sản phẩm hàng hoá của một số ngành nghề như may gia công, hàng thủ công mỹ nghệ… Do số lượng các DNVVN tăng nhanh, đa dạng nên sản phẩm, mặt hàng phong phú, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, tính cạnh tranh tăng lên làm cho chất lượng hàng hoá và dịch vụ nâng cao

DNVVN góp phần khai thác tiềm năng đất nước để phát triển kinh tế như tài nguyên, lao động, vốn thị trường, đặc biệt là tay nghề truyền thống tinh xảo trong nhân dân Nhờ phát huy lợi thế của DNVVN nên thời gian qua, tốc độ phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân, trong đó chủ yếu là DNVVN đạt khá cao

Thứ hai, các DNVVN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

DNVVN chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nên đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ Ngoài sự đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước chủ chốt, có

sự đóng góp tích cực của DNVVN

Điều quan trọng là các DNVVN phát triển ở vùng nông thôn đã thu hút lao động nông nghiệp nông thôn sang hoạt động công nghiệp và dịch vụ, phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp tại địa phương, tận dụng lao động tại

chỗ

Thứ ba, các DNVVN góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, trước hết là tạo

công ăn việc làm và gia tăng thu nhập dân cư

Hàng năm nước ta có thêm khoảng 1,6 triệu người gia nhập lao động, (Theo thống kê, từ năm 2010 đến 2020, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam đạt giá trị cực đại, chiếm tới 63,4 triệu người trên tổng số 94,3 triệu dân tỷ lệ dân số phụ thuộc dưới 50%) và chủ yếu làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm

Trang 20

khoảng 20% lực lượng lao động trên cả nước Các DNVVN còn thu hút các lao động bị loại của các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Lao động trong các DNVVN thường có thu nhập cao hơn nhiều

so với thu nhập của lao động nông nghiệp do vậy đây là biện pháp hữu hiệu thu hút lao động nhàn rỗi và lao động nông nghiệp sang làm việc trong các doanh nghiệp và đây là một giải pháp xoá đói giảm nghèo thiết thực và hiệu quả trong nông thôn hiện nay

1.5 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với DNVVN

- Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước vào các hoạt động của nền kinh tế quốc dân bằng cơ chế, chính sách và các công cụ quản lý khác Trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta, Đảng và Nhà nước đã vận dụng tốt các quy luật kinh tế để tác động lên các đối tượng của quản lý nhằm điều chỉnh hỗ trợ và định hướng cho các thành phần kinh tế phát triển

Doanh nghiệp nói chung, DNVVN nói riêng cũng là đối tượng của hoạt động quản lý của nhà nước Nhà nước thông qua một hệ thống chính sách và các công cụ kinh tế tác động vào hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

- Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với DNVVN

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy quản

lý nhà nước đối với nền kinh tế là rất quan trọng Nếu tạo dựng cơ chế và các chính sách phù hợp sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế và ngược lại

Với đặc điểm nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền nông nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu, các hoạt động công nghiệp, dịch vụ còn kém phát triển, do vậy cơ chế quản lý nhà nước ta phải có những đặc thù riêng, phù hợp với đặc điểm kinh tế -

Trang 21

chính trị - xã hội riêng của mình Điều đó đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước phải dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế, phải xuất phát từ thực tiễn, hướng tới mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, phải có cơ chế và các chính sách phù hợp với từng giai đoạn để tránh sai định hướng, lệch mục tiêu đã xác định

Nói chung, công tác quản lý nhà nước đối với các DNVVNcó vai trò rất quan trọng

Hoạt động quản lý nhà nước là nhằm tạo môi trường và điều kiện cho các DNVVN phát triển hiệu quả nhất, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Định hướng ưu tiên phát triển DNVVN của Đảng và nhà nước ta là định hướng đúng đắn, phù hợp đặc biệt với tình hình và bối cảnh Việt Nam Tuy nhiên,

do những hạn chế của hệ thống DNVVN nên Nhà nước cần có cơ chế và các chính sách nhằm kích thích, hỗ trợ các DNVVN nhiều mặt như về mặt bằng sản xuất, về vốn, về chính sách thuế, về đào tạo nhân lực…

Việc vận hành cơ chế quản lý nhà nước ở nước ta đối với nền kinh tế nói chung, DNVVN nói riêng không nằm ngoài những nguyên lý cơ bản về vai trò quản

lý nhà nước nói chung, nó còn có những đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội riêng biệt

Từ thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay, những mục đích, yêu cầu đặt ra trong quá trình thực thi chức năng quản lý của nhà nước đối với DNVVN cần hướng vào các nội dung sau:

+ Tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các DNVVN nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, tạo thêm công ăn việc làm cho các tầng lớp nhân dân, nhất là các nông dân chuyển đổi ngành nghề, tận dụng được lao động nhàn rỗi trong dân cư, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân để từng bước chuyển nền kinh tế nước ta từ nước kém phát triển lên phát triển ổn định vững chắc theo hướng CNH, HĐH

Trang 22

+ Phát triển các DNVVN nhằm tập trung, huy động nguồn vốn đa dạng trong dân cư, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội

Thực tế cho thấy, sự đóng góp của các DNVVN vào nền kinh tế các nước cũng như Việt Nam là không nhỏ, nó hỗ trợ thúc đẩy sự liên kết các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế càng phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn

Đảng và Nhà nước ta cũng đã có quan điểm rõ về vấn đề phát triển kinh tế, phát triển nội lực gắn liền với hội nhập quốc tế, đây là hai mặt song song nhau cùng tồn tại, phát triển DNVVN là phát triển nội lực tuy nhiên bên cạnh đó việc liên kết với các doanh nghiệp bên ngoài, kể cả các doanh nghiệp nước ngoài luôn được tạo điều kiện bởi việc xây dựng nền kinh tế tự chủ chẳng những không đối lập với việc hội nhập kinh tế thế giới và ngược lại, kinh tế có tự chủ vững mạnh thì hội nhập kinh tế mới có hiệu quả

1.6 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với DNVVN

Việc tổ chức quản lý DNVVN nhằm những mục tiêu sau:

- Đảm bảo quyền tự do kinh doanh của DNVVN; tạo điều kiện thuận lợi cho DNVVN thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;

- Phản ánh kịp thời và chính xác các thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật;

- Phát hiện và xử lý kịp thời những DNVVN trong quá trình hoạt động có hành vi vi phạm pháp luật;

- Đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản

lý hoạt động kinh doanh của DNVVN

1.7 Nội dung quản lý nhà nước đối với DNVVN

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung, đối với DNVVN nói riêng là một trong những chức năng hết sức quan trọng của nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của doanh nghiệp và định hướng hoạt động của các

Trang 23

doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật

Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các DNVVN, nhà nước thường sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó việc ban hành các văn bản pháp luật, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và nhiều chính sách khác

Nội dung quản lý nhà nước với DNVVN bao gồm các vấn đề sau:

- Quản lý đăng ký kinh doanh

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp là nhằm thực hiện đúng quyền tự do kinh doanh hợp pháp của mọi công dân trong xã hội theo các quy định của pháp luật, qua đó huy động các tiềm năng, nguồn lực đầu tư cho quá trình phát triển của địa phương

Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng đơn giản nhưng chặt chẽ và tạo khả năng kiểm tra, giám sát của nhà nước là yêu cầu cấp thiết hiện nay Đồng thời, việc hướng dẫn cho các đối tượng có nhu cầu đầu tư thành lập doanh nghiệp về các điều kiện thành lập cũng như một số nội dung tổ chức, điều hành doanh nghiệp của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ góp phần tạo điều kiện cho các DNVVN ra đời và hoạt động có hiệu quả

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, giải pháp cụ thể

nhằm khuyến khích, hỗ trợ các DNVVN phát triển phù hợp với định hướng mục tiêu

phát triển của địa phương trong từng giai đoạn phù hợp với đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp

Hoạt động quản lý nhà nước với DNVVN không chỉ nhằm thực hiện mục đích riêng có của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn thỏa mãn nhu cầu của DNVVN phát sinh trong quá trình hoạt động doanh nghiệp, đó là nhu cầu nâng cao khả năng tự điều chỉnh

Nâng cao khả năng tự điều chỉnh là nhu cầu khách quan, cần thiết, xuất hiện trong tình huống năng lực hoạt động doanh nghiệp thấp hơn yêu cầu năng lực cần

Trang 24

có để tranh thủ thời cơ kinh doanh hoặc giải tỏa các áp lực Trong tình trạng đó, doanh nghiệp rất cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài, hoặc từ nhà nước, hoặc từ thị trường ngầm, từ các quan hệ kinh doanh, phi kinh doanh để nâng năng lực sản xuất, năng lực tự điều chỉnh Nguồn hỗ trợ chắc chắn ổn định, an toàn và hiệu quả hơn cả chính là nguồn hỗ trợ nhà nước

Do vậy việc nhà nước thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cũng chính để trước hết đáp ứng những nhu cầu thiết thực, trực tiếp liên quan đến nội dung phát triển doanh nghiệp Mặt khác, hỗ trợ cũng là hoạt động cần thiết để các doanh nghiệp có đủ điều kiện năng lực thực hiện nội dung định hướng phát triển kinh tế của địa phương

Như vậy, hoạt động khuyến khích, hỗ trợ của nhà nước với DNVVN một mặt là yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra, nhưng mặt khác cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của DNVVN

+ Xây dựng và ban hành các quy chế về các lĩnh vực hoạt động hỗ trợ DNVVN của các cơ quan nhà nước, các hiệp hội, các trung tâm tư vấn…; Tạo điều kiện và khuyến khích thành lập các trung tâm hỗ trợ DNVVN về các mặt như hỗ trợ pháp lý, công nghệ…

+ Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy chế về liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp

Trang 25

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến việc hỗ trợ và khuyến khích phát triển doanh nghiệp nói chung, DNVVN nói riêng nhằm khơi dậy mong muốn làm giàu đúng pháp luật của các tầng lớp dân cư, qua đó huy động và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực đa dạng xã hội cho đầu tư phát triển Đồng thời, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết các DNVVN với nhau, giữa DNVVN với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế nhằm phát huy mặt tích cực của mỗi loại hình doanh nghiệp tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

- Tổ chức và thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các DNVVN

Kiểm tra, thanh tra là hoạt động tất yếu của quản lý nhà nước Kiểm tra, thanh tra đối với các DNVVN nhằm phát triển hệ thống DNVVN đúng định hướng

Đối với các DNVVN, kiểm tra, thanh tra là cơ sở xác lập trật tự kỷ cương trong kinh doanh, đảm bảo môi trường kinh doanh, bình đẳng cho các doanh nghiệp, giúp các DNVVN đánh giá, phát hiện những nội dung không phù hợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Đồng thời, kiểm tra, thanh tra cũng là cơ sở đánh giá kết quả thực hiện các nội dung định hướng, hỗ trợ DNVVN ở các giai đoạn, từ đó xác định các nội dung điều chỉnh cần thiết trong các nội dung quản lý

Để thực hiện chức năng này, các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp chính quyền cần:

+ Theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của các DNVVN qua đó phân tích nhận định đề xuất các biện pháp xử lý những vi phạm;

+ Xây dựng, hoàn chỉnh và công khai bộ thủ tục hành chính của các bộ ngành liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, tránh hiện tượng gây phiền hà, nhũng nhiễu;

+ Xây dựng và ban hành các quy định, quy chế về kiểm tra, thanh tra, quy chế về sự phối hợp của các ngành quản lý liên quan với các cơ quan chức năng và tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt

Trang 26

động kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, xây dựng, ban hành các chế tài xử lý các trường hợp DNVVN vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ thực trạng và xu thế phát triển của nền kinh tế, từ những cơ hội, thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các doanh nghiệp ở nước ta, trong đó có các DNVVN thì việc tăng cường và nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với DNVVN là một yêu cầu cấp thiết Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương cũng như cả nước

Trang 27

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Qua nghiên cứu sơ sở lý luận, hệ thống hóa các quy định hiện hành của Nhà nước về công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nội dung Chương I đã trình bầy được khái quát các nội dung về khái niệm Doanh nghiệp, phân chia các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế của nước ta theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2005 Nêu được khái niệm về DNVVN, phân tích các dấu hiệu đặc thù về ưu điểm và nhược điểm của loại hình DNVVN Phân tích và chỉ rõ

cơ sở thực tế và cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Với các đặc điểm thuận lợi riêng của mình, trong những năm qua các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, đóng góp đáng kể trong sự phát triển chung của đất nước

Trong chương I, tác giả cũng nêu lên được các nội dung liên quan đến sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với DNVVN Tổng hợp, nêu ra các mục tiêu liên quan đến việc quản lý Nhà nước đối với DNVVN như: quản lý Nhà nước nhằm mục tiêu đảm bảo thuận lợi, bình đẳng trong kinh doanh của DNVVN, đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản lý hoạt động kinh doanh, mục tiêu, và xử lý kịp thời những DNVVN trong quá trình hoạt động có hành vi vi phạm pháp luật… và khẳng định về mặt cơ sở pháp lý các nội dung liên quan đến việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung, đối với DNVVN nói riêng là một trong những chức năng hết sức quan trọng của nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của doanh nghiệp và định hướng hoạt động của các doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Quận Hai Bà Trưng, Thành phố

Hà Nội

Quận Hai Bà Trưng với diện tích hơn 10 km2, gồm có 20 phường, là một trong những quận lớn nhất trên địa bàn nội thành Hà Nội, nằm ở phía Đông - Nam thủ đô, phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm, phía Đông giáp huyện Gia Lâm, phía Tây giáp quận Đống Đa, phía Nam giáp huyện Thanh Trì

Là cửa ngõ phía Nam thủ đô, trên địa bàn quận có các tuyến giao thông Đường vành đai 1 và 2, đường sắt Bắc - Nam

- Cảng Hà Nội có diện tích 20 ha, công suất 300.000 đến 350.000 tấn/năm với các tuyến vận tải đi Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Việt Trì, Hải Dương, Hưng Yên Quận Hai Bà Trưng là quận nội thành duy nhất có thể phát triển cảng sông phục vụ cho bốc dỡ và chuyên chở hàng hóa lớn theo đường thuỷ của Thành phố

- Trên địa bàn quận có hệ thống giao thông tĩnh bao gồm các điểm trông giữ

xe với tổng diện tích 50.000m2 bố trí dọc theo lòng đường hoặc nửa lòng đường - nửa trên hè phố; Bãi đỗ xe tải hai bên hè đường Tam Chinh, Kim Ngưu và khu vực gần cảng Hà Nội; Bến xe khách liên tỉnh phía Nam có diện tích 30.000m2 nằm ở vị trí liên hệ thuận tiện với ga Giáp Bát và các tuyến giao thông công cộng; Phía Bắc quận bến xe Lương Yên đảm nhận vận chuyển hành khách và hàng hóa đi các tỉnh Quận Hai Bà Trưng là quận nội thành phía Nam giáp Thanh Trì, Hoàng Mai có thể

mở rộng diện tích phát triển đô thị và những cụm công nghiệp, đầu mối giao lưu kinh tế giữa Hà Nội với các tuyến miền Trung và các tỉnh phía Nam của đất nước Trên địa bàn quận hiện có 2 công viên lớn là công viên Thống Nhất và Tuổi trẻ với nhiều hoạt động vui chơi giải trí Quận Hai Bà Trưng còn có 91 di tích, trong đó

Trang 29

24 di tích đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng Đây là những điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động văn hoá mang bản sắc dân tộc tạo khả năng thu hút khách du lịch thập phương

Như vậy, với vị trí địa lý thuận lợi, quận Hai Bà Trưng có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế-xã hội nói chung và loại hình DNVVN nói riêng so với một số quận nội thành khác ở Hà Nội

Những thành tựu kinh tế - xã hội đạt được của quận Hai Bà Trưng có sự đóng góp không nhỏ của các DNVVN trên địa bàn

2.2 Khái quát tình hình phát triển các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

2.2.1 Hiện trạng các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng năm 2008, có 1.253 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Năm 2009 có 1.346 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Năm 2010 có 1.287 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Năm 2011 có 1.105 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Năm 2012 có 1.021 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Như vậy, tính đến hết năm 2011 tổng số DNVVN đăng ký hoạt động trên địa bàn quận là 6.012 doanh nghiệp

Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng cho thấy đây là khu vực phát triển rất năng động trong số các thành phần kinh tế

Bảng 2.1 Số lượng DNVVN hàng năm trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

Trang 30

Về lĩnh vực hoạt động, các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp và thương mại, dịch vụ Điều này có nguyên nhân là do quận Hai Bà Trưng là một trong những quận nội thành cũ, có tốc

độ đô thị hóa cao, dân số đông Mặt khác, trong những năm 2008 đến 2010 số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động tăng đột biến do vào thời điểm ấy nên, nền kinh tế của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đang tăng trưởng cao đồng thời, trên địa bàn quận có trung tâm thương mại VINCOM đi vào hoạt động nên số lượng các doanh nghiệp đăng ký hoạt động đã tăng nhanh

Bảng 2.2 DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng phân theo ngành kinh tế

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Số lượng DNVVN trong các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp giảm dần trong từng năm bởi vì Quận triển khai thực hiện chủ trương di chuyển các nhà máy, các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi nội thành, Tất cả các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ tại phường Thanh Lương, Trương Định, Vĩnh Tuy…trên địa bàn quận đều dừng sản xuất và di chuyển cơ sở ra ngoài ngoại thành Thay vào đó

là các ngành thương mại, vận tải, y tế, văn hóa giáo dục, khách sạn nhà hàng có chiều hướng gia tăng

Trang 31

Bảng 2.3 DNVVN phân bố theo địa bàn

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Thực tế đó cho thấy, tại địa bàn các phường nằm ở phía Bắc của Quận là các phường thuộc khu vực khu phố cũ, phố cổ có điều kiện kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng, đường giao thông phát triển thì các doanh nghiệp đăng ký hoạt động và đặt trụ

Trang 32

sở làm việc tại khu vực này phát triển nhanh Các phường còn lại của Quận Hai Bà Trưng nằm ở khu vực ngoài đường vành đai 1, tuy đất đai rộng nhưng điều kiện kinh tế xã hội, hạ tầng cơ sở đường giao thông kém phát triển nên DNVVN phát triển khiêm tốn Tuy nhiên những năm gần đây, với chính sách di chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực nội thành, tốc độ đô thị hóa tăng mạnh nên số lượng doanh nghiệp DNVVN ở các khu vực này đã tăng lên

Bảng 2.4 Vốn đăng ký của DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Theo số liệu của biểu 2.4 ta thấy răng nguồn vốn đăng ký và doanh thu của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng đột biến vào các năm 2010 đến 2012 Lý do là trong thời kỳ này nền kinh tế của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đang tăng trưởng cao, các điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn quận Hai Bà Trưng cũng nằm trong su thế tăng trưởng này Nguồn vốn của các DNVVN tập trung đầu tư vào các ngành thương mại, dịch vụ và các doanh nghiệp xây dựng và đặc biệt tập trung vào các dự án xây dựng các khu đô thị sau khi đã thực hiện công tác di chuyển các nhà máy sản xuất ra khỏi nội thành

Bảng 2.5 Lao động trong các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng qua

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Số lao động trong các DNVVN năm 2010 là 27.060 người, là năm có số lao động đông nhất, nó đồng nghĩa với việc số lượng doanh nghiệp được thành lập mới

Trang 33

nhiều và nền kinh tế năm 2010 phát triển mạnh nhất Sang đến năm 2011 và 2012,

số lượng lao động giảm do kinh tế của cả nước nói chung, của Hà nội nói riêng bị

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Về doanh thu của các DNVVN: Theo số liệu điều tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Doanh thu của các doanh nghiệp DNVVN tại quận Hai Bà Trưng đều tăng qua các năm Năm 2008 là 4.204 tỷ đồng, năm 2012 tăng lên 28.675 tỷ đồng Như vậy loại hình doanh nghiệp này của quận Hai Bà Trưng các năm gần đây sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Bảng 2.7 Tình hình thu ngân sách của các DNVVN trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

( Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Thực tế cho thấy trong ba năm gần đây các DNVVN trên địa bàn quận đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước Năm 2011 tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận là 2.300 tỷ đồng, riêng khối DNVVN đóng góp 1.153 tỷ, chiếm 50% (lý do: năm 2011 các doanh nghiệp di chuyển nhà máy ra khỏi nội thành và nộp tiền thuế sử dụng đất để chuyển đổi mục đích sử dụng

và xây dựng các khu đô thị như dệt 8/3, dệt Minh Khai, May Thăng Long…) Năm

Trang 34

2012 tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận là 4.001 tỷ đồng, khối DNVVN đóng góp 1.365 tỷ (chiếm 35%)

2.3 Công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng được thực hiện dựa theo quy định của luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành luật pháp, các chủ trương, chính sách của Nhà nước nói chung cũng như của thành phố Hà Nội

Hằng năm, nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội Quận Hai Bà Trưng đã ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho từng từng năm phù hợp với địa phương và có những chính sách, biện pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra Trong đó, việc khuyến khích các DNVVN phát triển là một trong những giải pháp quan trọng nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Điều đó, thể hiện những bước chuyển biến mới về nhận thức và hành động của các cấp chính quyền đối với sự phát triển của các DNVVN Đồng thời, để các DNVVN phát triển đúng định hướng, Quận Hai Bà Trưng cũng xác định rõ tầm quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước đối với các DNVVN trên địa bàn và có những chính sách cụ thể để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các DNVVN trên địa bàn Cụ thể:

2.3.1 Đối với cấp Quận

Quận đã sắp xếp lại bộ máy chính quyền cấp quận, phường theo quy định của Thành phố và quy định chức năng nhiệm vụ của từng phòng Các phòng phân công nhiệm vụ cho cán bộ trong phòng để thực hiện chức năng giúp quận quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các DNVVN trên địa bàn quận

Ví dụ như: Phòng Kinh tế: là đơn vị có chức năng nhiệm vụ theo quy định của Chính Phủ là tham mưu giúp UBND quận quản lý nhà nước đối với các DNVVN trên địa bàn quận các nội dung:

Trang 35

- Phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và văn bản pháp luật có liên quan; Hướng dẫn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm việc chấp hành các điều kiện kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước;

- Hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội

- Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

- Tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; kiểm tra, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường; bảo đảm

an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn vệ sinh lao động;

- Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý các hành

vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo phân cấp của Thành phố Hà Nội và theo các quy định của pháp luật

Chi Cục thuế quận Hai Bà Trưng có 245 cán bộ được chia thành 2 khối: khối thu thuế trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế và khối trực tiếp thu thuế ở các chợ và các phường trên địa bàn Quận triển khai thực hiện các nhiệm vụ

- Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;

- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền Quận về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;

Trang 36

- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật

- Kiến nghị với cấp có thẩm quyền những biện pháp, những phương án để thực hiện hoàn thành chỉ tiêu Thành phố giao

- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm

vi quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước

- Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế trên địa bàn;

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;

- Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước;

- Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế;

- Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;

Trang 37

- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế; lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của Cục thuế, của UBND quận và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục Thuế

- Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu nại,

tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của pháp luật

- Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan

- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế

Tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Quận đến năm 2020 Bản quy hoạch có thể giúp cho các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể định hướng phát triển kinh tế của mình theo quy định chung của Quận Hai Bà Trưng

Tổ chức các hội nghị chuyên đề về chính sách ưu đãi của Nhà nước về vốn làm cầu nối giữa các tổ chức tín dụng ngân hàng và các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc, đối thoại trực tiếp tháo gỡ khó khăn trong cơ chế vay vốn Tổ chức hội thảo bàn biện pháp phát triển sản xuất Thành lập Hội các nhà doanh nghiệp, câu lạc bộ doanh nghiệp nữ, Hội đồng Liên minh các hợp tác xã trên địa bàn Quận

Xây dựng kế hoạch và lựa chọn hình thức đào tạo giúp cán bộ chủ chốt trong các doanh nghiệp bồi dưỡng về chính trị, kiến thức và nghiệp vụ quản lý Tổ chức các lớp tập huấn về chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước

Phối hợp giữa các Phòng trực thuộc Quận và các Phòng chuyên ngành trong công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, nắm các thông tin về doanh nghiệp, về các hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Quận, tiến hành khảo sát tình hình cấp đăng ký kinh doanh, quản lý sử dụng đất đai, nhà xưởng,

Ngày đăng: 27/02/2021, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Đỗ Hoàng Toàn; PGS.TS Mai Văn Bưu, Chủ biên Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế. NXB lao động xã hội năm 2005 Khác
2. Lương Xuân Quỳ, chủ biên giáo trình Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. NXB lý luận chính trị, Hà Nội năm 2006 Khác
3. Nguyễn Cúc, chủ biên Giáo trình thể chế nhà nước đối với một số loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 4. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nhàxuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995 (Nxb.CTQG.HN) Khác
5. Luật Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. (Nxb. CTQG. HN) Khác
6. Luật Doanh nghiệp. (Nxb. CTQG. HN. 2005), 7. Luật Lao động. Nxb. (CTQG. HN. 2002) Khác
8. Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 của Chính Phủ về Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Khác
9. Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26/2/2010 của Chính Phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ 14/2008/NĐ-CP Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Khác
10. Nghị định số 43/2010/NĐ-chính phủ ngày 15/04/2010 Về đăng ký doanh nghiệp Khác
11. Nghị định số 37/2003/NĐ-chính phủ ngày 10/4/2003 Quy định xử phạt vi phạm hành chính về đăng ký kinh doanh Khác
13. Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 21/1/2010 của UBND thành phố Hà Nội về việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố Hà Nội Khác
15. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI. (Nxb.CTQG.HN) Khác
16. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XV. Nxb.Hà Nội Khác
17. Chi Cục thuế quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết công tác Thuế các năm 2008-2012 Khác
18. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Báo cáo về doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội Khác
19. Hội đồng nhân dân quận Hai Bà Trưng, Các Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của Quận các năm từ 2008-2012 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm