1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề tỉnh bến tre giai đoạn 2006 2020

115 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 915,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề sẽ định hướng được các ngành nghề đào tạo, quy mô đào tạo của các Trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề dể từ đó có biện pháp đầu tư, nâng cấp các Trường, tr

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI ĐÀO TẠO NGHỀ TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2006 – 2020

NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH MÃ SỐ :

PHẠM THỊ THANH THỦY

Người hướng dẫn khoa học : PGS, TS PHAN VĂN THUẬN

HÀ NỘI 2007

Trang 2

M ỤC LỤC

Trang

L ỜI CAM ĐOAN

M ỤC LỤC

L ỜI MỞ ĐẦU 01

PH ẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I M ỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGHỀ, ĐÀO TẠO NGHỀ, CÁC HÌNH TH ỨC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH H ƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ 1 Khái Niệm Về Nghề, Đào Tạo Nghề 5

2 Hệ Thống Đào Tạo Nghề Tại Việt Nam Và Xu Hướng Phát Triển 10

3 Hiệu Quả Kinh Tế Của Đào Tạo Nghề 15

4 Hệ Thống Tổ Chức Đào Tạo Nghề : Gồm 3 Hệ Thống Chính 16

5 Các Yếu Tố Aûnh Hưởng Đến Nhu Cầu Đào Tạo Cơng Nhân Kỹ Thuật19 II CÁC PH ƯƠNG PHÁP DỰ BÁO

1 Các Phương Pháp Dự Báo 29

2 Trình Tự Dự Báo 31

III QUY TRÌNH XÂY D ỰNG MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ CỦA TỈNH 1 Mục Tiêu Của Việc Quy Hoạch 34

2 Phạm Vi, Đối Tượng Quy Hoạch 34

3 Căn Cứ Và Biện Pháp Quy Hoạch 34

4 Quy Trình Thực Hiện Quy Hoạch 35

Trang 3

II DÂN S Ố – LAO ĐỘNG TỈNH BẾN TRE

1 Dân Số – Lao Động Tỉnh Bến Tre Giai Đoạn 2001 – 2005 43

2 Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động 45

3 Những Thuận Lợi Và Khĩ Khăn Của Tỉnh Bến Tre Aûnh Hưởng

Đến Hoạt Động Dạy Nghề 47

III TH ỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA TỈNH

B ẾN TRE

1 Hệ Thống Cơ Sở Dạy Nghề 48

2 Thực Trạng Năng Lực Các Cơ Sở Dạy Nghề 52

IV ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG QUA ĐÀO

T ẠO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH BẾN TRE

1 Hiện Trạng Sử Dụng Lao Động Tại Các Doanh Nghiệp Chia

Theo Trình Độ Chuyên Mơn Kỹ Thuật 62

2 Nhu Cầu Tuyển Dụng Của Các Doanh Nghiệp 64

3 Đánh Giá Hiện Trạng Sử Dụng Lao Động Qua Đào Tạo Của Các

Doanh Nghiệp 66

PH ẦN III : QUI HOẠCH MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ TỈNH BẾN

TRE GIAI ĐOẠN 2006 - 2020

I M ỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH BẾN TRE

GIAI ĐOẠN 2006 – 2020

1 Mục Tiêu Phát Triển Kinh Tế, Xã Hội Tỉnh Bến Tre 69

2 Định Hướng Đào Tạo Nghề Của Tỉnh Bến Tre 70

Trang 4

II D Ự BÁO NHU CẦU LAO ĐỘNG QUA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẾN

N ĂM 2020 CỦA TỈNH BẾN TRE

1 Căn Cứ Dự Báo 73

2 Phương Pháp Dự Báo 73

3 Kết Quả Dự Báo Nhu Cầu Lao Động 74

III QUY HO ẠCH MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ VÀ CÁC BIỆN

PHÁP T Ổ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH CỦA TỈNH

B ẾN TRE GIAI ĐOẠN 2006 – 2020

1 Mục Tiêu Đào Tạo Nghề Đến Năm 2020 83

2 Nội Dung Quy Hoạch Nghề 84

3 Dự Trù Kinh Phí 89

IV GI ẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Xác Định Quy Mô Đào Tạo Nghề, Các Nghề Đào Tạo Cho Từng

Trường, Cơ Sở Dạy Nghề Theo Quy Hoạch Giai Đoạn 2006 –

2020 93

2 Xã Hội Hoá Giáo Dục – Dạy Nghề 101

3 Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề 111

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 5

Bảng 2.10 Kinh phí đầu tư nâng cấp các Trung tâm dạy

nghề

53

Bảng 2.11 Thống kê diện tích mặt bằng của Trường, Trung

tâm, các cơ sở dạy nghề

53

Bảng 2.12 Thống kê trình độ giáo viên dạy nghề 55 Bảng 2.13 Quy mô đào tạo nghề của các đơn vị 58 Bảng 2.14 Cơ cấu ngành nghề đào tạo 60

Bảng 2.15 Lao động chia theo trình độ chuyên môn 63 Bảng 2.16 Nhu cầu tuyển dụng lao động đến năm 2010 65

Bảng 3.2 Kết qủa dự báo trong độ tuổi 76 Bảng 3.3 Kết quả dự báo nhu cầu lao động 78

Trang 6

nghề Bảng 3.5 Dự báo lao động qua đào tạo 80 Bảng 3.6 Kết quả dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo

mới và đào tạo lại

81

Bảng 3.7 Kết quả dự báo nhu cầu đào tạo ngắn hạn và dài

hạn

82

Bảng 3.8 Phân bổ nhu cầu đào tạo ngắn hạn và dài hạn 86

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Nước ta đang trên đà hội nhập nền kinh tế quốc tế nên đào tạo một nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế là một nhu cầu bức thiết hiện nay

Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, nguồn nhân lực của nước ta có bước chuyển biến vượt bậc Với định hướng của Đảng, nhà nước đến năm 2020 đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để Công nghiệp hoá – hịên đại hoá đất nước phải phát triển giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người Trong đó cần có một lực lượng công nhân lành nghề, có trình độ kỹ thuật cao để thích ứng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại

Trong những năm gần đây, chính sách của Đảng, nhà nước rất quan tâm đến công tác đào tạo nghề Đầu tư của nhà nước từ ngân sách cho hoạt động đào tạo nghề được nâng cao Tuy nhiên, hiện nay công tác đào tạo nghề vẫn còn gặp nhiều khó khăn từ cơ sở vật chất đến các trang thiết bị giảng dạy, đội ngũ giáo viên dạy nghề, …Để có lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước thì quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề là vấn đề cần thiết hiện nay Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề sẽ định hướng được các ngành nghề đào tạo, quy mô đào tạo của các Trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề

dể từ đó có biện pháp đầu tư, nâng cấp các Trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề nhằm đào tạo được đội ngũ công nhân lành nghề, có trình độ kỹ thuật cao đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và của thị trường lao động

Tỉnh Bến Tre được xem là một Tỉnh nghèo nhất đồng bằng Sông Cửu Long

Do điều kiện địa lý gây khó khăn việc đi lại, vận chuyển hàng hoá nên những năm trước đây ngành công nghiệp của Tỉnh phát triển chậm, trong những năm gần đây nền kinh tế của Tỉnh phát triển ổn định với tốc độ cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ Các dự án cầu

Trang 8

Rạch Miễu, các cụm công nghiệp sẽ hoàn thành vào năm 2008, nhu cầu về lực lượng lao động có trình độ lành nghề tăng nhanh

Vì vậy, đề tài của luận văn được chọn là : “ Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề của Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006 – 2020” Nhằm đào tạo lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của Tỉnh cũng như phát triển kinh tế chung của cả nước

2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các trường, các Trung tâm, cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập trên địa bàn Tỉnh Bến Tre

Nguồn số liệu trong luận văn chủ yếu được lấy từ Sở Lao động – Thương Binh và Xã Hội Tỉnh Bến Tre, Cục Thống Kê Tỉnh, Sở Kế Hoạch – Đầu Tư Tỉnh; số liệu khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp, các Trường, Trung tâm, cơ

sở dạy nghề; các tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh

Các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề

4 PH ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp: Duy vật biện chứng, mô hình hoá, phân tích khảo sát, thống kê, dự báo toán học và phương pháp chuyên gia

- Phương pháp duy vật biện chứng làm nền tảng xuyên suốt quá trình quy hoạch mạng lưới dạy nghề của Tỉnh

- Phương pháp mô hình hoá, phân tích khảo sát, thống kê, dự báo để thu thập thông tin thực tế nhằm đánh giá thực trạng của các Trường, Trung tâm, cơ sở dạy nghề; thực trạng sử dụng lao động của dạy nghề, ý kiến

Trang 9

của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nghề hiện nay, nhu cầu lao động trong những năm sau; làm sáng tỏ và cụ thể hoá nội dung cần quy hoạch

- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến của các chuyên gia về định hướng quy hoạch; cân đối quy mô đào tạo của các Trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề; các dự trù kinh phí thực hiện dự án

5 NHỮNG VẦN ĐỀ MỚI VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH CỦA LUẬN VĂN

Tác giả sử dụng các khái niệm về nghề, đào tạo nghề, các hình thức đào tạo nghề của Tổng cục Dạy nghề Từ đó đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch mạng

lưới đào tạo nghề của Tỉnh Bến Tre

Luận văn tính toán các nhu cầu lao động của Tỉnh, nhu cầu lao động qua đào tạo nghề và cân đối quy mô đào tạo của các Trường, Trung tâm, cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập Qua đó Tỉnh có phương hướng đầu tư cho các

Trường, Trung tâm, cơ sở dạy nghề để đảm bảo số lượng lao động lẫn chất

lượng lao động trong sự nghiệp cộng nghiệp hoá – hiện đại hoá của Tỉnh cũng như của đất nước

Luận văn cũng đưa ra các phương pháp nâng cao chất lượng trong đào tạo nghề giúp lao động qua đào tạo nghề thích ứng được với yêu cầu của thị trường lao động

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, có

3 phần chính:

Phần 1 : Cơ sở lý luận của đề tài

Phần 2 : Thực trạng năng lực đào tạo nghề và việc sử dụng lao động qua đào

tạo ở các doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre

Phần 3 : Quy hoạch mạng lưới dạy nghề của Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006 -

2020

Các nội dung trên được trình bày trong các phần tiếp theo của luận văn

Trang 10

PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGHỀ, ĐÀO TẠO NGHỀ, CÁC

HÌNH THỨC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ

1 Khái niệm về nghề, đào tạo nghề

Trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, lực lượng công nhân có trình độ kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu phát triển là đều không thể thiếu Hiện nay công nhân có trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, trong những năm gần đây hiện trạng thừa thầy thiếu thợ được Đảng, nhà nước rất quan tâm Đào tạo nghề là lĩnh vực của hệ thống giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm nhiều hoạt động từ xây dựng các chính sách vĩ mô đến đầu tư cơ

sở vật chất, giáo viên, chương trình đào tạo của từng trường Các yếu tố cấu thành đó quyết định sự phát triển của hệ thống dạy nghề của từng ngành, từng địa phương Trước khi đi vào nghiên cứu nội dung chính của đề tài, chúng ta cần tìm hiểu các khái niệm chung quanh về nghề và dạy nghề

Nghề : là một dạng cụ thể hoàn chỉnh các hoạt động lao động trong hệ

thống phân công lao động xã hội đòi hỏi phải được tiến hành theo một nguyên tắc được thực hiện riêng, với công nghệ và loại công cụ riêng; là tổng hợp trình độ hiểu biết, kỹ năng trong lao động mà người lao động cần phải tiếp thu được trong quá trình đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng các yêu cầu của một dạng cụ thể hoàn chỉnh của hoạt động lao động

Đào tạo nghề : được hiểu là toàn bộ các quá trình học tập của con người

và tích lũy của cá nhân (kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, các đặc điểm tâm lý) Ngoài ra, đào tạo nghề còn được hiểu là toàn bộ các hoạt động được triển khai theo cá nhân hay tập thể, một cách ngẫu nhiên hay có tổ chức

Từ điển tiếng Việt định nghĩa : “ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và để phục vụ xã hội” Như vậy, có thể nói rằng nghề nghiệp là một thuật ngữ phát

Trang 11

triển cuộc sống cá nhân, đồng thời góp phần xây dựng đất nước Nghề nghiệp là một tổ hợp các chuyên môn có quan hệ cùng loại với nhau Một nghề bao gồm nhiều chuyên môn Bất kỳ quốc gia nào cũng có hai loại nghề

là : nghề được đào tạo và nghề không được đào tạo

- Nghề không được đào tạo: Là nghề được hình thành tự phát, do nhu

cầu xã hội, do tích lũy kinh nghiệm hoặc do truyền từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác mà có

- Nghề được đào tạo : Là nghề yêu cầu một trình độ tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo nhất định Trình độ này có được nhờ quá trình đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn, nhằm tạo ra sản phẩm để trao đổi trên thị trường và con người gắn bó lâu dài với hoạt động đó như lẽ sống của mình

Nghề được đào tạo đòi hỏi người vào học nghề phải có trình độ học vấn, sức khoẻ và yêu cầu tâm lý phù hợp với nghề Sau quá trình đào tạo, người

đó phải đạt được tiêu chuẩn quốc gia về kiến thức kỹ năng, kỹ xảo tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi Khi có việc làm phù hợp với nghề đào tạo thì trở thành nghề nghiệp

Nghề nghiệp là một phạm trù lịch sử xã hội, nghiã là nghề được nảy sinh

và phát triển trong quá trình tiến bộ của xã hội, của khoa học kỹ thuật Có những nghề ra đời và phát triền lâu dài thành nghề truyền thống như : nghề sơn mài, nghề khảm trai … nhưng lại có nghề ngày dần dần bị thay thế, xuất hiện những nghề mới do các tiến bộ khoa họ kỹ thuật phát triển đem lại

• Lao động qua đào tạo : là người đã trãi qua một quá trình học tập đào tạo

ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề ở các

trường, lớp học nghề, cơ sở sản xuất – dịch vụ Sau quá trình đó, người

học phải đạt tiêu chuẩn về kiến thức cơ bản hoặc kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp

• Lao động qua đào tạo nghề : là người đã qua đào tạo ở các trường, lớp

dạy nghề hoặc tại nơi làm việc và sau quá trình đó được cấp bằng, chứng

Trang 12

chỉ nghề, hoặc được xếp lương theo ngạch bậc công việc, hoặc thực hiện được một công đoạn cụ thể trong quá trình sản xuất

Dạy nghề : Là quá trình truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực

hành của các giảng viên để học viên có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

Học nghề : là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành

của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định

Đào tạo ban đầu (đào tạo mới) : Nhằm giúp học viên có được một trình

độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về một nghề

Đào tạo mới bao gồm những người chưa tham gia sản xuất, hoặc những

người tham gia sản xuất nhưng chưa có nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng nhu cầu tăng thêm lao động qua đào tạo nghề cho xã hội

Có hai trình độ nghề được đào tạo ban đầu:

+ Công nhân kỹ thuật ( lành nghề), nhân viên nghiệp vụ Trình độ công

nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ được đào tạo nghề theo chuẩn, thể hiện ở mức độ mục tiêu hình thành người công nhân kỹ thuật, nhân viên

nghiệp vụ với nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, chính quy

+ Công nhân bán lành nghề : Trình độ công nhân kỹ thuật bán lành

nghề là trình độ được đào tạo nghề dưới chuẩn, thể hiện ở mức độ mục tiêu hình thành người công nhân với khả năng làm được từ một vài công việc của nghề tới làm được tương đối nhiều công việc của nghề nhưng chưa đạt chuẩn, thông qua đào tạo ban đầu ngắn hạn không chính quy, thường thiên về thực hành tay nghề

Đào tạo lại : Để cung cấp cho học viên đã có nghề có được trình độ đáp

ứng sự phát triển của công nghệ sản xuất, trang thiết bị mới Đào tạo lại là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ của kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn nên một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới

Trang 13

Đào tạo bổ sung : Giúp cho học viên nâng cao hoặc mở rộng trình độ, kỹ

năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục của công việc đang hoặc sẽ làm Đào tạo bổ sung có thể xem là một quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên đề và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn

Truyền nghề (kèm cặp) : là hình thức dạy nghề thông qua kèm cặp trong

thực tế tiến hành công việc Truyền nghề thường áp dụng đối với các ngành nghề truyền thống do các nghệ nhân hoặc thợ lành nghề đảm nhiệm

• Mô đun ( trong chương trình đào tạo) : là một phần kiến thức tương đối

độc lập của một khoá học, được giảng dạy trong khoảng thời gian nhất định

của khoá học đó Một số môđun lập thành một chương trình đào tạo của khoá học với mục tiêu cụ thể (đào tạo CNKT bậc 1, bậc 2, nhân viên nghiệp vụ …)

• Liên thông trong đào tạo : là sự thống nhất, công nhận lẫn nhau của các

cơ sở đào tạo về chuẩn kiến thức, chương trình của một hệ thống đào tạo

Hệ thống dạy nghề : là tập hợp các trường, lớp, trung tâm, cơ sở dạy nghề

công lập, bán công, dân lập, tư thục, thuộc các doanh nghiệp … có đăng ký hoặc được cấp có thẩm quyền cho phép dạy nghề theo qui định của pháp luật; chịu sự quản lý nhà nước về chương trình, nội dung, chất lượng đào tạo và được quyền cấp chứng chỉ, bằng nghề cho học viên tốt nghiệp

Hệ thống cơ sở đào tạo nghề : là một tập hợp các cơ sở có đào tạo nghề

trên phạm vi cả nước, bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các lớp dạy nghề, được nhà nước thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Đào tạo nghề là hệ thống chính trong việc cung cấp nguồn nhân lực có kỹ thuật cho sự nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Hệ thống cơ sở đào tạo nghề được nhà nước phân cấp quản lý cho các bộ, ngành địa phương Vì vậy hệ thống các cơ sở đào tạo nghề được phân theo cấp quản lý, đồng thời cũng được phân theo ngành, vùng Căn cứ vào hình

Trang 14

thức sở hữu hệ thống cơ sở đào tạo nghề cịn được phân ra cơ sở dạy nghề

cơng lập, bán cơng, dân lập, tư thục

• Quy hoạch hệ thống dạy nghề : là sắp xếp, định hướng phát triển các cơ

sở dạy nghề hiện cĩ, bổ sung các cơ sở mới của một địa phương hoặc một

ngành theo những mục tiêu đã được xác định trong một khoảng thời gian

định trước

2 Hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam và xu hướng phát triển

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo nghề là xác

định các hình thức đào tạo nghề thích hợp Thực chất là tính tốn hiệu quả kinh

tế của các hình thức đào tạo nghề, là so sánh giữa chi phí đào tạo với hiệu quả

đem lại sau khi đào tạo Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện thực tế cĩ thể áp dụng

hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác Những hình thức được áp

dụng chủ yếu hiện nay là:

2.1 Các tr ường, lớp, trung tâm dạy nghề của nhà nước

Đây là hệ thống trường, lớp do nhà nước đầu tư và quản lý Để đáp ứng

yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc

các ngành cần tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mơ lớn, đào tạo cơng

nhân cĩ trình độ lành nghề cao Khi tổ chức trường dạy nghề cần phải cĩ bộ

máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo

Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần đảm bảo các điều kiện sau :

Các hình thức đào tạo nghề tại Việt Nam hiện nay

Trường, lớp, trung tâm dạy nghề của tư nhân

Các trường, lớp dạy nghề của doanh

nghiệp

Các trường, lớp dạy nghề thuộc các Trung tâm giới thiệu việc làm

Kèm cặp tại nơi làm việc

Trang 15

- Phải có kế hoạch và chương trình đào tạo đối với các nghề phổ biến, chương trình đào tạo phải do Bộ lao động Thương Binh – Xã hội, Bộ Giáo Dục Đào Tạo xây dựng và ban hành

- Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

- Phải được trang bị máy móc thiết bị phucï vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành Nhà trường cần tổ chức các phân

xưởng sản xuất vừa phục vụ cho việc giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xã hội Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên

để liên kết với các doanh nghiệp lớn của ngành tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học Các tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường

 Hình thức đào tạo nghề này có đặc điểm :

+ Cơ sở vật chất đầy đủ và đội ngũ giáo viên có trình độ lý thuyết và tay nghề, kinh nghiệm cao

+ Học viên được học tập có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo điều kiện tiếp thu kiến thức nhanh chóng, dễ dàng Kế hoạch đào tạo thường chia theo hai giai đoạn : Giai đoạn học tập

cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn, đào tạo tương đối toàn diện về cả

lý thuyết lẫn thực hành, giúp học viên nắm vững các kiến thức cơ bản và

kỹ thuật nghiệp vụ Với hình thức đào tạo này khi ra trường học viên có thể chủ động độc lập giải quyết công việc, đảm nhận những công việc phức tạp đòi hỏi trình độ lành nghề cao

+ Chất lượng đào tạo cao nhất so với các loại hình khác

+ Kinh phí đào tạo khá lớn và thời gian đào tạo tương đối dài

Tuy nhiên, với hình thức đào tạo này khó có thể đáp ứng nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật cho những nghề mới xuất hiện trong nền kinh tế quốc dân cũng như đào tạo đón đầu

2.2 Các tr ường, lớp, trung tâm dạy nghề của tư nhân

Trang 16

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành nền kinh tế thị trường thì hình thức đào tạo nghề này bắt đầu phát triển mạnh Việc mở các trung tâm dạy nghề tư nhân xuất phát từ :

- Nhu cầu của nền kinh tế thị trường

- Nguồn lực có hạn của Nhà nước đối với giáo dục – đào tạo

- Chính sách xã hội hoá giáo dục và đào tạo

 Hình thức đào tạo nghề này có đặc điểm:

+ Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cao về số lượng và tính đa dạng của ngành nghề cho sự phát triển kinh tế nhiều thành phần và tạo cơ hội cho đông đảo thanh niên bước vào tuổi lao động có việc làm

+ Kinh phí đào tạo thấp và thời gian ngắn

+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đầy đủ và đội ngũ giáo viên không ổn định ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Công nhân được đào tạo ra còn yếu về cả lý thuyết lẫn thực hành, chưa đủ điều kiện tham gia vào thị

trường lao động của khu vực kinh tế chính thức và thị trường lao động quốc tế

2.3 Các tr ường, lớp dạy nghề của doanh nghiệp

Sự phát triển của nền kinh tế cho ra đời những doang nghiệp lớn, trong đó

có những khu chế xuất, khu công nghiệp – công nghệ cao với những đòi hỏi rất cao về sự hiểu biết và nắm bắt công nghệ mới Những nghề đó, nhiều khi thị trường lao động không thể cung ứng hoặc không cung ứng đủ Vì thế, nhiều doanh nghiệp lớn đã tổ chức các trường, lớp dạy nghề tại chỗ nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu lao động cho doanh nghiệp, bổ túc nghề cho công nhân khi công nghệ có những đòi hỏi mới

 Hình thức đào tạo nghề này có đặc điểm :

+ Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cao về số lượng và chủng loại nghề cho doanh nghiệp

+ Công nhân sau đào tạo có trình độ nghề thích hợp với công nghệ thực

tế và được sắp xếp làm việc ngay

Trang 17

+ Chất lượng lý thuyết thấp

+ Hiệu suất của đào tạo nghề thấp vì quy mô đào tạo thường nhỏ

2.4 Các tr ường, lớp dạy nghề thuộc các Trung tâm giới thiệu việc làm

Hiện nay các trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề rất phổ biến ở các tỉnh và thành phố Là các trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề nên họ có đầy đủ thông tin về thị trường lao động Do đó, việc tổ chức đào tạo nghề sẽ thu được hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường trên

cơ sở đảm bảo phù hợp giữa nhu cầu đào tạo và khả năng cung cấp

 Hình thức đào tạo này có đặc điểm :

+ Đào tạo theo đơn đặt hàng về nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trên cơ sở nắm bắt những thông tin về thị trường lao động

+ Thường đào tạo các nghề yêu cầu về thời gian ngắn và kinh phí thấp (ví dụ như : may mặc, cắt tóc, sửa xe …)

+ Cơ sở vật chất thường nhỏ và lực lượng giáo viên thiếu

+ Đáp ứng phần lớn nhu cầu lao động cho khu vực kinh tế không chính thức, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống

2.5 Kèm cặp tại nơi làm việc

Đào tạo công nhân bằng kèm cặp trong sản xuất là việc đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức Quá trình đào tạo nghề thông qua việc kèm cặp tại nơi làm việc xuất phát từ nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật ở doanh nghiệp do :

- Những trường hợp tuyển thẳng lao động chưa qua đào tạo của các doanh nghiệp

- Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm dẫn đến thay đổi công nghệ

Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức : kèm cặp cá nhân và kèm cặp tổ, đội sản xuất

- Kèm cặp cá nhân : mỗi thợ học nghề được một công nhân có trình độ

lành nghề cao hướng dẫn Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch

Trang 18

- Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất : thợ học nghề được tổ

chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề, thoát

ly sản xuất chuyên trách dạy nghề Những công nhân dạy nghề phải có trình độ văn hoá, trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định

 Hình thức đào tạo này có đặc điểm :

+ Có khả năng đào tạo được nhiều công nhân cùng một lúc ở các phân

xưởng, doanh nghiệp

+ Người được đào tạo trực tiếp tham gia làm các công việc có độ phức tạp từ thấp đến cao

+ Không đòi hỏi điều kiện về trường, lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý và thiết bị thực tập riêng nên tiết kiệm được chi phí đào tạo, hiệu quả cao

+Trang bị kiến thức lý luận cho học viên không có hệ thống nên kết quả thực tập bị hạn chế Người được đào tạo thường yếu kiến thức lý thuyết và chịu ảnh hưởng rất lớn những khuyết tật nghề nghiệp và tác phong của

người kèm cặp Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ thích hợp với những công việc không đòi hỏi trình độ lành nghề cao

Việc đào tạo công nhân trong nhà trường trên phạm vi thế giới cũng phải đến thế kỷ 19 mới được phát triển rộng rãi Tuy nhiên, cho đến nay nó vẫn không lấn át được hình thức đào tạo nghề trong sản xuất, bao hàm cả việc dạy nghề theo kiểu kèm cặp Chính vì vậy mà người ta xem đào tạo nghề chỉ là việc rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo lao động Mặt khác ta cũng phải thấy rằng việc đào tạo nghề đã được đưa vào nhà trường để tiến hành đào tạo thì có ý nghĩa là nó được khoa học hoá, khoa học hơn việc đào tạo công nhân bằng huấn luyện trong sản xuất Do đó việc dạy nghề luôn luôn phải thực hiện dưới nhiều hình thức cho phù hợp với từng đối tượng, từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Để từ đó phát huy hơn nữa những ưu điểm của hình thức này, nhưng lại hạn chế bớt những nhược điểm của hình thức khác

Trang 19

Ngoài các hình thức trên còn có hình thức gởi đi đào tạo ở nước ngoài, xuất khẩu lao động công nhân kỹ thuật …

3 Hiệu quả kinh tế của đào tạo nghề

Tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo công nhân kỹ thuật là việc làm cần thiết nhưng phức tạp Hiện nay, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây cho mọi thành phần kinh tế

1) Chi phí đào tạo một công nhân kỹ thuật ( tính bằng tiền)

2) Tốc độ tăng năng suất lao động sau khi đào tạo

3) Thời gian thu hồi chi phí đào tạo hay tương quan giữa chi phí đào tạo

và kết quả thu được

Chi phí đào tạo được tính theo các yếu tố tiền lương của giáo viên dạy nghề, giáo viên hướng dẫn tay nghề, học bổng của học sinh, chi phí quản lý

và các chi phí khác Chi phí đào tạo thuộc loại đầu tư đặc biệt mà kết quả của

nó biểu hiện bằng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Chi phí đào tạo và kết quả thu được của các hình thức đào tạo có khác nhau

Hiệu quả kinh tế của đào tạo công nhân kỹ thuật còn được xác định bằng cách so sánh chi phí đào tạo và kết quả sau khi đào tạo Nếu chi phí đào tạo ít, năng suất lao động cao, thu nhập thuần tuý nhiều thì hiệu quả kinh tế lớn và ngược lại

Hiệu quả kinh tế của việc đào tạo có thể được phản ánh về thời gian thu hồi của chi phí đào tạo và biểu hiện bằng công thức sau :

M

C

Trong đó : T là thời gian thu hồi chi phí đào tạo

Cdlà toàn bộ chi phí đào tạo

M là thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp do công nhân khi được đào tạo đưa lại trong năm

4 Hệ thống tổ chức đào tạo nghề : gồm 3 hệ thống chính :

Trang 20

Viện và các địa phương Số học sinh đào tạo tại các trường này được nhà nước giao chỉ tiêu hàng năm và cấp kinh phí cho các trường theo chỉ tiêu Quy chế thi, cấp bằng, chứng chỉ theo quy định thống nhất của Nhà nước

• Các c ơ sở đào tạo nghề : Theo bộ luật lao động bao gồm các cơ sở đào

tạo ngoài hệ thồng trường đào tạo chính quy :

- Các trường dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp

- Các trung tâm dạy nghề Quận (huyện) và các trung tâm dịch vụ việc làm đào tạo các lớp do các ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu Kinh phí của các cơ sở đào tạo này một phần được kinh phí nhà nước cấp, phần khác còn lại Bộ, địa phương chủ quản và người học tự đóng góp

- Các trường dạy nghề tư thục và các lớp dạy nghề tư nhân : Do các tổ chức

cá nhân tự tổ chức theo quy định của Nhà nước Kinh phí học tập chủ yếu

do người học tự đóng góp

Hợp tác quốc tế về dạy nghề :

Sự mở cửa của nền kinh tế, chính sách khuyết khích tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các công ty lớn trên thế giới đã tìm tới Việt Nam hợp tác trên nhiều lĩnh vực Chúng ta có thể khai thác khả năng của tổ chức nước ngoài trong việc đào tạo, bồi dưỡng công nhân kỹ thuật với hình thức đào tạo thông qua hợp đồng giữa các bên, qua các khoản dự án đầu tư có các khoản mục đào tạo mới và đào tạo lại Tăng cường mức độ hợp tác giữa các quốc gia là cơ sở để ta tranh thủ năng lực đào tạo của các nước tiên tiến thông qua việc ký kết các hiệp định chính phủ xây dựng mối liên kết của các trường của nước ta với nước bạn Nếu có chính sách tốt, chúng ta sẽ có lực lượng công nhân tài giỏi ngang tầm thế giới do họ được học tập và có điều kiện tiếp xúc trực tiếp làm việc trong môi trường của các nước phát triển Đội ngũ này sẽ dẫn đầu trực tiếp sản xuất đảm bảo cho chúng

ta có thể nhanh chóng tiếp thu, chuyển giao công nghệ tiên tiến, vận dụng những lý thuyết quản lý hiện đại khả thi với điều kiện Việt Nam, giúp chúng

ta rút ngắn tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước

Trang 21

Căn cứ vào thời gian đào tạo, đào tạo nghề được chia làm 2 loại :

Đào tạo nghề dài hạn : Để tạo ra đội ngũ cơng nhân kỹ thuật, nhân viên

nghiệp vụ lành nghề đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các

phương tiện kỹ thuật và cơng nghệ hiện đại

Đào tạo nghề dài hạn là hình thức đào tạo phổ biến tại các trường chính quy của nhà nước, các bộ, các tỉnh Thời gian đào tạo nghề dài hạn thường từ

1 năm trở lên

Đào tạo nghề ngắn hạn : là cách tổ chức dạy nghề trong thời gian ngắn

(thường từ 3 tháng đến dưới 1 năm), người học vừa được học lý thuyết vừa thực hành theo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất – chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thực hành nghề, chuyển giao cơng nghệ … nhằm tạo cơ hội cho người học tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm

HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI ĐÀO TẠO NGHỀ

phương

quản lý

Cơ sở dạy nghề của tổ chức, TCT…

Trung tâm dạy nghề Quận (huyện)

Các trung tâm dịch vụ việc làm

Trường dân lập, tư thục

Trong nước Ngoài nước

Trang 22

5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật

Đào tạo và nâng cao tay nghề cho CNKT phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó những yếu tố cơ bản là thị trường lao động, việc làm, sự đầu tư của nhà nước, trình độ nhận thức và trình độ văn hoá của nhân dân, trang thiết bị

cơ sở vật chất của nhà trường, đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên dạy nghề …

người sử dụng lao động gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư cách là những chủ hàng hoá bình đẳng, chỉ có khác là một người thì mua, một người thì bán, vì thế cả hai đều bình đẳng về pháp lý

Thực chất thị trường lao động chịu sự chi phối và phục tùng các qui luật cạnh tranh, giá cả, qui luật cung cầu Người lao động muốn nâng cao giá trị sức lao động của mình đòi hỏi phải “ đầu tư, ứng trước” hay phải bỏ ra trước những chi phí nhất định để được giáo dục và đào tạo

Trên thị trường lao động mức cung và cầu về lao động ảnh hưởng đến tiền công lao động và sự thay đổi mức tiền công ảnh hưởng tới cung và cầu về lao động

Thị trường lao động là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn và sử dụng lao động Thị trường lao động hình thành và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với các thị trường khác như thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường thông tin, kỹ thuật …

Thừa nhận sức lao động là hàng hoá chúng ta phải tính đúng, tính đủ các chi phí đầu vào, trong đó có chi phí giáo dục đào tạo cho người lao động …

Trang 23

và đảm bảo các lợi ích của các bên tham gia thị trường lao động, người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích xã hội

° Định hướng cung cầu lao động :

Đào tạo nghề theo định hường cung là theo khả năng của hệ thống và theo sở thích của người học, bất kể nhu cầu của thị trường lao động Trái lại, đào tạo nghề theo định hướng cầu là gắn dạy nghề với việc làm, đáp ứng nhu cầu về thị trường kiến thức, kỹ năng, tác phong và đạo đức nghề nghiệp Chọn con đường đào tạo theo định hướng cầu là phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước hiện nay

Để phát triển đào tạo nghề theo định hướng cầu trước hết phải quy hoạch,

cơ cấu lại hệ thống dạy nghề, xác lập cơ chế quản lý nhằm kết hợp tối ưu các

mô hình trong điều kiện nước ta Cần khuyến khích phát triển dạy nghề tại doanh nghiệp Doanh nghiệp là nơi theo sát yêu cầu của sản xuất, là nơi có thể đào tạo công nhân bậc cao

Quy hoạch và đầu tư cho đào tạo nghề cần khắc phục tình trạng “ thầy nhiều hơn thợ” như hiện nay Một mặt, người lao động không được đào tạo, không có tay nghề là nguyên nhân cơ bản của tình trạng thất nghiệp Nhưng mặt khác : Một tỷ lệ lớn cử nhân, kỹ sư, trung cấp kỹ thuật không tìm được việc làm, hoặc phải làm việc trái nghề đã được đào tạo là lãng phí lớn cho xã hội Chính việc thiếu trầm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề là một trong những nguyên nhân cơ bản cho việc chậm triển khai áp dụng tiến bộ

kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất

Hệ thống dạy nghề và thị trường lao động có những tác động tương hỗ lẫn nhau Nhưng một bên hệ thống dạy nghề thì : “cứng tương đối” còn bên kia thị trường lại rất “linh hoạt” Những thay đổi đến chóng mặt về công nghệ, điều kiện vật chất kỹ thuật và phương pháp tổ chức sản xuất ngày càng hiện đại kéo theo theo sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề và yêu cầu kỹ năng của người lao động Đặc biệt là cuộc cách mạng về tin học, quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đã làm cho sự vận động của thị trường lao động diễn

Trang 24

ra ngày càng nhanh Trong khi đó, hệ thống dạy nghề cần có thời gian đào tạo giáo viên, biên soạn giáo trình, mua sắm trang thiết bị và khắc phục những “sức ỳ” trong mô hình đào tạo cũ Điều này nói lên tính lạc hậu tương đối của hệ thống đào tạo nghề so với yêu cầu của thị trường lao động Ơû nước ta đặc tính này càng in đậm vì hệ thống dạy nghề còn yếu, thị trường lao động manh mún, bị chi phối mạnh bởi những đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp

Muốn đào tạo gắn liền với thị trường cần hiểu rõ nhu cầu thị trường, rồi lập ra chiến lược, kế hoạch và thực hiện bằng các biện pháp thích ứng Do đó phải xây dựng một hệ thống thông tin về thị trường, dự báo nhu cầu lao động kết hợp với đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp cho người lao động kể từ cấp

cơ sở Tiếp đó là phải xây dựng một quy hoạch tổng thể về số lượng, cơ cấu đào tạo cụ thể, đáp ứng nhu cầu thị trường Đào tạo phải tuân theo quy hoạch thống nhất và đảm bảo yêu cầu chất lượng đào tạo

Nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật gồm hai loại chủ yếu : là đào tạo lại

và đào tạo mới Đào tạo mới bao gồm những người chưa tham gia vào quá trình sản xuất hoặc những người đã tham gia sản xuất nhưng chưa có nghề

Như vậy đào tạo mới là để đáp ứng nhu cầu tăng thêm lao động có nghề Đào tạo lại là đào tạo với người đã có nghề, chuyên môn, do yêu cầu sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn đến thay đổi cơ cầu ngành nghề, trình

Tổng hợp nhu cầu bổ sung công nhân kỹ thuật của các doanh nghiệp sẽ được nhu cầu đào tạo chung của ngành nghề Tổng hợp nhu cầu đào tạo của các ngành là nhu cầu đào tạo của một địa phương hay vùng lãnh thổ

5.2 Các chính sách và đầu tư của Nhà Nước cho đào tạo nghề

Trang 25

Hệ thống văn bản, pháp luật, chính sách của nhà nước tạo hành lang pháp

lý, môi trường thuận lợi, khuyến khích đào tạo và phát triển dạy nghề Cụ thể

ở đây là các chính sách và các chế độ ưu đãi đối với các trường, các cơ sở dạy nghề; đối với giáo viên dạy nghề và học viên học nghề; các chính sách

- Quyết định số 201/2001/QĐ – TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển Giáo dục 2001 – 2010

- Quyết định số 775/2001/QĐ – BLĐTBXH ngày 09/08/2001 của Bộ

trưởng Bộ Lao động thương binh và Xã hội về việc ban hành điều lệ trường dạy nghề

- Quyết định số 776/2001/QĐ – BLĐTBXH ngày 09/08/2001 của Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và Xã hội về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm dạy nghề

- Thông tư số 02/2002/TT-BLĐTBXH ngày 04/01/2002 của Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và Xã hội hướng dẫn chế độ làm việc của giáo viên trường dạy nghề

- Quyết định số 48/2002/QĐ – TTg ngày 11/04/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn

2002 – 2010

- Nghị quyết số 05/2005 của Chính phủ

- Quyết định số 1000/2005/QĐ – BLĐTBXH ngày 07/06/2005 của Bộ trưởng Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội về việc phê duyệt đề án “ Phát triển xã hội hoá dạy nghề đến năm 2010

Trang 26

- Nghị định 139/2006/NĐ – CP ngày 20/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ

về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về mục tiêu, chương trình dạy nghề; tuyển sinh và hợp đồng học nghề, thẩm tra và thẩm quyền cấp bằng, chứng chỉ nghề, chính sách đối với dạy nghề, trách nhiệm của cơ quan nhà nước về dạy nghề

Chính các chính sách và chế độ của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trường, các trung tâm và các cơ sở dạy nghề hoạt động ngày càng tốt

hơn kể cả hình thức lẫn nội dung

Một trong những giải pháp quan trọng nhất để tăng nhanh quy mô và chất lượng đào tạo nghề là việc đào tạo của Nhà nước cho đào tạo nghề Sự suy giảm mất cân đối về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều ngành sản xuất vừa qua có nguyên nhân quan trọng là do sự đầu tư không đúng mức cho đào tạo nghề Những năm gần đây, nhiều trường dạy nghề của Nhà nước, các trung tâm dạy nghề của các Quận (huyện) được Nhà nước đầu tư nâng cấp hoặc nhận được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế … nên có ưu thế lớn thu hút đông đảo học viên so với các cơ sở dạy nghề của các thành phần khác

Cơ sở vật chất và các chế độ chính sách đối với đào tạo nghề đang được nhà nước bổ sung với nhiều ưu đãi Đây là nhân tố tích cực để đào tạo công nhân kỹ thuật nhanh chóng vượt qua khó khăn đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước

5.3 Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề

Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề tác động mạnh đến công tác đào tạo nghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất là lượng học sinh nghề ở các cơ sở Nếu mọi

người trong xã hội đánh giá được đúng tầm quan trọng của việc học nghề thì

trước hết lượng lao động tham gia đào tạo nghề sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với toàn bộ số lao động tham gia trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa, nếu xã hội nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm

Trang 27

chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn định thì công tác đào tạo nghề sẽ nhận thêm nhiều nguồn hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn

Thực tế công tác đào tạo nghề hiện nay chưa được xã hội nhận thức đầy

đủ và đúng đắn Việc làm chuyển biến nhận thức của từng gia đình và toàn

xã hội sẽ có ý nghĩa quan trọng trong dạy nghề và học nghề Không ít gia đình học sinh xem con đường vào đại học như là con đường duy nhất để tiến thân, kiếm được việc làm nhàn hạ Nhiều thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn đã cố công đèn sách để thi vào đại học, thậm chí thi lại nhiều lần nhằm thoát ly quê hương nghèo khổ Một người thợ bậc cao về làng không ai biết tới nhưng một cậu cử mới ra trường vẫn được xem là danh giá, nên

người.trong con mắt của nhiều người, một người thợ bậc cao ở xí nghiệp vẫn không oai bằng người lao động ở cơ quan nhà nước Hơn nữa, một cán bộ nhà nước tốt nghiệp đại học sẽ có cơ hội thăng tiến nhiều hơn là một công nhân lành nghề Vì lẽ đó nhiều người coi việc thi vào trường nghề là vạn bất đắc dĩ

Thời gian qua với tốc độ phát triển quá nhanh về quy mô các trường đại học và cao đẳng nên số học sinh học các trường nghề giảm sút, hậu quả là chúng ta đang thừa sinh viên tốt nghiệp ra trường nhưng thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, thợ bậc cao

Tại hội nghị toàn quốc về dạy nghề và việc làm đã kết luận : “cần xây dựng nhận thức đúng đắn của toàn xã hội đối với vấn đề học nghề, cần làm cho mỗi công dân, mỗi thanh niên thấy rằng có nhiều con đường thăng tiến, không nhất thiết phải vào con đường đại học” Ở đây phải kết hợp tuyên truyền giáo dục với phân luồng học sinh ngay từ bậc phổ thông

Về nhận thức và thái độ nghề nghiệp được hiểu một cách cụ thể ở học sinh đang học nghề Nhận thức nghề nghiệp là sự biểu hiện trước hết về nội dung và các giá trị của nghề Thái độ nghề nghiệp là sự thể hiện tình cảm đối với nghề, nảy sinh trên cơ sở nhận thức về nghề

Trang 28

Người học sinh học nghề ngay sau khi vào trường cần có sự hiểu biết nhất định về nội dung, vai trò, giá trị của nghề và tình cảm tích cực đối với nghề đã chọn và đang học Điều đó rất cần thiết, bởi lẽ tình cảm nghề nghiệp

sẽ tạo nên sự hứng thú nghề nghiệp, hứng thú kích thích tích cực của nhân cách, thúc đẩy con người hoạt động học tập nỗ lực hơn và đạt kết quả tốt hơn Để thay đổi tình trạnh này phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhưng chủ yếu vẫn là chính sách khuyến khích học bổng về học tập và tiền

lương đi làm khi học xong

5.4 Đội ngũ giáo viên

Giáo viên đào tạo nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở thiết bị dạy học Vì vậy, năng lực giáo viên đào tạo nghề có tác động trực tiếp lên chất

lượng giảng dạy đào tạo nghề

Dạy nghề có những nét khác biệt với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân, đó là ngành nghề được đào tạo rất đa dạng, học viên vào học nghề

có rất nhiều trình độ văn hoá khác nhau Cấp đào tạo nghề ở các cơ sở đào tạo nghề cũng rất khác nhau (bán lành nghề, lành nghề, bồi dưỡng nâng bậc thợ) Sự khác biệt đó làm đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng phải rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau Năng lực của giáo viên dạy nghề tốt thì mới có thể dạy các học viên nắm tốt được lý thuyết, bài giảng

Đội ngũ giáo viên chính là những người trực tiếp hường dẫn, giảng dạy nghề nghiệp cho học sinh học nghề hôm nay và những người lao động lành nghề trong tường lai Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ dạy nghề không được đặt đúng tầm của nó … Đào tạo nghề lại có đặc thù riêng so với các bậc học khác Do vậy cần có chính sách ưu đãi đối với giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề

Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề thường gồm :

- Giáo viên dạy khoa học cơ bản : là những người tốt nghiệp đại học sư phạm

Trang 29

- Giáo viên kỹ thuật cơ sở – lý thuyết chuyên môn : Đa số tốt nghiệp các trường Đại học, cao đẳng kinh tế – kỹ thuật

- Giáo viên thực hành : tốt nghiệp trường sư phạm kỹ thuật, một số là công nhân bậc cao

Đội ngũ giáo viên – nhân tố quyết định chất lượng đào tạo nghề Đi đôi với quá trình đổi mới đào tạo, nhiệm vụ to lớn là phải tăng cường đội ngũ giáo viên, đảm bảo đội ngũ giáo viên có đầy đủ cả về chất lượng lẫn số

lượng

Yêu cầu đối với giáo viên đạt tiêu chuẩn theo thời gian và tốc độ phát triển kinh tế xã hội cũng không ngừng được nâng cao Vì vậy đào tạo, bồi dưỡng giáo viên là những việc phải làm thường xuyên Đồng thời phải có chính sách thoả đáng khuyến khích đội ngũ giáo viên dạy nghề để họ yêu tâm với nghề nghiệp, hăng say với sự nghiệp đào tạo nghề của đất nước

5.5 C ơ sở vật chất – nội dung – phương pháp giảng dạy của nhà trường

Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của đào tạo công nhân kỹ thuật Để đào tạo được đội ngũ lao động với chất lượng cao, đáp ứng hu cầu thị trường thì cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo phải được trang bị đầy đủ, kịp thời, thậm chí phải đi

trước, đón đầu các công nghệ mới và kỹ thuật tiên tiến Vì vậy cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường phải luôn được đầu tư đổi mới

Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề là yếu tố trực tiếp tác động lên chất lượng đào tạo nghề dù đơn giảng hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc trang thiết bị đào tạo nghề giúp cho học viên có điều kiên thực hành để hoàn thành tốt kỹ năng sản xuất, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu

Trang 30

Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc

độ đổi mới hiện đại hoá của máy móc thiết bị sản xuất Có như vậy, việc dạy nghề mới có chất lượng và hiệu quả cao

Nội dung, phương pháp, giáo trình, bài giảng … là nhân tố cũng không kém phần quan trọng để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề theo mục tiêu chiến lược Để đáp ứng nhu cầu lao động trên thị trường, nội dung giảng dạy, phương pháp đào tạo cũng phải thường xuyên thay đổi Trước yêu cầu ngày càng cao của công nghệ sản xuất, các trường phải nỗ lực rất cao để nâng cao chất lượng, trong đó yêu cầu hiện đại hoá cơ sở vật chất, chuẩn hoá nội dung chương trình giảng dạy đang là nhu cầu bức xúc

Nội dung chuyên môn của nghề đào tạo là khối lượng kiến thức kỹ năng,

kỹ xảo là phẩm chất cần được đào tạo trong một thời gian nhất định Ưùng với mỗi nghề đào tạo có mục tiêu, chương trình đào tạo Hệ thống mục tiêu đào tạo nghề phân hoá theo chiều ngang được thể hiện ở bản danh mục nghề đào tạo do nhà nước ban hành, đó là văn bản pháp qui đối với công tác đào tạo nghề

Phương pháp đào tạo công nhân kỹ thuật phải biết kết hợp giảng lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, đảm bảo sau khi tốt nghiệp người học có khả năng hành nghề

Tóm lại, tất cả các yếu tố trên tác động mạnh đến quy mô và chất lượng của công tác đào tạo nghề Muốn có một đội ngũ công nhân kỹ thuật hùng hậu, có trình độ chuyên môn, tay nghề cao để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì khi quy hoạch mạng lưới dạy nghề của cả nước nói chung và của một tỉnh nói riêng, chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến những vấn đề này

II CÁC PH ƯƠNG PHÁP DỰ BÁO

Hiện nay có rất nhiều phương pháp dự báo lao động Nhưng trong điều kiện của luận văn chúng ta chỉ sử dụng một số phương pháp sau đây:

1 Các ph ương pháp dự báo

1.1 Ph ương pháp dự báo xu thế :

Trang 31

Phương pháp này sẽ dự báo biến số theo biến độc lập thời gian với dạng sau :

Yt : là giá trị thực tế của chuỗi thời gian

t : là số thứ tự của chuỗi thời gian = 1,2,3, …,n;

et : là sai số ngẫu nhiên của thời đoạn t

^

t

Y : là giá trị dự báo vào thời đoạn t

a, b là tham số ước lượng của hàm dự báo

Tham số a,b có thể tính toán được bằng phương pháp bình phương

bé nhất hoặc sử dụng các phần mềm dự báo kinh tế hỗ trợ

1.2 Dự báo nhân quả ( mô hình phân tích hồi quy)

Yt : là giá trị thực tế của chuỗi thời gian

Xt : là nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng dự báo

et : là sai số ngẫu nhiên của thời đoạn t

^

t

Y : là giá trị dự báo vào thời đoạn t

a, b là tham số ước lượng của hàm dự báo Tham số a,b tính được bằng phương pháp bình phương bé nhất để tính tham số hồi quy hoặc sử dụng các phần mềm dự báo để hỗ trợ

1.3 Dự báo tương quan

Dự báo dựa trên các mối quan hệ lịch sử giữa các biến số

=

^

t

Y (1 + a )Yi -1

Trang 32

t

Y : là giá trị dự báo vào thời đoạn t

a : tốc độ tăng, giảm so với năm trước đó

Yi-1 : giá trị năm trước Các phương pháp trên đều là các phương pháp định lượng, các phương pháp này sẽ sử dụng những dữ liệu quá khứ theo thời gian Nói cách khác, dựa trên những dữ liệu lịch sử để phát hiện chiều hướng vận động của đối tượng cho phù hợp với một mô hình toán học nào đó và đồng thời sử dụng mô hình này là

mô hình ước lượng Tiếp cận định lượng dựa trên giả định rằng giá trị tương lai của biến số dự báo sẽ phụ thuộc vào xu thế vận động của đối tượng đó trong quá khứ

Các phương pháp này có ưu điểm sau :

- Một khi có biến độc lập đã được chọn, dự báo sẽ hoàn toàn dựa trên

những giá trị có trước của những biến số như vậy, do đó kết qủa dự báo

sẽ hoàn toàn khách quan

- Có những phương pháp do lường độ chính xác của dự báo

- Khi mô hình dự báo đã xây dựng thì ít tốn thời gian để tìm ra kết quả dự báo

- Những phương pháp dự báp này có thể dự báo điểm hoặc dự báo khoảng Tuy nhiên các phương pháp này cũng có những nhược điểm sau:

- Sẽ có giá trị chính xác cho dự báo ngắn hạn và trung hạn Nếu dự báo thời hạn quá dài sẽ khó biết được những biến động xảy ra nên mức độ chính xác sẽ bị hạn chế

- Phương pháp tính toán không dự tính được các biến động bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả dự báo

Chính vì thế, nếu sử dụng các phương pháp định lượng này cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan

2 Trình tự thực hiện dự báo :

Những bước cơ bản cho phương pháp dự báo hồi quy bội (mô hình nhân quả hay còn gọi là phương pháp kinh tế lượng ) bao gồm :

Trang 33

hướng tới việc phát triển thực nghiệm bổ sung cho lý thuyết Nhằm giải quyết hai vấn đề cơ bản như vậy, cần trả lời một số vấn đề sau :

- Những nền tảng lý thuyết nào sẽ sử dụng cho việc định dạng cho các biến

cụ thể

- Tất cả các biến giải thích có thể đã được đưa vào mô hình

- Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa về mặt lý thuyết hay không

- Những mối quan hệ mong đợi trực tiếp và gián tiếp giữa Y và Xi

- Biến số giải thích nào quan trọng nhất

- Có những sự kiện nào quan trọng tác động lên đối tượng dự báo không thể lượng báo trong khuôn khổ thời gian phân tích (biến giả có thể vận dụng trong trường hợp này)

2.2 Nhận dạng hình thức hàm của mô hình (hình thức toán) :

Sau khi nhận dạng cơ sở lý thuyết của mô hình hồi quy thì nhà nghiên cứu sẽ bắt đầu quá trình lựa chọn dạng hàm của phương trình hồi quy để tiến hành ước lượng Cơ sở lý thuyết của mô hình có thể hay không thể cung cấp sự suy luận về dạng hàm thích hợp để ước lượng Vì vậy dạng hàm của mô hình dự báo có thể dựa trên một số yêu cầu như sau :

- Dạng hàm của mô hình dự báo có thể suy ra từ dạng mô hình lý thuyết hay không ?

- Dạng hàm có thể linh hoạt thay đổi nhưng vẫn có thể phù hợp với mô hình lý thuyết hay không ?

Trang 34

- Nếu mối quan hệ kinh tế lý thuyết không ràng buộc chặt chẽ với dạng hàm, dạng hàm nào được chuyên gia dự báo lý giải phù hợp với mục tiêu kinh tế của mình ?

2.3 Thu nhập dữ liệu lập bảng – hệ số tương quan :

Khi xác định rõ ràng các mối quan hệ lý thuyết và dạng hàm của mô hình, chúng ta sẽ bắt đầu mô tả những khía cạnh thực nghiệm của việc phát triển mô hình Mô hình sẽ thật sự cần thiết phục vụ cho mục đích dự báo, do đó thực cực

kỳ cần thiết sử dụng những dạng hàm đơn giản trong khía cạnh sử dụng, biến số giải thích Thu thập dữ liệu và nhập bảng phục vụ cho những ước lượng hối quy

là một trong những giai đoạn quan trọng, những vấn đề được nêu dưới đây sẽ được yêu cầu :

- Dữ liệu yêu cầu cho dự báo từ nguồn thứ cấp hay sơ cấp

- Những giới hạn trong việc lựa dữ liệu chọn đưa vào mô hình

- Những dữ liệu cho tất cả các biến phải có cùng tần số

- Những sự kiện ngoại sinh có thể tác động đến đối tượng dự báo trong khuôn khổ thời gian nghiên cứu (cơ sở đưa ra biến giả)

Trước khi phân tích hồi quy chúng ta cần phải đáp ứng những yêu cầu nêu trên, nếu không sẽ không tránh khỏi những trục trặt trong ước lượng phân tích và độ tin cậy của mô hình hồi quy khi tiến hành dự báo

Từ quan điểm nói trên, khi những biến số có thể đã được lựa chọn, thì việc xác định xem biến số độc lập nào có khả năng giải thích cao nhất đối tượng

dự báo, hay nói khác đi là biến số nào có hệ số tương quan cao nhất với biến số phụ thuộc, điều này có thể thự hiện bằng công cụ hệ số tương quan

2.4 Ước lượng – đáng giá – giải thích :

Việc ước lượng tham số của những mô hình thông thường được hỗ trợ bởi các phần mềm chuyên dụng, do đó ở bước này chúng ta giả định rằng những tính

toán xác định tham số coi như đã biết và được hỗ trợ của máy tính Phần quan trọng kế tiếp là đánh giá và giải thích mô hình, các bước này mặc dù có sự hỗ

Trang 35

trợ của phần mềm tính toán tuy nhiên vẫn cần những nhận định của nhà nghiên cứu

III QUY TRÌNH XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI DẠY NGHỀ CỦA TỈNH

Trong những năn qua nhu cầu đào tạo nghề mà đặc biệt là nhu cầu đào tạo công nhân có tay nghề cao ngày càng tăng, trong khi đó hệ thống các trường dạy nghề chưa đáp ứng được về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, đồng thời việc phân bổ lực lượng lao động qua đào tạo quá bất hợp lý giữa các ngành, các vùng địa phương, chính vì vậy việc quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay

1 Mục tiêu của việc quy hoạch

Quy hoạch lại mạng lưới các trướng dạy nghề nhằm :

- Thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng lao động qua đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước

- Đảm bảo cân đối giữa nhu cầu học nghề và khả năng đào tạo nghề của hệ thống các trường dạy nghề, bảo đảm cân đối cung cầu lao động qua đào tạo nghề giữa các ngành, vùng, địa phương Đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ thuật cao phục vụ các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia

2 Phạm vi, đối tượng quy hoạch

- Phạm vi : Quy hoạch tổng thể hệ thống các trường, các trung tâm và cơ

sở dạy nghề của tỉnh

- Đối tượng : Các trường dạy nghề thuộc đối tượng quy hoạch bao gồm các loại sau :

+ Trường dạy nghề công lập

+ Trường dạy nghề ngoài công lập

+Các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học công lập, Đại học ngoài công lập có hoạt động dạy nghề

3 Căn cứ và biện pháp quy hoạch

3.1 Căn cứ để tiến hành quy hoạch

Trang 36

Quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề của tỉnh là nhằm cân đối giữa nhu cầu học và khả năng dạy nghề, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực qua đào tạo nghề cho kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương Vì vậy, việc quy hoạch phải căn cứ vào:

- Nhu cầu dạy nghề cho người lao động theo các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đến năm 2010 và năm 2020

- Nhu cầu học nghề để tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm của ngưới lao động (nhu cầu học nghề bao gồm : đào tạo mới, đào tạo lại …)

3.2 Các biện pháp thực hiện quy hoạch

Để việc quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề có hiệu quả cần sử dụng nhiều biện pháp đó là :

- Biện pháp hành chính bao gồm các quyết định thành lập mới, giải thể hoặc xác nhập các trường dạy nghề hiện có thuộc trung ương và địa phương

- Biện pháp khuyến khích hoạt động của các trường dạy nghề

- Biện pháp kinh tế thông qua đầu tư tập trung cho các trường dạy nghề trọng điểm của Trung ương và địa phương

4 Quy trình thực hiện quy hoạch

Để đảm bảo tính chính xác và có hiệu quả cao, trong quá trình thực hiện quy hoạch cần tiến hành theo các bước sau :

4.1 Đánh giá thực trạng và năng lực hoạt động đào tạo nghề của các

tr ường dạy nghề

- Đánh giá thực trạng :

+ Thống kê số liệu các trường dạy nghề hiện có

+ Cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị hiện có

+ Quy mô và cơ cấu trình độ càn bộ công nhân viên

+ Quy mô học sinh

+ Số nghề đào tạo và chương trình đào tạo

- Đánh giá năng lực đào tạo nghề của các trường dạy nghề :

+ Xác định năng lực đào tạo nghề của các trường dạy nghề

Trang 37

+ Xác định nghề đang đào tạo, năng lực đào tạo theo nghề của các trường dạy nghề

4.2 Phân tích, xác định nhu cầu học nghề của người lao động theo ngành,

nghề đến năm 2010 và năm 2020

- Xác định nhu cầu lao động qua đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề theo chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

4.3 Xác định số lượng trường dạy nghề trong quy hoạch đến năm 2010 và

2020

- Xác định số lượng nghề sẽ được đào tạo

- Xác định lưu lượng người học trung bình theo từng giai đoạn

- Xác định số trường dạy nghề cần có trong quy hoạch, số nghề dạy trong mỗi trường dạy nghề và số lượng người học trong từng trường

4.4 Tính toán các điều kiện để thực hiện quy hoạch hệ thống trường dạy

+ Đầu tư cho một số trường dạy nghề nồng cốt

+ Hỗ trợ cho các trường dạy nghề đang hoạt động đúng mục tiêu và

có triển vọng phát triển tốt

4.5 Tổ chức thực hiện và đưa ra một số giải pháp để thực hiện tốt việc quy

hoạch

Trang 38

PHẦN II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ

TẠI TỈNH BẾN TRE

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẾN TRE

1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên và các đơn vị hành chính của Tỉnh

1.1 Điều kiện tự nhiên

Bến Tre nằm ở phía Đông đồng bằng sông Cửu Long Diện tích tự nhiên 2.322 km2 và vùng lãnh hải rộng khoảng 20.000 km2

Bến Tre có địa hình thấp, địa thế cù lao, bị chia cắt bởi hệ thống sông, kênh Tốc độ bồi lắng trên các sông lớn, dễ bị xâm lấn mặn … Do vậy Bến Tre gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế, mối quan hệ sản xuất thương mại với các trung tâm kinh tế dân cư trong vùng bị ảnh

hưởng … hạn chế thu hút được đầu tư chất xám từ bên ngoài

Về khí hậu thủy văn : Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa và nhiệt độ trung bình hàng năm ổn định ở mức cao, ít bão, nên rất thuận lợi cho phát triển nông – ngư nghiệp Gần đây nước mặn lấn sâu vào đất liền làm biến động hệ sinh thái và gây khó khăn về đời sống… Tài nguyên nước ngọt bị hạn chế Trên ¾ diện tích bị nhiễm mặn từ 2 đến 3 tháng trở lên

Về tài nguyên đất đai : Đất nông nghiệp là 142.303 ha Trong đó :

- Đất trồng cây lâu năm có : 73.860 ha

- Đất vườn tạp : 1.627 ha, còn lại đất cỏ và nương rẫy

Hơn 14.000 ha giồng cát thích hợp trồng rau màu và các loại cây lâu năm, khoảng 15.000 ha đất phèn đang được cải tạo trồng lúa Hằng năm đất bồi tụ ven sông biển tăng thêm khoảng 700 ha

- Đất lâm nghiệp : 6.196 ha

- Đất chưa sử dụng là : 39.571 ha

- Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là : 25.322 ha

Sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đã có tác dụng tích cực đối với phát triển sản xuất khu vực Đất trồng lúa có xu hướng giảm, đất trồng cây ngắn ngày (mía, cây ăn trái) và đất nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh

Trang 39

Về tài nguyên và sinh thái : Phổ biến là hệ sinh thái cửa sông và vùng ngập mặn Hệ sinh thái phong phú, cây trồng thích nghi cho năng suất cao, song hệ sinh thái rất nhạy cảm với các tác động môi trường

Tài nguyên thuỷ sản khá phong phú là lợi thế cho chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá

Nguồn : Niên giám thống kê năm 2006 – Tỉnh Bến Tre

Bến Tre có 7 huyện và một thị xã là : Huyện Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại, Ba Tri, và Thị Xã Bến Tre Trung tâm hành chính của tỉnh nằm ở Thị xã Bến Tre, cách thành phố Hồ Chí Minh 86

km về phía Đông Nam

Mật độ dân cư cao nhất là Thị xã Bến Tre (1708 người/ km2) và huyện

Mỏ Cày (774 người/ km2)

Trang 40

2 Tình hình phát triển kinh tế

2.1 Tăng trưởng kinh tế

Bảng 2.2: Tổng sản phẩm trên địa bàn, giá so sánh 1994

ĐVT : triệu đồng

Năm Nông - Lâm –

Ngư nghiệp

Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ Tổng

Nguồn : Niên giám thống kê Tỉnh Bến Tre năm 2005

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Bến Tre trong các năm qua đều tăng lên so với năm trước Trong giai đoạn 1995 – 2000 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,77% năm, giai đoạn 2001 – 2005 tốc độ tăng trưởng bình quân tăng 8,10%/năm

Kim ngạch xuất khẩu năm 1999 là 28,573 triệu USD, năm 2005 đạt 70.490 triệu USD Trong đĩ tỷ trọng của các ngành cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp đã tăng dần từ 24% lên đến 39%

Đời sống của nhân dân đã được cải thiện một bước, trình độ dân trí được nâng lên Đã cĩ sự phân cực rõ rệt về thu nhập giữa dân cư nơng nghiệp và phi nơng nghiệp

Cơ cấu kinh tế từ năm 2000 đến nay đã cĩ bước chuyển dịch đúng hướng

nhưng cịn chậm Tỷ trọng của từng khu vực từ năm 2000 đến 2005 như sau :

Ngày đăng: 27/02/2021, 20:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w