1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh hòa bình BIDV hòa bình

138 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về bảo lãnh ngân hàng, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tà

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan : Luận văn “Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng

TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam chi nhánh Hoà Bình (BIDV Hoà Bình)”

là công trình nghiên cứu riêng của tôi

Các nội dung nghiên cứu và kết quả kinh doanh trình bầy trong luận văn

là hoàn toàn trung thực và rõ ràng

Hà Nội, ngày 22 tháng 09 năm 2014

Tác giả luận văn

Quách Thị Thu Hà

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Viện Kinh tế và Quản lý – Trường Đại học Bách khoa Hà nội đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến cho luận văn của tôi

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo sau Đại học- Trường Đại học Bách khoa Hà nội, Ban giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Hòa Bình và các Phòng, ban của BIDV Hòa Bình

đã tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu luận văn và cung cấp các số liệu

thực tế giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này

Hà Nội, ngày 22 tháng 09 năm 2014

Tác giả luận văn

Quách Thị Thu Hà

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nội dung

1 BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát

triển Việt Nam

2 BIDV Hòa Bình Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát

triển Việt Namchi nhánh Hòa Bình

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 5

1.1 Tổng quan về bảo lãnh ngân hàng 5

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo lãnh ngân hàng 5

1.1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng 10

1.1.3 Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng 11

1.1.3.2.Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng: 12

1.1.4 Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng 14

1.1.5 Phân loại bảo lãnh ngân hàng 17

1.1.6 Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng 21

+ Vai trò của bảo lãnh với nền kinh tế: 26

1.1.7 Các dạng rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng 28

1.1.8 Một số nhân tố tác động đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng 33

1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng 39

1.3 Kinh nghiệm phát triển hoạt động bảo lãnh của một số ngân hàng nước ngoài 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP 45

ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂNHOÀ BÌNH 45

2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hòa Bình 45

2.1.1 Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt nam (BIDV) 45 2.1.2 Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hòa Bình 47

2.2 Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Hòa Bình (2011- 2013) 54

2.3 Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại BIDVHoà Bình 60

Trang 5

2.3.1 Cơ sở pháp lý khi thực hiện hoạt động bảo lãnh tại BIDVHoà Bình 60

2.3.2 Các sản phẩm bảo lãnh của BIDV 62

2.3.3 Phương pháp quản lý hoạt động bảo lãnh tại BIDV 71

2.3.4 Đánh giá thực trạng hoạt động bảo lãnh tại BIDV Hoà Bình từ năm 2011 - 2013 77

2.3 Một số rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng 98

2.3.1 Các dạng rủi ro trong hoạt động bảo lãnh 98

2.3.2 Quản lý rủi ro trong hoạt động bảo lãnh tại BIDV 99

2.4 Nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động bảo lãnh tại BIDV 99

2.4.1 Nguyên nhân bên trong 99

2.4.2 Nguyên nhân từ bên ngoài 103

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 108

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HOÀ BÌNH 109

3.1 Định hướng phát triển hoạt động bảo lãnh ngân hàng 109

3.1.1 Định hướng phát triển của ngành ngân hàng đến năm 2020 109

3.1.2 Định hướng phát triển của BIDV đến năm 2020 111

3.1.3 Định hướng phát triển hoạt động bảo lãnh tại BIDV đến năm 2020 113

3.2 Cơ sở xây dựng giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại BIDVHoà Bình 114

3.3 Một số giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại BIDV 114

3.3.1 Nhóm giải pháp đối với BIDV 115

3.3.2 Các gợi ý chính sách khác với Nhà nước 125

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 130

KẾT LUẬN 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp 17

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp 19

Sơ đồ 2.1:Doanh số các loại bảo lãnh 80

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011- 2013 54

Bảng 2.2 : Số dƣ bảo lãnh từ năm 2011 – 2013 78

Bảng 2.3: Doanh số bảo lãnh từ năm 2011 – 2013 79

Bảng 2.4: Doanh thu phí bảo lãnh từ năm 2011 – 2013 82

Hình 2.1- Sơ đồ bộ máy tổ chức của BIDV Hòa Bình 50

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay, việc quan hệ, giao lưu buôn bán, kí kết hợp đồng giữa các bên đã trở nên quen thuộc với mọi hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, không phải với bất kì đối tác nào ta cũng có thể giao tài sản và vốn của mình, mà cần có một căn cứ để bảo đảm cho chúng; Vì vậy, bảo lãnh ngân hàng ra đời như một tất yếu khách quan

Ra đời vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Tuy nhiên ở Việt Nam, bảo lãnh chỉ mới xuất hiện từ những năm 90 phục

vụ chủ yếu cho lĩnh vực tín dụng và thanh toán quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng

là một quan hệ gắn bó mật thiết,có tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau trong quá trình phát triển.Hoạt động của ngân hàng với rất nhiều dịch vụ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của xã hội cũng như của khách hàng.Tuy nhiên,còn rất nhiều dịch vụ chưa được khai thác hết Mặt khác, các ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay đang trong quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập quốc tế, thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO Trọng tâm của chiến lược này là hiện đại hóa công nghệ, phát triển dịch vụ, nâng cao trình độ quản lý theo chuẩn mực quốc tế Bởi vậy phát triển và đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng trở thành vấn đề tất yếu khách quan, là vấn

đề cấp bách đối với tất cả ngân hàng thương mại trong nước

Trong các dịch vụ đó thì bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ, là công cụ phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại) Bảo lãnh ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của nền kinh tế, đặc biệtđápứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạtđộng của doanh nghiệp

Mặc dù đã có trong danh mục sản phẩm ngân hàng được khá lâu nhưng

Trang 8

nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng vẫn chưa thực sự phát triển, chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng của nó đối với hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế

Đồng thời, hoạt động cấp bảo lãnh luôn có nhiều rủi ro tiềm ẩn và đã phát sinh một số trường hợp rủi ro do nguyên nhân chủ quan gây tổn thất cho ngân hàng tại một số vấn đề :

Không thực hiện đúng chính sách khách hàng, xếp hạng tín dụng không đúng, nâng hạng tín dụng để khách hàng được hưởng chính sách ưu đãi về cấp tín dụng;

Không phong toả tài khoản ký quỹ theo hợp đồng đã ký kết hoặc tự động bỏ phong toả tài khoản ký quỹ khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tự động thay đổi tài sản đảm bảo gây bất lợi hơn về phía ngân hàng

Không thực hiện đúng quy trình bảo lãnh…

Là một trong những NHTM có uy tín, kinh nghiệm hàng đầu tại Việt Nam và được biết đến trên thương trường quốc tế, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) có nhiều thế mạnh trong hoạt động bảo lãnh Tuy nhiên, để có thể phát triển hoạt động này tương xứng với tiềm năng sẵn có, BIDV còn rất nhiều việc phải làm

Do vậy, trên cơ sở các lý luận về bảo lãnh ngân hàng và trải qua thực tiễn

làm việc tại BIDV, tác giả đã chọn đề tài « Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hòa Bình (BIDV Hoà Bình) " để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn góp phần

phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng này Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn đây có thể là kinh nghiệmtham khảo cho các NHTM khác trong việc phát triển hoạt động bảo lãnh nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Cơ sở lý luận về dịch vụ bảo lãnh và thực trạng tại BIDV Hòa Bình

2 Mục đích của đề tài (các kết quả cần đạt được):

- Hệ thống giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại BIDV Hòa Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Trang 9

- Đối tượng nghiên cứu : Lý luận và thực tiễn nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng

- Phạm vi nghiên cứu : Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hòa Bình

4 Phương pháp nghiên cứu :

- Luận văn sử dụng các biện pháp

Phương pháp luận duy vật biện chứng;

Phương pháp tiếp cận lịch sử - lôgíc;

Phương pháp phân tích - tổng hợp - hệ thống hóa;

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

5 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:

- Cơ sở lý luận về dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng thương mại

- Phân tích thực trạng dịch vụ bảo lãnh tại BIDV Hòa Bình

- Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại BIDV Hòa Bình

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương :

- Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại

- Chương 2 : Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hòa Bình

- Chương 3 : Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Hòa Bình

7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam hiện nay chưa thực sự phát triển mặc dù đây là hoạt động được hầu hết các NHTM quan tâm Những năm gần đây, nhu cầu về bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng gia tăng, đặc biệt bảo lãnh nước ngoài Trong khi đó, các tài liệu nghiên cứu về hoạt động này trên khía cạnh học thuật bằng tiếng Việt ở nước ta còn khá hạn chế Do đó, việc nghiên cứu

Trang 10

về bảo lãnh ngân hàng để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động này ở nước ta là cần thiết

Trong số các NHTM ở Việt Nam hiện nay, BIDV được biết đến như là một trong những ngân hàng có uy tín và kinh nghiệm trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng Tuy nhiên, để hoạt động này phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có của ngân hàng này thì việc đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động này để tìm ra các giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại đây không chỉ mang ý nghĩa thiết thực đối với BIDV mà còn là những kinh nghiệm có thể vận dụng tại các NHTM khác

Tuy gặp nhiều hạn chế về tài liệu tham khảo, nhưng luận văn đã đưa ra được một số điểm mới sau đây:

Đưa ra khái niệm về hoạt động bảo lãnh ngân hàng;

Hệ thống hóa cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước về hoạt động bảo lãnh ngân hàng;

Hệ thống hóa về các dạng rủi ro đặc thù trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng; Đưa ra được giải pháp về quản trị rủi ro trong hoạt động bảo lãnh

Trang 11

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.1 Tổng quan về bảo lãnh ngân hàng

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo lãnh ngân hàng

Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời kỳ cổ Hy lạp trong những giao dịch nhỏ lẻ,

dù rất sơ khai Từ những năm 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu được

sử dụng tại các nước Tây Âu và Hoa Kỳ Đến những năm 70, thương mại mậu dịch quốc tế ngày càng phát triển đã làm gia tăng nhu cầu đa dạng hóa và hợp pháp hóa công cụ tài trợ và bảo đảm quốc tế có tính linh hoạt, được tin tưởng, phù hợp với tập quán quốc tế và không trái với luật pháp quốc gia, ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng được các yêu cầu này và được

sử dụng ngày càng phổ biến

Theo quan niệm Marketing sự ra đời một sản phẩm dịch vụ mới thường bắt nguồn từ ba nhân tố : Phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng và sự cho phép của luật pháp.Ba nhân tố này với sự ra đời của bảo lãnh ngân hàng là:

* Sự phát sinh nhu cầu bảo lãnh: Chính sự phát triển của nền kinh tế mà ở đây là sự phát triển của thương mại và tín dụng đã làm nảy sinh xuất hiện những nhu cầu mới

- Về thương mại: Xã hội loài người đã trải qua các hình thức sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá ra đời tạo ra bước nhảy vọt trong đời sống, kinh tế và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thương mại Thương mại ra đời từ sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sâu và lợi thế

so sánh giữa các vùng,các doanh nghiệp và các quốc gia Khi nền kinh tế phát triển, thương mại phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đặc biệt với xu hướng hoà nhập tham gia vào phân công lao động khu vực và thế giới Sự phát triển của thương mại làm tăng số lượng,giá trị và tốc độ các giao dịch của doanh nghiệp làm các giao dịch vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia

Trang 12

- Về tín dụng: Tín dụng ra đời do nhu cầu chu chuyển vốn trong nền kinh tế giữa những nơi thừa và thiếu tương đối Thương mại phát triển kéo theo sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực Để đổi mới sản phẩm, công nghệ đáp ứng thị trường vốn trở nên cực kỳ quan trọng Tín dụng khi

đó không chỉ bao gồm quan hệ cung ứng vốn giữa các tổ chức trong một nước mà còn giữa các nước,các khu vực trên nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là thương mại với nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và một phần lãi nhất định Điều kiện cơ bản trong tín dụng là hoàn trả có nghĩa rằng người cho vay có thể thu hồi vốn và lãi sau một thời hạn nhất định Ngược lại, người cấp tín dụng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín dụng nếu người vay không hoàn trả đúng yêu cầu Rủi ro này càng lớn khi tín dụng được thực hiện ở phạm vi ngoài quốc gia

Sự phát triển của thương mại và tín dụng dẫn tới:

+ Sự thiếu hụt thông tin và do đó là sự thiếu tín nhiệm bạn hàng: Giao dịch diễn ra với đặc điểm tăng về số lượng, phức tạp hơn trong thời gian dài và trên phạm vi toàn cầu.Quá trình kinh doanh diễn ra với tốc độ chóng mặt, do vậy trong cùng một lúc một doanh nghiệp phải giao dịch với rất nhiều bạn hàng khác nhau

Họ thiếu thông tin về các bạn hàng cũng như đối thủ cạnh tranh Sự thiếu hụt thông tin có thể dẫn tới rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp đồng đã ký kết Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu được thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh doanh

và các chi phí phải bỏ ra ngăn cản họ thực hiện điều này Mâu thuẫn nảy sinh đó là

sự thiếu hiểu biết về nhau làm các đối tác không có đủ độ tín nhiệm cần thiết để ký kết hợp đồng

+ Tăng các rủi ro trong kinh doanh: Một doanh nghiệp trong kinh doanh phải gánh chịu rủi ro về lãi suất, tỷ giá, cạnh tranh, các rủi ro bất khả kháng Rủi ro có thể gây ra những hậu quả không lường trước được cho doanh nghiệp Theo cơ chế lan truyền các rủi ro này còn ảnh hưởng tới cả các doanh nghiệp khác cùng thực hiện hợp đồng Rủi ro ví dụ như các rủi ro bất khả kháng đôi khi nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người Kiểm soát rủi ro là khó khăn đặc biệt là các rủi ro lan truyền từ đối tác.Khi cạnh tranh bị đẩy tới mức độ gay gắt, các doanh nghiệp đều

Trang 13

phải tận dụng mọi cơ hội để vượt lên trên đối thủ.Mà chịu rủi ro có nghĩa là chịu đe doạ tụt hậu Vì vây các doanh nghiệp luôn tìm cách giảm thiểu rủi ro

Như vậy từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu cần có công cụ ngăn ngừa rủi ro từ đối tác, khắc khục tình trạng thiếu hụt thông tin làm các bên yên tâm thực hiện giao dịch Về mặt thanh toán các rủi ro đã được kiểm soát bởi các hình thức tín dụng chứng từ, bảo đảm hối phiếu Còn các rủi ro về không thực hiện không đơn thuần là nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng, nó là cơ sở ra đời của một công cụ mới- bảo lãnh

*Khả năng cung ứng: Nhu cầu bảo lãnh nảy sinh đòi hỏi có một người thứ ba đứng ra làm trung gian bảo đảm các bên yên tâm thực hiện hợp đồng Ngân hàng thương mại một trung gian tài chính với các điều kiện sau:

- Có khả năng bảo đảm về tài chính, có uy tín trong kinh doanh tiền tệ

- Chuyên cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính cho nền kinh tế

- Có khả năng nắm bắt, thu thập thông tin do có mạng lưới khách hàng và đội ngũ cán bộ chuyên môn

Ngân hàng thương mại hoàn toàn có khả năng cung ứng dịch vụ này thoả mãn nhu cầu nền kinh tế

Mặt khác nếu tiếp cận theo các hình thức tín dụng ngân hàng thì có thể coi bảo lãnh là một loại hình tín dụng đặc biệt, tín dụng chữ ký Sự phát triển các hình thức tín dụng ngân hàng có thể kể tới là :

- Tín dụng thông thường: Đó là việc ngân hàng trực tiếp phát tiền cho vay theo nguyên tắc hoàn trả vốn và một khoản lãi nhất định Đây là hình thức tín dụng truyền thống và chiếm tỷ trong lớn nhất trong các hoạt động sử dụng vốn của hầu hết cá ngân hàng

- Tín dụng chữ ký:

+ Tín dụng chấp nhận :là việc khác hàng phát hành một hối phiếu trong đó ngân hàng đóng vai trò là người thụ lệnh Khách hàng dùng hối phiếu này chiết khấu ở ngân hàng khác để nhận tiền Trước khi hối phiếu này đến hạn thanh toán, khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng để ngân hàng chi trả cho ngân hàng chiết

Trang 14

khấu Trong quan hệ này ngân hàng cho mượn uy tín của mình để khách hàng được vay vốn

+Tín dụng chứng từ: Ngân hàng cấp tín dụng chứng từ cho khách hàng là người nhập khẩu, người thụ hưởng là người xuất khẩu nước ngoài Với hình thức này ngân hàng cam kết trả tiền khi người xuất khẩu giao hàng và xuất trình những giấy tờ đúng theo cam kết trong thư tín dụng

Bảo lãnh ngân hàng: Cũng được coi là một hình thức tín dụng bằng chữ ký Ngân hàng không phải xuất vốn ngay mà chỉ phát hành thư bảo lãnh bảo đảm chi trả cho người thụ hưởng nếu người được ngân hàng bảo lãnh vi phạm hợp đồng ký kết với người thụ hưởng

* Về pháp luật: ở một số nước bảo lãnh được thực hiện bởi các công ty bảo hiểm như ở Mỹ và Canada Song phần lớn các quốc gia trên thế giới nghiệp vụ này ngân hàng được phép thực hiện

Như vậy sự ra đời và tồn tại của bảo lãnh ngân hàng là khách quan và cần thiết

Ngày nay, bảo lãnh ngân hàng được sử dụng rất rộng rãi và đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới Doanh số bảo lãnh ngân hàng gia tăng nhanh chóng Không chỉ được sử dụng trong mọi lĩnh vực các nước phát triển, bảo lãnh ngân hàng còn là phương tiện bảo đảm khá phổ biến trong giao dịch kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển Ngoài ra, hầu hết các giao dịch quốc tế lớn đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng

Với sự phát triển của thương mại quốc tế ,các giao dịch ngày càng mang tính toàn cầu Ví dụ các công ty kiến trúc của Hà Lan và Anh có thể cùng tham gia liên doanh các công ty khác trong một dự án xây dựng một sân bay và một số công trình phụ trợ ở Arập, thuê các nhà thầu phụ Nam Triều Tiên, mua thiếp bị từ nhà cung cấp ở Pháp.Tầm cỡ và sự phức tạp của các giao dịch đòi hỏi và thúc đẩy sự phát triển của bảo lãnh ngân hàng

Bảo lãnh ngân hàng được sử dụng mạnh mẽ trên thế giới và đạt được doanh

số kỷ lục.Chỉ riêng tại Hà Lan, doanh số các loại bảo lãnh do các ngân hàng Hà Lan

Trang 15

phát hành trong năm 1980 là 12 850 triệu NGL Con số này tăng lên 26 281 triệu NGL vào năm 1990.( Theo số liệu công bố ngày 10/7/1990 của Uỷ ban kiểm soát của Ngân hàng trung ương Hà Lan) Còn theo Uỷ ban soạn thảo Điều khoản sửa đổi Luật thương mại Hoa Kỳ: Đến cuối 1995 số tiền bảo lãnh còn hiệu lực tại các ngân hàng Hoa Kỳ lên tới 500 tỷ USD trong đó bảo lãnh của khách hàng Mỹ là 250 tỷ Trị giá của từng loại bảo lãnh cũng lên tới hàng chục triệu USD

Bảo lãnh ngân hàng còn được phát triển cả về hình thức sử dụng Thoạt đầu

là loại bảo lãnh có điều kiện được bắt đầu từ thị trường Mỹ Với các loại như bảo lãnh bổ xung , bảo lãnh tiền bảo chứng, nó tỏ ra không hiệu quả và bất lợi cho bên yêu cầu bảo lãnh và do người bảo lãnh có thể viện dẫn lý do biện hộ để không thanh toán dẫn tới các tranh cãi phát sinh Các ngân hàng cũng ngần ngại khi phát hành những bảo lãnh này vì họ không muốn dính líu đến các rắc rối trong hợp đồng Bảo lãnh chỉ được sử dụng ở một số nước châu Phi, Trung Đông ít thông dụng ở thị trường châu Âu Loại bảo lãnh được sử dụng nhiều nhất là bảo lãnh thanh toán theo yêu cầu hay bảo lãnh vô điều kiện.Với loại này người thụ huởng được thanh toán khi có yêu cầu mà không cần đưa ra chứng cứ về sự vi phạm Một số nước vận dụng pha trộn giữa hai loại trên miễn rằng các bên chấp thuận và ngân hàng đồng ý phát hành

Tại Việt Nam, trước năm 1975, một số ngân hàng thuộc chế độ cũ ở Sài Gòn

đã cung cấp dịch vụ bảo lãnh ngân hàng Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động này được thực hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa

để hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh ngân hàng được phát triển như một tất yếu khách quan Nhưng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng các văn bản pháp lý nên hoạt động bảo lãnh ngân hàng thời kỳ này thiếu hiệu quả Từ những năm 1994 – 1995, hoạt động bảo lãnh dần được hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất Những năm sau

đó, cùng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước, bảo lãnh ngân hàng đã nhanh chóng phát triển Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm về doanh số và dư nợ

Trang 16

bảo lãnh của các ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng tăng Các hình thức bảo lãnh được áp dụng ngày càng đa dạng, với doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này trong nền kinh tế nước ta là rất lớn Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cơ hội hợp tác và mở rộng thương mại quốc tế ngày càng nhiều; cùng với đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính – ngân hàng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân

hàng nói riêng phát triển

1.1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng

Trước khi đưa ra khái niệm bảo lãnh trong ngân hàng, chúng ta hãy tìm hiểu

về bảo lãnh nói chung và khái niệm bảo lãnh một số lĩnh vực khác

Bảo lãnh là một thuật ngữ được sử dụng từ lâu đời Trong xã hội phong kiến người ta đã biết đến khái niệm lý trưởng và những người có thế lực bảo lãnh cho tù nhân trong thời gian thi hành án, cha mẹ bảo lãnh cho con Sau đó bảo lãnh được phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượcg bảo lãnh là: Bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật

-Bảo lãnh đối nhân: Được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản hình

sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong dân sự

-Bảo lãnh đối vật: Được áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự

có yếu tố tài sản Đó chính là bảo lãnh, một trong các phương thức bảo đảm việc vi phạm hợp đồng

Trong pháp luật dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong điều 366

Bộ luật Dân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền ( gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ( gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà nguời được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ ”

Trang 17

Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết ” Hiện nay, thuật ngữ bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) chưa được định nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp quốc tế cũng như các thông lệ được sử dụng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, khi nghiên cứu về bảo lãnh ngân hàng, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu như sau:

Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành (the Guarantor) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh (the Beneficiary) thay cho khách hàng (the Principal) khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết

Tại Việt Nam, theo quy định hiện hành nêu tại Luật các tổ chức tín dụng (TCTD), khái niệm về bảo lãnh ngân hàng được xác định: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận

nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay

Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của bên nhận bảo lãnh khi đối tác vi phạm cam kết

Trong giới hạn mục tiêu của đề tài, tôi sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh ngân hàng do NHTM phát hành NHTM là một loại hình TCTD, được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận (mục tiêu chính) và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước

1.1.3 Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng

1.1.3.1) Khái niệm

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng, theo đó,NHTM sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo

Trang 18

lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước NHTM chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được đáp ứng Trách nhiệm này là không hủy ngang, trừ khi có sự chấp thuận của bên nhận bảo lãnh Sau khi thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, NHTM có quyền truy đòi bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh

có nghĩa vụ phải bồi hoàn cho NHTM số tiền đã trả thay

Bảo lãnh ngân hàng được quy định tại Quy chế bảo lãnh của BIDV : (sau

đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó BIDV (bên bảo lãnh) cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho BIDV theo thoả thuận

1.1.3.2.Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng:

Về thực chất, bảo lãnh là lời hứa thanh toán của ngân hàng với người được yêu cầu bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bảo lãnh là một công cụ bảo đảm, chứ không phải là công cụ thanh toán Nghiên cứu đặc điểm của bảo lãnh cho chúng ta cơ sở phân biệt giữa bảo lãnh với công cụ thanh toán và bảo đảm khác như thư tín dụng, bảo hiểm

Bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:

+ Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau:

Khi đồng ý bảo lãnh ngân hàng phát hành thư bảo lãnh Thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa hai bên thường là giữa ngân hàng và người thụ hưởng Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng cơ sở Tuy nhiên để hiểu cơ chế của công

cụ này cần thiết phải hiểu rằng bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà

là một quan hệ tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên bao gồm cả:

- Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng

- Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân hàng

Hợp đồng bảo lãnh sẽ không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ trên Dù

có sự phân chia, ba mối quan hệ này liên hệ lẫn nhau và có ảnh hưởng đến nhau

Trang 19

+ Tính độc lập:

Một đặc tính hết sức quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập với hợp đồng Mặc dù mục đích của một bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn toàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản hoàn toàn Bảo lãnh vô điều kiện tạo nên sự khác biệt với các hình thức bảo chứng cổ điển và các hình thức bảo lãnh kèm theo chứng từ.Ngược lại nếu là bảo lãnh có điều kiện hay bảo lãnh có kèm theo chứng từ như phán quyết của toà án, quyết định của trọng tài, xác nhận của bên thứ ba về sự vi phạm của người được bảo lãnh thì tính độc lập của bảo lãnh ít nhiều bị giảm sút

Tính độc lập còn thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh.Ngân hàng không được viện các lý do như: Người được bảo lãnh bị phá sản, vẫn còn nợ ngân hàng để từ chối thanh toán

Về tính độc lập này trong điều 2 của quy tắc thống nhất về bảo lãnh yêu cầu UCP 845 của ICC có giải thích “về bản chất bảo lãnh là giao dịch tách rời khỏi hợp đồng cơ sở hay các diều kiện dự thầu mà bảo lãnh lấy làm căn cứ và bên bên bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc bởi hợp đồng hay các điều kiện dự thầu

đó, dù có trích tham chiếu đến chúng trong bảo lãnh Trách nhiệm của bên bảo lãnh theo như bên bảo lãnh là trả lại số tiênd được quy địmh đó khi xuất trình yêu câù thanh toán bằng các văn bản và các chứng từ khác quy định trong bảo lãnh mà hình thức phù hợp vơí các quy định của bảo lãnh “

Với ngân hàng quy tắc độc lập này cũng có thuận lợi Khi người thụ hưởng

có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh có được thoả mãn hay không Nhiệm vụ này được thực hiện khá dễ dàng Do vậy ngân hàng không liên quan đến quyền nhghĩa vụ các bên trong hợp đồng cơ sở và không liên quan tới tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở giữa hai bên

Trang 20

Tuy nhiên tính chất độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi do phải thanh toán hộ khi có sự không trung thực cuar bên yêu cầu bảo lãnh.Nhưng cần nhớ rằng tính độc lập của bảo lãnh cũng phụ thuộc vào các điều kiện của bảo lãnh, nó là loại bảo lãnh vô điều kiện hay bảo lãnh có điều kiện Nếu là bảo lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên, tính độc lập được bảo đảm

1.1.4 Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng

1.1.4.1 Các bên tham gia trong bảo lãnh ngân hàng

Trong một bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất ba thành phần sau:

 Bên bảo lãnh (ngân hàng bảo lãnh) – the Guarantor: Là NHTM phát hành cam kết bảo lãnh Đó thường là NHTM có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết bảo lãnh và được bên thụ hưởng chấp nhận Có thể là một NHTM phục vụ bên được bảo lãnh hoặc nhiều NHTM tham gia

 Bên được bảo lãnh – the Principal: Là khách hàng được NHTM bảo lãnh Bên được bảo lãnh có thể là tổ chức hoặc cá nhân, trong hoặc ngoài nước và có đủ điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh

 Bên nhận bảo lãnh – the Beneficiary (còn gọi là Bên thụ hưởng): Là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của NHTM

Ngoài ra, có thể còn có các bên liên quan khác: bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, …

Các hợp đồng liên quan:

- Hợp đồng cơ sở giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng

- Hợp đồng bảo lãnh giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh

- Thư bảo lãnh của ngân hàng là hợp đồng giữa ngân hàng- bên bảo lãnh với bên thụ hưởng

1.1.4.2 Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng

 Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thầu,

Trang 21

Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết đối với bên nhận bảo lãnh

 Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và NHTM bảo lãnh: Dựa vào quan hệ gốc giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, NHTM phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của bên được bảo lãnh Mối quan hệ này thể hiện thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh Đây là văn bản thỏa thuận giữa NHTM với bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của NHTM Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho bên nhận bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh

Quan hệ giữa NHTM bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: ngân hàng bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Quan hệ này thể hiện thông qua cam kết bảo lãnh Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của NHTM, được phát hành dưới dạng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh Thư bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của NHTM; còn Hợp đồng bảo lãnh: là thỏa thuận bằng văn bản giữa NHTM và bên nhận bảo lãnh, hoặc giữa NHTM, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và các bên liên quan, về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Nội dung của Cam kết bảo lãnh gồm: tên và địa chỉ của: bên được bảo lãnh, ngân hàng phát hành, bên thụ hưởng; ngày phát hành; dẫn chiếu hợp đồng gốc; số tiền và loại tiền bảo lãnh; cam kết chính thức của ngân hàng; điều kiện về yêu cầu thanh toán, chứng từ xuất trình; thời hạn bảo lãnh; điều khoản giảm trừ giá trị bảo lãnh; dẫn chiếu luật áp dụng; nội dung

về ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận (nếu có), …

Nghĩa vụ và trách nhiệm:

- Khi bên bảo lãnh nhận được chỉ thị phát hành thư bảo lãnh nhưng đó là chỉ thị mà, nếu được thực hiện thì bên bảo lãnh vì lý do luật pháp, quy dịnh của nước phát hành không có khả năng thực hiện được các quy định trong bảo lãnh, thì chỉ thị không được thực hiện và ngay lập tức bên bảo lãnh phải thông báo cho bên đã gửi

Trang 22

chỉ thị bằng Telex hoặc nếu không bằng phương tiện nhanh chóng về lý do không thực hiện và yêu cầu họ gửi chỉ thị khác phù hợp hơn

- Khi đã phát hành bảo lãnh, trách nhiệm của bên bảo lãnh theo như bảo lãnh

là trả số tiền được quy định trong đó khi xuất trình yêu cầu thanh toán bằng văn bản

và các chứng từ khác quy định trong bảo lãnh mà hình thức phù hợp với các quy định của bảo lãnh

- Tất cả các chứng từ được chỉ định và xuất trình theo bảo lãnh, kể cả văn bản yêu cầu sẽ được bên bảo lãnh xem xét, kiểm tra với sự cẩn thận cần thiết để xác định xem hình thức của chúng có phù hợp với các điều khoản hay không Khi chúng không phù hợp hoặc hình thức giữa chúng không phù hợp với nhau chúng sẽ bị từ chối

- Bên bảo lãnh cần có thời gian phù hợp để xem xét kiểm tra yêu cầu theo thư bảo lãnh và để quyết định nên thanh toán hay từ chối yêu cầu đó Nếu bên bảo lãnh quyết định từ chối thì phải gửi thông báo ngay sau đó cho bên thụ hưởng bằng Telex hoặc nếu không thì bằng phương tiện nhanh chóng khác Bất kỳ chứng từ nào

đã được xuất trình theo thư bảo lãnh phải được giữ lại cho bên thụ hưởng

- Bên bảo lãnh không hề có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đối với các hậu quả

do chậm chễ hay thất lạc bất kỳ một văn bản, thư yêu cầu hặc một chứng tù nào, hoặc đối với sự chậm chễ, sự biến dạng hoặc các lỗi khác phát sinh trong khi truyền

đi bằng phương tiện thông tin Bên bảo lãnh không có trách nhiệm đối với lỗi trong bản dịch hoặc các giải thích về các điều khoản kỹ thuật và có quyền truyền nội dung bảo lãnh hoặc bất kỳ phần nào đó mà không cần dịch ra

- Bên bảo lãnh và bên chỉ thị không hề có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với những hậu quả phát sinh do hoạt động của mình bị gián đoạn do thiên tai, nổi loạn nội chiến, khởi nghĩa, chiến tranh hoặc bất kỳ nguyên nhân nào ngoài sự kiểm soát của mìnhhoặc đình công đóng cửa các hoạt động công nghiệp mang tính khách quan

- Bên bảo lãnh chỉ có trách nhiệm đối với bên thụ hưởng theo các quy định ghi trong bảo lãnh và các văn bản sửa đổi kèm theo quy tắc này số tiền không quá như đã quy định trong bảo lãnh hoặc các văn bản sửa đổi kèm theo

Trang 23

1.1.5 Phân loại bảo lãnh ngân hàng

Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau có thể phân chia bảo lãnh ngân hàng thành nhiều loại khác nhau Dưới đây đề cập một số cách phân loại sau:

1.1.5.1 Phân loại bảo lãnh căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh

 Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee) là loại bảo lãnh, trong đó, NHTM chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của bên được bảo lãnh Sau khi ngân hàng đã thanh toán cho bên thụ hưởng, ngân hàng có thể trực tiếp truy đòi từ bên được bảo lãnh Bảo lãnh trực tiếp thường có ba bên tham gia: ngân hàng phát hành bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh ở nước ngoài, có thể xuất hiện một ngân hàng ở cùng quốc gia đó trong vai trò ngân hàng thông báo

Loại bảo lãnh này chịu sự chi phối của luật trong nước và khi hết hạn có thể trực tiếp tất toán với người bảo lãnh mà không cần hoàn trả thư bảo lãnh Ưu điểm của loại bảo lãnh này là người được bảo lãnh không phải mất thêm phí hoa hồng cho ngân hàng đại lý nước ngoài

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

(1) Người được ký bảo lãnh ký kết hợp đồng cơ sở với bên thụ hưởng trong đó quy định các điều khoản của thư bảo lãnh

(2) Bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành thư bảo lãnh (3) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng

Trang 24

(1) Biểu thị quan hệ gốc (hợp đồng gốc), là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh

(2) Biểu thị mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và NHTM, trong đó bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh nêu trong hợp đồng gốc

(3) Biểu thị mối quan hệ giữa NHTM và bên nhận bảo lãnh Ngân hàng chịu

trách nhiệm bồi hoàn cho bên nhận bảo lãnh khi hợp đồng bị vi phạm

 Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee) là loại bảo lãnh, trong đó, bên được bảo lãnh yêu cầu NHTM phục vụ mình (gọi là ngân hàng Chỉ thị – Instructing Bank) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi là ngân hàng Phát hành – Issuing Bank) phát hành cam kết bảo lãnh (gọi là bảo lãnh chính) và chuyển cho bên nhận bảo lãnh Trong loại bảo lãnh này, bên được bảo lãnh không trực tiếp bồi hoàn cho ngân hàng Phát hành; mà ngân hàng Chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho ngân hàng Phát hành thông qua một cam kết bảo lãnh (gọi là bảo lãnh đối ứng – Counter Guarantee)

có các điều khoản quy định như trong bảo lãnh chính nhưng thời hạn bảo lãnh dài hơn Sau khi đã bồi hoàn cho ngân hàng phát hành, ngân hàng Chỉ thị truy đòi từ bên được bảo lãnh

Cần lưu ý rằng chỉ ngân hàng thứ hai phát hành thư bảo lãnh trong khi ngân hàng thứ nhất chỉ hành động như ngân hàng chỉ dẫn và ngân hàng này không có bất

cứ một quan hệ hợp đồng nào với người thụ hưởng Người thụ hưởng không đòi tiền từ ngân hàng thứ nhất Mối quan hệ giữa ngân hàng thứ nhất với ngân hàng thứ hai gần giống mối quan hệ giưã người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành trong trường hợp bảo lãnh trực tiếp Nghĩa vụ đền bù cho ngân hàng phát hành thường được quy định trong thư bảo lãnh đối ứng mà ngân hàng thứ nhất phát hành cho ngân hàng thứ hai được thụ hưởng

Theo đó, nếu ngân hàng phát hành phải trả tiền cho người được thụ hưởng theo đúng các điều khoản của thư bảo lãnh Ngân hàng phát hành sẽ được ngân hàng chỉ dẫn bồi hoàn và ngân hàng chỉ dẫn sẽ đòi người được bảo lãnh

Trang 25

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp

1 Bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng ký kết hợp đồng cơ sở trong đó có quy định các điều khoản bảo lãnh

2 Người được bảo lãnh chỉ dẫn ngân hàng phục vụ mình phát hành thư bảo lãnh

3 Ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng có quan hệ đại

lý với mình đóng trụ sở ở nước người thụ hưởng phát hành thư bảo lãnh kèm theo thư bảo lãnh đối ứng hoặc thư tín dụng dự phòng cho ngân hàng đại lý thụ hưởng

4 Ngân hàng đại lý phát hành thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng

(1) Hợp đồng gốc được ký kết giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

(2) Trên cơ sở hợp đồng gốc, bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng Chỉ thị chỉ thị cho ngân hàng Phát hành phát hành cam kết bảo lãnh

(3) Ngân hàng Chỉ thị chỉ thị cho ngân hàng Phát hành phát hành cam kết bảo lãnh, đồng thời cam kết bồi hoàn thông qua bảo lãnh đối ứng

(4) Ngân hàng Phát hành phát hành bảo lãnh và có thể chuyển trực tiếp cho bên nhận bảo lãnh hoặc thông qua ngân hàng thông báo

Loại bảo lãnh này được sử dụng chủ yếu trong trường hợp bên nhận bảo lãnh ở nước ngoài và ngân hàng Phát hành ở cùng quốc gia đó nên quyền lợi của bên thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn

Trang 26

1.1.5.2 Phân loại dựa trên bản chất của bảo lãnh

 Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (Accessory Guarantee – Suretyship), còn gọi là bảo lãnh bổ sung, là một loại bảo lãnh mang tính truyền thống xét theo nguồn gốc ra đời của nó Đặc trưng của loại bảo lãnh này là nghĩa vụ của NHTM phát hành bị chi phối bởi quy tắc đồng phạm vi (Co – Extensiveness):

NHTM và bên được bảo lãnh được xem là cùng nghĩa vụ Tuy nhiên, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh là nghĩa vụ đầu tiên; nghĩa vụ của NHTM là bổ sung và được thực hiện khi và chỉ khi có các bằng cớ xác nhận rằng nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm Với loại bảo lãnh này, NHTM phát hành thường can thiệp sâu vào giao dịch giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng, nên ít được sử dụng trong quan hệ quốc tế

 Bảo lãnh độc lập (Independent Guarantee) là một dạng bảo lãnh ngân hàng hiện đại, ra đời từ những đòi hỏi trong thực tiễn Cơ chế của nó dựa trên hai quy tắc

cơ bản là: độc lập (Independent) và hoàn toàn phù hợp (Strict compliance) Theo

đó, nghĩa vụ của NHTM hoàn toàn tách rời với nghĩa vụ của bên được bảo lãnh theo hợp đồng gốc và việc thanh toán chỉ căn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong cam kết bảo lãnh Tuy nhiên, tính độc lập của loại bảo lãnh này chỉ có tính tương đối và phụ thuộc vào các điều kiện thanh toán đã được quy định trong cam kết bảo lãnh Loại bảo lãnh này đem lại sự thuận lợi cho bên nhận bảo lãnh và

cả NHTM phát hành, nên được sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế 1.1.5.3 Phân loại dựa trên mục đích bảo lãnh

 Bảo lãnh vay vốn (Loan Guarantee) là cam kết của NHTM bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh, về việc trả nợ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không trả, hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh

 Bảo lãnh dự thầu (Tender Guarantee – Bid Bond) là cam kếtcủa NHTM bảo lãnh với bên mời thầu/chủ đầu tư, để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của bên được bảo lãnh Trường hợp bên được bảo lãnh phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp, hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu/chủ đầu tư thì NHTM bảo lãnh sẽ thực hiện thay

Trang 27

 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Guarantee) là cam kết của NHTM bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của bên được bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ thì NHTM bảo lãnh sẽ thực hiện thay

 Bảo lãnh bảo hành (Maintenance Guarantee/Warranty Bond) là cam kết của NHTM bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc bên được bảo lãnh thực hiện đúng các thỏa thuận về bảo hành theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm điều khoản về bảo hành và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ thì NHTM bảo lãnh sẽ thực hiện thay

 Bảo lãnh hoàn thanh toán (Repayment Guarantee), còn được gọi là bảo lãnh hoàn trả tiền tạm ứng, là cam kết của NHTM bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh

về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của bên được bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàn trả, hoặc hoàn trả không đầy

đủ thì NHTM bảo lãnh sẽ thực hiện thay

 Bảo lãnh trả chậm (Deferred Payment Guarantee) còn được gọi là bảo lãnh thanh toán và thường được sử dụng trong các hợp đồng mua bán trả chậm Đây là cam kết của NHTM bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn

1.1.6 Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng

1.1.6.1 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng

Chức năng hạn chế rủi ro do thông tin không cân xứng

Trong kinh doanh, việc tìm hiểu thông tin về đối tác là rất quan trọng Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau như: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tập quán kinh doanh, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, chi phí về thông tin lớn, nên

Trang 28

luôn tồn tại rủi ro do thông tin không cân xứng Do đó, bảo lãnh ngân hàng là công

cụ hiệu quả góp phần khắc phục nhược điểm này

Chức năng là công cụ bảo đảm

Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng Theo chức năng này người thụ hưởng sẽ được hưởng một khoản bồi thường về tài chính nếu người được bảo lãnh vi phạm cam kết

Chức năng này được thể hiện trước hết ở việc bảo đảm sự công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiện các cam kết Bên cạnh đó, bằng việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh Đây chính là mục đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành một cách thuận lợi và dễ dàng Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ bù đắp cho bên nhận bảo lãnh những tổn thất gây ra do phía đối tác không thực hiện các nghĩa vụ Điều này làm yên lòng người cung cấp vốn, người cho vay, chủ công trình, người mua hoặc bất kỳ ai với tư cách là bên nhận bảo lãnh, trong giao dịch với đối tác Trên thực tế, do việc thanh toán dựa trên vấn đề vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của bên được bảo lãnh, mà các nghĩa vụ này lại có sự giám sát gián tiếp từ phía ngân hàng, nên tỷ trọng các bảo lãnh ngân hàng được yêu cầu thanh toán thường không cao, khả năng xảy ra nghĩa

vụ bồi thường của ngân hàng là rất nhỏ.Theo thống kê của các nhà ngân hàng Mỹ thì chỉ 1% trên tổng số bảo lãnh phát hành ở nước này bị người thụ hưởng yêu cầu thanh toán Ngoài ra bảo lãnh còn sử dụng cho các thoả thuận phi mua bán như dự thầu, thực hiện hợp đồng Do vậy bảo lãnh không phải là công cụ thanh toán mà là công cụ bảo đảm Rõ ràng, sự có mặt của bảo lãnh ngân hàng như là nhiên liệu bôi trơn cổ máy kinh tế, góp phần giải phóng các ách tắc trong các giao dịch ở các lĩnh vực, trong nước lẫn quốc tế

Chức năng là công cụ tài trợ

Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên được bảo lãnh

Trang 29

Để thi công công trình hay thực hiện hợp đồng mua bán có thể phải dùng vốn lớn trong thời gian dài Người thi công có thể phải yêu cầu từ người chủ công trình một khoản tiền ứng trước Hoặc trong cuộc đấu thầu, chủ thầu có thể yêu cầu người

dự thầu nộp một khoản tiền đặt cọc tham gia đấu thầu Ngân hàng phát hành bảo lãnh như một công cụ tài trợ làm cho chủ thầu được bảo đảm sẽ ứng trước tiền cho

nhà thầu và khi dự thầu, nhà thầu thay việc đặt cọc bằng bảo lãnh của ngân hàng

Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền nộp thuế, … Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh đã giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi thực hiện cho vay Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp

Chức năng là công cụ đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ

Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này

Chức năng này thể hiện thông qua việc tạo áp lực đối với bên được bảo lãnh trong nỗ lực thực thi các cam kết Khi nhận được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có được sự yên tâm; ngược lại, bên được bảo lãnh luôn bị hối thúc bởi trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ, bởi nếu vi phạm thì bên được bảo lãnh không chỉ bị mất quyền lợi từ các cam kết, mà còn phải chịu nghĩa vụ tài chính phát sinh từ bảo lãnh được phát hành theo yêu cầu của họ

Trong suốt thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh luôn có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các cam kết, bất kể mức

độ vi phạm và thiệt hại Vì thế, bên được bảo lãnh luôn đứng trước áp lực của việc phải bồi hoàn bảo lãnh Như vậy, bảo lãnh ngân hàng có vai trò đốc thúc bên được

Trang 30

bảo lãnh thực hiện các cam kết họ đã đưa ra Tuy nhiên, trên thực tế, khi ký hợp đồng và nhận cam kết bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh vẫn mong muốn bên được bảo lãnh thực hiện các cam kết hơn là khoản bồi hoàn tài chính từ bảo lãnh ngân hàng, bởi việc tìm kiếm một đối tác khác thực hiện công việc đang bị bỏ dở không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi mất nhiều thời gian và chi phí Rõ ràng, bảo lãnh ngân hàng mang ý nghĩa đốc thúc thực hiện các cam kết hơn là bồi hoàn

Ví dụ: trong bảo lãnh dự thầu, chủ thầu yêu cầu bảo lãnh ngân hàng với người dự thầu nhằm bảo đảm bảo họ sẽ không rút bỏ giữa chừng thực hiện hợp đồng khi đã chúng thầu Họ không mong đợi nhận được bồi hoàn do việc vi phạm như từ chối thực hiện thi công khi chúng thầu vì khi đó họ phải mất thời gian và chi phí để tìm kiếm đối tác khác

Ngoài ra, do có trách nhiệm thực hiện bồi hoàn theo cam kết bảo lãnh, nên ngân hàng phát hành bảo lãnh cũng có vai trò gián tiếp tạo áp lực đối với bên được bảo lãnh trong việc giảm thiểu các vi phạm

1.1.6.2 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng

Trong phần trước chúng ta đã đề cập tới chức năng của bảo lãnh Đây chính

là công dụng của bảo lãnh Nếu xét riêng rẽ, các chủ thể trong bảo lãnh có động cơ tham gia và được hưởng lợi ích khác nhau từ dịch vụ này Như vậy bảo lãnh có vai trò khác nhau với các bên tham gia Nếu xét cả người yêu cầu bảo lãnh và người được bảo lãnh dưới giác độ một doanh nghiệp thì vai trò của bảo lãnh với các đối tượng khác như sau:

Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh

Ta hãy xem tại sao một doanh nghiệp lại cần tới ngân hàng xin bảo lãnh

Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, trong quan hệ kinh tế không phải lúc nào các đối tác cũng đủ tin tưởng nhau Để an toàn và nhanh chóng, một bên thường yêu cầu bên kia có công cụ của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp để tiếp cận tới hợp đồng

Trang 31

Thứ hai, sử dụng bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp tiết kiệm được khoản vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động,doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí bảo lãnh tương đối thấp

Thứ ba, bảo lãnh còn làm doanh nghiệp tăng thêm uy tín với các đối tác do được uy tín của ngân hàng đứng ra bảo đảm

Như vậy, đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh, hay nói cách khác là bên được bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò như “giấy thông hành” trong các giao dịch mà họ tham gia Nhờ có bảo lãnh ngân hàng, họ được đối tác tin tưởng hơn, từ đó, có được những điều kiện thuận lợi hơn như: được chiếm dụng vốn hợp lý từ người bán, được vay vốn, được ứng trước tiền, Bên cạnh đó, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần nâng cao trách nhiệm của bên được bảo lãnh về nghĩa vụ

họ phải thực hiện

Đối với Ngân hàng thương mại

Bảo lãnh là một hình thức dịch vụ ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế Bảo lãnh vừa là hoạt động cấp tín dụng, vừa là dịch vụ có thu phí Nguồn thu từ phí bảo lãnh góp phần gia tăng thu nhập từ dịch vụ ngoài lãi vay, đây là yếu tố mà các NHTM quan tâm và luôn hướng đến trong mục tiêu kinh doanh Lợi ích trực tiếp của bảo lãnh đó là sự đóng góp của phí bảo lãnh với lợi nhuận ngân hàng Phí bảo lãnh được tính theo công thức:

Phí bảo lãnh = Tỷ lệ phí(%) * giá trị bảo lãnh*Thời gian bảo lãnh

Phí bảo lãnh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ các ngân hàng hiện đại Một ưu điểm trong bảo lãnh là ngân hàng không phải xuất vốn ra ngay do vậy chưa phải sử dụng vốn của mình, không phải trả chi phí huy động và không phải mất chi phí cơ hội cho cho mục đích kinh doanh khác

Bên cạnh đó, bảo lãnh còn góp phần đa dạng hóa sản phẩm của NHTM, đặc biệt là sản phẩm về tín dụng bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống như cho vay, chiết khấu và cho thuê tài chính; Mà tăng tỷ trọng thu từ dịch vụ là xu hướng phát triển của các ngân hàng hiện đại ngày naythời, giúp NHTM bán thêm và bán chéo sản phẩm và cũng là một biện pháp hữu hiệu trong việc thu hút và giữ chân khách

Trang 32

hàng – một vấn đề rất quan trọng trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay Ngoài ra, hoạt động bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong những hoạt động góp phần khẳng định uy tín, vị thế và khả năng tài chính của một NHTM, nên rất được các NHTM chú trọng

Ngoài ra thực hiện bảo lãnh giúp ngân hàng thực hiện chính sách khách hàng Một mặt đáp ứng nhu cầu và gắn bó hơn với khách hàng truyền thống, mặt khác thu hút được các khách hàng mới Điều này làm lợi cho ngân hàng không chỉ

về mặt thu phí bảo lãnh mà còn thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng như huy động vốn, thanh toán và tín dụng phát triển Sự hỗ trợ của bảo lãnh và và các hoạt động khác của ngân hàng thể hiện ở chỗ chúng tác động lẫn nhau trong việc cung cấp thông tin về khách hàng, thực hiện chính sách khách hàng và cùng làm tăng uy tín ngân hàng Chẳng hạn việc thu hút thêm khách hàng bảo lãnh cũng có nghĩa là ngân hàng có thể thu được một khoản tiền gửi từ việc thực hiện , thanh toán công trình và tăng lượng tín dụng do cho vay thêm với khách hàng Và một ngân hàng với các hoạt động khác phát triển sẽ tạo uy tín cho khách hàng tới bảo lãnh

Cuối cùng, bảo lãng nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng đặc biệt là trên trường quốc tế Thông qua bảo lãnh ngoài nước, ngân hàng mở rộng quan hệ đối ngoại của mình Bảo lãnh thành công, ngân hàng tạo được thế mạnh và

uy tín ,giúp ngân hàng tăng bạn hàng và lợi nhuận

+ Vai trò của bảo lãnh với nền kinh tế:

Bảo lãnh ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Công cụ này đã góp phần thúc đẩy sự hợp tác trên tất cả các mặt của nền kinh tế -

xã hội, không những trong phạm vi một quốc gia, mà còn trên toàn cầu Bên cạnh

đó, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng thương mại giữa các đối tác và có tác dụng đáng kể trong việc giải quyết nhu cầu về vốn trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực, như: thương mại, xây dựng, tài chính, … Có thể nói bảo lãnh ngân hàng đã thực sự trở thành công cụ thông dụng nhằm đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính, trong các giao dịch,

Trang 33

kể cả giao dịch tài chính lẫn phi tài chính, giao dịch thương mại lẫn phi thương mại

ở hầu hết các quốc gia và trên toàn thế giới

Bảo lãnh là loại hình dịch vụ ngân hàng tồn tại khách quan đáp ứng cho nhu cầu một nền kinh tế ngày càng phát triển Sự khách quan này chính là do vai trò to lớn của nó với nền kinh tế được xét dưới các mặt sau:

- Bảo lãnh ngân hàng có vai trò như một chất xúc tác làm điều hoà và xúc tiến hàng loạt các quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế Nhờ có bảo lãnh các bên yên tâm tham gia ký kết hợp đồng và có trách nhiệm với các nghĩa vụ đã ký kết Bảo lãnh đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia và như vậy là mang lợi cho nền kinh

tế nói chung

- Bảo lãnh có vai trò quan trọng trong thu hút vốn cho sản xuất kinh trong và ngoài nước Đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta hiện nay vốn vô cùng cần thiết ví như chất “dầu nhờn” bôi trơn cỗ máy doanh nghiệp Nhưng hầu hết các doanh nghiệp chưa đủ uy tín, tin tưởng cho các đối tác cho vay nước ngoài.Nhờ có uy tín ngân hàng, bảo lãnh được sử dụng như công cụ tiếp cận tới các nguồn vốn Do vậy bảo lãnh giúp thu hút một lượng lớn vốn nước ngoài thường có thời hạn dài và lãi xuất tương đối thấp Nguồn vốn này thường tập trung cho sản xuất tạo điều kiện cho doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thi trường Sản xuất phát triển kéo theo lợi ích kinh tế xã hội như:giảm thất nghệp, tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng vị thế hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế

- Bảo lãnh tác động đến chiến lược phát triển của nền kinh tế Bảo lãnh ngân hàng thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn và các khu vực trọng điểm phát triển Chính sách bảo lãnh của ngân hàng như: ưu tiên bảo lãnh vay vốn và các bảo lãnh khác làm ngành được ưu đãi phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu

Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển qua việc ưu đãi về tỷ lệ phí bảo lãnh bảo đảm cho họ có thể vay được nguồn vốn với lãi suất thấp Từ đó bảo đảm cho các doanh nghiệp này có khả năng đứng vững trên thị trường

Trang 34

-Bảo lãnh ngân hàng đảm bảo sự lành mạnh trong kinh doanh Nhờ bảo lãnh ngân hàng, các doanh nghiệp yên tâm hơn khi thực hiện hợp đồng và hơn nữa thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện đúng hợp đồng một cách nhanh chóng, trên cơ sở

đó giảm các rủi ro vơi doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung

- Bảo lãnh ngân hàng tác động tới việc tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh và các xí nghiệp quốc doanh

- Cuối cùng, bảo lãnh ngân hàng góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia

1.1.7 Các dạng rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Quan niệm chung nhất về rủi ro đó là những sự vật hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người và gây ra bất lợi cho con người

Trong kinh doanh, mối nguy cơ bị rủi ro là lớn nhất vì các nhà kinh doanh không những phải gánh chịu nhữnh rủi ro chung như thiên tai, hoả hoạn mà còn chịu rủi

ro về thay đổi giá cả, sản phẩm ứ đọng, nợ nần dây dưa, thua lỗ

Rủi ro trong kinh doanh được định nghĩa là sự xuất hiện một biến cố không mong đợi gây ra mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập trong quá trình kinh doanh Người ta phân loại rủi ro thành rủi ro động và rủi ro tĩnh :

- Rủi ro động là khi giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ bị suy giảm do kết quả quá trình vận động của nền kinh tế ( như sự thay đổi về cung cầu, giá cả, năng suất ) Rủi ro động có thể ảnh hưởng đến hầu hết hoặc tất cả các doanh nghiệp trong một thời điểm

- Rủi ro tĩnh là khi tài sản bị huỷ hoại về vật chất (do hoả hoạn, lụt lội ) hoặc tài sản sở hữu bị chuyển giao cho người khác do hành vi giả mạo của các cá nhân( như ăn cắp, lừa đảo ) Rủi ro tĩnh thường chỉ ảnh hưởng đến tài sản trong mỗi trường hợp riêng biệt nào đó

Khi cam kết bảo lãnh được phát hành, trong việc đòi tiền, ưu thế thường nghiêng về bên thụ hưởng Bên được bảo lãnh thường ở thế thụ động và chịu rủi ro cao nếu đối tác không trung thực Bản chất của bảo lãnh là phòng ngừa việc vi phạm cam kết, đương nhiên bên được bảo lãnh hiểu rõ khi nào sẽ bị đòi tiền; thế

Trang 35

nhưng, trên thực tế họ lại phải trả tiền bất kỳ lúc nào vì ngân hàng không lệ thuộc vào thực tế phát sinh từ hợp đồng cơ sở Do đó, khi gian lận, lừa đảo và giả mạo xảy

ra, rủi ro và tổn thất là điều không tránh khỏi đối với bên được bảo lãnh cũng như ngân hàng bảo lãnh

Giao dịch bảo lãnh ngân hàng với đặc trưng là bằng chứng từ và trên cơ sở chứng từ là điều kiện thuận lợi cho sự lạm dụng, gian lận và lừa đảo xuất hiện Điều này xuất phát từ thực tế là thủ tục đòi tiền của bảo lãnh ngân hàng khá đơn giản, thường chỉ xuất trình văn bảo đòi tiền cùng tuyên bố vi phạm, nên đã vô tình trở thành những ưu đãi đối với bên thụ hưởng Khi chứng từ được xuất trình đầy đủ, ngân hàng bảo lãnh phải thanh toán cho bên thụ hưởng theo đúng điều khoản nêu trong cam kết bảo lãnh, dù bên được bảo lãnh có thực sự vi phạm hay không Khi rủi ro xảy ra đối với bên được bảo lãnh, trong trường hợp họ không có khả năng bồi hoàn cho ngân hàng số tiền ngân hàng đã thanh toán cho bên được bảo lãnh, ngân hàng sẽ gặp rủi ro

Cùng với cho vay, chiết khấu và cho thuê tài chính, bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng Bên cạnh rủi ro tín dụng, hoạt động bảo lãnh còn có những rủi ro đặc thù riêng Dưới đây trình bày một số rủi ro đặc thù trong hoạt động bảo lãnh là rủi ro do gian lận, rủi ro do lừa đảo và rủi ro do giả mạo

1.1.7.1 Rủi ro do gian lận

Trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, gian lận là hành vi đòi tiền vượt quá mức tổn thất của vi phạm, lập chứng từ khống để hợp thức hóa việc xuất trình chứng từ hoặc xuất trình chứng từ không đúng thực tế dù rất hoàn thiện, sửa chữa các số liệu của chứng từ cho phù hợp, … để được thanh toán theo cam kết bảo lãnh

1.1.7.2 Rủi ro do lừa đảo và giả mạo

Đối với bảo lãnh ngân hàng, lừa đảo và giả mạo là hai vấn đề thường đi liền với nhau và thường gây ra hậu quả lớn Một số dạng lừa đảo và giả mạo thường gặp là:

 Lập công ty giả, ký hợp đồng mua hàng và yêu cầu đối tác phải có cam kết bảo lãnh tại ngân hàng rồi lợi dụng sự yếu kém nghiệp vụ và thiếu cảnh giác của đối tác, lập chứng từ đòi tiền ngân hàng rồi bỏ trốn

Trang 36

 Giả mạo cam kết bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng lớn trên thế giới để vay tại một ngân hàng khác hoặc hứa cấp vốn cho đối tác trên cơ sở tín dụng thư dự phòng của ngân hàng, rồi dùng công cụ bảo đảm này thương lượng chuyển nhượng cho ngân hàng khác nhưng trên thực tế không phát sinh khoản tín dụng nào

 Dùng các kỹ thuật tinh vi để làm giả cam kết bảo lãnh của một ngân hàng hoặc thay đổi một số chi tiết trên một cam kết bảo lãnh có thật của một ngân hàng

Trong các dạng gian lận, lừa đảo và giả mạo, có dạng có thể phát hiện ngay, nhưng cũng có dạng rất tinh vi, đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải nắm vững chuyên môn nghiệp vụ và ngân hàng cần có quan hệ đại lý rộng khắp

 Các loại rủi ro khác :

+ Rủi ro tín dụng:

Trong bảo lãnh ngân hàng có loại bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay Tuy không phát tiền vay nhưng về thực chất mức độ trách nhiệm, nghĩa vụ ngân hàng trong nghiệp vụ này cũng tương đương như nghiệp vụ tín dụng Hoạt động bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay đặt ngân hàng trước cùng một rủi ro như rủi ro của các món cho vay trực tiếp

Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong kinh doanh của ngân hàng thương mại Nguyên nhân của rủi ro này là người vay cố tình dây dưa không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ Người vay tạm thơì có khó khăn về ngân quỹ hoặc do kinh doanh không có hiệu quả hoặc bị rủi ro

Đánh giá rủi ro tín dụng là công việc thuộc về các chuyên viên phân tích, chuyên viên kế toán và chuyên viên kiểm toán Mức độ rủi ro cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của mục đích vay vốn cũng như hoạt động của người vay vốn

Các yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan thường là những nhìn nhận ban đầu và tổng quát về triển vọng của dự án cần vay vốn Nếu dự án có triển vọng thành công cao thì rủi ro tín dụng thấp và ngược lại Các yếu tố này bao gồm:

Trang 37

Môi trường kinh tế: thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng tiêu thụ

Sự phát triển của ngành liên quan: nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn phát triển thì dự án có nhiều khả năng thành công Ngược lại; nếu ngành liên quan đến dự án đang ở giai đoạn suy thoái và có nhiều công ty trong ngành làm ăn thua

lỗ thì khả năng thành công của dự án là thấp

Môi trường pháp lý: Luật bảo hiểm, luật lao động, luật cạnh tranh là những điều khoản cần được quan tâm khi đánh giá một dự án

Các yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp đi vay hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp: kết quả kinh doanh hàng quí

và hàng năm của doanh nghiệp

Các khoản tín dụng hiện tại và lịch sử của các khoản tín dụng quá khứ của doanh nghiệp: Nếu hiện tại doanh nghiệp đang có các khoản vay khác và có các khoản vay tín dụng quá hạn chưa được thanh toán hay doanh nghiệp có các khoản vay tín dụng đã được thanh toán nhưng thường quá hạn phải chi trả thì tín tin cậy của doanh nghiệp là thấp, và việc cho doanh nghiệp vay tín dụng sẽ có rủi ro cao

Khả năng tài chính của doanh nghiệp: được căn cứ dựa vào vốn tự có, các khoản cho vay, tài sản thế chấp, người bảo lãnh Các ngân hàng có thể đánh giá mức rủi ro tín dụng trên cơ sở xác định tỷ lệ tổng vốn cần vay của doanh nghiệp/vốn tự có của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này là cao thì rủi ro tín dụng cao, và ngược lại

Tính thanh khoản cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Dù doanh nghiệp có tình trạng kinh tế tốt nhưng nếu tính thanh khoản hay khả năng huy động tiền mặt không cao thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phải thanh toán nợ quá hạn quy định Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có rủi ro tín dụng cao

Rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mạiSửa đổi

Trang 38

Một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dụng là một nhân tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi ro là hai bộ phận không thể thiếu trong

cơ cấu tổ chức của bất kỳ ngân hàng thương mại nào

Rủi ro về lãi suất:

Rủi ro về lãi suất trong bảo lãnh ngân hàng được thể hiện dưới nhiều dạng: Trong nền kinh tế thị trường lãi suất huy động vốn luôn biến động trong khi mức phí bảo lãnh đã được xác định cố định trong suốt thời gian hiệu lực của bảo lãnh dẫn tới có khả năng rủi ro lãi suất trong trường hợp lãi suất bình quân đầu vào tăng

Rủi ro hối đoái :

Tỷ giá hối đoái là quan hệ về giá trị giữa hai đồng tiền, hay nó là giá cả của đơn vị tiền tệ này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ khác Tỷ giá luôn biến động nên ngoài các rủi ro thông thường, bảo lãnh bằng ngoại tệ còn có rủi ro hối đoái

Rủi ro mất khả năng thanh toán :

Căn cứ vào tỷ lệ trích quỹ bảolãnh là 5% giá trị bảo lãnh, nếu rủi ro thực tế lớn hơn 5% giá trị bảo lãnh thì khả năng thanh toán trong nghiệp vụ bao lãnh sẽ không bảo đảm, gây tác động xấu đối với khả năng thanh toán chung của ngân hàng Ngược lại khi khả năng thanh toán chung của ngân hàng không đảm bảo khả năng thanh toán trong bảo lãnh cũng bị ảnh hưởng

Nhìn chung mọi rủi ro của doanh nghiệp được bảo lãnh là rủi ro của ngân hàng:

Nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh rất đa dạng Ngoài những rủi ro chung như thiên tai, hoả hoạn còn có những nguyên nhân như thiếu thông tin, lạm

Trang 39

phát, các chính sách không ổn định trong đó đặc biệt là chính sách thuế, tình hình chính trị không ổn định

Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng đã khẳng định bảo lãnh cam kết của ngân hàng chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo lãnh

Như vậy có thể kết luận rằng mọi rủi ro của các doanh nghiệp được bảo lãnh dẫn tới doanh nghiệp này có thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh cũng sẽ là rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng

1.1.8 Một số nhân tố tác động đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng

1.1.8.1 Nhân tố bên ngoài

Môi trường kinh tế - xã hội

Môi trường kinh tế - xã hội là yếu tố đầu tiên tác động đến mọi hoạt động kinh tế và xã hội Hoạt động bảo lãnh ngân hàng cũng không ngoại lệ Khi môi trường kinh tế - xã hội ổn định sẽ tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng ngày càng phát triển Ngược lại, khi môi trường kinh tế - xã hội có những biến động bất lợi, hoạt động kinh tế gặp khó khăn sẽ tác động không tốt đến hoạt động của NHTM, trong đó có bảo lãnh

Hành lang pháp lý

Hành lang pháp lý tác động không nhỏ đến mọi hoạt động của ngân hàng Với hoạt động bảo lãnh ngân hàng, hành lang pháp lý tạo nên khung pháp lý cần thiết để các ngân hàng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Một hành lang pháp lý đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong hoạt động bảo lãnh và giúp tránh được rủi ro không đáng có

Các cơ quan Nhà nước sẽ xây dựng những chính sách, quy định về bảo lãnh

để định hướng cho việc phát triển hoạt động bảo lãnh ở các NHTM, với những định hướng này hoạt động bảo lãnh sẽ được kiểm soát và quản lý chặt hơn để hạn chế rủi

Trang 40

ro nhưng nó cũng không làm giảm bớt sự linh hoạt trong khi thực hiện bảo lãnh của các ngân hàng

* Năng lực của các khách hàng được bảo lãnh :

Năng lực của khách hàng được đánh giá trên nhiều khía cạnh như : năng lực tài chính, khả năng sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý doanh nghiệp, tư cách pháp lý … và các điều kiện khác Nếu những điều này không đáp ứng đủ về điều kiện để ngân hàng thực hiện một khoản bảo lãnh thì ngân hàng sẽ không thể phát hành bảo lãnh cho doanh nghiệp Năng lực của khách hàng cũng cho ta thấy khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình khi tham gia hợp đồng bảo lãnh và một điều tất nhiên là khách hàng có năng lực thấp thì khoản bảo lãnh sẽ chứa đựng nhiều rủi ro hơn và khi đó chất lượng bảo lãnh sẽ không được đảm bảo

* Tư cách đạo đức của khách hàng :

Hoạt động bảo lãnh là hoạt động dựa trên uy tín và sự tin tưởng giữa các bên

do đó mà tư cách đạo đức của khách hàng là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của bảo lãnh Thật vậy nếu sự hợp tác của khách hàng trong việc cung cấp các thông tin chính xác và sự tuân thủ nguyên tắc chung của khách hàng là điều kiện để

có được một hợp đồng bảo lãnh chất lượng cao Còn khi khách hàng cố tình đưa ra những thông tin giả mạo và côốtình lừa dối, trây ì các khoản thanh toán cho ngân hàng hàng thì lúc đó châấtlượng bảo lãnh sẽ không đạt được như mong muốn

1.1.8.2 Nhân tố bên trong

Các loại sản phẩm

Danh mục bảo lãnh cung cấp cho khách hàng phản ánh mức độ đa dạng về sản phẩm này của một NHTM Điều này cũng thể hiện sự quan tâm trong việc phát triển hoạt động bảo lãnh của NHTM đó Đối với các ngân hàng chủ trương đẩy mạnh hoạt động này, doanh mục sản phẩm bảo lãnh sẽ ngày càng phong phú và hướng tới nhiều đối tượng khách hàng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu da dạng của khách hàng Ngược lại, các ngân hàng ít quan tâm đến hoạt động này, các sản phẩm bảo lãnh sẽ sơ sài và nghèo nàn

Ngày đăng: 27/02/2021, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w