Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hi
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI
CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 ĐẾN NĂM 2010
Hµ néi 2006
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI
CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 ĐẾN NĂM 2010
Hµ néi 2006
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined CHƯƠNG I Error! Bookmark not defined.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Error! Bookmark not defined.
I.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Error! Bookmark not
defined
I.1.1 Lĩnh vực tin học Error! Bookmark not defined I.1.2 Lĩnh vực truyền thông Error! Bookmark not defined I.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN VÀ CNTT Error! Bookmark not
defined
I.2.1 Đặc điểm của CNTT Error! Bookmark not defined
I.2.2 Vai trò của thông tin và CNTT Error! Bookmark not defined I.3.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CNTT Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined I.4 TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CNTT Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined I.4.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính NN Error!
Bookmark not defined
I.4.2.Thực trạng ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp Việt Nam Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG II Error! Bookmark not defined.
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TY
ĐIỆN LỰC 1 Error! Bookmark not defined II.1 ĐẶC THÙ ỨNG DỤNG CNTT TRONG CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 Error!
Bookmark not defined
II.1.1 Vài nét về lịch sử phát triển ngành điện và CTĐL1Error! Bookmark not
defined
II.1.2 B ối cảnh phát triển và đặc thù ứng dụng CNTT trong Công ty Điện lực
1 Error! Bookmark not defined
II.1.2.1 Bối cảnh phát triển Error! Bookmark not defined II.1.2.2 Đặc thù ứng dụng CNTT trong CTĐL 1 Error! Bookmark not
defined
II.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT TRONG
CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1: Error! Bookmark not defined
II.2.1 Trang thiết bị phần cứng Error! Bookmark not defined
II.2.1.1 Tại trụ sở Công ty Điện lực 1 Error! Bookmark not defined II.2.1.2 Tại Điện lực tỉnh và các đơn vị phụ trợ Error! Bookmark not
defined
II.2.2 Các chương trình phần mềm đang thực hiện tại Công ty Điện lực 1Error!
Bookmark not defined
II.2.3 Công tác viễn thông và tự động hoá Error! Bookmark not defined
II.2.3.1.Công tác phát triển mạng truyền dẫn: Error! Bookmark not defined II.2.3.2 Công tác xây dựng mạng CDMA 2000x450MHz: Error! Bookmark
not defined
II.2.3.3 Công tác tự động hoá Error! Bookmark not defined
II.2.4 Nhân sự làm công tác CNTT và viễn thông tại Công ty Điện lực 1Error!
Bookmark not defined
II.2.4.1 Đội ngũ chuyên tin học Error! Bookmark not defined
Trang 4phát triển công tác tin học trong Công ty: Error! Bookmark not defined
II.2.4.2 Trình độ phổ cập tin học Error! Bookmark not defined
II.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG Error! Bookmark not defined II.3.1 Đánh giá về hiện trạng trang bị phần cứngError! Bookmark not defined
II.3.2 Nhận xét đánh giá công tác phần mềm Error! Bookmark not defined
II.3.3 Nhận xét đánh giá công tác Viễn thông và tự động hóa Error! Bookmark
not defined
II.3.4 Nhận xét đánh giá về đội ngũ làm CNTT Error! Bookmark not defined CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆNError! Bookmark not defined.
KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT TẠI CÔNG
TY ĐIỆN LỰC 1 ĐẾN NĂM 2010 Error! Bookmark not defined.
III.1 KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CNTT TẠI CÔNG TY
ĐIỆN LỰC 1 Error! Bookmark not defined III.1.1 Các mục tiêu, định hướng phát triển CNTT ở Việt Nam: Error!
Bookmark not defined
III.1.2 Các mục tiêu định hướng phát triển CNTT của CTĐL 1 Error!
Bookmark not defined
III.1.3 Kế hoạch phát triển CNTT đến năm 2010 : Error! Bookmark not
defined
III.1.3.1 Công tác phần cứng Error! Bookmark not defined III.1.3.2 Công tác xây dựng và triển khai các dịch vụ phần mềm .Error!
Bookmark not defined
III.1.3.3 Ứng dụng CNTT trong quản lý giám sát hoạt động của hệ thống
điện (đến năm 2010) Error! Bookmark not defined III.1.3.4 Kế hoạch tổng thể phát triển viễn thông điện lực :Error! Bookmark
not defined
III.1.3.5 Nguồn nhân lực làm công tác CNTT và viễn thông .Error!
Bookmark not defined
III.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ ỨNG
DỤNG CNTT TẠI CTĐL 1 Error! Bookmark not defined
Giải pháp 1: Hoàn thiện hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin đảm bảo vận hành thông
suốt từ công ty đến tận các chi nhánh điện Error! Bookmark not defined
Giải pháp 2: Củng cố công tác quản lý, định hướng và phát triển ứng dụng
CNTT Error! Bookmark not defined
Giải pháp 3: Triển khai ứng dụng CNTT để tự động hoá công tác quản lý vận
hành hệ thống điện Error! Bookmark not defined Giải pháp 4: Các giải pháp liên quan đến nguồn nhân lựcError! Bookmark not
defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 5Trong quá trình toàn cầu hoá và hình thành nền kinh tế mới, công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh
tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại
Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Điện lực là một trong những ngành trọng yếu của quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến không chỉ hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế mà cả an ninh quốc phòng và an toàn quốc gia Bởi vậy, Đảng và Nhà nước Việt nam đã xác định phải đầu tư phát triển điện đây là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước và đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy phát triển ngành này trong suốt thập niên 90
Những thành tựu to lớn của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin - truyền thông đã chuyển các hoạt động xã hội loài người từ văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây ngành Điện lực Việt Nam đã chú trọng vào đầu tư và phát triển lĩnh vực Công nghệ thông tin - truyền thông, đưa lĩnh vực Công nghệ thông tin - truyền thông trở thành lực lượng sản xuất kinh doanh trực tiếp Toàn bộ hoạt động về công nghệ thông tin của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam cũng như các đơn vị thành viên của Tổng công ty luôn được cập nhật
Trang 6thay đổi để tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu đa dạng và nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ trong việc xây dựng và phát triển các hệ thống thông tin trong toàn ngành
Là một trong những thành viên của Tổng công ty điện lực Việt Nam, Công ty Điện lực 1 có chức năng quản lý phân phối điện trên địa bàn 25 tỉnh Miền Bắc, bởi vậy, công nghệ thông tin là hướng ưu tiên phát triển của công
ty trong những năm qua Trong điều kiện nhu cầu sử dụng điện năng của xã hội ngày càng cao, Công ty điện lực I không ngừng tăng cường phát triển cơ
sở hạ tầng thông tin - truyền thông, nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong lĩnh vực này trong Vì vậy, nghiên cứu toàn diện thực trạng ứng dụng CNTT tại Công ty Điện lực 1 và đề ra các giải pháp phát triển CNTT cho Công ty trong thời gian tới nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh là việc làm cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong vòng một thập niên trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực CNTT đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều giới trên nhiều quốc gia Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề như: Kinh tế tri thức, Thương mại điện tử, CNTT và ứng dụng của CNTT vào doanh nghiệp, công nghiệp phần mềm v.v… Các đề tài nghiên cứu đã có luôn bám sát những chuyển biến mạnh mẽ của quá trình phát triển CNTT Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về thực trạng ứng dụng CNTT ở một doanh nghiệp
cụ thể nhằm đề ra phương hướng và giải pháp cho doanh nghiệp
Qua quá trình công tác nhiều năm tại Công ty điện lực 1, nhận thức được vai trò quan trọng của CNTT đối với việc quản lý sản xuất, kinh doanh của
công ty, chính vì vậy, đề tài của luận văn đã được lựa chọn là “Phân tích và
đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch tổng thể về phát triển ứng dụng công nghệ thông tin tại Công ty Điện lực 1 đến năm 2010 ”
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trang 7Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ tầm quan trọng của
CNTT trong nền kinh tế nói chung và ngành điện nói riêng; đồng thời nắm được thực trạng của việc phát triển và ứng dụng CNTT trong Công ty Điện lực 1, từ cơ sở lý luận và thức tiễn đó, luận văn cũng đề xuất những giải pháp nhằm phát triển CNTT phục vụ sản xuất kinh doanh cho công ty
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc ứng dụng CNTT trong công tác sản xuất kinh doanh tại Công ty Điện lực 1
- Luận văn hệ thống hoá các khái niệm về CNTT và vai trò của việc ứng dụng
CNTT đối với nền kinh tế và ngành điện lực
- Luận văn đánh giá các tình hình ứng dụng CNTT tại Công ty Điện lực 1
- Trên cơ sở đó, luận văn tổng hợp và đưa ra các định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển CNTT tại Công ty Điện lực 1
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công nghệ thông tin
Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong Công ty Điện lực
1
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch tổng thể về phát triển ứng dụng công nghệ thông tin tại Công ty điện lực 1 đến năm 2010
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
1 Bảng 1: Cơ cấu thị trường công nghệ thông tin Trang 16
2 Bảng 2: Cơ cấu khách hàng của ngành công nghiệp CNTT
năm 2004
Trang 21
3 Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức Công ty Điện lực 1 Trang 29
4 S ơ đồ 2: Sơ đồ hệ thống kết nối mạng diện rộng trong toàn
6 Sơ đồ 4: Tam giác phân công trách nhiệm Trang 78
8 Sơ đồ 5: Minh họa mô hình đào tạo đa phương tiện Trang 84
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
bao kỹ thuật số bất đối xứng ADSS All dielectric self supporting Fiber Optical cable: c áp sợi
quang treo phi kim loại
BSC Base Station Controller : Thiết bị điều khiểm trạm thu
phát gốc BTS
phân chia theo mã
chương trình quản lý khách hàng
DLU Digital Line Unit: Khối kết nối đường thoại kỹ thuật số
kênh theo bước sóng dầy đặc
chương trình quản lý tài chính IEEE Electrical and Electronics Engineers: Tổ chức kỹ sư điện,
tuyến
theo phân cấp Ghép kênh cận đồng bộ
PINET Hệ thống chương trình quản lý thiết bị lưới điện
trên đường dây tải điện
Trang 10POP Point of Presence: Giao diện đấu nối điểm nối điểm trong
hệ thống cáp (nâng cao độ an toàn tại các điểm đấu nối)
giám sát điều khiển và thu thập số liệu
thuật số theo phân cấp đồng bộ
kỹ thuật số đối xứng SLMA Subscriber line module, Analog: Khối kết nối đường liên
lạc tương tự SLMD Subscriber line module, Digital: Khối kết nối đường liên
Truyền hình Việt Nam VoIP Voice over IP - Dịch vụ điện thoại đường dài sử dụng
công nghệ IP (Internet Protocol)
theo bước sóng
Trang 11CH ƯƠNG I
I.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Công nghệ thông tin (CNTT) hiện đang được nói đến như một lĩnh vực
có tác động sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo nên “xã hội thông tin” – một xã hội đang từng bước hình thành tại các nước phát triển Vậy CNTT là gì ?
Theo định nghĩa chung nhất, thông tin là những hiểu biết, những tri thức
về một đối tượng hay một vấn đề
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xứ 1ý thông tin Theo quan niệm này thì công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người.1
Ngành công nghiệp CNTT bao gồm: công nghiệp phần cứng máy tính, công nghiệp phần mềm, mạng viễn thông nối các máy tính, và nội dung thông tin; ngày nay CNTT đang phát triển theo hướng hội tụ với viễn thông, truyền thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản
Như vậy, nghiên cứu về CNTT là nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới hai lĩnh vực chính, đó là lĩnh vực tin học và lĩnh vực truyền thông
Trang 12Phần cứng là bản thân máy tính điện tử (CPU) và các thiết bị ngoại vi đi
kèm, bao gồm con chip, màn hình, bộ nhớ, đĩa cứng, Phần cứng máy tính đã
có sự phát triển qua 5 thế hệ:
- Thế hệ 1 (Thập niên 50): Dùng bóng điện tử chân không, tiêu thụ năng
lượng rất lớn Kích thước máy rất lớn (khoảng 250 m2) nhưng tốc độ xử lý lại rất chậm, chỉ đạt khoảng vài ngàn phép tính trên 1 giây trong khi lại đặc biệt đắt
- Thế hệ 2 (Thập niên 60): Các bóng điện tử đã được thay bằng các bóng làm bằng chất bán dẫn nên năng lượng tiêu thụ giảm, kích thước nhỏ hơn (50
m2), tốc độ xử lý đạt khoảng vài chục ngàn phép tính trên 1 giây
- Thế hệ 3 (Thập niên 70): Thời này đánh dấu một công nghệ mới làm nền tảng cho sự phát triển máy tính sau này, đó là công nghệ vi mạch tích hợp
IC Máy có kích thước gọn hơn nhiều và tiêu thụ năng lượng ít hơn, tốc độ xử
lý đạt vài trăm ngàn phép tính trên 1 giây
- Thế hệ 4 (Thập niên 80): Cũng dùng vi mạch tích hợp nhưng nhỏ gọn
hơn mà tốc độ tính toán lại cao hơn nhờ các công nghệ ép vi mạch tiên tiến
Có nhiều loại máy cùng tồn tại để phục vụ cho nhiều mục đích, trong đó có 3 loại chính là:
+ Siêu máy tính (Main Frame Computer): Có kích thước rất lớn và có rất nhiều tính năng đặc biệt, thường được sử dụng trong chính phủ, quân đội hay viện nghiên cứu… và có giá rất đắt
+ Máy mi -ni (Mini Computer): Đây không phải loại máy tính bỏ túi mà thực ra là máy tính cỡ vừa, phù hợp cho các mục đích sử dụng ở các công ty, các cơ quan hay trụ sở, v.v…
+ Máy vi tính (Micro Computer): ra đời vào năm 1982, máy vi tính có nhiều ưu điểm như: giá rẻ và liên tục giảm giá, kích thước nhỏ gọn nên dễ dàng di chuyển và đặt để, tiêu thụ năng lượng ít và ít hư hỏng Máy vi tính bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1987
Trang 13- Thế hệ 5: Là thế hệ máy tính hiện nay, tập trung phát triển về nhiều mặt như tính năng, tốc độ xử lý và đặc biệt có tính hỗ trợ và hệ thống Một chiếc máy tính cá nhân (Personal Computer – PC) có thể xử lý hàng chục tỷ phép tính trong 1 giây Trong những năm chuyển tiếp, PC đã phát triển tương đương máy cỡ vừa và cả máy cỡ lớn về tốc độ và dung lượng chứa Xa hơn nữa, qua việc nối mạng, chúng được kết thành chuỗi để thực hiện các mục tiêu mà trước đây chỉ có máy tính cỡ lớn hay cỡ vừa mới thực hiện nổi, vì vậy giảm được rất nhiều kinh phí đồng thời mang tính phổ dụng cao
Phần mềm là một bộ phận cấu thành quan trọng bậc nhất của máy tính,
là tập hợp các chuỗi lệnh máy (chương trình) và các dữ liệu cần thiết (số liệu,
âm thanh, hình ảnh, ) để điều khiển phần thiết bị và cả hệ thống thực hiện các chức năng nhất định Người ta ví phần cứng như phần xác mà hệ thần kinh của nó là phần mềm Sự thông minh của máy tính phụ thuộc vào phần mềm, tất nhiên cấu hình của phần cứng càng mạnh thì làm cho phần mềm hoạt động càng hiệu quả
Có 3 loại phần mềm:
- Phần mềm hệ thống (system infrastructure softwares);
- Các công cụ phát triển ứng dụng (application development tools);
- Các giải pháp ứng dụng (application solutions);
Dịch vụ công nghệ thông tin bao gồm các hoạt đông tư vấn, đào tạo,
huấn luyện về công nghệ thông tin, lắp ráp, vận hành, khai thác, bảo trì các thiết bị phần cứng, cài đặt, sữa lỗi phần mềm,
Trang 14I.1.2 Lĩnh vực truyền thông
Truyền thông là việc trao đổi, xử lý thông tin hai chiều qua khoảng cách
và qua không gian nhờ các vật liệu, thiết bị điện, điện tử hữu tuyến và vô tuyến như dây đồng, cáp đồng trục, cáp quang, điện thoại, vô tuyến điện, các vệ tinh liên lạc (địa tĩnh và tầm thấp)
Sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực truyền thông đã góp phần khắc phục những trở ngại về khoảng cách địa lý, về cấp bậc quản lý trong cơ cấu tổ chức thông thường, làm cho cơ chế ra quyết định và các chuẩn mực trong kinh doanh cũng được cải thiện Do vậy các tổ chức nằm trong miền toàn cầu hoá đang được biến đổi và trở nên có hiệu quả hơn Nhờ vậy, cho phép chuyển đổi, hợp lý hoá, tự động hoá nhiều thủ tục kinh doanh vốn mang tính truyền thống, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp lớn và nhỏ
I.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN VÀ CNTT
I.2.1 Đặc điểm của CNTT
Việc nhận thức và ứng dụng CNTT đối với hoạt động kinh tế nói chung
và ngành điện nói riêng hiện nay là vô cùng cần thiết Tại những nước phát triển trên thế giới, từ cá nhân cho tới các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
và cơ quan chính phủ đều tìm mọi cách tận dụng sức mạnh của CNTT bởi CNTT có những đặc điểm sau:
- Tốc độ: đặc trưng của máy tính là tốc độ tính toán ngày càng cao, ngày
nay đã đạt tới con số hàng tỷ thao tác /giây Tốc độ cao của CNTT thể hiện ở việc thực hiện các phép tính toán phức tạp, truy cập các thông tin đang lưu trữ, truyền thông tin từ chỗ này sang chỗ khác rất nhanh Hơn thế nữa, ngoài khả năng xử lý, những ứng dụng về CNTT còn đem lại cho chúng ta khả năng tìm kiếm và chọn lọc thông tin một cách hiệu quả - một điểm rất quan trọng khi ngày nay lượng thông tin lưu trữ đủ lớn để trở thành những kho dữ liệu khổng lồ mà nếu theo những cách thông thường, cơ may tìm được thông tin hữu ích là cực nhỏ
Trang 15- Nhất quán: Công việc do CNTT thực hiện đều trước sau như một,
nghĩa là dù tính toán bao nhiêu lần thì quy trình tính toán cũng được lặp lại đúng như vậy, không phân biệt thời tiết, không biết mỏi mệt, không bị dao động bởi các tác động của môi trường xung quanh (nhưng nhiều khi bị quy là
"máy móc") Nhược điểm này lại là ưu điểm tuyệt vời cho các nhà quản lý khi
họ có thể dự đoán chính xác khả năng cũng như hoạt động thực tế của một hệ thống ứng dụng CNTT
- Chính xác: Ngoài việc thực hiện nhanh, CNTT còn hoạt động với độ chính xác cao, cho phép trong khoảnh khắc nhận ra các sự khác biệt mà con
người không nhận biết được, với các thuật toán và quy trình xử lý thích hợp
có thể tính toán kết quả với độ chính xác tùy ý, và không bỏ sót bất cứ tình huống hoặc dữ liệu nào Trong mô hình ra quyết định, con người thường phạm sai lầm khi bỏ qua các phương án mà họ có “cảm giác” là không đem lại hiệu quả Rõ ràng CNTT đã đem lại một giải pháp toàn diện, tránh được những sai lầm mang tính chất “con người”
- Ổn định: Trong các lần tính toán khác nhau, từ một giá trị đầu vào bao
giờ cũng chỉ có một giá trị đầu ra - đó là tính ổn định về kết quả Còn một tính
ổn định nữa liên quan đến chất lượng các phương tiện CNTT (cả phần mềm lẫn phần cứng) - đó là ổn định về mặt sử dụng Trước đây máy móc chóng hỏng hơn nhiều, yêu cầu môi trường vận hành khắt khe, các công nghệ sơ khai thường chưa đựng những lỗi tiềm ẩn Còn ngày nay độ tin cậy cao hơn rất nhiều
I.2.2 Vai trò của thông tin và CNTT
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại
Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng
Trang 16cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thông tin CNTT là nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, nâng mức sống của người dân Tại nhiều nước, Chính phủ
đã dành sự ưu tiên cao cho phát triển CNTT nhằm tạo cơ sở tiến vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức Mục tiêu của sự ưu tiên này là cung cấp dịch
vụ thông tin tới bất cứ ai, tại bất cứ đâu và vào bất cứ khi nào Internet đang được đón nhận ngày càng rộng rãi tại nhiều quốc gia đang phát triển Mức độ ảnh hưởng của nó đến kinh tế và văn hoá của nhiều nước ngày càng tăng Trong nền kinh tế thông tin, sự tạo ra thông tin (nội dung), sự trao đổi thông tin (mạng thông tin) và sự xử lý thông tin (máy tính) sẽ là những lĩnh vực hết sức quan trọng của bất cứ quốc gia nào Chúng sẽ đóng góp nhiều vào sự phồn thịnh của mỗi quốc gia Mức đóng góp của công nghiệp thông tin vào chỉ số GDP sẽ trở thành chỉ số chính để đo mức độ phát triển của mỗi quốc gia Khó có thể đo đếm hoặc miêu tả mức độ ảnh hưởng của thông tin và CNTT đến các nền kinh tế và xã hội Nhiều mô hình kinh tế truyền thống vững chắc cũng cần được cải tổ trong sự phát triển của Internet Sự tiến bộ của Internet và mạng thông tin liên lạc hiện đại truy nhập tốc độ cao (Broad- Band) đã tập hợp toàn
bộ nền văn minh của nhân loại thành một kho thông tin toàn cầu mà trong đó con người có thể nhanh chóng truy cập thông qua việc sử dụng nhiều dịch vụ thông tin liên lạc như điện thoại, điện thoại thấy hình và Internet, không phân biệt biên giới, ngôn ngữ CNTT đã thay đổi toàn
diện cả thế giới về cách thức làm việc, kinh doanh, thói quen sống, chăm sóc sức khỏe, giải trí, giáo dục và đào tạo CNTT tạo ra cơ hội cho tất
cả mọi người khả năng vươn lên bắt nhịp với trình độ hiện đại nhất
Trang 17nhưng đồng thời cũng là một thách thức to lớn đối với các nước về dãn khoảng cách tụt hậu đối với các nước phát triển
Trước hết, chúng ta cần nói về ảnh hưởng của thông tin và CNTT đến các hoạt động kinh tế Internet và mạng thông tin liên lạc đã ảnh
hưởng sâu sắc đến cách thức các công ty điều hành hoạt động kinh doanh Nhiều quy trình kinh doanh hiệu quả cao trước đây đã trở nên lỗi thời và cần thay đổi trong thời kỳ phát triển Internet Internet phát triển song hành với công nghiệp thông tin đã đưa lĩnh vực dịch vụ đến một vị trí quan trọng có thể được so sánh với lĩnh vực sản xuất Tại một số nước phát triển cao, lĩnh vực dịch vụ góp phần hết sức quan trọng vào tổng thu nhập quốc dân Thông tin và CNTT cũng thay đổi hình thức của nhiều sản phẩm Chúng ta có thể lấy ví dụ về công nghiệp âm nhạc Các sản phẩm âm nhạc đã được bán dưới dạng đĩa, băng từ và đĩa compact Ngày nay, thông qua Internet, khách hàng có thể mua sản phẩm âm nhạc dưới hình thức điện tử (các tệp dữ liệu) Không chỉ hình thức sản phẩm thay đổi mà phương pháp giao hàng cũng thay đổi một cách ngoạn mục Theo cách truyền thống, khách hàng cần đến cửa hàng bán sản phẩm âm nhạc mua băng, đĩa Nhưng với sự sẵn có của mạng thông tin và dịch vụ hiện nay, khách hàng chỉ cần ngồi một chỗ bên máy tính và tải âm nhạc từ những cửa hàng ảo về
Thông tin và CNTT đã mang đến một khái niệm mới: đó là “làm việc công tại nhà” Thông qua mạng máy tính, nhân viên có thể nhận chỉ dẫn, yêu cầu và đệ trình kết quả lên lãnh đạo của họ trong khi vẫn ở nhà Quan niệm mới này đã mang lại nhiều thuận tiện Các cơ quan, tổ chức không cần thuê văn phòng to – như vậy sẽ tiết kiệm hơn Nhân viên cũng
có thể tiết kiệm thời gian và chi phí di chuyển Kết quả là sẽ có sự hoán đổi giữa nhà và văn phòng, giảm bớt tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường Có nhiều cách mà thông tin và CNTT ảnh hưởng đến đời sống kinh tế như phân phối điện năng và dịch vụ y tế Công nghệ mạng
Trang 18máy tính cho phép công nghiệp ngân hàng vận hành tự động và hỗ trợ cho sự hoạt động của nhiều dịch vụ tài chính mới như dịch vụ thẻ tín dụng, dịch vụ giao dịch điện tử Thông tin và CNTT không chỉ ảnh
hưởng đến kinh tế các nước mà còn ảnh hưởng đến xã hội và văn hoá các quốc gia này Hệ thống giáo dục cũng chịu nhiều ảnh hưởng Bên cạnh
phương pháp truyền thống ngày nay, phương pháp đào tạo từ xa cũng rất thuận tiện và có nhiều triển vọng Với phương pháp này, sinh viên có thể chọn tốc độ học phù hợp, hoặc tại nhà hoặc tại lớp Với phương pháp đào tạo từ xa, con người có thể theo học liên tục cả đời nếu như họ mong muốn thế mà không gặp phải trở ngại nào
I.3.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CNTT Ở VIỆT NAM
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương vận dụng công nghệ - thông tin trong một số lĩnh vực Bước sang thời
kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính phủ
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991 của Bộ Chính trị về khoa học
và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu : "Tập trung sức phát triển một
số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học, " Nghị quyết
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) ngày 30-7-1994
xác định : "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân" Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh :
"ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo
ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế" Để thể chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển công nghệ thông tin
ở Việt Nam trong những năm 90"
Trang 19Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ những năm 70 công nghệ thông tin ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò và ý nghĩa quan trọng của công nghệ thông tin đã được nâng lên một bước Nguồn nhân lực về công nghệ thông tin tăng lên đáng kể Viễn thông đang phát triển nhanh theo hướng hiện đại hoá Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 05 tháng 6 năm 2000 của Chính phủ
về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 - 2005 đang
và sẽ tiếp tục tạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh, sản xuất và cung ứng dịch vụ phần mềm Tuy nhiên, công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực Việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn của công nghệ thông tin chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ, viễn thông và Internet chưa thuận lợi, chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; đầu tư cho công nghệ thông tin chưa đủ mức cần thiết; quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của công nghệ thông tin chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứng dụng công nghệ thông tin với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chậm ban hành các chính sách đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; quản lý nhà nước trong các lĩnh vực máy tính, viễn
Trang 20thông và thông tin điện tử chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông và Internet, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế, xã hội
Ngành công nghiệp CNTT của nước ta đã có những chuyển biến tích cực trong mấy năm trở lại đây Thị trường CNTT Việt Nam những năm qua tăng trưởng với tốc độ khá cao, đạt 20-25% trong những năm qua, và được đánh giá là khu vực có mức độ tăng trưởng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế
Khách hàng chủ yếu của thị trường CNTT Việt Nam là các tổ chức Chính phủ và các doanh nghiệp Nhà nước, chiếm khoảng 71%, tiếp đến là các văn phòng đại diện và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 21%, còn lại là các doanh nghiệp tư nhân và các gia đình Nhà nước luôn tạo các ưu đãi cho các công ty phần cứng lẫn phần mềm, đặc biệt là những ưu đãi
về thuế, hỗ trợ đầu tư, thành lập tại các công viên phần mềm…
Tuy nhiên, CNTT Việt Nam đang phát triển với quy mô nhỏ, cơ cấu còn mất cân đối nghiêm trọng, còn quá chú trọng đến phần cứng mà bỏ qua phần mềm và dịch vụ CNTT Theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường CNTT Việt nam trong những năm qua có cơ cấu như sau (có sự so sánh với các khu vực khác):
Bảng 1: Cơ cấu thị trường công nghệ thông tin
Nguồn: Đề án phát triển công nghiệp phần mềm 2000-2005
Mức chi cho CNTT của nước ta còn rất thấp Năm 1999 so với GDP, mức chi này chỉ chiếm 0,67%, năm 2000 là 0,9%; thấp hơn nhiều so với các nước khác trên thế giới trong đó mức chi ngân sách cho lĩnh vực này là 0,4%,
Trang 21trong khi đó ở Ấn độ là 0,8%, Malaysia là 0,9% Do vậy, ngành công nghiệp CNTT của Việt Nam hiện chưa có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Thực tế, ngành công nghiệp CNTT nước ta hiện nay đang mới ở giai đoạn hình thành, bởi quy mô của nó còn quá nhỏ bé Đối với phần cứng, hiện nay Việt Nam chưa sản xuất được bất cứ linh kiện máy tính nào, chỉ dựa vào nhập khẩu nguyên chiếc và nhập khẩu linh kiện để lắp ráp trong nước Đối với phần mềm, quy mô còn nhỏ, nhân lực thiếu và yếu, trong lúc đó nhu cầu trong nước rất lớn Do đó, phương hướng chính của Việt Nam là từng bước nội địa hoá phần cứng, tập trung vào phát triển phần mềm để tận dụng những
ưu thế của mình
I.4 TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CNTT Ở VIỆT NAM
I.4.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính NN
Đến nay, hệ thống mạng tin học cục bộ tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc TW và các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ đã được thiết lập Hệ thống này bao gồm cả hệ thống tác nghiệp, quản lý hồ sơ công việc và các kho dữ liệu phục vụ nghiên cứu, trợ giúp quá trình ra quyết định điều hành Mạng tin học diện rộng của Chính phủ (CPnet) xây dựng từ năm 1997, đến nay đã nối được với tất cả 61 tỉnh, thành và gần 40 cơ quan ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ Mạng CPnet có quy mô 2500 máy trạm, 180 máy chủ và 50 chương trình ứng dụng khác nhau Với CPnet, các cơ quan hành chính Nhà nước có thể thực hiện việc truyền nhận thông tin đa chiều, bao gồm hệ thông văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống báo cáo định kỳ, đột xuất, thư tín điện tử, đảm bảo nhanh chóng, an toàn, phục vụ cho hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Nhà nước
Cùng với việc xây dựng mạng tin học diện rộng CPnet, 6 cơ sở dữ liệu quốc gia đã được triển khai, bao gồm: cơ sơ dữ liệu quốc gia về tài chính, thống kê kinh tế – xã hội, pháp luật, tài nguyên đất và dân cư Trong đó, 2 cơ
2 Bùi Trường Giang (2002), “Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở Mỹ hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 289, tháng 5 – 2002
Trang 22sở dữ liệu về tài chính và thống kê đã có số liệu phục vụ tốt cho công tác điều hành, chỉ đạo của Chính phủ Và hiện nay, Chính phủ đang đầu tư hơn 1.000
tỷ đồng cho việc triển đề án tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2005, ban hành kèm theo quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 Quyết định này được đưa ra trên cơ sở chỉ thị 58/CT-ngày 17/10/2000, trong đó có phần nêu lên nhiệm vụ ứng dụng CNTT đối với các
cơ quan Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2001-2005
Nhưng nhìn chung, kết quả hiện tại so với mục tiêu đặt ra cho công việc tin học hoá hệ thống thông tin điều hành còn rất khiêm tốn Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là các cấp, các ngành, địa phương chưa nhận thức
rõ vai trò của CNTT với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, biểu hiện cụ thể như sau:
♦ Về điều hành vĩ mô
Chương trình quốc gia về CNTT được đầu tư từ năm 1996 và kết thúc
từ cuối năm 1998 với kinh phí 28 tỷ đồng, với nhiều đề án đã được chính phủ phê duyệt nhưng phần lớn chưa triển khai được Các dự án tin học hoá quản
lý hành chính của các Bộ và các Uỷ ban nhân cấp tỉnh cũng mới chỉ thực hiện được một phần Vốn đầu tư cho tin học hoá khu vực này là 160 tỷ đồng, mới chỉ đáp ứng được 20-25% nhu cầu kinh phí của các đề án đã được duyệt của
100 cơ quan hành chính cấp Bộ, tỉnh
Theo điều tra của Văn phòng Chính phủ, đa số các đề án tin hoá bị ngừng lại, một số cơ quan có khả năng tiếp tục đầu tư thì phát triển theo hướng công nghệ riêng, một số cơ quan khác thì chờ chủ trương phát triển thống nhất của Chính phủ Các cơ sở dữ liệu quốc gia chỉ mới đáp ứng khoảng 10% nhu cầu vốn đầu tư (30 tỷ đồng) Do vậy các cơ quan dữ liệu quốc gia chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành luận chứng khả thi và triển khai thử nghiệm, đang chờ vốn để tiếp tục triển khai tiếp
♦ Cát cứ thông tin
Trang 23Nhiều Bộ, ngành coi thông tin quản lý của mình là thông tin riêng, không coi đó là tài sản quốc gia hoặc cung cấp dữ liệu tổng hợp không đầy đủ
để các cơ quan khác có đủ thông tin phục vụ cho việc hoạch định chính sách
và ra quyết định Nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương có thói quen tích luỹ thông tin riêng, nên không sẵn sàng cập nhật thông tin lên mạng tin học để phục vụ lợi ích chung
♦ Dữ liệu mạng tin học
Hệ thống thông tin đã được xây dựng ở một trình độ nhất định, cho phép thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều Thông tin phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính có nhiều, nhưng việc tích luỹ thông tin dưới dạng điện tử chỉ mới dừng ở mức thấp, chỉ có một số loại thông tin
cơ bản được đưa lên mạng diện rộng
♦ Về tổ chức bộ máy
Cho đến nay vẫn chưa có quy định chung về các vị trí, chức năng, nhiệm vụ đối với các đơn vị chủ trì các đề án tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, thậm chí không
có ngạch công chức, không có chức danh cho cán bộ làm công tác tin học Do
đó không thu hút được các chuyên gia tin học giỏi, và việc tiếp thu, chuyển giao công nghệ, chỉ đạo triển khai các dự án ứng dụng rất bị hạn chế, các nguyên tắc của hệ thống mở, các chuẩn chung về CNTT không được giám sát chặt chẽ
Một bài học mà nền CNTT Việt Nam đang phải đau đầu giải quyết đó
là không có một hệ thống mã chuẩn thống nhất cho tiếng Việt ngay từ đầu
Do không có sự thống nhất ngay từ đầu nên trên đất nước Việt Nam còn tồn tại nhiều bảng mã tiếng Việt theo các chuẩn khác nhau (như TCVN 5712, ABC, VNI, CP1258 …) khiến vấn đề ngày càng trở nên một “tai họa” cho CNTT Việt Nam Mặc dù tới nay đã xuất hiện bộ ký tự chuẩn 16 bit cho tiếng Việt trong bảng mã Unicode được quy định áp dụng chung trên toàn quốc,
Trang 24nhưng những hậu quả của tình trạng lộn xộn trên đã gây ra nhiều thiệt hại không thể cứu vãn nổi cho CNTT nước nhà
• Về cơ chế tài chính
Từ năm 1998, kinh phí cho tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước chuyển sang nguồn ngân sách chi thường xuyên, do vậy các Bộ, ngành, địa phương không đủ kinh phí đầu tư để hoàn thành các đề án Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của hầu hết các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước về cơ bản đến nay vẫn chưa được cải thiện hơn so với năm 1998
Do cước phí truyền tin quá cao, những Bộ, ngành truy cập nhiều trên mạng diện rộng của Chính phủ đã phải chi hàng chục triệu đồng/ tháng cho đường trục truyền thông Bắc - Nam Văn phòng Uỷ ban nhân dân các địa phương cũng tốn nhiều chi phí cho việc vận hành mạng này Trong khi đó, do kinh phí hạn hẹp từ nguồn chi thường xuyên của ngân sách, nhiều cơ quan đã hạn chế sử dụng mạng, dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của việc điều hành tập trung
Mặc dù đã được đào tạo, song cán bộ công chức chưa thực sự quen với cách làm việc trên mạng máy tính (cập nhật, phối hợp xử lý, ) mà chủ yếu là xử lý văn bản và khai thác số liệu sẵn có trên mạng
I.4.2.Thực trạng ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp Việt Nam
Trong những năm gần đây, tác động tích cực của chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và Nhà nước ta cùng với sự phát triển mạnh của cơ sở
hạ tầng về kỹ thuật tin học và truyền thông đã tạo điều kiện cho việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng trở nên thuận lợi
Có thể nói CNTT và các ngành có liên quan đến thông tin đã trở thành những nguồn lợi nhuận lớn và là những thành tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu của CNTT vào các lĩnh vực phong phú của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động của các doanh
Trang 25nghiệp đã trở nên khá phổ biến và quen thuộc ở nhiều quốc gia CNTT có thể
hỗ trợ đắc lực cho các nhà doanh nghiệp trong các khâu từ lập kế hoạch kinh doanh, quản lý điều hành quá trình thực hiện, quản lý nhân lực, quản lý tài sản cho tới quản lý thông tin khách hàng, hạch toán kế toán và kể cả các công việc hành chính, văn phòng
Tuy nhiên, mức độ ứng dụng CNTT vào hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam là không đồng đều: mức độ này khá cao ở các doanh nghiệp Nhà nước và nói chung còn tương đối thấp ở các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, các khu vực tổ chức và các doanh nghiệp Nhà nước là khách hàng chủ yếu của thị trường CNTT trong nước, theo số liệu của công ty Điện toán truyền số liệu - FPT, cơ cấu trong những năm gần đây (tỷ lệ này biến động không lớn trong một số năm qua) được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu khách hàng của ngành công nghiệp CNTT năm 2004
Bên cạnh sự kém hiểu biết về CNTT ở tầm vĩ mô của các chủ doanh nghiệp, hiện nay chúng ta còn thiếu những chuyên gia về ứng dụng CNTT, các máy tính được mua về nhưng không đi kèm với việc đào tạo cán bộ một cách có tổ chức để họ sử dụng công cụ công nghệ thông tin hiệu quả Theo một thống kê mới đây của IDC (International Data Corporation - Tập đoàn
Dữ liệu Quốc tế), một tập đoàn của Mỹ chuyên thống kê những số liệu về CNTT của tất cả các nước trên thế giới, dự báo về đầu tư CNTT ở Việt Nam cho đến năm 2006: tỷ trọng đào tạo CNTT ở Việt Nam chỉ chiếm 7% trong
Trang 26khi đó ở các nước, chi phí này chiếm từ 30 - 40 % trong tổng vốn đầu tư Đây
là sự chênh lệch khá lớn, cho thấy hiệu quả mang lại từ việc ứng dụng chưa được phát huy Thêm vào đó, nếu doanh nghiệp muốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho mình, kể cả phần cứng và phần mềm, thì hầu hết nhân viên chưa đáp ứng
đủ trình độ cho một giải pháp tổng thể
Đứng về mặt Nhà nước, chưa có đầy đủ các cơ chế, chính sách, các quy định, các chuẩn mực để hướng dẫn, khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này Các chuẩn này bao gồm chuẩn để các doanh nghiệp sản xuất dựa vào đó để làm ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu ứng dụng, và chuẩn để các nhà ứng dụng làm theo Nhưng một lý do cũng rất quan trọng là về phía các doanh nghiệp chưa có sự chủ động nghiên cứu áp dụng CNTT, chưa có thói quen quản lý điều hành bằng thông tin, chưa có kế hoạch đầu tư vốn và đào tạo cán bộ, nhân viên tương xứng Mặt khác, hiện không có một tổ chức tư vấn độc lập nào dành cho lĩnh vực này một cách đúng nghĩa của nó
Một tình trạng khá phổ biến là các doanh nghiệp chú trọng quá mức vào đầu tư phần cứng, tất nhiên cũng một phần do tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm quá lớn ở Việt Nam hiện nay Tỷ trọng phần cứng chiếm 83,4%; phần mềm chỉ chiếm 5%; còn lại là dịch vụ CNTT Máy vi tính mà không có phần mềm, nhất là các giải pháp ứng dụng thì cũng không thể phục
vụ gì cho công việc kinh doanh Phần mềm xử lý văn bản và bảng tính được
sử dụng phổ biến nhất là MS Word và Excel, sau đó là phần mềm kế toán, Các doanh nghiệp đặt mua phần mềm mới chỉ chiếm 4% 3, chứng tỏ các doanh nghiệp chưa ứng dụng thực sự CNTT vào hoạt động hàng ngày của mình, bởi vì các phần mềm đặt mua đều cần thiết cho một tác vụ kinh doanh nào đó Mặt khác, do ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam chưa phát triển, chưa chú trọng thích đáng cho thị trường phần mềm nội địa, chưa
3 Bùi Trường Giang (2000), Sưu tập “Xu thế kinh tế tri thức: tiền đề, đặc trưng, chiến lược”, NXB Thống kê.
Trang 27nghiên cứu nhu cầu cụ thể của từng hoạt động, nên các ứng dụng đa ngành cũng như chuyên ngành mang đặc thù của Việt Nam chưa có nhiều, cho nên ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình ứng dụng CNTT
Một mảng thứ hai rất quan trọng trong xu thế hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác trong khu vực và trên thế giới đó là thương mại điện tử Nhiều doanh nghiệp đã dần ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của thương mại điện tử trong bối cảnh hiện nay Buôn bán trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B - Business to Business) và giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C - Business to Consumer) là một xu hướng tất yếu, dù hiện nay vẫn chưa được định hình rõ nét
Hiện tại, Việt Nam cũng hình thành được 3 Website thương mại điện
tử với mục tiêu thúc đẩy và giúp đỡ các doanh nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại, tại các trang Web này, các doanh nghiệp có thể tham gia “triển lãm” hàng hoá hay tìm kiếm bạn hàng, tiến hành các hoạt động tư vấn, môi giới, Hai trang lớn là các trang của Hội các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam – YES và mạng thông tin thương mại thị trường Việt Nam – VITRANET
Theo con số thống kê gần đây, Việt Nam chỉ có trên 1.000 doanh nghiệp mở trang web (chiếm 4% số doanh nghiệp) và khoảng vài nghìn doanh nghiệp có quảng cáo trên mạng trong tổng số 5 vạn doanh nghiệp tư nhân, 6.000 doanh nghiệp Nhà nước và hàng vạn loại hình kinh doanh khác trên toàn quốc4 Mặt khác, các trang web của doanh nghiệp Việt Nam đứng riêng
lẻ, tản mát, chìm lấp trong cả biển các website của thế giới và hầu như không
có cơ may được biết đến Tất cả tác dụng của nó chỉ như là một catalogue điện tử giới thiệu cho khách hàng quen chứ không có điều kiện giới thiệu và tìm kiếm khách hàng mới
Hiệp định khung e-ASEAN được các nguyên thủ quốc gia thành viên ASEAN ký ngày 24/11/2000 nhằm mục đích và đẩy mạnh hợp tác để phát
4 Võ Đại Lược (PGS –TSKH): Chương 3 báo cáo tổng hợp “Bối cảnh quốc tế và sự lựa chọn chiến lựơc phát
triển của Việt Nam đến năm 2010” –, trung tâm KHXH & NVQG, 1999-2000 (Viện Kinh tế thế giới)
Trang 28triển, nâng cao tính cạnh tranh của CNTT và truyền thông của các nước ASEAN; giảm mức độ phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong các nước ASEAN; đẩy mạnh hợp tác giữa tư nhân và nhà nước trong việc thực hiện e-ASEAN; đẩy mạnh tự do đó thương mại đối với dịch vụ và đầu tư công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cho việc thực hiện sáng kiến e-ASEAN 5 Hiệp định khung e-ASEAN được đánh giá là một lực thúc đẩy phát triển CNTT, phát triển thương mại điện tử , tiến tới nền kinh tế tri thức của từng nước thành viên cũng như cả khối ASEAN Tham gia Hiệp định này, Việt Nam sẽ tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước phát triển cao về công nghệ thông tin để góp phần san bằng khoảng cách về trình độ phát triển công nghệ thông tin trong khu vực ASEAN đã thông qua 16 dự án, trong đó Việt Nam đã bước đầu tham gia các dự án "Nối mạng giữa các trường học trong ASEAN", "Đào tạo cho các doanh nghiệp về thương mại điện tử", "Đào tạo
để xây dựng luật về thương mại điện tử" Hiện nay, ASEAN đang kêu gọi và
đã nhận được sự ủng hộ của Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc và các nước đối thoại như Nhật Bản, Australia
Khi Hiệp định e-ASEAN được thực hiện đầy đủ, người tiêu dùng Việt Nam cũng như trong toàn khối ASEAN sẽ được hưởng một thị trường tự do
về hàng hóa và dịch vụ CNTT với giá cả thấp Phương thức mua bán hàng hóa qua Intemet, thanh toán bằng thẻ tín dụng sẽ trở nên phổ biến, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng Các khuôn khổ pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: sẽ hình thành với các quy định chặt chẽ hơn Do đó, người tiêu dùng có thể hoàn toàn yên tâm khi mua hàng qua "chợ ảo" trên Internet Hiệp định khung e-ASEAN ghi rõ: "Các doanh nghiệp là đối tượng chính thực hiện thương mại điện tử, Chính phủ là người tạo môi trường thuận lợi cho thương mại" Theo lộ trình tự do hoá thương mại thì đến năm
2010, khoảng 200 mặt hàng liên quan đến trong toàn bộ ASEAN sẽ áp dụng thuế suất 0%, dịch vụ CNTT và truyền thông cũng sẽ đạt được mức độ tự do
5 Vương Liêm (2001) "Kinh tế học Internet - từ thương mại điện tử tới chính phủ điện tử", Nhà xuất bản trẻ
Trang 29hóa cao hơn trong khuôn khổ Hiệp định về dịch vụ ASEAN (AFAS) Mốc thời gian tự do hóa của Việt Nam và các nước thành viên mới của ASEAN được chậm hơn 5 năm so với các nước thành viên cũ Trong thời đại bùng nổ CNTT, 5 năm không phải là dài nhưng các nước tiên tiến lại có thể tiến được những bước rất xa
Trang 30CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1
II.1 ĐẶC THÙ ỨNG DỤNG CNTT TRONG CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1
II.1.1 Vài nét v ề lịch sử phát triển ngành điện và CTĐL1
Kỹ nghệ điện xuất hiện ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ một
số xưởng phát điện hoạt động độc lập, cung cấp dòng một chiều Thời bấy giờ, điện chiếu sáng được ưu tiên trước điện động lực Cho đến năm 1954, tổng công suất nguồn điện toàn quốc mới đạt khoảng 100 MW (Chợ Quán 35
MW, Yên Phụ 22 MW, Cửa Cấm 6,3 MW, Vinh 3,5 MW, Thượng Lý 10
MW, Nam Định 8 MW, và Cọc 5 - 15,5MW ), và một hệ thống lưới điện manh mún, lưới truyền tải cao nhất là 30,5 kV
Từ năm 1954, sau ngày tiếp quản, điện mới được sử dụng rộng rãi hơn,
và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước Thời kỳ 1961- 1965, ở miền Bắc công suất đặt tăng bình quân 20% hàng năm Cùng với một số nhà máy điện được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, mạng lưới điện 35 kV, rồi 110 kV đã được xây dựng, nối liền các nhà máy điện và các trung tâm phụ tải, hình thành nên hệ thống điện non trẻ của Việt Nam Thời kỳ 10 năm (1955 - 1965), ở miền Bắc, mức tăng công suất đặt trung bình là 15% Trong giai đoạn (1966 - 1975) do chiến tranh phá hoại ác liệt nên mức tăng công suất đặt bình quân chỉ đạt 2,6%/năm
Giai đoạn 1975 - 1994, hệ thống điện được phát triển mạnh với việc đưa vào vận hành một số nhà máy lớn với công nghệ tiên tiến như Nhiệt điện Phả Lại (440 MW), Thuỷ điện Trị An (420 MW) và đặc biệt là Thuỷ điện Hoà Bình (1920 MW) và đồng bộ với các nguồn phát điện, hệ thống lưới điện được phát triển rộng khắp cả nước trên cơ sở đường trục là lưới điện 220kV
Năm 1994, việc đưa vào vận hành Hệ thống truyền tải 500 kV đã đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triển của Hệ thống điện Việt
Trang 31Nam Từ đây, Việt Nam đã có một Hệ thống điện thống nhất trong toàn quốc, làm tiền đề cho một loạt các công trình mới với công nghệ hiện đại được đưa vào vận hành sau này
Năm 1995, Thực hiện chủ trương cải cách cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã ra đời, với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh điện trong phạm vi toàn quốc Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi sâu sắc về tổ chức quản lý, nâng cao tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh, tạo tiền đề cho sự phát triển ngành điện Việt Nam mạnh mẽ, năng động 6
Ra đời và hoạt động từ ngày 6-10-1969, Công ty Điện lực 1 hiện nay
là một trong những doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Tổng Công ty điện lực Việt Nam Khi mới thành lập, Công ty có tên gọi là Công ty Điện lực (thuộc Bộ Điện và Than) Sau khi thống nhất đất nước, Công ty đổi tên là Công ty Điện lực miền Bắc (thuộc Bộ Điện và Than) Từ năm 1981, Công ty mang tên Công ty Điện lực 1 (lúc đầu thuộc Bộ Điện lực, sau đó thuộc Bộ Năng lượng; từ ngày 01-1-1995 trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam)
Công ty Điện lực 1 là một trong những Công ty phân phối điện, hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nhiệm vụ quản
lý vận hành lưới điện có cấp điện áp từ 110kV trở xuống và kinh doanh phân phối điện năng trên địa bàn của 25 tỉnh của miền Bắc và Bắc trung bộ với diện tích 145.244 km2, dân số 32.006.910 người chiếm 43% diện tích và 39% dân số Việt Nam Ngoài ra, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt nam và xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, Công ty Điện lực 1 đang từng bước triển khai kinh doanh đa ngành nghề tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như kinh doanh Viễn thông Công nghệ thông tin, đầu tư kinh doanh các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ, đầu tư bất động sản - khách sạn - du lịch,
6 http:www.evn.com.vn
Trang 32sản xuất vật tư, thiết bị điện Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty hiện nay là:
- Kinh doanh điện năng
- Thiết kế, xây dựng, quản lý, khai thác và qui hoạch hệ thống lưới điện phân phối
- Sản xuất, chế tạo và sửa chữa các thiết bị vật tư ngành điện
- Thí nghiệm điện, đo lường điện các thiết bị, trạm điện có điện áp đến 500kV
- Nhập khẩu thiết bị,vật tư, vật liệu phục vụ ngành điện
- Vận chuyển các loại thiết bị, hàng hoá siêu trường siêu trọng chuyên dụng
- Đào tạo mới, nâng cao nghiệp vụ cho CBCNV chuyên ngành điện
- Tư vấn xây dựng chuyên ngành điện
- Kinh doanh khách sạn
Từ các nhiệm vụ cụ thể đó, mục tiêu của Công ty trong những năm tới
là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, tăng doanh thu và lợi nhuận Đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định và chất lượng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng, phục vụ tốt cho an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế trên địa bàn 25 tỉnh miền Bắc Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực mua bán điện, liên doanh liên kết, trao đổi khoa học công nghệ với các nước trong khu vực Tiếp tục mở rộng kinh doanh đa ngành nghề, phát huy những nguồn lực có sẵn của mình để vững bước tiến vào tương lai Để thực hiện tốt các nhiệm vụ và mục tiêu đó, công ty Điện lực 1 được tổ chức theo mô hình sau:
Trang 33XN Điện cao thế miền Bắc
Trang 34II.1.2 Bối cảnh phát triển và đặc thù ứng dụng CNTT trong Công ty Điện lực 1
II.1 2.1 Bối cảnh phát triển
Những thành tựu to lớn của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin - truyền thông đã chuyển các hoạt động xã hội loài người từ văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây, Công ty Điện lực 1 đã chú trọng vào đầu tư và phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông, đưa lĩnh vực công nghệ thông tin
- truyền thông trở thành lực lượng sản xuất kinh doanh trực tiếp Toàn bộ hoạt động về công nghệ thông tin của công ty luôn được cập nhật thay đổi để tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu đa dạng và nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ trong việc xây dựng và phát triển các hệ thống thông tin trong toàn công ty
Trong năm 2004, công ty đã được đầu tư và phát triển các hệ thống cơ
sở hạ tầng, đến nay công ty có một hệ thống mạng diện rộng WAN với đường truyền tốt phục vụ cho việc kết nối trao đổi thông tin, truyền số liệu trong toàn
Công ty và các hệ thống thông tin phục vụ các lĩnh vực sản xuất, truyền tải, kinh doanh điện năng và các lĩnh vực khác như tư vấn, viễn thông, đào tạo trong đó bao gồm các hệ thống thông tin như hệ thống thông tin quản lý tài chính, vật tư, tài sản cố định, hệ thống thông tin quản lý khách hàng, hệ thống thông tin quản lý khách hàng viễn thông công cộng, hệ thống các hoạt động truyển tải phân phối, hệ thống quản lý hoạt động nhà máy điện; hệ thống thông tin chăm sóc khách hàng
Đặc biệt với những ưu việt của việc ứng dụng CNTT trong quản lý doanh nghiệp, công ty đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông, nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong lĩnh vực này trong thời gian tới và bắt đầu hình thành một hệ thống tích hợp hoàn chỉnh Enterprise Resource Planning - ERP (hệ thống công nghệ thông tin quản trị
Trang 35doanh nghiệp), cung cấp thông tin tương đối đầy đủ cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh và đầu tư - xây dựng của mọi cấp trong công ty, hỗ trợ các cấp quản lý trong quá trình điều hành công việc
Trên cơ sở những thành quả đã đạt được và định hướng phát triển trong tương lai, công ty sẽ tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp các hệ thống thông tin đã
và đang triển khai đồng thời từng bước chuẩn hoá các hoạt động công nghệ thông tin thông qua quy định về quản lý hoạt động công nghệ thông tin Bên cạnh mục tiêu chính, công ty sẽ tiến hành phát triển công nghệ thông tin phục
vụ thị trường ngoài ngành Điện trong các lĩnh vực kinh doanh sản phẩm phần mềm, kết hợp công nghệ thông tin với hoạt động viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng và cung cấp dịch vụ Internet
II.1.2.2 Đặc thù ứng dụng CNTT trong CTĐL 1
Công ty Điện lực 1 gồm Cơ quan Công ty, 25 Điện lực tỉnh và 14 đơn
vị phụ trợ hoạt động trải khắp trên toàn miền Bắc và là công ty có số lượng khách hàng đông nhất, địa bàn hoạt động rộng nhất và doanh thu lớn nhất trong số các thành viên của Tổng công ty Điện lực Việt Nam Các đơn vị thành viên trong công ty hạch toán phụ thuộc vì vậy việc giám sát kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh các đơn thành viên vị đòi hỏi khối lượng công việc rất lớn và phức tạp
Các công việc trong dây chuyền sản xuất liên quan mật thiết với nhau
từ trên Công ty chỉ đạo xuống các đơn vị, chi nhánh thống nhất quán triệt thực hiện đòi hỏi phối hợp đồng bộ và chặt chẽ từ khâu nhận điện đến khâu bán điện đến từng khách hàng đảm bảo chất lượng điện năng cao, tổn thất thấp, giảm chi phí
Việc quản lý của công ty rất phức tạp vì điện là ngành dịch vụ công cộng phục vụ mục đích kinh doanh và xã hội, liên quan đến mọi thành phần kinh tế, xã hội và mọi tầng lớp nhân dân Hơn nữa, bắt đầu từ năm 2004 đến nay cùng với chủ trương tiến tới xoá bán tổng và ngành điện trực tiếp bán điện đến từng hộ dân, số lượng khách hàng của Công ty Điện lực 1 trong hai
Trang 36năm qua đã tăng trưởng một cách nhảy vọt (năm 2003 có khoảng 1.000.000 khách hàng; năm 2004 có khoảng 1.500.000 khách hàng và đến hết năm 2005, con số này đã là khoảng 1.800.000 khách hàng)
Mặt khác, sự đa dạng ngành nghề (các đơn vị phụ trợ) ngay trong một đơn vị và quy mô khác nhau nên việc quản lý càng phức tạp Hơn nữa, công tác kinh doanh phải tuân thủ pháp luật của nhà nước, sự chỉ đạo của tổng công
ty, công ty và chính quyền địa phương
Xuất phát từ đặc thù trên, Công ty Điện lực 1 đã đầu tư nhiều để phát triển công tác tin học phục vụ cho việc điều hành sản xuất và kinh doanh của
công ty, chính vì vậy việc xây một định hướng chung dài hạn về phát triển CNTT trong toàn công ty là hết sức cần thiết và cấp bách
Với trách nhiệm đầu tư, quản lý vận hành, khai thác lưới điện từ cấp điện áp 110kV xuống đến cấp phân phối, mua điện của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và bán buôn, bán lẻ cho khách hàng trên địa bàn 25 tỉnh của miền Bắc, từ Hà Tĩnh trở ra, Công ty Điện lực 1 đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, quản lý khách hàng
và quản lý vận hành lưới điện, cụ thể như sau:
- Triển khai hệ thống thông tin quản lý tài chính, kế toán và quản lý vật tư/mua sắm Đây là một hệ thống dùng chung của một doanh nghiệp tiên tiến nhằm tăng cường hiệu quả cho công tác quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược phát triển, đồng thời cũng chỉ ra phương pháp xây dựng kế hoạch tin học hoá trong tương lai Các hệ thống nghiệp vụ này là một phần không thể tách rời của hệ thống quản lý chung trong toàn Công ty
- Triển khai hệ thống thông tin quản lý khách hàng: Với số lượng đến nay có khoảng 1.800.000 khách hàng, việc áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho Công ty quản lý chính xác các thông tin chi tiết của khách hàng, phát hành các hoá đơn chỉ số công tơ, báo chỉ số, xử lý hoá đơn, điều chỉnh tài khoản, quản lý giá, quản lý chi trả, quản lý nợ
Trang 37- Hệ thống quản lý nguồn nhân lực: Với tổng số hơn 20.000 cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty, việc quản lý và phát triển một lực lượng lao động lớn như vậy đồi hỏi một hệ thống quản trị nguồn nhân lực tiên tiến với các chức năng quản lý tuyển dụng, quản lý hưu trí, lý lịch công tác, kế hoạch bố trí nhân lực, hệ thống chấm công, trả lương, quản lý chuyên môn, quản lý đào tạo
- Hệ thống quản lý các hoạt động truyền tải, phân phối điện: Khối lượng quản
lý vận hành trên toàn Công ty Điện lực 1 bao gồm 95 trạm biến áp (TBA) 110kV, 269 TBA trung gian, 20.104 TBA phân phối, 4.415Km đường dây 110kV, 36.748Km đường dây trung thế và 29.322Km đường dây hạ thế Hơn nữa, khối lượng lớn vật tư, thiết bị này trải đều trên khắp 25 tỉnh phía Bắc vì vậy đòi hỏi Công ty phải triển khai hệ thống quản lý thông tin với các chức năng chính như quản lý tài sản, quản lý hồ sơ kỹ thuật, quản lý sự cố, quản lý các hoạt động bảo dưỡng định kỳ, đột xuất, quản lý chi phí và ngân sách cho hoạt động phân phối
- Ngoài ra việc áp dụng CNTT còn giúp đảm bảo vận hành tối ưu hệ thống điện như: Thực hiện chương trình quản lý nhu cầu (DSM) để cắt giảm công suất đỉnh nhằm tiết kiệm đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi trong vận hành hệ thống điện, tiết kiệm điện trong tiêu dùng
- Áp dụng công nghệ thích hợp trong ngành để nâng cao hiệu quả đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh, ví dụ:
+ Sử dụng công nghệ đo đếm từ xa bằng công tơ điện tử
+ Ứng dụng máy tính cầm tay (PocketPC), trang bị cho nhân viên
ngành điện để thu thập thông tin khách hàng, thu thập thông tin hệ thống
+ Quản lý cắt điện bằng ứng dụng chạy trên WEB
- Tận dụng mọi ưu thế về hệ thống hạ tầng viễn thông ngành điện, kết hợp viễn thông phục vụ điều hành sản xuất kinh doanh điện với phát triển dịch vụ viễn thông công cộng
Trang 38- Quản lý công ty theo mô hình MẸ-CON sau khi chuyển đổi mô hình quản
lý
II.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT TRONG CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1:
II.2.1 Trang thi ết bị phần cứng
II 2.1.1 Tại trụ sở Công ty Điện lực 1
Công ty Điện lực 1 đã tiến hành nâng cấp bổ sung hệ máy chủ và thiết bị mạng tại cơ quan Công ty, hiện trạng hệ thống mạng, truyền thông tại trụ sở
cơ quan Công ty Điện lực 1 như sau:
- Hiện đã có 01 hệ thống mạng cục bộ (LAN), kết nối bằng đường trục
Fast EtherNet và EtherNet, tốc độ 100Mbps và 10Mbps, hoạt động ổn định phục vụ cho công tác truyền thông trong nội bộ Văn phòng Công ty Điện lực
1 và Trung tâm viễn thông & công nghệ thông tin với 170 máy tính, 45 máy
in kết nối mạng Tuy nhiên, so với số lượng hơn 300 cán bộ, kỹ sư của Công
ty thì số lượng máy như trên quả thật còn khiêm tốn Trong giai đoạn hiện nay, khi việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đã trở nên phổ biến, việc hạn chế số lượng máy tính cá nhân và số lượng máy tính nối mạng làm cho việc khai thác mạng nội bộ của Công ty trở nên hạn chế, đôi khi gây cản trở cho công tác quản lý
- Hệ thống 9 máy chủ PC Server chạy các ứng dụng của cơ quan công ty
và quản lý số liệu của các đơn vị truyền về Hệ thống này đảm bảo an ninh mạng, cung cấp dịch vụ thư điện tử, truy cập Internet và các dịch vụ giá trị gia tăng
- Hệ thống mạng diện rộng (WAN) để kết nối hệ thống mạng LAN các đơn
vị với mạng LAN của cơ quan Công ty với đường truyền 25 kênh E1 vận hành chính, 25 kênh ADSL dự phòng cấp 1 và 40 đường thoại công cộng để
dự phòng cấp 2 Hệ thống mạng WAN diện rộng đáp ứng được nhu cầu kết nối tốc độ cao, đồng bộ số liệu và chạy các phần mềm tập trung, đủ khả năng thực hiện các hội nghị truyền hình (Xem sơ đồ 2)
Trang 39II 2.1.2 Tại Điện lực tỉnh và các đơn vị phụ trợ
Đối với việc xây dựng mạng LAN: tại 25 điện lực tỉnh và các đơn vị phụ
trợ đã thực hiện việc xây dựng hệ thống mạng LAN hoàn chỉnh và các hệ thống mạng này kết nối với nhau tạo thành một hệ thống mạng diện rộng trong toàn công ty là cơ sở hạ tầng để chạy các chương trình ứng dụng trên mạng Cụ thể:
- Tại 25 điện lực tỉnh: toàn bộ 25/25 điện lực trong Công ty đã hoàn
thành việc xây dựng mạng LAN
02 máy tính chuyên dụng AS400 của hãng IBM lắp đặt tại Điện lực Nam Định sử dụng trong công tác kinh doanh của đơn vị
233 Chi nhánh điện và các trạm 110KV thuộc các Điện lực tỉnh kết nối mạng LAN của Điện lực tỉnh bằng điện thoại quay số
Các Chi nhánh điện có số lượng khách hàng lớn hơn 20,000 đã tiến hành xây dựng mạng cục bộ LAN và kết nối về điện lực bằng đường truyền cáp đồng, bao gồm:
- Chi nhánh điện Hạ Long
- Chi nhánh điện Cẩm Phả (Điện lực Quảng ninh)
- Chi nhánh điện thành phố Nam Định,
- Chi nhánh điện thành phố Thái Nguyên
- Chi nhánh điện thị xã Thái Bình,
- Chi nhánh điện thành phố Vinh (Điện lực Nghệ An)
- Tại các đơn vị phụ trợ: Đã hoàn thành việc xây dựng mạng LAN cho
13/14 đơn vị phụ trợ, đơn vị còn lại là Xí nghiệp Điện cao thế miền Bắc do mới được thành lập cuối năm 2005 nên hiện nay mới bắt đầu triển khai xây
dựng (Xem Phụ lục 1 Tình hình xây dựng mạng LAN tại các đơn vị )
Trong những năm qua, Công ty cũng không ngừng trang bị hệ thống máy tính cho Cơ quan công ty và các điện lực tỉnh Thống kê số lượng thiết bị tin học tại các đơn vị đến nay như sau:
- Máy tính PC : 4163
Trang 40Dial up PC
Dial up PC Dial up PC
Cáp sợi quang
S ơ đồ 2: Sơ đồ hệ thống kết nối mạng diện rộng trong toàn công ty
II.2.2 Các ch ương trình phần mềm đang thực hiện tại Công ty Điện lực 1
Căn cứ vào nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản
lý, Công ty Điện lực 1 đã lập kế hoạch phát triển phần mềm giai đoạn
2001-2010 và giao cho Trung tâm máy tính thực hiện Đến nay Trung tâm máy tính
đã tổ chức xây dựng và đưa vào sử dụng được hầu hết các chương trình theo
kế hoạch được giao chỉ còn duy nhất 01 chương trình “Quản lý công tác đào tạo cán bộ” do có sự thay đổi về quy chế tuyển dụng và đào tạo cán bộ (đến