Chức năng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là tham mưu giúp tỉnh thực hiện quản lý các dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, đến khi hoàn thành và bàn giao công trìn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -NGUYỄN THỊ THU HIỀN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THUỘC SỞ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -NGUYỄN THỊ THU HIỀN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THUỘC SỞ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TỪ SỸ SÙA
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 31
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn cao học “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý dự án các công trình thủy lợi thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình” của học viên đã được Nhà trường giao
nghiên cứu theo quyết định số 5295/QĐ-ĐHBK-SĐH ngày 29/11/2016 của Hiệu trưởng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Tôi xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Từ Sỹ Sùa
2 Luận văn này không trùng lặp với bất kỳ luận văn nào khác đã được công
bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Tất cả các trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 5ii
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn của mình tới thầy giáo PGS.TS.Từ Sỹ Sùa đã hướng dẫn tận tình chu đáo, dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các thầy cô giáo trong Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã chỉ bảo, dạy dỗ trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Phòng Kế hoạch - Tài chính Sở Giao thông vận tải Hòa Bình đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù luận văn đã hoàn thiện với tất cả sự cố gắng, nhiệt tình cũng như năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô và đồng nghiệp, đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà tôi mong muốn nhất để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 6iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 1
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư 5
1.1.1 Khái niệm đầu tư 5
1.1.2 Dự án đầu tư 7
1.2 Quản lý dự án đầu tư 16
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của quản lý dự án 16
1.2.2 Mục tiêu của công tác quản lý dự án 18
1.2.3 Nội dung công tác quản lý dự án 19
1.2.4 Nội dung chính của quản lý dự án 21
1.2.5 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng 22
1.3 Quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn NSNN 24
1.3.1 Đặc điểm các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 24
1.3.2 Phân cấp quản lý các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách 27
Trang 7iv
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả công tác quản lý dự án đầu tư từ
nguồn vốn ngân sách 28
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THUỘC SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HÕA BÌNH 34
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình 34
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 34
2.1.2 Cơ sở hạ tầng của tỉnh Hòa Bình 34
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 36
2.2 Tình hình ĐTXD lĩnh vực thủy lợi từ nguồn vốn NSNN tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 – 2015 37
2.2.1 Kết quả đầu tư từ nguồn vốn NSNN 37
2.2.2 Đặc điểm dự án xây dựng công trình thủy lợi 38
2.2.3 Phân cấp quản lý dự án các công trình xây dựng thủy lợi sử dụng nguồn vốn NSNN 40
2.3 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư từ NSNN giai đoạn 2011-2015 43
2.3.1 Phân tích kết quả thực hiện các dự án đầu tư 43
2.3.2 Phân tích kết quả thực hiện các dự án ĐTXD công trình thủy lợi của tỉnh 44
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THUỘC SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HÕA BÌNH 66
3.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020 tầm nhìn đến năm 2030 66
3.1.1 Định hướng phát triển 66
Trang 8v
3.1.2 Chương trình, dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi của Tỉnh
giai đoạn 2016 - 2020 67
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư 68
3.2.1 Hoàn thiện và nâng cao năng lực Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án 68
3.2.2 Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp, quản lý trong công tác đầu tư XDCB 70
3.2.3 Hoàn thiện quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 71
3.2.4 Hoàn thiện quy trình quản lý dự án đầu tư trong giai đoạn thực hiện đầu tư 76
3.2.5 Hoàn thiện công tác quản lý dự án trong giai đoạn kết thúc đầu tư 79
3.3 Một số kiến nghị 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 9vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 10vii
Hình 1.1: Vòng đời của dự án 10
Hình 1.2: Sự phát triển của các mục tiêu quản lý dự án 18
Hình 1.3: Những việc cần làm trong công tác quản lý dự án 20
Hình 1.4: Nội dung chính của quản lý dự án 21
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn NSNN cho lĩnh vực thủy lợi tại tỉnh Hòa Bình từ 2011 - 2015 38
Bảng 2.2: Kết quả tình hình thực hiện những công trình thủy lợi do tỉnh quản lý từ năm 2011 - 2015 44
Bảng 2.3: Kết quả đánh giá về tiến độ, chi phí, chất lượng 46
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư 63
Trang 11Chức năng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là tham mưu giúp tỉnh thực hiện quản lý các dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, đến khi hoàn thành và bàn giao công trình đưa vào sử dụng của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước về thủy lợi, nông nghiệp và phát triển nông thôn; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng ngành Nông nghiệp đạt khá, sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực Trong giai đoạn 2011-2015 tốc độ tăng trưởng ngành bình quân đạt 4.07%/năm Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội bền vững thì hệ thống thủy lợi là một trong những công trình hạ tầng được
ưu tiên đầu tư Những năm qua, cùng với việc thực hiện các quyết định, chương trình kiên cố hóa kênh mương, chương trình xây dựng nông thôn mới việc thực hiện các cơ chế, chính sách về hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thủy lợi đã xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi đáng kể, đảm bảo tốt nhiệm vụ tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu sản xuất của ngành Trong 5 năm qua (2012 - 2016), từ nhiều nguồn vốn khác nhau ước khoảng gần 800 tỷ đồng, đã xây mới, sửa chữa và nâng cấp được khoảng 130 công trình thủy lợi, kiên cố hóa được 360 km kênh mương nội đồng Nhờ đó, diện tích đất canh tác được cung cấp nước tưới đảm bảo
Tuy nhiên do đặc điểm địa hình là một tỉnh miền núi, diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn manh mún, các công trình thủy lợi dễ bị hư hỏng, nguồn vốn đầu
tư còn hạn chế Do đó hạn chế đáng kể tới công tác thủy lợi phục vụ sản xuất Để
sử dụng nguồn vốn đầu tư đạt hiệu quả cao thì vấn đề nâng cao công tác quản lý
dự án đầu tư xây dựng luôn được lãnh đạo tỉnh và các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm Vì vậy, tôi chọn đề tài : “ Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án các công trình thủy lợi thuộc Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Quản trị kinh doanh
Trang 122
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Hòa Bình đã dành nguồn vốn đáng kể cho công tác đầu tư xây dựng các công trình thuộc lĩnh vực thủy lợi trên địa bàn tỉnh, chiếm tỷ trọng 10 đến 19% trong tổng chi vốn xây dựng cơ bản và còn có xu hướng ngày càng tăng thêm Đây được coi là một điểm rất tích cực trong công tác điều hành ngân sách, tập trung đầu tư nguồn lực cho nâng cấp, hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi Mặc
dù vậy, công tác quản lý đầu tư xây dựng trong lĩnh vực thủy lợi vẫn còn nhiều hạn chế, gây thất thoát, lãng phí không nhỏ nguồn vốn NSNN Vậy nên đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu một cách nghiêm túc giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi có sử dụng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh như sau:
- Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư và quản lý dự án đầu tư: Khái niệm cơ bản về đầu tư, dự án đầu tư; vai trò; đặc điểm và phân loại Nghiên cứu, phân tích về nội dung, kết quả qua đó tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cần đạt được trong các giai đoạn của quá trình quản lý đầu tư Đồng thời nêu lên một số đặc trưng cơ bản của các dự án đầu tư thuộc NSNN làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng
- Nghiên cứu tổng quan về đặc điểm địa lý; tình hình kinh tế - xã hội; đi vào phân tích tình hình thực hiện quản lý đầu tư xây dựng các dự án, công trình thuộc lĩnh vực thủy lợi ở tỉnh Hòa Bình trong các năm 2011-2015; chủ yếu phân tích các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án công trình qua các chỉ tiêu: Chất lượng xây dựng công trình, tiến độ thực hiện công trình và giá trị công trình
- Định hướng phát triển kinh tế xã hội, lĩnh vực thủy lợi của tỉnh Hòa Bình
và kế hoạch đầu tư giai đoạn 2016 -2020 Qua nghiên cứu, đánh giá và dựa trên
cơ sở khoa học và thực tiễn, đúng hướng và có tính khả thi để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi sử dụng nguồn vốn NSNN thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí nguồn vốn ngân sách nhà nước
Qua đánh giá, phân tích những bước tiến hành một dự án đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước, luận văn đã đánh giá được thực trạng QLDA đầu tư xây dựng các công trình thuộc lĩnh vực thủy lợi từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, tác nhân dẫn đến những yếu kém, hạn chế đó Luận văn sau đó đã đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLDA đầu tư trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy lợi tại Hòa Bình; qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi có sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 133
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý dự án các công trình thủy lợi sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án các công trình thủy lợi thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án các công trình thủy lợi thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí nguồn vốn ngân sách nhà nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi từ vốn ngân sách nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác QLDA đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi bằng vốn ngân sách Nhà nước của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2012 – 2016 và định hướng đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất, Tác giả Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu tổng quan các cơ sở lý thuyết trên thế giới và trong nước về quản
lý dự án đầu tư xây dựng nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước nói riêng;
- Tiếp cận thực tế bằng việc thu thập thông tin, tài liệu về các dự án thủy lợi thuộc quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Bình, sau đó nghiên cứu và xử lý số liệu nhằm đánh giá được một cách sát thực về tình hình quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi của Sở, trên cơ sở đó có thể xin ý kiến tư vấn, chỉ đạo của các chuyên gia, lãnh đạo các phòng ban chuyên môn của Sở;
- Nghiên cứu một cách kỹ lưỡng các văn bản pháp lý hiện hành: Luật, Nghị định, Thông tư để áp dụng với đối tượng và nội dung nghiên cứu về hình thức quản lý dự án thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trong điều kiện hiện nay sao cho phù hợp
Ngoài ra luận văn còn sử dụng nguồn dữ liệu từ các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo cáo, giáo trình, sách, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu, các website liên quan…
6 Kết cấu của uận văn
Trang 144
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
Trang 155
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài
chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư,
có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
- Trước hết phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
- Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi
là đời sống của dự án
Trang 166
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, theo tiêu thức quan hệ hoạt động quản lý của Chủ đầu tư, có hai loại: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt
động đầu tư
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội Đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm
lực mới cho nền kinh tế xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung Đó
là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ công tác tiến hành khảo sát và quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân
Như vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc chủ thể kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng
cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển Thực tế lịch sử
đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Các hoạt động đầu tư thường được tiến hành theo dự án
Trang 17Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và
có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ
- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả
cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
1.1.2.2 Yêu cầu của dự án đầu tư
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
- Tính thực tiễn: Các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
- Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Với các dự
án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế
1.1.2.3 Vai trò của dự án đầu tư
- Đối với Chủ đầu tư:
Trang 18- Đối với nhà tài trợ (các ngân hàng thương mại):
Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của
dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước:
Dự án đầu tư là tài liệu quan trọng để các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư
Là căn cứ pháp lý để toà án xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này
Dự án đầu tư khi được triển khai xây dựng sẽ đem lại những kết quả kinh tế -
xã hội to lớn:
- Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi
- Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị
1.1.2.4 Phân loại dự án đầu tư
a) Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
- Dự án đầu tư công: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ theo tính
chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư công được phân theo 4 nhóm dự
án quan trọng quốc gia; dự nhóm nhóm A, B và C Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào? Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít
Trang 199
quan trọng, ít phức tạp hơn cả Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền
sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có)
- Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: Gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A, B và loại được phân cấp cho địa phương
b) Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án
Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:
- Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi
- Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi
c) Theo nguồn vốn
Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI)
1.1.2.5 Vòng đời của dự án đầu tư
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên dự án có một vòng đời Vòng đời của dự án (Project lifi cycle) bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án (Chủ trương lập dự án); giai đoạn nghiên cứu phát triển (lập dự án); giai đoạn thực hiện & quản lý; giai đoạn kết thúc
Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và cơ
sở thực hiện dự án
Hình vẽ 1.1 dưới đây sẽ minh họa chu kỳ của dự án đầu tư:
Trang 2010
Hình 1.1: Vòng đời của dự án
(Nguồn: Ngô Lê Minh, 2008)
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng chi phối, cho nên hoạt động đầu tư xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn của dự án Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở cho tham nhũng trong hoạt động đầu tư và xây dựng Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư được thực hiện theo các bước trong từng giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chủ đầu tư dự án chuẩn bị lập hồ sơ đầu tư theo các nội dung sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và các điều kiện để thực hiện đầu tư
- Dự kiến mục tiêu, quy mô, địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng
- Xác định nhu cầu sử dụng đất và tài nguyên
- Phương án thiết kế sơ bộ về xây dựng, công nghệ, thuyết minh, thiết bị
và kỹ thuật
- Dự kiến thời gian thực hiện dự án
- Sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn; khả năng hoàn vốn; trả nợ vốn vay (nếu có); xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội và đánh giá tác động của dự án
Trang 2111
Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, nó đề ra phương hướng đầu tư đúng đắn, hợp lý của dự án Thành bại của một dự án, dự án có phát huy tác dụng tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác định mục tiêu đầu tư đúng đắn Do đó công việc chuẩn bị đầu tư bao gồm: Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư; sự phù hợp về quy hoạch; dự kiến quy mô dự án, tổng mức đầu tư;
cơ cấu nguồn vốn đầu tư; khả năng huy động vốn đầu tư đảm bảo thực hiện dự án
Để thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đáp ứng các yêu cầu về quy hoạch,
kỹ thuật, tài chính, kinh tế - xã hội, cần chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng sau đây: + Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ quản lý dự án phải có đủ trình độ và năng lực chuyên môn để hiểu biết, cũng như thẩm định được các nội dung của một
b) Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư
Căn cứ các nội dung của dự án đầu tư được duyệt, Chủ đầu tư tổ chức các công việc tiếp theo để triển khai xây dựng công trình, hoàn thành đúng tiến độ, đưa công trình vào khai thác sử dụng, phục vụ mục tiêu đầu tư đã đề ra
Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm các công việc sau:
- Thiết kế kỹ thuật thi công, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình,các bước thiết kế xây dựng công trình:
+ Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình có tổng mức đầu tư (TMĐT) < 15 tỷ đồng
+ Thiết kế hai bước gồm bước thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án các dự án có TMĐT > 15 tỷ đồng Trường hợp này, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được gộp thành một bước và gọi là bước thiết kế bản vẽ thi công;
+ Thiết kế ba bước bao gồm bước thiết kế cơ sở, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự
án Tuỳ theo mức độ phức tạp của công trình, việc thực hiện thiết kế ba bước do người quyết định đầu tư quyết định
Thiết kế xây dựng phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải được thể hiện trên các bản vẽ theo
Trang 22+ Nội dung thẩm định thiết kế: Sự phù hợp với các bước thiết kế trước được phê duyệt; sự tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; đánh giá mức độ an toàn của công trình; sự hợp lý việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ; bảo
vệ môi trường; phòng chống cháy, nổ
+ Nội dung thẩm định dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình: Sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán Tính đúng đắn của việc áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí, đơn giá của địa phương; việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ, chính sách có liên quan và các khoản mục chi phí trong dự toán theo quy định Xác định giá dự toán, tổng dự toán XDCT
- Lựa chọn Nhà thầu: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
+ Đấu thầu rộng rãi: Là hình thức đầu thầu không hạn chế số lượng Nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu + Đầu thầu hạn chế: được áp dụng trong các trường hợp sau đây: Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu; Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác + Chỉ định thầu: Là hình thức chọn trực tiếp Nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng Hình thức này chỉ áp dụng trong các trường hợp sau đây:
* Gói thầu cần thực hiện ngay để khắc phục ngay hoặc sử lý kịp thời hậu quả gây ra sự cố bất khả kháng, gói thầu đảm bảo bí mật quốc gia, gói thầu cần triển khai ngay để tránh nguy hại trực tiếp đến tính mạng và tài sản của cộng đồng dân
Trang 2313
cư, không để ảnh hưởng đến công trình liền kề, gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư thiết bị y tế để triển khai công tác phòng chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách và 1 số gói thầu về dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, dịch vụ công
* Về hạn mức được áp dụng chỉ định thầu: Gói thầu dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công có giá gói thầu không quá 1 tỷ đồng, gói thầu xây lắp hoặc tổng thầu xây dựng có giá trị gói thầu không quá 5 tỷ đồng; Gói thầu mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 100 triệu đồng
+ Mua sắm trực tiếp: Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung tương tự được ký trước đó không quá 12 tháng Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một dự án hoặc thuộc dự án khác
+ Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa: được áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện sau đây: Gói thầu có giá không quá 1 tỷ đồng; nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng
Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các nhà thầu Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc qua đường bưu điện Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau
+ Tự thực hiện: được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư
về tổ chức và tài chính
+ Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt: Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các Điều 25 của Luật đấu thầu thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình cấp thẩm quyền quyết định
- Giải phóng mặt bằng xây dựng công trình:
Trang 24+ Đối với dự án đầu tư có mục đích kinh doanh thì Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng do chủ đầu tư xây dựng công trình chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền tổ chức giải phóng mặt bằng; đối với dự
án đầu tư xây dựng công trình không có mục đích kinh doanh, phục vụ cho cộng đồng thì Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng do Uỷ ban nhân dân cấp
có thẩm quyền chủ trì phối hợp với chủ đầu tư xây dựng công trình tổ chức giải phóng mặt bằng;
+ Kinh phí giải phóng mặt bằng được lấy trực tiếp từ dự án đầu tư xây dựng công trình;
+ Thời gian giải phóng mặt bằng xây dựng phải đáp ứng tiến độ thực hiện của
dự án đầu tư xây dựng công trình đã được phê duyệt;
+ Có đủ văn bản pháp lý liên quan: Quyết định phê duyệt dự án đầu tư, quyết định thu hồi đất, giao đất, các văn bản khác;
+ Lập và phê duyệt phương án đền bù trên cơ sở các Nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn kết hợp kết quả đo đạc khảo sát khối lượng phải đền bù;
+ Công bố phương án đền bù; thực hiện đền bù; giải quyết những khiếu nại thắc mắc Đối với các trường hợp chống đối, không thực hiện phải tổ chức cưỡng chế khi được cấp thẩm quyền phê duyệt phương án tổ chức cưỡng chế
- Tổ chức thi công xây dựng công trình bao gồm: Việc thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của thiết kế được duyệt Khối lượng thi công xây dựng được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải xem xét để xử lý Riêng đối với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình làm vượt tổng mức đầu tư thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để xem xét, quyết định Khối lượng phát sinh được chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh toán, quyết toán công trình
Trang 2515
Trong quá trình thi công phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng Nhà thầu thi công, Chủ đầu tư thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường Nhà thầu thi công xây dựng
có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường
Khi có sự cố về an toàn lao động, nhà thầu thi công xây dựng và các bên có liên quan có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao động theo quy định của pháp luật đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm an toàn lao động gây ra Nhà thầu thi công xây dựng, Chủ đầu tư luôn kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan quản lý về môi trường đó là biện pháp đảm bảo về môi trường cho người lao động, bao gồm biện pháp chống bụi, chống ồn xử lý phế thải và thu gọn hiện trường Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị còn phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến nơi quy định
c) Giai đoạn kết thúc đầu tư, gồm những việc như sau:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình: Nhà thầu thi công xây dựng phải tự tổ chức nghiệm thu các công việc xây dựng, đặc biệt các công việc, bộ phận bị che khuất;
bộ phận công trình; các hạng mục công trình và công trình, trước khi yêu cầu chủ đầu tư nghiệm thu Đối với những công việc xây dựng đã được nghiệm thu nhưng chưa thi công ngay thì trước khi thi công xây dựng phải nghiệm thu lại Đối với công việc, giai đoạn thi công xây dựng sau khi nghiệm thu được chuyển nhà thầu khác thực hiện tiếp thì phải được nhà thầu đó xác nhận, nghiệm thu
- Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình: Sau khi bàn giao công trình, nhà thầu xây dựng phải thanh lý hoặc chuyển hết tài sản của mình ra khỏi khu vực công trình và trả lại đất mượn hoặc thuê tạm để phục vụ thi công theo quy định của hợp đồng, chịu trách nhiệm theo dõi, sửa chữa các hư hỏng của công trình cho đến khi hết thời hạn bảo hành công trình
- Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình:Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác, sử dụng năng lực công trình, đồng bộ hóa tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã được đề ra trong dự án
- Thanh toán vốn đầu tư: Việc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng,
Trang 26đã ký kết và các quy định khác của Nhà nước có liên quan Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Bảo hành công trình: Thời gian bảo hành công trình tính từ ngày chủ đầu tư
ký biên bản nghiệm thu hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng đã hoàn thành để đưa vào sử dụng và được quy định như sau:
+ Không ít hơn 24 tháng đối với mọi loại công trình cấp đặc biệt, cấp 1;
+ Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình còn lại
- Bảo trì công trình: Công trình sau khi được nghiệm thu đưa vào sử dụng phải được bảo trì để vận hành, khai thác sử dụng lâu dài Công việc bảo trì công trình xây dựng được thực hiện theo các cấp: Cấp duy tu bảo dưỡng; cấp sửa chữa nhỏ; cấp sửa chữa vừa; cấp sửa chữa lớn Nội dung, phương pháp bảo trì công trình xây dựng của các cấp bảo trì thực hiện theo quy định bảo trì
1.2 Quản ý dự án đầu tƣ
1.2.1 Khái niệm và đặc trƣng của quản lý dự án
Quản lý dự án (Project Management – PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi
và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách được được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt Nói cách khác quản lý dự án là công việc áp dụng các chức năng
và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án hay quản lý dự án là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực hiện được mục tiêu đề ra QLDA đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp, nó mang tính duy nhất không có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác nhau…thậm chí, trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ Chủ đầu tư Cho nên việc điều hành QLDA cũng luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định
Trang 27- Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
+ Chủ thể của quản lý dự án chính là người trực tiếp quản lý dự án
+ Khách thể của QLDA liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án) Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án
- Chức năng của QLDA có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện Quá trình thực hiện mỗi dự án cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản
lý dự án là quản lý sáng tạo
Quản lý dự án đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích
chủ yếu như sau:
- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm
quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án;
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự án được Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết
những bất đồng;
- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn
Đối với những dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước vai trò của
QLDA lại càng thể hiện một cách rõ rệt vì:
- Dự án đầu tư là những dự án có tính chất phức tạp, quy mô tiền vốn lớn, máy
móc, thiết bị, vật tư cần nhiều, thời gian thi công kéo dài;
- Dự án đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế xã hội nơi nó tọa lạc
khi được hoàn thành;
- Do sử dụng vốn của Nhà nước, nguồn vốn quản lý có nhiều lỏng lẻo và tồn tại nhiều kẽ hở nên cần phải quản lý một cách chặt chẽ
Trang 2818
1.2.2 Mục tiêu của công tác quản lý dự án
Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cũng giống mục tiêu chung của quản lý dự án đầu tư là bảo đảm đạt được mục đích đầu tư, tức là lợi ích mong muốn của chủ đầu tư
Trong mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình, quản lý dự án nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể khác nhau như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải bảo đảm lập ra một dự án có các giải pháp kinh
tế - kỹ thuật mang tính khả thi;
- Giai đoạn thực hiện dự án bảo đảm tạo ra được tài sản cố định có tiêu chuẩn kỹ thuật đúng thiết kế;
- Giai đoạn khai thác vận hành phải bảo đảm đạt được các chỉ tiêu hiệu quả của
dự án (về tài chính, kinh tế và xã hội) theo dự kiến của chủ đầu tư
Các mục tiêu cụ thể khi quản lý đầu tư xây dựng công trình bao gồm:
- Mục tiêu về chất lượng công trình xây dựng;
- Mục tiêu về thời gian thực hiện;
- Mục tiêu về chi phí (giá thành);
- Mục tiêu về an toàn lao động;
- Mục tiêu về vệ sinh môi trường;
- Mục tiêu về quản lý rủi ro;
- Mục tiêu về sự thoả mãn của khách hàng
Ngoài các mục tiêu cơ bản trên, với mỗi chủ thể quản lý dự án lại có thêm mục tiêu quản lý riêng phục vụ cho nhiệm vụ của mình Ví dụ: Nhà thầu xây dựng sẽ có các quản lý về:
- Quản lý nguồn nhân lực để thực hiện dự án;
- Quản lý thông tin để xây dựng công trình xây dựng
Hình 1.2: Sự phát triển của các mục tiêu quản lý dự
(Nguồn: Trịnh Quốc Thắng, 2007)
Trang 2919
1.2.3 Nội dung công tác quản lý dự án
Công tác quản lý dự án là một quá trình bao gồm nhiều công việc Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án trực tiếp hoặc gián tiếp giao vốn để thực hiện dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu kết thúc xây dựng đưa vào khai thác sử dụng với mục đích cuối cùng là tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu đề ra, sử dụng khai thác có hiệu quả Quản lý một dự án thông thường gồm 4 giai đoạn:
– Giai đoạn xác định và tổ chức dự án
– Giai đoạn lập kế hoạch dự án
– Giai đoạn quản lý thực hiện dự án
Các câu hỏi đặt ra:
- Mục đích của các công việc phải thực hiện là gì?
- Ai sẽ được hưởng lợi từ kết quả này?
- Mục tiêu của các thành phần liên quan (chủ thể tham gia vào quá trình quản lý) sẽ khác nhau thế nào?
- Tiêu chuấn nào các thành phần sử dụng để đánh giá thành công của dự án? b) Tổ chức công việc của dự án
Xác định nhân sự và nguồn lực cần thiết để triển khai công việc:
- Nhân sự: Cần có nhóm nòng cốt là những người có kinh nghiệm, có ảnh hưởng quan trọng vừa có chuyên môn, vừa có năng lực tổ chức;
- Nguồn lực thực hiện công việc: Phương tiện, điều kiện vật chất để thực hiện từng loại công việc trong phạm vi nhiệm vụ
Giai đoạn 2 Lập kế hoạch thực hiện dự án, nội dung gồm:
– Xác định các nhiệm vụ, công việc cần thiết để đạt được mục tiêu;
– Trình tự và thời hạn hoàn thành tất cả các nhiệm vụ, công việc Một số vấn
đề cần giải quyết:
- Phân định nhiệm vụ chính, phụ;
- Xác định thời gian hợp lý để thực hiện từng công việc;
- Khoảng thời gian chung để thực hiện dự án;
- Phân tích mức độ chất tải của các bộ phận thực hiện các công việc để điều chỉnh cho thích hợp với yêu cầu thực tế
Trang 3020
Giai đoạn 3 Quản lý thực hiện dự án, nội dung gồm:
Thực hiện các kỹ năng quản lý:
- Tạo động lực thúc đẩy và tập trung vào mục tiêu;
- Làm trung gian giải quyết các mối quan hệ các cấp;
- Quyết định phân bổ, điều chỉnh nguồn lực;
- Giải quyết các vấn đề phát sinh
Kiểm tra, giám sát tiến độ, ngân sách và chất lượng (đảm bảo cho dự án luôn theo đúng lịch trình, ngân sách và các tiêu chuẩn chất lượng đã định, đảm bảo an toàn và điều kiện môi trường)
Giai đoạn 4 Kết thúc dự án, nội dung gồm:
– Hoàn thành mục tiêu dự án, chuyển kết quả cho các thành phần liên quan; – Tổng kết, rút kinh nghiệm;
– Giải tán Ban quản lý / Nhóm dự án (các bộ phận huy động thực hiện quản lý dự án)
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án được trình bày trong hình 1.3 sau:
Hình 1.3: Những việc cần làm trong công tác quản lý dự án
(Nguồn: Trịnh Quốc Thắng 2007)
Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định
- Lập kế hoạch: giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống
- Điều phối thực hiện dự án: quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự
Trang 311.2.4 Nội dung chính của quản lý dự án
Theo điều 66 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 [19] ngày 18/6/2014 thì nội dung chính của quản lý dự án sẽ được thể hiện như hình 1.4 sau:
Lập kế hoạch tổng quan
- Lập kế hoạch
- Thực hiện kế hoạch
- Quản lý những thay đổi
Quản lý phạm vi công việc
- Xác định phạm vi dự án
- Lập kế hoạch phạm vi công việc
- Quản lý thay đổi phạm vi công việc
Quản lý thời gian
- Tuyển dụng, đào tạo
- Phát triển nhóm
Quản lý thông tin
- Lập kế hoạch quản lý
thông tin
- Xây dựng kênh và phân
phối thông tin
- Báo cáo tiến độ
Quản lý rủi ro dự án
- Xác định rủi ro
- Đánh giá mức độ rủi ro
- Xây dựng chương trình quản lý rủi ro đầu tư
Hình 1.4: Nội dung chính của quản lý dự án
(Nguồn: Luật xây dựng số 50/2014/QH13)
- Lập kế hoạch tổng quan Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ
chức dự án theo một trình tự logic, là việc chi tiết hóa các mục tiêu của dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện những công việc
đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ
- Quản lý phạm vi công việc Quản lý phạm vi công việc dự án là việc xác định,
giám sát việc thực hiện mục đích, mục tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc
về dự án và cần phải thực hiện, công việc nào nằm ngoài phạm vi của dự án
- Quản lý thời gian Quản lý thời gian là việc lập kế hoạch, phân phối và giám
sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án Nó chỉ rõ mỗi công
Trang 3222
việc phải kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án khi nào
sẽ hoàn thành
- Quản lý chi phí Quản lý chi phí của dự án là quá trình dự toán kinh phí, giám
sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án, là việc tổ chức, phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí
- Quản lý chất lượng Quản lý chất lượng dự án là quá trình triển khai giám sát
những tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm
dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư
- Quản lý nhân lực Là việc hướng dẫn, phối hợp nỗ lực của mọi thành viên
tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án Nó cho thấy việc sử dụng lực lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?
- Quản lý thông tin Quản lý thông tin là quá trình đảm bảo các dòng thông
tin thông suốt một cách nhanh nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp quản lý khác nhau Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời 3 câu hỏi: ai cần thông tin về dự án? Mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo cho họ bằng cách nào?
- Quản lý rủi ro Quản lý rủi ro là việc nhận diện các nhân tố rủi ro của dự án,
lượng hóa mức độ rủi ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro
- Quản lý hợp đồng và hoạt động mua sắm Quản lý hợp đồng và hoạt động
mua sắm của dự án là quá trình lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, thương lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết
bị, dịch vụ… cần thiết cho dự án Quá trình quản lý này nhằm giải quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hóa và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài? Tiến độ cung, chất lượng cung ra sao?
1.2.5 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tƣ xây dựng
Có 2 hình thức quản lý dự án thường được ứng dụng nhất trong thực tế, căn cứ điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định đầu tư lựa chọn một trong các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sau:
- Chủ đầu tư trực tiếp QLDA đầu tư XDCT
- Chủ đầu tư thuê tổ chức Tư vấn QLDA đầu tư XDCT
1.2.5.1 Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Việc thu được sản phẩm tốt, chất lượng cao đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huy hiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các Chủ đầu tư Để làm được điều này thì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản lý dự án, do đó Chủ đầu tư cần cân nhắc việc lựa chọn hình thức quản lý dự án cho phù hợp
Trang 3323
Chủ đầu tư trực tiếp QLDA là hình thức Chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơ quan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư với 2
mô hình sau:
- Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ
máy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, mô hình này được áp dụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 5 (năm) tỷ đồng, dự
án có sự tham gia của cộng đồng và dự án có tổng mức đầu tư dưới 2 (hai) tỷ đồng
do Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư
- Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chức
quản lý thực hiện dự án Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Ban QLDA do Chủ đầu tư thành lập là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủ đầu
tư, có tư cách pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình
+ Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA gồm có Giám đốc, các phó giám đốc, và lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu bộ máy phải phù hợp với nhiệm vụ được giao và đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm tối đa chi phí Các thành viên của Ban QLDA làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm
+ Chủ đầu tư quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức hoạt động của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án theo quy định tại Khoản 2 Điều 64 của Luật Xây dựng năm 2014
1.2.5.2 Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án
QLDA là hình thức Chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tư vấn QLDA Trong trường hợp này Chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thời phân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện hợp đồng của
Tư vấn quản lý dự án
Tổ chức tư vấn quản lý dự án có thể đảm nhận thực hiện một phần hoặc toàn
bộ các nội dung quản lý dự án theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư Tổ chức tư vấn quản lý dự án được lựa chọn phải thành lập văn phòng quản lý dự án tại khu vực thực hiện dự án và phải có văn bản thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của người đại diện và bộ máy trực tiếp quản lý dự án gửi chủ đầu tư và các nhà thầu có liên quan Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự án được thuê ở tổ chức, các nhân tham
Trang 3424
gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký của chủ đầu tư
1.3 Quản ý các dự án đầu tư sử dụng nguồn NSNN
1.3.1 Đặc điểm các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
1.3.1.1 Vốn ngân sách nhà nước
Vốn ngân sách nhà nước bao gồm vốn ngân sách trung ương, vốn ngân sách cấp tỉnh, vốn ngân sách cấp quận, huyện, thành phố, thị xã… Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích lũy của nền kinh tế và được nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các kế hoạch nhà nước hàng năm, kế hoạch 5 năm và kế hoạch dài hạn
Đối với cấp hành chính địa phương thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tư bao gồm vốn đầu tư của nhà nước cấp thông qua sở tài chính, vốn ngân sách cấp tỉnh Là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng mặc dù vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 13% tổng vốn đầu tư xã hội, song là nguồn vốn nhà nước chủ động điều hành, đầu
tư các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển then chốt của nền kinh tế, đầu tư những lĩnh vực khó có khả năng thu hồi vốn, những lĩnh vực mà tư nhân hoặc doanh nghiệp không muốn hoặc không thể đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực như đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đường giao thông, hạ tầng ký thuật, các công trình cho giáo dục, văn hóa xã hội, quản lý nhà nước… Đầu tư các
dự án sự nghiệp kinh tế như giao thông, duy tu, bão dưỡng, sửa chữa cầu đường; nông nghiệp, thủy lợi, bão dưỡng các tuyến đê… Đầu tư duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước… Đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật
Nguồn vốn này rất quan trọng đối với các địa phương nhất là những địa phương nghèo, nguồn thu ít
Ngoài việc đầu tư vào các lĩnh vực như đã nêu trên, vốn ngân sách còn có ý nghĩa rất quan trọng để khơi dậy các nguồn vốn khác còn tiềm tàng, đặc biệt là vốn trong dân cư, ở đây vốn ngân sách có tính chất “vốn mồi”, vốn hỗ trợ một phần như chi để lập các dự án, các quy hoạch cần thiết để nhân dân và các tổ chức kinh tế khác đưa vốn vào đầu tư phát triển Hoặc vốn ngân sách hỗ trợ một phần làm đường ngõ xóm, trường học, nhà trẻ… phần còn lại cộng đồng dân cư tự đóng góp và quản
lý sử dụng Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các nước, nhất là trong việc tham gia của nhân dân vào các dự án dịch vụ và hạ tầng đô thị mới với các hình thức tài trợ xen kẽ, hợp vốn công – tư…
Trang 3525
Nguồn vốn ngân sách nói chung được tập hợp từ các nguồn vốn trên địa bàn như:
- Vốn ngân sách Trung ương đầu tư qua các Bộ, ngành trên địa bàn
- Vốn ngân sách Trung ương cân đối hoặc ủy quyền qua ngân sách địa phương (xây dựng cơ bản tập trung, thiết bị nước ngoài ghi thu ghi chi, vốn chương trình quốc gia…)
- Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại (cấp quyền sử dụng đất, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, xổ số,…)
- Vốn ngân sách sự nghiệp có tính chất xây dựng cơ bản
1.3.1.2 Đặc điểm của các dự án đầu tư sử dụng NSNN
- Một là, quy mô vốn đầu tư lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi NSNN
Nhất là ở nước ta, một nước đang phát triển và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong những năm qua, chi NSNN cho đầu tư không ngừng tăng lên Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng chi ngân sách thường chiếm trên 40% trong khi số vốn đầu tư từ NSNN và không ngừng tăng lên Vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu ( khoảng 92-95%) trong tổng chi đầu tư của NSNN ở nước ta
- Hai là, có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư xây dựng
Nguồn vốn thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng khi thực hiện đầu tư thì Nhà nước lại uỷ thác việc quản lý sử dụng nguồn vốn này cho các chủ đầu tư để triển khai kế hoạch của Nhà nước, tạo ra sự tách rời giữa quyền sở hữu và sử dụng vốn Với đặc điểm này, nếu cơ chế quản lý của Nhà nước không hoàn thiện thì có thể dẫn đến tình trạng các chủ đầu tư quản lý sử dụng vốn tìm cách chiếm đoạt vốn của Nhà nước khi có cơ hội
- Ba là, chi ngân sách cho đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp ngân
sách Theo cơ chế quản lý vốn đầu tư ở nước ta hiện nay, việc chi đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp ngân sách như: chi từ nguồn ngân sách trung ương cho hoạt động đầu tư của các bộ, ngành, chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho địa phương; chi từ ngân sách địa phương cho các dự án thuộc địa phương quản lý
Thực tế nêu trên dễ dẫn đến tình trạng xin - cho, kéo theo đó là việc phát sinh các tiêu cực, lãng phí do đầu tư không đúng nội dung hoặc đầu tư dàn trải
- Bốn là, nguồn vốn đầu tư mà các chủ sử dụng phải được tạm ứng, nghiệm
thu và thanh toán theo qui định của Nhà nước Nếu các thủ tục còn rất rườm rà, phức tạp và nhiều kẽ hở, thì không chỉ có thể gây khó khăn trong việc thực hiện cho
cả chủ đầu tư và các nhà thầu mà còn tạo nhiều điều kiện cho việc bị lợi dụng để chiếm đoạt, biến thủ, tham ô vốn đầu tư của nhà nước
Trang 3626
Như vậy, các chủ đầu tư là người chủ cạnh tranh, nhưng không phải là người chủ thực sự của đồng vốn nên dễ dấn đến việc thiếu trách nhiệm quản lý, sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu, thậm chí có tình trạng tìm mọi kẽ hở trong chính sách quản
lý để tiêu cực, tham nhũng, bòn rút vốn đầu tư của Nhà nước Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu quản lý, Nhà nước không có những cơ chế chính sách chặt chẽ, ràng buộc trách nhiệm trong quản lý, không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thì thất thoát, lãng phí trong ĐTXD bằng nguồn vốn NSNN
là không thể tránh khỏi
Các dự án đầu tư xây dựng công trình phải tuân thủ theo quy định của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội; Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 [20] ngày 18/6/2014 của Quốc hội; Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [21] ngày 26/11/2013 của Quốc hội; Nghị định số 63/2014/NĐ-CP [9] ngày 26/6/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Nghị định 59/2015/NĐ-CP [6] ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và các thông tư hiện hành của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, các Bộ chuyên ngành có liên quan
Những dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN còn chịu sự chi phối của Luật NSNN, trình tự thủ tục của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN còn phải tuân thủ theo quy định hiện hành và các văn bản hướng dẫn của các sở chuyên ngành và của Kho bạc nhà nước
Dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu là để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng với mục tiêu tạo cơ sở vật chất cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là đối với lĩnh vực đê điều – thủy lợi, đây là công trình hạ tầng do nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng, tu bổ và nâng cấp Luật Đê điều có khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa và bảo vệ đê điều kết hợp phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên đây là lĩnh vực rất khó thu hồi vốn đầu tư nên trên địa bàn tỉnh Hòa Bình không có nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này
- Đối với dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN kể cả dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập
dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá 3 năm đối với dự án nhóm C và không quá 5 năm đối với dự án nhóm B
Trang 37- Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản
lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư
1.3.2 Phân cấp quản lý các dự án đầu tƣ sử dụng nguồn vốn ngân sách
Theo nghị định 59/2015/NĐ-CP [6], các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế,
dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng Chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước
Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp nhà nước
Người quyết định đầu tư quyết định áp dụng hình thức tổ chức quản lý dự án theo quy định tại Điều 62 của Luật xây dựng năm 2014 Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách, hình thức tổ chức quản lý dự án được áp dụng là ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, ban quản lý dự
án đầu tư xây dựng khu vực
Đối với dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, hình thức tổ chức quản lý dự án được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế
về ODA hoặc thỏa thuận của nhà tài trợ Trường hợp điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận của nhà tài trợ không có quy định cụ thể thì hình thức tổ chức quản lý dự án được thực hiện theo quy định của luật xây dựng
Trang 3828
Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập, là tổ chức sự nghiệp công lập, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản
lý thực hiện các dự án được giao và được thực hiện tư vấn quản lý dự án cho các dự
án khác (Nhận ủy thác quản lý dự án theo hợp đồng với các chủ đầu tư khác)
Tổ chức hoạt động của Ban Quản lý dự án chuyên ngành, khu vực có Ban Giám đốc, Văn phòng và một số phòng (ban) nghiệp vụ Ban Giám đốc có Giám đốc và các phó Giám đốc Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành và khu vực do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quy định
Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn
vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn
vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưa công trình vào khai thác, sử dụng
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả công tác quản lý dự án đầu tƣ từ nguồn vốn ngân sách
Chu trình sống của mọi dự án đầu tư đều phải chịu sự tác động mạnh mẽ của 3 điều kiện ràng buộc chặt chẽ:
- Điều kiện ràng buộc thứ nhất là ràng buộc về thời gian, tức là một dự án xây dựng phải có mục tiêu hợp lý về kỳ hạn của công trình xây dựng;
- Điều kiện ràng buộc thứ hai ràng buộc về nguồn lực, tức là một dự án xây dựng phải có được mục tiêu nhất định về tổng lượng đầu tư;
- Điều kiện ràng buộc thứ ba là ràng buộc về chất lượng, tức là dự án xây dựng phải có mục tiêu xác định về khả năng sản xuất, trình độ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng Dựa trên 3 điều kiện ràng buộc trên, kết quả công tác quản lý dự án được chia làm 3 nhóm chính như sau:
1.3.3.1 Chỉ tiêu thời gian và tiến độ dự án
Thực hiện dự án trong phạm vi thời gian đã hoạch định là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của quản lý dự án xây dựng
Công việc quản lý thời gian và tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng phải trả lời được các câu hỏi chủ yếu sau:
Trang 3929
- Cần bao nhiêu thời gian để thực hiện hoàn thành toàn bộ dự án?
- Khi nào bắt đầu? Khi nào kết thúc mỗi công việc thuộc dự án?
- Cần tập trung chỉ đạo những công việc nào (công việc được ưu tiên thực hiện) để đảm bảo thực hiện hoàn thành đúng hạn dự án như đã hoạch định?
- Những công việc nào có thể kéo dài và có thể kéo dài bao lâu mà vẫn không làm chậm tiến độ thực hiện dự án?
- Có thể rút ngắn tiến độ thực hiện dự án được không? Nếu có thì có thể rút ngắn thời gian thực hiện những công việc nào và thời gian rút ngắn là bao lâu? Đối với các dự án đầu tư xây dựng, công tác quản lý thời gian và tiến độ có vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong trường hợp có yêu cầu khắt khe về thời gian hoàn thành dự án Lĩnh vực quản lý này chính là cơ sở cho việc quản lý chi phí và nguồn lực, đồng thời cũng là căn cứ để phối kết hợp các bên có liên quan trong việc
tổ chức thực hiện dự án
1.3.3.2 Chỉ tiêu chi phí dự án
Quản lý chi phí dự án đầu tư là tập hợp các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện hoàn thành dự án xây dựng trong phạm vi ngân sách đã được hoạch định từ trước Tổng chi phí của dự án bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và những khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng Trong đó:
- Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí nhân công sản xuất, chi phí nguyên vật liệu
và những khoản chi phí khác trực tiếp liên quan đến công việc thực hiện dự án
- Chi phí gián tiếp bao gồm chi phí quản lý, khấu hao thiết bị văn phòng, những khoản chi phí cố định và biến đổi khác mà có thể giảm được nếu thời gian thực hiện dự án được rút ngắn Thời gian thực hiện dự án càng rút ngắn, chi phí gián tiếp càng ít
- Khoản tiền phạt có thể phát sinh nếu dự án kéo dài quá ngày kết thúc xác định Thực tiễn quản lý cho thấy, luôn luôn có hiện tượng đánh đổi giữa thời gian và chi phí Nếu tăng cường giờ lao động, tăng thêm số lượng máy móc thiết bị thì tiến
độ thực hiện các công việc của dự án có thể được đẩy nhanh Tuy nhiên, tăng thêm nguồn lực làm tăng chi phí trực tiếp Ngược lại đẩy nhanh tiến độ dự án làm giảm những khoản chi phí gián tiếp và đôi khi cả những khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, không phải tất cả các công việc được đẩy nhanh đều đem lại kết quả mong muốn Do đó, có sự tính toán cân đối, hợp lý giữa thời gian và chi phí là yêu cầu đặt ra đối với nhà quản lý
Quản lý chi phí dự án đầu tư được thực hiện trong tất cả các giai đoạn khác nhau của chu trình dự án Trong mỗi giai đoạn cụ thể, quản lý chi phí lại có vai trò khác nhau và được thực hiện khác nhau
Trang 4030
1.3.3.3 Chỉ tiêu chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự ánđầu tư là quá trình liên tục, xuyên suốt toàn bộ chu trình dự án từ giai đoạn hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang giai đoạn vận hành Quản lý chất lượng dự án được thực hiện thông qua một hệ thống các biện pháp kinh tế, công nghệ, tổ chức, … thông qua một cơ chế nhất định và các tiêu chuẩn định mức, hệ thống kiểm soát, các chính sách khuyến khích, …
Quản lý chất lượng dự án là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên, tất cả cấp trong đơn vị, đồng thời cũng là trách nhiệm chung của các cơ quan có liên quan đến dự án bao gồm chủ đầu tư, các nhà thầu, các nhà tư vấn, các đối tượng hưởng lợi từ dự án,…
Công tác quản lý chất lượng dự án bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Thẩm tra thiết kế và quy hoạch;
- Kiểm định chất lượng vật liệu, bán thành phẩm và thiết bị của công trình xây dựng;
- Tổ chức kiểm tra giám sát tại hiện trường trong quá trình thi công xây lắp;
- Tổ chức đánh giá chất lượng công trình sau khi hoàn thành
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án
1.3.4.1 Các yếu tố bên ngoài
a) Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến ý tưởng đầu tư và chi phối hoạt động của các dự án: tạo thuận lợi hoặc gây cản trở quá trình thực hiện dự án Điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi không những tạo điều kiện cho các dự án ra đời, hoạt động có hiệu quả mà trong một chừng mực nhất định có thể làm xuất hiện những ý tưởng đầu tư Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lập và quản lý dự án đầu tư Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô có thể có rất nhiều, tuy nhiên các nhà đầu tư cần lưu ý khi tiến hành đánh giá môi trường kinh tế vĩ mô đối với các vấn đề căn bản sau:
- Lãi suất: Lãi suất sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn và sau đó là hiệu quả đầu tư Nếu lãi suất cao hơn, sẽ có ít dự án hơn thoả mãn tiêu chuẩn hiệu quả khi đánh giá cơ hội đầu tư và ngược lại lãi suất thấp hơn thì chi phí sử dụng vốn
sẽ nhỏ hơn và nhiều dự án thoả mãn tiêu chuẩn hiệu quả
- Tốc độ tăng trưởng: Đây là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản
mà các nhà đầu tư cần quan tâm Động thái và xu thế tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có thể ảnh hưởng đến tình hình đầu tư và phát triển của một ngành, một lĩnh vực và sau đó là kết quả đầu tư của một dự án cụ thể Trên phương diện lý thuyết khi kinh tế càng phát triển, mức sống được nâng cao sẽ là một yếu tố tích