Vũ Thị Diệp 13 Cao học QTKD 2009 - 2011 b/ Nhóm chỉ tiêu năng suất hoạt động Các chỉ tiêu năng suất là các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp bằng
Trang 1Vũ Thị Diệp 1 Cao học QTKD 2009 - 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 6
LỜI NÓI ĐẦU 8
CHƯƠNG 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 10
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 10
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 10
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 11
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 11
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính 17
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 20
1.2.1 Thực chất, mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 20
1.2.2 Nội dung phân tích tài chính 23
1.2.3 Trình tự phân tích 31
1.3 Phương pháp phân tích tài chính 34
1.4 Tài liệu dùng cho phân tích tài chính 37
1.4.1 Tài liệu bên trong doanh nghiệp 37
1.4.2 Tài liệu bên ngoài doanh nghiệp 42
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 44
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ NAM ĐỊNH 44
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định 44
2.1.1 Quá trình hình thành của Công ty 44
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, chức năng nhiệm vụ và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua 45
Trang 2Vũ Thị Diệp 2 Cao học QTKD 2009 - 2011
2.2 Phân tích thực trạng hoạt động tài chính của Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí
Nam Định 53
2.2.1 Phân tích tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp 53
2.2.2 Phân tích các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính 64
2.2.3 Phân tích chỉ tiêu an toàn tài chính 76
2.2.4 Phân tích các chỉ tiêu của hệ thống đòn bẩy 79
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CP XĂNG DẦU DẦU KHÍ NAM ĐỊNH 88
3.1 Định hướng phát triển của công ty CP xăng dầu dầu khí Nam Định trong giai đoạn 2011 - 2012 88
3.1.1 Mục tiêu hoạt động 89
3.1.2 Chiến lược phát triển 90
3.1.3 Kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2011 - 2012 90
3.2 Dự báo tình hình và nhu cầu thị trường xăng dầu trong thời gian tới 90
3.3 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính công ty CP xăng dầu dầu khí Nam Định 91
3.3.1 Giải pháp 1: Tăng doanh thu bán hàng kết hợp giảm chi phí 91
3.3.2 Giải pháp 2: Giảm khoản phải thu 95
3 3.3 Giải pháp 3: Giảm hàng tồn kho 98
3.3.4 Giải pháp 4: Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ 101
3.3.5 Giải pháp 5: Thay đổi cơ cấu vốn là giảm nợ vay, tăng vốn CSH 103
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 3Vũ Thị Diệp 3 Cao học QTKD 2009 - 2011
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Đại Thắng, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và có nhiều ý kiến giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, khoa Kinh tế và quản lý trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, lãnh đạo các phòng ban trong công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 22 tháng 02 năm 2012
Học viên
Vũ Thị Diệp
Trang 4Vũ Thị Diệp 4 Cao học QTKD 2009 - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích
và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định
Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ dạng nào
Học viên
Vũ Thị Diệp
Trang 5Vũ Thị Diệp 5 Cao học QTKD 2009 - 2011
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
3 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
21 ROA Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản (Return On Assets)
22 ROE Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (Return On Equity)
23 ROS Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Return On Sales)
24 EBIT Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (Earning before Interest
and Tax)
Trang 6Vũ Thị Diệp 6 Cao học QTKD 2009 - 2011
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
S
1 Bảng 2.1 Một số kết quả chủ yếu đạt được
2 Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009
3 Bảng 2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010
4 Bảng 2.4 Bảng cân đối kế toán năm 2009
5 Bảng 2.5 Bảng cân đối kế toán năm 2010
6 Bảng 2.6 Bảng phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản
và nguồn vốn
7 Bảng 2.7 Bảng phân tích chỉ tiêu ROE
8 Bảng 2.8 Kết quả của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
9 Bảng 2.9 Bảng so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
10 Bảng 2.10 Bảng tổng hợp doanh thu thuần qua 2 năm
11 Bảng 2.11 Giá xăng A92 năm 2009
12 Bảng 2.12 Giá dầu Diezel năm 2009
13 Bảng 2.13 Giá xăng A92 năm 2010
14 Bảng 2.14 Giá dầu Diezel năm 2010
15 Bảng 2.15 Tổng hợp chi phí qua 2 năm
16 Bảng 2.16 Kết quả các chỉ tiêu năng suất
17 Bảng 2.17 Bảng so sánh một số chỉ tiêu năng suất
18 Bảng 2.18 Kết quả tính toán chỉ tiêu 1/Hệ số tài trợ
19 Bảng 2.19 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản
20 Bảng 2.20 Bảng phân tích điểm hoà vốn và đòn bẩy định phí
21 Bảng 2.21 Bảng phân tích đòn bẩy tài chính
22 Bảng 2.22 Bảng phân tích đòn bẩy tổng
23 Bảng 2.23 Các chỉ tiêu đặc trưng
24 Bảng 3.1 Chỉ tiêu kế hoach năm 2011-2012
Trang 727 Bảng 3.4 Bảng kết quả sau khi áp dụng giải pháp quản lý
tốt khoản nợ phải thu
28 Bảng 3.5 Bảng kết quả sau khu giảm hàng tồn kho
29 Bảng 3.6 Bảng kết quả sau khi áp dụng các giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
30 Bảng 3.7 Bảng kết quả sau khi áp dụng các giải pháp giảm
nợ vay, tăng vốn CSH
31 Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Trang 8Thực tế đã cho thấy, dịch vụ cung cấp xăng dầu trên thị trường luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với mọi người dân và doanh nghiệp Giá cả, nguồn cung của xăng dầu ảnh hưởng to lớn đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của xã hội Tuy nhiên, ngành xăng dầu chịu tác động của rất nhiều các nhân tố Cũng giống các doanh nghiệp kinh doanh khác,
để đứng vững và phát triển trong môi trường khắc nghiệt như hiện nay, một trong những vấn đề đang được Công ty TNHH một thành viên xăng dầu dầu khí Nam Định (nay đổi tên thành Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định) quan tâm là công tác phân tích tài chính Tuy nhiên, công tác tài chính tại công ty chưa thực sự phát huy hết vai trò là một công cụ đắc lực phục vụ cho quản lý Công tác phân tích tài chính vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, gây khó khăn cho nhà quản trị công ty trong việc ra quyết định Với mục đích hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định hơn nữa mà đề tài : «Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định»
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
Trang 9- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải thiện tình hình tài chính của Công
ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính tại Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định qua hai năm
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp như: mô hình hóa thống kê, điều tra, tổng hợp, so sánh, thay thế liên hoàn, đồ thị, phân tích, đối chiếu…
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Lần đầu tiên tiếp thu phương pháp mới để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp cho Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định một cách bài bản, khoa học
Lần đầu tiên đề xuất những giải pháp sát hợp, cụ thể, mạnh mẽ nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính hoạt động của doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng tài chính của Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Nam Định
Trang 10Vũ Thị Diệp 10 Cao học QTKD 2009 - 2011
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Qua quá trình nghiên cứu và phát triển lý thuyết về tài chính doanh nghiệp,
đã có nhiều khái niệm về tài chính của doanh nghiệp được nêu ra Tuy nhiên những khái niệm này về cơ bản đều cho rằng:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống quan hệ của doanh nghiệp dưới dạng tiền
tệ, được hiểu là các mối quan hệ về mặt giá trị được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở
đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập
Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm:
Thứ nhất: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (nộp thuế cho ngân sách Nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn và thu hồi vốn đối với các doanh nghiệp nhà nứơc và có thể góp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phiếu (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mụch đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ
lệ góp vốn cho vay nhiều hay ít
Thứ hai: Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác
Từ sự đa dạng hoá hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường, đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân), giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, cho vay, với bạn hàng và khách hàng thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh các doanh nghiệp bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái
Trang 11Vũ Thị Diệp 11 Cao học QTKD 2009 - 2011
phiếu: giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình doanh nghiệp vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Thứ ba: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận SXKD của doanh nghiệp là các phòng ban, phân xưởng và tổ đội sản xuất trong việc nhận tạm ứng, thanh toán tài sản Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần
Các mối quan hệ này được thể hiện thong qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…Nó được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan
hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên
hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trọng hệ thống tài chính nước ta
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
- Tài chính doanh nghiệp được sử dụng như một công cụ để kích thích, điều tiết và thúc đẩy sản xuất kinh doanh
- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả tài chính
Để đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp người ta sử dụng nhóm chỉ
tiêu về khả năng sinh lời và nhóm chỉ tiêu phản ánh năng suất hoạt động
Trang 12Vũ Thị Diệp 12 Cao học QTKD 2009 - 2011
a/ Nhóm chỉ tiêu sinh lời
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng của hoạt động kinh doanh, trình độ tổ chức, sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuât Khả năng sinh lời thể hiện trình độ sử dụng vốn hiệu quả ở mức độ nào
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp bao gồm:
+ Hệ số sinh lợi doanh thu (ROS)
Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế (Lãi ròng) Tỷ số này càng lớn thì khả năng sinh lợi của công ty càng cao
và ngược lại Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lãi ròng
Doanh thu thuần
+ Hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của 100 đồng giá trị tài sản bình quân mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ số càng cao, thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý hiệu quả Nhà nước, các cổ đông, chủ nợ rất quan tâm đến tỷ số này
Tỷ suất sinh lợi của tài sản
Lãi ròng
Tổng tài sản bình quân
+ Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Hệ số này phản ánh khả năng sinh lợi của 100 đồng vốn chủ sở hữu tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng Chủ sở hữu doanh nghiệp rất quan tâm tới hiệu quả
sử dụng vốn chủ hữu Nếu chỉ tiêu này cao, sẽ thu hút được nhà đầu tư, cho phép doanh nghiệp mở rộng vốn và đảm bảo lợi ích của chủ doanh nghiệp
Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Lãi ròng Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 13Vũ Thị Diệp 13 Cao học QTKD 2009 - 2011
b/ Nhóm chỉ tiêu năng suất hoạt động
Các chỉ tiêu năng suất là các chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp bằng các so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tài sản khác nhau Bao gồm các chỉ tiêu sau:
+ Năng suất sử dụng tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp Nó thể hiện 100 đồng tài sản bình quân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đã thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Công thức tính như sau:
Năng suất sử dụng của tổng tài sản =
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Năng suất sử dụng tổng tài sản càng lớn hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng cao và ngược lại
+ Năng suất sử dụng tài sản dài hạn
Tỷ số này phản ánh 100 đồng tài sản dài hạn bình quân tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Công thức tính tỷ số này như sau:
Năng suất sử dụng tài sản dài hạn =
Doanh thu thuần
Tài sản cố định bình quân
Năng suất TSDH càng cao phản ánh tình hình giá trị TSDH dịch chuyển nhanh vào giá trị sản phẩm, sớm hoàn thành kỳ luân chuyển vốn Nếu tỷ số này thấp chứng tỏ việc đầu tư vào TSDH không hợp lý, vốn ứ đọng
+ Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn =
Doanh thu thuần
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết một đồng vốn tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu
Trang 14+ Vòng quay các khoản phải thu
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức sau:
Ơ Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải
thu nhanh là tốt và ngược lại Tuy nhiên trong nhiều trường hợp cao hay thấp chưa thể
có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp
+ Kỳ thu nợ bình quân (Collection Period)
Kỳ thu nợ bình quân hay thời gian thu tiền bình quân là số ngày của một vòng quay các khoản phải thu, nhằm đánh giá việc quản lý của công ty đối với các khoản phải thu do bán chịu Kỳ thu nợ bình quân càng thấp phản ánh việc quản lý các khoản phải thu do bán chịu của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại
Kỳ thu nợ bình quân =
Nợ phải thu bình quân
Doanh thu thuần/360
Trang 15Vì vậy, việc nghiên cứu về khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin cho quản lý để có sự điều chỉnh phù hợp Bên cạnh đó, các chủ nợ cũng rất quan tâm đến các chỉ tiêu này vì nó đo lường phần vốn góp của chủ sở hữu so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp Cụ thể đánh giá về khả năng
an toàn tài chính người ta sử dụng chỉ tiêu an toàn tổng
Đây là một nội dung rất quan trọng cho biết 2 điều cốt yếu:
Một là: Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không?
Hai là: TSDH của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu hay không?
Khi phân tích ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản:
+ TH1: Khi: Nợ dài hạn + nguồn vốn chủ sở hữu < Tài sản dài hạn
Hoặc: TSNH < Vay ngắn hạn
Có nghĩa là nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu không đủ đầu tư cho TSCĐ Doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ một phần nợ vay ngắn hạn, TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ vay ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần TSDH để thanh toán nợ vay ngắn hạn đến hạn trả Trong trường hợp như vậy giải pháp của doanh nghiệp là tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp lý, giảm quy mô đầu tư dài hạn
+ TH2: Khi: Nợ dài hạn + nguồn vốn chủ sở hữu > TSDH
Hoặc: TSNH > Vay ngắn hạn
Tức là nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu dư thừa sau khi đầu tư vào TSDH, đồng thời TSNH > Nợ vay ngắn hạn, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán nợ vay ngắn hạn Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp là quá an toàn
Trang 16Vũ Thị Diệp 16 Cao học QTKD 2009 - 2011
+ TH3: Khi: Nợ dài hạn + nguồn vốn chủ sở hữu = TSCĐ
Hoặc: TSLĐ = Nợ vay ngắn hạn
Có nghĩa là nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ đủ cho TSCĐ, TSLĐ
đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ vay ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh và an toàn
Thực chất đánh giá chỉ tiêu an toàn tổng cũng chính là việc tính toán và so sánh khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp
Khả năng thanh khoản là khả năng mà doanh nghiệp trả được các khoản nợ phải trả khi nó đến thời hạn thanh toán Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao cho thấy tình hình tài chính khả quan và ngược lại
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn và được xác định bằng công thức sau:
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Trong đó nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong thời gian dưới 12 tháng
Không phải hệ số này càng lớn càng tốt, vì khi đó có một lượng TSNH tồn trữ lớn phản ánh việc sử dụng TSNH không hiệu quả vì bộ phận này không vận động, không sinh lời Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán hiện hành phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Ngành nào mà TSNH chiếm tỷ trọng lớn (doanh nghiệp thương mại) trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại
b/ Chỉ tiêu thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đó là thước đo về khả năng trả nợ ngay không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá tồn kho
Hệ số khả năng thanh
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn
Trang 17Vũ Thị Diệp 17 Cao học QTKD 2009 - 2011
Ở đây hàng tồn kho bị loại trừ ra vì được coi là loại tài sản không dễ dàng chuyển đổi nhanh thành tiền và số tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được xác định là tiền và các khoản tương đương tiền
Nếu tỷ lệ này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ Tuy nhiên, độ lớn của tỷ lệ này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu, phải trả trong kỳ
c/ Chỉ tiêu thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ ngay chỉ dựa vào tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh
toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng nợ đến hạn trả
d/ Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng Hệ số này cho biết số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức nào và đem lại ảkhoản lợi nhuận là bao nhiêu có đủ bù đắp lãi vay không?
Khả năng thanh toán
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Lãi vay phải trả
Dựa vào các chỉ tiêu ở trên để kết luận tình hình tài chính của doanh nghiệp
an toàn hay không an toàn là do những nhân tố nào tác động và tìm nguyên nhân gây nên các tác động đó từ đó có hướng giải quyết cho phù hợp
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính
1.1.4.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
Sự tồn tại của các doanh nghiệp luôn gắn liền với các điều kiện môi trường Môi trường kinh doanh là tổng thể những điều kiện nằm ngoài sự kiểm soát của
Trang 18có được do nhập khẩu do vậy nó chịu ảnh hưởng lớn bởi giá nhập vào nhưng đầu ra lại chịu tác động của giá trần do Nhà nước đặt; là yếu tố đầu vào liên quan tới nhiều ngành nhiều lĩnh vực kinh doanh khác,…
- Chế độ chính sách pháp luật của Nhà nước: các văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như Luật doanh nghiệp, luật đầu
tư, luật thuế thu nhập doanh nghiệp,…ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các doanh nghiệp Bất kể một sự thay đổi nào của các văn bản có liên quan sẽ tác động ngay đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, làm thay đổi kết quả phân tích tài chính Trong đó, đặc biệt quan trọng phải kể đến các chính sách trong lĩnh vực tài chính
+ Chính sách thuế: Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp phải nộp nhiều khoản thuế cho Nhà nước Hầu hết các quyết định trong quản trị tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế và nó tác động đến việc xác định và tính toán các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Sự tăng giảm thuế ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh, khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
+ Lãi vay: Nhà nước cho phép doanh nghiệp khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập phải nộp Sự tăng giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau
+ Hệ thống tài chính: Việc giải quyết nhu cầu vốn được thực hiện thông qua hệ thống tài chính như: thị trường tài chính, các tổ chức tài chính, các công cụ tài chính
+ Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm các yếu tố chính như: tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp,… Mỗi yếu
Trang 19- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: là các công ty hoạt động cùng ngành với doanh nghiệp, đang tìm cách tăng doanh thu và lợi nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra bất lợi cho doanh nghiệp Vì dung lượng thị phần có hạn, các doanh nghiệp «tranh giành» thị phần bằng các biện pháp quảng cáo, mở rộng mạng lưới cung cấp,
1.1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong
- Yếu tố con người: Trước đây, tư duy điều hành và quản lý sản xuất vẫn còn theo kinh nghiệm và cảm tính chủ quan, chưa xuất phát từ cơ sở khoa học Điều này
do hạn chế về năng lực quản lý và nhận thức của người lãnh đạo doanh nghiệp Khi trình độ quản lý được nâng lên, họ sẽ có nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của việc tính toán các chỉ tiêu tài chính Con người là nhân tố quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý và đội ngũ nhân viên có trình độ cao, tay nghề tốt sẽ giúp doanh nghiệp có được những hướng đi những quyết định đúng đắn cũng như việc thực hiện được tiến độ, kế hoạch đặt ra thu được những kết quả tốt
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nào có tiềm lực tài chính mạnh doanh nghiệp đó sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh, mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh hoặc có thể đững vững được trong những điều kiện chính sách thắt chặt cho vay vốn của các tổ chức tin dụng, Do vậy, các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp cũng cải thiện
- Yếu tố công nghệ: Ngày nay, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật được áp dụng vào lĩnh vực quản lý và sản xuất đang là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Chu kỳ sống của sản phẩm và vòng đời công nghệ ngắn dần, sự tiến bộ trong công nghệ thông tin, đã góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp
Trang 20Vũ Thị Diệp 20 Cao học QTKD 2009 - 2011
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Thực chất, mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Thực chất về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.2.1.2 Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Nhận dạng điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính theo các tiêu chí:
+ An toàn tài chính (Khả năng thanh toán và khả năng quản lý nợ)
+ Hiệu quả tài chính (Khả năng sinh lời và khả năng quản lý tài sản)
+ Tổng hợp tình hình tài chính (Đẳng thức DuPont)
- Tìm hiểu, giải thích nguyên nhân đứng đằng sau thực trạng đó
- Đề xuất giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Kiểm tra và đánh giá tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính đã xây dựng
Trang 21Vũ Thị Diệp 21 Cao học QTKD 2009 - 2011
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại yếu kém và khai thác
các tiềm năng của tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1.4 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin tài chính của doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm như nhà quản lý tại doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức năng…Phân tích tài chính giúp cho tất cả các đối tượng này có thông tin phù hợp với mục đích của mình, trên cơ sở đó họ có thể đưa ra các quyết định hợp lý trong kinh doanh Tuy nhiên mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm đến tình hình tài chính dưới những góc độ khác nhau vì vậy phân tích tài chính cũng có những ý nghĩa khác nhau đối với từng cá nhân, tổ chức Cụ thể như:
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp:
Phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của Ban giám đốc, dự báo kế hoạch tài chính như: Kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý
Mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp là tìm lợi nhuận và khả năng trả nợ Bên cạnh đó các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục đích khác nhau như: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường Tuy nhiên một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu trên đây nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và là hai mục đích cơ bản: Kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn lực và buộc phải đóng cửa, mặt khác nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng sẽ bị ngừng hoạt động và buộc phải đóng cửa
Trang 22Vũ Thị Diệp 22 Cao học QTKD 2009 - 2011
Như vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp cần phải có đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thể đánh giá đúng đắn tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, rủi ro và dự toán chính xác tình hình tài chính để đề
ra chính sách phát triển phù hợp
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng:
Phân tích tài chính của doanh nghiệp giúp cho họ nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng Mối quan tâm của họ chủ yếu nhận biết khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến vốn chủ sở hữu, đó chính là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không đảm bảo chắc chắn khoản vay sẽ được thanh toán đúng hạn Người cho vay cũng rất quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn
Đối với các nhà cung cấp vật tư thiết bị, hàng hoá dịch vụ:
Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ nhận biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó có thể quyết định bán hàng hay không bán hàng, áp dụng phương thức thanh toán hợp lý để có thể thu hồi tiền bán hàng nhanh chóng
Đối với các nhà đầu tư:
Phân tích tài chính giúp họ nhận biết tình hình thu nhập của vốn chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, đó chính là căn cứ quan trọng trong việc ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không Mối quan tâm của các nhà đầu tư hướng vào các yếu tố như: Sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lợi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của
Trang 23Vũ Thị Diệp 23 Cao học QTKD 2009 - 2011
doanh nghiệp, đồng thời các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến việc điều hành và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư
Đối với khách hàng:
Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ đánh giá khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp để quyết định có ứng trước tiền hàng hay không
Đối với người lao động trong doanh nghiệp:
Phân tích tài chính giúp họ hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp, nắm bắt được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, từ đó nâng cao trách nhiệm đối với công việc mà họ đảm nhận, giúp họ đánh giá được thu nhập của bản thân sẽ tăng lên hay giảm đi
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như tài chính, ngân hàng, kiểm
toán, thuế…:
Phân tích tài chính giúp cho việc kiểm tra, giám sát, kiểm toán, hướng dẫn và
tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ về tài chính, kế toán, thuế và kỷ luật tài chính, tín dụng, ngân hàng…
Tóm lại, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính, nó có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau, nhằm nhiều mục đích khác nhau Chính vì
lẽ đó phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết với nhiều đối tượng
1.2.2 Nội dung phân tích tài chính
1.2.2.1 Phân tích tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Đánh giá tổng quát tình hình tài chính của doanh nghiệp: bằng việc tính toán các chỉ tiêu tài chính chủ yếu và so sánh các chỉ tiêu đó với chỉ tiêu chuẩn Từ đó có thể trả lời được hai câu hỏi: tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không? có hiệu quả hơn hay không?
Trang 24Vũ Thị Diệp 24 Cao học QTKD 2009 - 2011
Cụ thể để trả lời được 2 câu hỏi này, người ta tính toán các chỉ tiêu chủ yếu: chỉ tiêu an toàn tổng (cân đối giữa tài sản và nguồn vốn), chỉ tiêu ROE; sau đó tiến hành so sánh kết quả tính được giữa kỳ này với kỳ trước, so sánh với chỉ tiêu kế hoạch mà doanh nghiệp đặt ra, so sánh với chỉ tiêu đạt được của các doanh nghiệp khác cùng ngành
1.2.2.2 Phân tích các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến hiệu quả tài
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Hệ số tài trợ
ROE = ROS x Năng suất sử dụng tổng tài sản x 1
Hệ số tài trợ
Như vậy, công thức trên đã cho thấy ROE phụ thuộc vào 3 chỉ tiêu: ROS, Năng suất sử dụng tổng tài sản và 1/ Hệ số tài trợ Phân tích từng chỉ tiêu sẽ cho biết ROE cao hay thấp là do tác động chủ yếu của chỉ tiêu nào
- TH1: Trong 3 chỉ tiêu nếu kết quả chỉ tiêu nào năm sau cao hơn năm trước thì chỉ tiêu đó được đánh giá là tốt Nếu kết quả chỉ tiêu nào mà năm sau nhỏ hơn năm trước thì chỉ tiêu đó được đánh giá là tác động xấu đến ROE
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hứu bình quân
Trang 25Vũ Thị Diệp 25 Cao học QTKD 2009 - 2011
- TH2: Nếu kết quả tính toán của cả 3 chỉ tiêu đều tăng hơn so với năm trước thì chỉ tiêu nào tăng nhanh nhất thì chỉ tiêu đó được đánh giá là tốt nhất, còn chỉ tiêu nào tăng chậm nhất thì chỉ tiêu đó là xấu
Để thấy được nguyên nhân cụ thể tác động đến các chỉ tiêu trên, người ta tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến từng chỉ tiêu thành phần
a/ Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
ROS = Lãi ròng = Doanh thu thuần - Tổng chi phí - Thuế TNDN
Phân tích ROS cũng chính là việc phân tích doanh thu và chi phí của doanh nghiệp hay nói cách khác là phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu thuần tăng hay giảm so với năm trước là do sản lượng tiêu thụ hay do ảnh hưởng của giá bán là chủ yếu Chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động tài chính, chi phí khác, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Phân tích chi phí để thấy rõ tổng chi phí của doanh nghiệp chịu tác động của loại chi phí cụ thể nào
b/ Phân tích năng suất sử dụng tổng tài sản
Năng suất sử dụng
tổng tài sản =
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân TSNH bình quân + TSDH bình quân
So sánh năng suất sử dụng tổng tài sản của năm nay so với năm trước, tìm ra nguyên nhân cụ thể do tốc độ tăng giảm của doanh thu thuần hay của TSNH bình quân và TSDH bình quân
c/ Phân tích tỷ số: 1/ Hệ số tài trợ
Phân tích tỷ số: 1/ Hệ số tài trợ là phân tích cơ cấu nguồn vốn Nguồn vốn chủ sở hữu bình quân do sự tăng giảm của nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu
1.2.2.3 Phân tích chỉ tiêu an toàn tài chính
Tiến hành tính toán và so sánh kết quả của các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời và khả năng thanh toán lãi vay của năm nay so với năm trước, so với chỉ tiêu kế hoạch đặt ra của doanh nghiệp và so với chỉ tiêu của các doanh nghiệp khác cùng ngành
Trang 26Vũ Thị Diệp 26 Cao học QTKD 2009 - 2011
1.2.2.4 Phân tích ảnh hưởng của hệ thống đòn bẩy đến kết quả kinh
doanh
a/ Đòn bẩy tác nghiệp DOL (Đòn bẩy định phí)
Đòn bẩy tác nghiệp là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng chi phí cố định trong hoạt động của mình Doanh nghiệp có đòn bẩy tác nghiệp cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí của doanh nghiệp cao Đòn bẩy tác nghiệp cao sẽ khiến cho một thay đổi nhỏ về doanh thu có thể gây ra một thay đổi lớn về lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Độ nghiêng của đòn bẩy tác nghiệp (DOL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của EBIT ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu
V: Chi phí biến đổi đơn vị F: Chi phí cố định
Tuy nhiên để xác định lợi nhuận hoạt động sẽ thay đổi như thế nào so với mức sản xuất và ở mức nào thì doanh nghiệp hoà vốn, thì cần phải phân tích điểm hoà vốn Điểm hoà vốn là mức doanh thu tạo ra bằng tổng chi phí hoạt động hoặc là mức doanh thu tạo ra thu nhập bằng không
Trang 27Vũ Thị Diệp 27 Cao học QTKD 2009 - 2011
Công thức tính điểm hoà vốn như sau:
EBIT = Doanh thu – Tổng chi phí
Nếu ký hiệu Q: Số lượng đơn vị bán hàng
Hay SHV = Tổng định phí/ [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)]
Trong đó: [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)]: là tỷ lệ số dư đảm phí
Một số ứng dụng của việc phân tích điểm hoà vốn:
+ Đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp:
Qua việc phân tích điểm hoà vốn, ta có thể đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách xem xét sự ảnh hưởng đối với EBIT và điểm hoà vốn khi các điều kiện kinh doanh thay đổi
Phân tích điểm hoà vốn đối với sự thay đổi của giá bán đơn vị sản phẩm P và tổng định phí (tương tự như trên) cũng cho ta thấy độ nhạy của lợi nhuận hoạt động
+ Dùng để lựa chọn phương án sản xuất:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, xu hướng chung của các doanh nghiệp
là ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động,
Trang 28Vũ Thị Diệp 28 Cao học QTKD 2009 - 2011
điều này có thể giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí Mặt khác, do áp dụng các phương pháp sản xuất hoặc quản lý khác nhau sẽ dẫn đến sự thay đổi kết cấu chi phí cũng như giá bán của doanh nghiệp Nhà quản lý doanh nghiệp có thể sử dụng kiến thức về phân tích điểm hoà vốn để phân tích các khả năng lựa chọn và dự báo những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
+ Đánh giá lợi nhuận đạt được từ việc đưa ra thị trường sản phẩm mới
Khi đưa một sản phẩm mới vào thị trường, doanh nghiệp cần đánh giá xem khả năng đem lại lợi nhuận của sản phẩm này là như thế nào Từ việc đánh giá đó sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra phương hướng điều chỉnh kịp thời để có thể nâng cao lợi nhuận Để đánh giá lợi nhuận có thể đạt được của sản phẩm mới, nhà quản trị doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp phân tích điểm hoà vốn Muốn vậy, doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin về kỹ thuật cũng như Marketing để dự báo chính xác doanh số tiềm năng nhằm cung cấp cho việc phân tích điểm hoà vốn của sản phẩm mới
Phân tích điểm hoà vốn được coi là một công cụ rất hữu ích để xem xét hoạt động của một doanh nghiệp hay một dự án Tuy vậy, phương pháp này cũng có một
số hạn chế nhất định:
- Kết cấu chi phí hoạt động rất phức tạp và bao gồm nhiều khoản mục khác nhau Vì vậy khi phân tích thành định phí và biến phí thường rất khó khăn và không hoàn toàn chính xác Chính vì lý do này mà khi áp dụng phân tích điểm hoà vốn đối với kết cấu chi phí đó sẽ rất khó khăn
- Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp thường tiến hành sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, khi đó người ta coi các loại sản phẩm khác nhau đó là “một sản phẩm hỗn hợp” để tạo thành “một đơn vị sản xuất” tượng trưng Điều này làm cho việc phân bổ chi phí và xác định “số lượng đơn vị hàng bán được” rất phức tạp
- Chúng ta đều biết rằng giá trị của đồng tiền tại các thời điểm khác nhau là khác nhau Trong khi đó phân tích điểm hoà vốn lại không quan tâm đến thời giá
Trang 29Vũ Thị Diệp 29 Cao học QTKD 2009 - 2011
của tiền Vì vậy, chỉ áp dụng phương pháp này đối với những khoảng thời gian ngắn, nếu áp dụng với những khoảng thời gian dài thì chi phí và doanh thu cần được biểu hiện dưới hình thức giá trị hiện tại Điều này đòi hỏi phải ứng dụng phương pháp phân tích độ nhạy với yêu cầu chính xác về doanh số hàng bán được với mức doanh thu mà tại đó NPV >0
Mô hình phân tích điểm hoà vốn cơ bản đánh giá theo đường thẳng (tức là giá bán và biến phí đơn vị sản phẩm không thay đổi), nhưng giá bán và biến phí đơn
vị hàng bán lại có thể thay đổi tuỳ theo mức độ sản xuất
Tóm lại, phân tích điểm hoà vốn là một công cụ hữu hiệu để phân tích đòn bẩy định phí của một doanh nghiệp hay dự án đầu tư trong tình huống đơn giản Trong tình huống phức tạp, tính hữu ích của điểm hoà vốn lại bị hạn chế, do đó đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các công cụ tài chính khác
b/ Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn bẩy nợ)
Đòn bẩy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng các khoản vay nợ có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn của mình Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp cao Đòn bẩy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn, tuy nhiên lợi nhuận cổ đông đại chúng càng cao nếu tỷ suất sinh lời chung của doanh nghiệp cao hơn lãi suất vay nợ
Độ tác nghiệp của đòn bẩy tài chính (DFL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (EPS) ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Trang 30EBIT
EBIT
Trong đó:
I: lãi vay phải trả
T: Thuế suất thuế thu nhập
DTL =
Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EPS
=
EPS /EPS Mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh số Q/Q
Trang 31về doanh thu sẽ gây ra tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) tăng lên nhanh chóng Chính vì thế doanh nghiệp cần phải lựa chọn một mức độ sử dụng hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất
1.2.3 Trình tự phân tích
Tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp là bao gồm các công việc cơ bản như: lựa chọn loại hình phân tích, xây dựng quy trình phân tích và tổ chức bộ máy thực hiện Các công việc này cụ thể như sau:
Thứ nhất: Lựa chọn loại hình phân tích
Các loại hình phân tích được phân chía theo nhiều tiêu thức khác nhau, người phân tích cần nắm vững đặc điểm của từng loại hình để lựa chọn loại hình phân tích cho phù hợp với yêu cầu, mục đích phân tích của doanh nghiệp mình Cụ thể như sau:
- Theo thời điểm phân tích, phân tích tài chính bao gồm phân tích trước, phân tích hiện hành và phân tích sau:
+ Phân tích trước là phân tích khi chưa tiến hành hoạt động kinh doanh như phân tích dự án, kế hoạch, dự toán…Để một dự án hay kế hoạch có tính thuyết phục cao, người ta cần tính toán hiệu quả của dự án trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu tài chính, đây cũng là căn cứ để đánh giá và lựa chọn dự án kinh doanh
Trang 32Vũ Thị Diệp 32 Cao học QTKD 2009 - 2011
+ Phân tích hiện hành là phân tích được tiến hành đồng thời với quá trình kinh doanh Dựa trên đó, nhà phân tích có thể xác minh hiệu quả của hoạt động kinh doanh và tính đúng đắn của các dự án, kế hoạch nhằm điều chỉnh kịp thời các bất hợp lý trong các dự án, kế hoạch đó
+ Phân tích sau là phân tích được tiến hành khi dự án, kế hoạch…đã hoàn thành Phân tích sau nhằm đánh giá hiệu quả toàn bộ dự án, kế hoạch…
- Theo nội dung phân tích, phân tích chỉ tiêu tài chính bao gồm phân tích toàn diện và phân tích chuyên đề
+ Phân tích toàn diện là phân tích tất cả các khía cạnh tài chính trong mối quan hệ liên kết chặt chẽ với nhau
+ Phân tích chuyên đề là phân tích tập trung vào một khía cạnh nào đó như phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng sinh lãi, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản…
- Theo phạm vi phân tích, phân tích tài chính bao gồm phân tích tổng thể và phân tích bộ phận Phân tích tổng thể là phân tích trong phạm vi toàn doanh nghiệp còn phân tích bộ phận chỉ giới hạn trong những bộ phận hay đơn vị cụ thể của doanh nghiệp
Khi tiến hành phân tích, cần xác định rõ mục tiêu phân tích để lựa chọn loại hình phân tích phù hợp Trên thực tế, tùy theo mục tiêu cụ thể, có thể kết hợp nhiều loại hình trong quá trình phân tích
Thứ hai: Xây dựng quy trình phân tích
Tùy từng đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp tự đi xây dựng quy trình phân tích tài chính cho phù hợp Song nhìn chung, phân tích tài chính trong doanh nghiệp thường được tiến hành qua các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạc phân tích
- Xác định mục tiêu, kế hoạc phân tích, từ đó lập ra các kế hoạch chi tiết về nguồn thông tin sử dụng, thời gian tiến hành phân tích, số lượng nhân sự, yêu cầu
Trang 33Vũ Thị Diệp 33 Cao học QTKD 2009 - 2011
trình độ chuyên môn cán bộ cần cho công tác phân tích, tổ chức phân công công việc khoa học…
- Lập kế hoạch phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình phân tích
- Lựa chọn các phương pháp và nội dung phân tích nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra
Bước 2: Giai đoạn tiến hành phân tích
- Thu thập và kiểm tra các nguồn thông tin thu thập được
- Tính toán các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu tài chính cần thiết Trên cơ sở đó, tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà sẽ đi sâu vào phân tích các nội dung có liên quan
- Lập bảng biểu để so sánh, phân tích các chỉ tiêu đã tính toán nhằm tìm ra nguyên nhân gây ra thực trạng của tình hình tài chính
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Bước 3: Báo cáo kết quả phân tích tài chính
- Viết báo cáo phân tích: Báo cáo phân tích là bản tổng hợp những đánh giá cơ bản được rút ra từ quá trình phân tích cùng những tài liệu minh họa Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm phát huy những thành công và khắc phục những hạn chế
- Hoàn chỉnh hồ sơ phân tích
Thứ ba: Tổ chức bộ máy thực hiện
Để phân tích tài chính được tiến hành đầy đủ, kịp thời và hiệu quả trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp cần có bộ phận phân tích riêng Với mục tiêu đó, doanh nghiệp cần xây dựng bộ phận phân tích cho phù hợp với quy mô của doanh nghiệp Tại doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể giao nhiệm vụ phân tích tài chính cho một cán bộ chuyên trách Với các công ty lớn và tổng công ty nên thiết lập một bộ phận phân tích tài chính riêng, bộ phận này có thể đặt nằm trong bộ máy tài chính
kế toán Để thu thập đầy đủ, kịp thời cho phân tích tài chính, bộ phận phân tích phải
có mối liên hệ chặt chẽ với các phòng ban chức năng: kế toán, kế hoạch, kinh
Trang 34Vũ Thị Diệp 34 Cao học QTKD 2009 - 2011
doanh…Doanh nghiệp cần thiết lập quy trình cung cấp thông tin từ các bộ phận chức năng cho bộ phận phân tích tài chính nhằm đảm bảo cung cấp thông tin được chính xác và kịp thời Trên cơ sở đó, bộ phận phân tích sẽ tổng hợp, đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra nhận xét tư vấn cho ban giám đốc và hội đồng quản trị, giúp cho ban quản trị doanh nghiệp có những quyết định chuẩn xác trong kinh doanh
1.3 Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chìa khóa để cung cấp thông tin cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác nhau trong quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù hợp với mục đích của việc nghiên cứu
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 35+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh với chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
- Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Khi phân tích có thể chi tiết chỉ tiêu phân tích theo bộ phận cấu thành, theo thời gian và theo địa điểm Sau đó mới tiến hành xem xét so sánh mức độ làm được của từng bộ phận giữa các kỳ phân tích so với kỳ gốc và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận với tổng thể cũng như xem xét tiến độ thực hiện và kết quả đạt được trong từng thời gian hay mức độ đóng góp của từng bộ phận vào kết quả chung Bằng cách xem xét chỉ tiêu phân tích theo các hướng khác nhau, các nhà phân tích
sẽ nắm được tác động của các giải pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng trong từng thời gian, từng địa điểm, từng bộ phận Từ đó tìm cách cải tiến các giải pháp cũng như điều kiện vận dụng từng giải pháp một cách phù hợp có hiệu quả
- Phương pháp loại trừ
Theo phương pháp này, để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó, nhà phân tích phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại Đặc trưng nổi bật của phương pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp giả định khác nhau để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ lệ, cố nhiên là sự biến đổi của đại lượng tài chính Về ngưỡng nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các
Trang 36Vũ Thị Diệp 36 Cao học QTKD 2009 - 2011
ngưỡng, các định mức, để nhận xét đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về
cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ
về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
- Phương pháp liên hệ cân đối
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp hình thành rất nhiều mối quan hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như quan hệ cân đối giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn hình thành tài sản, giữa thu chi và kết quả… điều đó dẫn đến sự cân bằng về mức biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chúng Dựa vào mối quan hệ cân đối này người phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích Phương pháp này đòi hỏi mối quan hệ giữa các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích là mối quan hệ lỏng (mối quan hệ dạng tổng số hoặc hiệu số)
- Phương pháp thay thế liên hoàn
Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Điều kiện áp dụng phương pháp là mối quan hệ giữa nhân tố cần đo ảnh hưởng và chỉ tiêu phân tích phải thể hiện được dưới dạng công thức Ngoài ra việc sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác đinh ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tích phải theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng Trình tự thay thế các nhân tố phải tuân theo nguyên tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiện tượng nghiên cứu vừa phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ về thực chất của các nhân tố
Trang 37Vũ Thị Diệp 37 Cao học QTKD 2009 - 2011
Các bước thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn:
+ Bước 1: Sơ bộ phân tích về mặt lý luận mối quan hệ giữa các nhân tố và chỉ tiêu kết quả và phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng
+ Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự nhân tố đứng sau chât lượng hơn nhân tố đứng trước
1.4 Tài liệu dùng cho phân tích tài chính
1.4.1 Tài liệu bên trong doanh nghiệp
Tài liệu bên trong của doanh nghiệp được sử dụng cho phân tích tài chính là
hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp đó
Trang 38Vũ Thị Diệp 38 Cao học QTKD 2009 - 2011
Báo cáo tài chính là một trong các báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc những thời kỳ nhất định Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm nhất định, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để đưa ra các quyết định phù hợp
Hệ thống các báo cáo tài chính ở nước ta bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán Mẫu B.01 - DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu B.02 - DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu B.03 - DN
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu B.09 - DN
Vai trò của báo cáo tài chính:
- Cung cấp các chỉ tiêu kinh tế – tài chính cần thiết, giúp kiểm tra, phân tích một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của doanh nghiệp
- Cung cấp những thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách, chế độ kinh tế – tài chính của doanh nghiệp
- Cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phân tích đánh giá những khả năng và tiềm năng kinh tế – tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác dự báo và lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
Tác dụng của báo cáo tài chính:
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Dựa vào các báo cáo tài chính để nhận biết và đánh giá khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình vốn, công nợ, thu
Trang 39- Đối với cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá, kiểm tra và kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách, chế độ và pháp luật không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực
hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
- Nội dung báo cáo tài chính doanh nghiệp:
a/ Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)
BCĐKT là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh khái quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Kết cấu của bảng được chia thành 2 phần: tài sản và nguồn vốn
Phần tài sản của BCĐKT phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến
thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn
Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh
nghiệp đến thời điểm lập báo cáo bao gồm các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ
sở hữu
b/ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định
Trang 40Vũ Thị Diệp 40 Cao học QTKD 2009 - 2011
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần:
Phần I- Lãi, lỗ: Phản ánh tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh (sản xuất kinh doanh; đầu tư tài chính; hoạt động khác)
Phần II - Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước: Phản ánh các
khoản thuế, các khoản phải nộp khác mà doanh nghiệp phải nộp (kỳ trước chuyển sang, phải nộp kỳ này) và đã nộp trong kỳ báo cáo
Phần III - Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được miễn giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ; so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp
c/ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Dựa vào BCLCTT, nhà quản lý có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong
kỳ tiếp theo
Nội dung BCLCTT gồm 3 phần:
Phần I - Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Phản ánh toàn
bộ các dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp như tiền thu từ bán hàng, thu từ các khoản phải thu, tiền trả nhà cung cấp
Phần II - Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: Phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và đầu