1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất một số biện pháp kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường và một số ứng dụng tại tỉnh hòa bình

159 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có những chính sách và giải pháp khắc phục những tồn tại và hạn chế trên đây, đồng thời nâng cao hơn nữa vị thế của ngành tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế quốc dân, rất cần

Trang 1

-

BÙI QUANG ĐIỆP

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KINH TẾ HOÁ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG TẠI TỈNH HOÀ BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Việt Hà, không sao chép bất kỳ một công trình hay một luận án của bất cứ tác giả nào khác Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Hòa Bình, ngày 16 tháng 9 năm 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, và các bạn Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Viện Đào tạo sau Đại học, Khoa Kinh tế

và Quản lý cùng thầy cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi

Đặc biệt, tôi xin trân trọng và cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS Trần Việt Hà,

đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, các phòng chức năng Sở Tài nguyên

và Môi trường tỉnh Hoà Bình đã cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm việc, thu thập số liệu tại tỉnh Hoà Bình để tôi có thể hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, song bản luận văn khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định Kính mong nhận được sự đóng góp chân thành của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp để bản luận văn hoàn thiện hơn nữa

Xin trân trọng cảm ơn!

Hòa Bình, ngày 16 tháng 9 năm 2012

Bùi Quang Điệp

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HOÁ NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 4

1.1 Tổng quan về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường 4

1.1.1 Khái niệm, bản chất của kinh tế hoá tài nguyên và môi trường 4

1.1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường 5

1.1.2.1 Các quy luật khách quan của KTTT 5

1.1.2.2 Các nguyên tắc của KTTT trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 7

1.1.2.3 Vai trò nhà nước trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 8

1.2 Tiếp cận thị trường trong QLTN&BVMT 12

1.2.1 Vận dụng các quy luật khách quan của KTTT trong QLTN&BVMT 12

1.2.2 Vận dụng các nguyên tắc của KTTT trong QLTN&BVMT 17

1.2.3 Định giá, lượng hóa, hạch toán TN&MT 21

1.2.4 Công cụ kinh tế và khả năng vận dụng trong QLTN&BVMT 31

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KINH TẾ HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 37

2.1 Thực trạng về định giá, lượng hóa và hạch toán TN&MT 37

2.1.1 Thực trạng định giá Tài nguyên và Môi trường 37

2.1.2 Thực trạng lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường ở Việt Nam 47

2.1.3 Thực trạng hạch toán tài nguyên và môi trường ở Việt Nam 50

Trang 5

2.1.4 Những khó khăn vướng mắc trong việc định giá, lượng hóa và hạch

toán tài nguyên và môi trường ở Việt Nam 51

2.2 Thực trạng về cơ chế bao cấp, xin cho trong QLTN&BVMT 52

2.2.1 Thực trạng cơ chế xin-cho, bao cấp trong lĩnh vực đất đai 53

2.2.2 Thực trạng cơ chế xin-cho, bao cấp trong lĩnh vực địa chất - khoáng sản 58

2.3.3 Thực trạng cơ chế xin-cho, bao cấp trong lĩnh vực tài nguyên nước 61

2.2.4 Thực trạng cơ chế xin-cho, bao cấp trong lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu 62

2.3 Thực trạng về sử dụng các công cụ kinh tế trong QLTN&BVMT 65

2.3.1 Công cụ về thuế tài nguyên và môi trường 65

2.3.2 Công cụ phí và lệ phí về tài nguyên và môi trường 73

2.3.3 Công cụ ký quỹ 76

2.3.4 Công cụ hỗ trợ, ưu đãi về tài chính liên quan đến TN&MT 77

2.3.5 Các công cụ kinh tế khác liên quan đến QLTN& BVMT 80

2.3.6 Đánh giá chung về sử dụng công cụ kinh tế trong QLTN&BVMT 82

2.4 Thực trạng về phát triển các loại thị trường về TN&MT và thương mại hóa thông tin, dữ liệu về TN&MT 85

2.4.1 Thị trường đất đai 85

2.4.2 Thị trường dịch vụ môi trường 86

2.4.3 Thực trạng về thương mại hóa thông tin, dữ liệu về TN&MT 87

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 90

CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HÓA TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 91

3.1 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển 91

3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 91

3.1.2 Kinh nghiệm của Indonexia 94

3.2 Kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế chuyển đổi 95

3.2.1 Một số vấn đề môi trường ưu tiên cải cách 96

3.2.2 Cải cách chính sách tài nguyên và môi trường trong giai đoạn đầu thời kỳ chuyển đổi 96

Trang 6

3.3.3 Tình hình áp dụng công cụ dựa vào thị trường tại các nước EECCA 98

3.3.4 Tình hình áp dụng công cụ kinh tế tại một số nước EECCA 99

3.3 Kinh nghiệm của các nước phát triển 101

3.3.1 Các loại công cụ thị trường (EIs) trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của các nước phát triển 101

3.3.2 Áp dụng công cụ thị trường tại một số nước phát triển 103

3.3.3 Bài học rút ra 109

CHƯƠNG 4: RÚT RA MÔ HÌNH ÁP DỤNG KINH TẾ HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM VÀ TẠI TỈNH HOÀ BÌNH 114

4.1 Bối cảnh 114

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 114

4.1.2 Bối cảnh trong nước 115

4.2 Quan điểm, mục tiêu đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường 115

4.2.1 Quan điểm 115

4.2.2 Mục tiêu 116

4.3 Nhiệm vụ và giải pháp 116

4.3.1 Nhiệm vụ và giải pháp chung 116

4.3.2 Các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể theo lĩnh vực của ngành TN&MT 117

4.4 Một số ứng dụng đối với tỉnh Hoà Bình 122

4.4.1 Tổng quan về ngành tài nguyên và môi trường tỉnh Hoà bình 122

4.4.2 Những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trên địa bàn tỉnh Hoà bình 122

4.4.3 Giải pháp thực hiện 124

4.4.4 Phương pháp thực hiện 126

KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

CÁC PHỤ LỤC 133

Trang 7

6 EECCA Khối các quốc gia Đông Âu và Trung Á trước đây

thuộc Liên Xô cũ

8 HĐKS Hoạt động khoáng sản

9 KTTT Kinh tế thị trường

10 OECD Tổ chức các nước công nghiệp phát triển

11 QLTN&BVMT Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

12 SDĐNN Sử dụng đất nông nghiệp

13 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: So sánh giữa bằng lòng trả và bằng lòng chấp nhận 28

Bảng 2.1: Ví dụ về bảng giá đất được ban hành năm 2010 của một số tỉnh thành 39

Bảng 2.2: Kết quả điều tra, đánh giá mức độ những vấn đề đang bức xúc tại địa phương về đất đai 40

Bảng 2.3: Ví dụ về việc ban hành các bảng giá tính thuế tài nguyên của một số địa phương 41

Bảng 2.4: Ví dụ về việc triển khai ban hành mức thu phí môi trường ở một số địa phương 44

Bảng 2.5: Các văn bản liên quan đến lượng hóa giá trị kinh tế của TN&MT ở Việt Nam 48

Bảng 2.6: Các cơ chế phân bổ nguồn lực trong lĩnh vực của lĩnh vực KTTV 63

Bảng 2.7: Biểu thuế một số nhóm, loại tài nguyên 66

Bảng 2.8: Thu thuế tài nguyên qua các năm 72

Bảng 2.9: Mức thu phí đối với các hoạt động khai thác khoáng sản 75

Bảng 3.1: Ma trận các công cụ chính sách vì sự phát triển bền vững 102

Bảng 3.2: Các công cụ kinh tế được áp dụng tại Đức 104

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, HỘP

Hình 1.1: Giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường 26

Hình 1.2: Bằng lòng trả (Willing To Pay) 27

Hình 1.3: Các phương pháp lượng giá TN&MT 28

Hình 3.1 Ba trụ cột của xã hội Nhật Bản bền vững 106

Hộp 2.1: Định giá khoáng sản như hàng hóa 38

Hộp 2.2: Định giá đất làm tăng thu ngân sách 39

Hộp 2.3: Ví dụ về thu ngân sách Nhà nước từ thuế tài nguyên tỉnh Đồng Nai 41

Hộp 2.4: Ví dụ về định giá rừng được triển khai tại tỉnh Kon Tum 42

Hộp 2.5 : Kết quả thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam 45

Hộp 2.6: Bất cập trong thu phí môi trường ở Việt Nam 46

Hộp 2.7: Định giá dịch vụ chi trả môi trường rừng mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước và góp phần xóa đói giảm nghèo ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Sơn La 46

Hộp 2.8: Vấn đề khó khăn trong xác định thiệt hại ô nhiễm do công ty Vedan gây ra 50

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, giai đoạn 2001 - 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng Tiềm lực kinh tế của Việt Nam được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 7,2%/năm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt trên 106 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.200 USD; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi bộ máy quản lý Nhà nước phải có những thay đổi cơ bản trong cơ chế quản lý và phương thức điều hành nền kinh tế, đảm bảo giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế trên cơ sở vận dụng đúng các quy luật, nguyên lý kinh tế, đồng thời phát huy tối đa vai trò điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong các lĩnh vực mà nền kinh tế thị trường không tự vận hành tốt Như vậy quá trình này đòi hỏi từng bộ phận, từng khâu trong bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế cũng phải chuyển đổi, trong đó có ngành tài nguyên và môi trường

Trước yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng đồng bộ thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường còn bộc lộ nhiều bất cập Các yếu tố thị trường và các loại thị trường về tài nguyên và môi trường hình thành, phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt Tài nguyên chưa được coi là nguồn lực đặc biệt quan trọng, vai trò và giá trị của tài nguyên chưa được nhận thức đầy đủ, đánh giá đúng tầm và phù hợp với các nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường Bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xem là thước đo hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động kinh tế Thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chậm được đổi mới, còn nặng tính hành chính, bao cấp, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao Đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường cho thu ngân sách và phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với tiềm năng Nhiều nguồn tài nguyên bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả Môi trường nhiều nơi bị suy thoái nghiêm trọng, để lại hậu quả nặng

nề và kéo dài

Trang 11

Để có những chính sách và giải pháp khắc phục những tồn tại và hạn chế trên đây, đồng thời nâng cao hơn nữa vị thế của ngành tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế quốc dân, rất cần những nghiên cứu tổng quan về các vấn đề về tiếp cận thị trường trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đánh giá thực trạng các vấn đề nêu trên ở nước ta, từ đó có những định hướng phù hợp cho thực tiễn đặt ra với công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong thời gian tới Luận văn này góp phần thực hiện nhu cầu cấp thiết đó

2 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở phân tích thực trạng kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường, tác giả đề xuất mô hình áp dụng kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và một số ứng dụng tại tỉnh Hoà Bình Mục tiêu cụ thể bao gồm:

- Tổng hợp cơ sở lý luận về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường

- Ứng dụng cơ sở lý luận về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường để phân tích thực trạng kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường Việt Nam

- Đề xuất mô hình áp dụng kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và một số ứng dụng tại tỉnh Hoà Bình

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tài liệu liên quan đến lý luận kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường, những kinh nghiệm quốc tế về đẩy mạnh kinh tế hoá trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề về cơ sở lý luận và phân tích thực trạng về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường Việt Nam

để từ đó rút ra mô hình áp dụng kinh tế hoá ngành Tài nguyên và Môi trường và một số ứng dụng tại tỉnh Hoà Bình – nơi tác giả đang công tác

Trang 12

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Tây Bắc Hà Nội, diện tích 4.749km2, địa hình phức tạp Ngành tài nguyên và môi trường tỉnh Hoà Bình được thành lập năm 2002 Cũng như các tỉnh, thành khác trong cả nước được hình thành trên cơ sở hợp nhất các lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước, địa chất khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, đo đạc bản đồ, trở thành ngành kinh

tế - kỹ thuật đa lĩnh vực lớn của tỉnh nhà Ngành hiện đang thực hiện các nhóm nhiệm vụ chính, quan trọng như: (1) Điều tra cơ bản; (2) Quản lý các nguồn tài nguyên đất, nước, khoáng sản của tỉnh nhà; (3) Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu;

Đây là các nhóm nhiệm vụ hết sức quan trọng trong tổng thể các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp phát triển bền vững của tỉnh Để thực hiện các nhiệm vụ trên, ngành tài nguyên và môi trường được tổ chức dưới

sự lãnh chỉ đạo của UBND tỉnh, ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường; các đơn

vị chức năng liên quan ở các Bộ; phòng tài nguyên và môi trường ở các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh; cán bộ tài nguyên và môi trường ở các xã, phường, thị trấn Luận văn này chỉ giới hạn đẩy mạnh kinh tế hóa trong phạm vi ngành tài nguyên và môi trường, bao gồm 3 nhiệm vụ cơ bản trên 7 lĩnh vực nêu trên

6 Kết cấu của luận văn

Để thực hiện được mục đích của Luận văn, ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; phần nội dung chính của Luận văn được chia thành 04 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường Chương 2: Thực trạng kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường ở Việt Nam Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế về đẩy mạnh kinh tế hóa trong quản lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường

Chương 4: Rút ra mô hình áp dụng kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường

Việt Nam và tại tỉnh Hoà Bình

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH KINH TẾ HOÁ

NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Tổng quan về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường 1.1.1 Khái niệm, bản chất của kinh tế hoá tài nguyên và môi trường

Để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ “kinh tế hóa tài nguyên môi trường” hay

“kinh tế hóa trong lĩnh vực/ngành tài nguyên và môi trường”, trước hết cần hiểu rõ bản chất của từ “hóa” Theo quan niệm và lý luận chung, ta dùng chữ "hóa" là muốn nói đến sự chuyển hóa từ cái này sang cái kia

Thuật ngữ "kinh tế hoá" tài nguyên và môi trường có nội hàm khá rộng và phong phú, một số đánh giá cho rằng nội dung cốt lõi của kinh tế hóa tài nguyên và môi trường bao gồm các khía cạnh như:

- Đó là quá trình chuyển hoá các thành tố tài nguyên và môi trường từ trạng thái là tài nguyên thiên nhiên trở thành tài sản quốc dân;

- Là quá trình chuyển hoá các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được tài sản hoá thành hàng hoá cung cấp cho thị trường và trở thành nguồn vốn quan trọng của các thành phần kinh tề sở hữu chúng, nhờ đó mà vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng gia tăng;

- Là quá trình tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua việc đánh giá đúng giá trị và đưa các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu nhà nước vào lưu thông theo đúng nguyên tắc và quy luật của nền kinh tế thị trường;

- Đi đôi với các quá trình kinh tế hóa là quá trình chuyển hoá các quan hệ hành chính trong quản lý nhà nước sang quan hệ kinh tế thị trường, trong đó các cơ quan nhà nước - đại diện cho chủ sở hữu và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên là các bên bình đẳng trong các hợp đồng kinh tế

Các nhà kinh tế môi trường cũng coi thuật ngữ “kinh tế hoá” tài nguyên và môi trường theo các khía cạnh cụ thể hơn như sau:

Trang 14

- Đó là, tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để phân bố hợp lý, khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng cường trách nhiệm xã hội trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, và để tăng thu cho ngân sách quốc gia;

- Là nhận diện và tăng đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường, với vai trò là một ngành kinh tế, vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân;

- Là sử dụng các công cụ lượng giá để đánh giá một cách định lượng giá trị tài nguyên và môi trường cũng như các thiệt hại về tài nguyên và môi trường do các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra;

- Là quá trình hướng các đơn vị trong ngành tài nguyên và môi trường tới mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động của mình (tiết kiệm chi phí hoạt động, cải cách hành chính trong quản lý nhà nước, thương mại hoá số liệu và dịch vụ ngành) Như vậy, tuy chưa có những nhìn nhận và đánh giá cụ thể đồng nhất, nhưng tựu trung lại về bản chất, “kinh tế hoá trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường” là quá trình đẩy mạnh sử dụng cơ chế, công cụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, nguyên lý, quy luật của kinh tế thị trường nhằm bảo vệ, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và môi trường, nâng cao đóng góp từ tài nguyên và môi trường cho nền kinh tế quốc dân, đảm bảo tính công bằng,

vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước

1.1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kinh tế hóa ngành tài nguyên và

môi trường

1.1.2.1 Các quy luật khách quan của KTTT

(1) Quy luật cung – cầu:

Quy luật cung - cầu là quy luật quan trọng nhất qui định cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường

Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau Quy mô của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sức mua của đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng và giá cả Cung là tổng số hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau Quy mô cung thuộc vào các yêu tố như

Trang 15

số lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất; trong đó, cũng như cầu, giá cả có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung - cầu còn tương tác với nhau để xác lập giá cả (tín hiệu quan trọng nhất hướng dẫn sự phân bổ nguồn lực trong xã hội

(2) Quy luật giá trị

Theo quan điểm của kinh tế học hiện đại thì giá trị của một hàng hóa do yếu tố cung và cầu trên thị trường quyết định Một hàng hóa được gọi là có giá trị nếu nó hội đủ hai điều kiện, thứ nhất là mang lại một sự thỏa mãn cho những người sử dụng hàng hóa (có thể là nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng), thứ hai những người

sử dụng phải sẵn sàng chi trả một phần thu nhập của mình để có được những giá trị

đó Như vậy, theo quan điểm hiện đại này thì một hàng hóa có giá trị khi được sử dụng để sản xuất hoặc để tiêu dùng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng nhất thiết phải có giá cả

(3) Quy luật cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Quy luật cạnh tranh không phát huy tác dụng một cách riêng rẽ mà theo quy luật giá trị và các quy luật kinh tế khác Dưới sức ép của cạnh tranh, mọi người phải tích cực tìm cách cải tiến kĩ thuật, đổi mới phương pháp kinh doanh, tìm cách đầu

tư thêm Trên thực tế, quy luật cạnh tranh thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và phát triển kinh tế, nhưng đồng thời cũng đẩy mạnh sự phân hoá theo hai cực, có lúc gây ra lãng phí tài nguyên xã hội

Trang 16

1.1.2.2 Các nguyên tắc của KTTT trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

(1) Nguyên tắc “người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo” (the so-called Polluter-Pays Principle – nguyên tắc PPP) Nguyên tắc PPP thường được ứng dụng thông qua 2 cách tiếp cận chính sách khác nhau đó là: mệnh lệnh và kiểm soát và công cụ kinh tế Tiếp cận mệnh lệnh và kiểm soát bao gồm việc thực thi và các tiêu chuẩn công nghệ còn những công cụ dựa vào thị trường hay công cụ kinh tế thì bao gồm các loại thuế ô nhiễm, quyền phát thải có thể mua bán và nhãn sản phẩm Việc loại bỏ các loại trợ cấp môi trường

là cơ sở quan trọng trong việc vận dụng nguyên tắc PPP

Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc

“người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế” Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” được hiểu là những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức trách của chính quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được Trong phạm vi hẹp của định nghĩa này, PPP đòi hỏi người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về tài chính đối với việc tuân thủ bất kỳ yêu cầu xử lý ô nhiễm nào phù hợp với quy định luật pháp Nói một cách khác, PPP có thể được hiểu như là một “nguyên tắc không trợ cấp” khi các quốc gia trong khối này nhất trí cho rằng các khoản trợ cấp cho người gây ô nhiễm có thể trở thành vật cản trở đối với hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế (2) Nguyên tắc “người sử dụng, hưởng lợi từ TN&MT phải trả tiền” (nguyên tắc BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về tài nguyên và môi trường Đối nghịch với việc người trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ một môi trường, đã được cải thiện cũng phải trả một khoản phí Có thể hiểu nguyên tắc tắc này là tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm, thì đều phải nộp phí Nguyên tắc này đưa ra

Trang 17

giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận riêng Nguyên tắc chủ trương việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất gây ô nhiễm

1.1.2.3 Vai trò nhà nước trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

(1) Vai trò của thị trường đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong các xã hội hiện đại, các hoạt động kinh tế sử dụng rất nhiều loại đầu vào

từ các tài nguyên thiên nhiên khác nhau Chẳng hạn, các nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên, đập thủy điện, ethanol, năng lượng mặt trời và gió cung cấp các nguồn đầu vào để phát điện, xe cộ di chuyển và năng lượng cho các quy trình sản xuất

Một trong những đặc trưng của hầu hết các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên

và môi trường là tính phụ thuộc vào thời gian Việc sử dụng chúng thường kéo dài theo thời gian, do đó, mức độ sử dụng trong một thời điểm sẽ ảnh hưởng đến số lượng sử dụng trong tương lai Điều này càng rõ hơn đối với các tài nguyên không thể tái tạo, khi mà mức độ sử dụng các tài nguyên này trong hiện tại sẽ ảnh hưởng đến số tài nguyên còn lại trong tương lai

Như vậy, các vấn đề về quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường đều mang đặc thù về mặt liên thế hệ (tức là bao hàm việc phải đánh đổi giữa hiện tại với tương lai), mặc dù ở mức độ khác nhau Yếu tố bị suy giảm ở đây chính là khả năng đồng hóa của trái đất, đó là khả năng của hệ thống tự nhiên chấp nhận một số chất ô nhiễm nào đó và chuyển chúng sang dạng trung tính hoặc vô hại

Một hệ thống thị trường bình thường sẽ cho những kết quả kinh tế tốt hơn nhiều hệ thống khác, đặc biệt là trên khía cạnh sử dụng nguồn lực (trong đó có tài nguyên thiên nhiên và môi trường) Một hệ thống thị trường chứa đựng các cơ chế khuyến khích mà trong nhiều trường hợp có thể được khai thác nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường Một trong những cơ chế này là sự khuyến khích tối thiểu hóa chi phí có nguồn gốc từ cạnh tranh Một cơ chế khác là động lực tìm kiếm các cách thức để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn bằng các công nghệ khác nhau, nhập nguyên liệu rẻ hơn, hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức tốt hơn Nếu các cơ chế

Trang 18

này được khai thác để đạt được các mục tiêu môi trường thì cả hai nhiệm vụ của chúng ta sẽ dễ dàng hơn và chi phí cơ hội cho xã hội sẽ thấp hơn

(2) Vai trò của nhà nước đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường Can thiệp kinh tế là một hành động của Chính phủ nhằm tác động đến nền kinh tế

ở mức độ vượt quá ngưỡng cần thiết để ngăn chặn gian lận và thực thi hợp đồng

Mức độ cao nhất của can thiệp kinh tế của nhà nước là kế hoạch hóa Kế hoạch hóa kinh tế là quá trình lập kế hoạch cho tất cả các hoạt động kinh tế, từ sản xuất, lưu thông, phân phối, và tiêu dùng Nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa vào kế hoạch hóa kinh tế được gọi là nền kinh tế kế hoạch, trong đó phân bổ sản lượng và nguồn lực đều được thực hiện bằng các biện pháp phi thị trường, chủ yếu là lập kế hoạch có định hướng của nhà nước

Ở mức độ thấp hơn, nhà nước chỉ can thiệp nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách có độ ưu tiên nhất định Việc thực hiện các mục tiêu chính sách ưu tiên thể hiện phần nào nhận thức rằng can thiệp kinh tế của nhà nước chỉ có mức độ hữu hiệu nhất định, và rằng nguồn lực cho can thiệp kinh tế cũng là hữu hạn Tuy nhiên, việc lựa chọn chính sách can thiệp không phải lúc nào cũng dễ dàng vì:

- Mặc dù các nước đã có những nỗ lực đáng kể nhằm xây dựng hệ thống thông tin thống kê phục vụ cho điều hành chính sách, các thông tin này trong nhiều trường hợp vẫn không đủ sớm và/hoặc đủ chính xác để giúp nhận biết những thay đổi chính sách trong tương lai

- Các công cụ chính sách cũng có những độ trễ nhất định, và bản thân độ trễ này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế thực tiễn

- Mỗi công cụ chính sách chỉ giúp thực hiện một mục tiêu chính sách cụ thể

và, trong bối cảnh nguồn lực cho can thiệp chính sách có hạn, đôi khi nhà nước phải lựa chọn ưu tiên chính sách Song lựa chọn ưu tiên chính sách đôi khi rất khó khăn

do áp lực từ các nhóm xã hội

Cuối cùng: thay đổi chính sách can thiệp tùy mục tiêu cụ thể nhưng không đi kèm với giải trình ở mức độ hợp lý thì có thể làm giảm niềm tin của người dân đối với chính sách của chính phủ

Trang 19

Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng Vai trò này được thể hiện ở một vài khía cạnh quan trọng

- Thứ nhất: Nhà nước trực tiếp cung cấp dịch vụ môi trường như là những hàng hóa công cộng cần thiết Phần lớn các dịch vụ môi trường khó có thể được cung cấp bởi các tổ chức tư nhân hay cá nhân, do chúng đều có tính không độc chiếm và không cạnh tranh Vì vậy, có rất nhiều người ăn theo các dịch vụ này và

họ không sẵn sàng chi trả/trả quá thấp cho những dịch vụ mà họ được hưởng Khi

ấy, các khoản thu sẽ không thể đủ bù chi cho các dịch vụ, và các cá nhân, tổ chức tư nhân không có động lực cung cấp các dịch vụ này Chính ở đây, vai trò của Nhà nước trở nên hết sức quan trọng, không thể thiếu được trong việc cung cấp các dịch

vụ môi trường, nhằm bảo đảm môi trường sống có chất lượng cho mọi người dân

- Thứ hai: Nhà nước có thể vận dụng các công cụ khác nhau nhằm thực hiện công tác quản lý môi trường Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Theo chức năng, các công cụ quản lý môi trường có thể phân loại thành: (i) công cụ điều chỉnh vĩ mô; (ii) công cụ hành động; và (iii) công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v và công cụ kinh tế Công

cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường

Công cụ quản lý Tài nguyên và Môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:

• Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương

• Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường

Trang 20

• Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, theo dõi môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào

Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm:

• Thuế và phí Tài nguyên - Môi trường;

• Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "hạn ngạch ô nhiễm";

• Ký quỹ môi trường;

• Trợ cấp môi trường;

• Nhãn sinh thái…

Cuối cùng, Nhà nước có thể quản lý tài nguyên và môi trường một cách gián tiếp hơn thông qua việc định rõ các quyền đối với tài sản Khi ấy, theo định lý Coase, hiệu quả xã hội sẽ ở mức cao nhất (không cần biết ai có các quyền đối với tài sản) nếu chi phí giao dịch không đáng kể và số bên tham gia đàm phán là nhỏ Chẳng hạn, nếu người dân sống cạnh một nhà máy có quyền tiếp cận nước và không khí sạch thì nhà máy sẽ chi trả cho những người bị ảnh hưởng bởi không khí ô nhiễm Ngược lại, nếu nhà máy có quyền phát thải thì người dân có thể chi trả cho nhà máy để giảm mức độ ô nhiễm Các công dân cũng có thể có các hành động khác cần thiết khi các quyền này bị xâm phạm

Tóm lại, trong bối cảnh các tài nguyên thiên nhiên không còn quá phong phú

so với nhu cầu phát triển và chất lượng môi trường đang bị suy giảm nhanh chóng, việc quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và môi trường trở thành một nhu cầu ngày càng cấp thiết Vận dụng các công cụ thị trường nhằm cân bằng giữa nhu cầu

sử dụng và khả năng chi trả trở thành một tất yếu Không có thị trường thì việc quản

lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên sẽ chỉ đơn thuần mang tính hành chính, và trong

Trang 21

nhiều trường hợp sẽ không hiệu quả Hơn nữa, thiếu các thể chế thị trường có thể dẫn tới các rủi ro đạo đức, thậm chí là tham nhũng, dẫn tới chất lượng tài nguyên thiên nhiên và môi trường suy giảm còn nhanh hơn

1.2 Tiếp cận thị trường trong QLTN&BVMT

1.2.1 Vận dụng các quy luật khách quan của KTTT trong QLTN&BVMT

(1) Vận dụng quy luật cung cầu trong QLTN&BVMT

Qui luật cung cầu có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý tài nguyên và môi trường Tài nguyên và môi trường là hàng hóa có giá trị nên được mua bán trao đổi trên thị trường, vì vậy có cung và cầu tài nguyên và môi trường Mặc dù thị trường

có thể tự vận hành qua cơ chế cung cầu để xác lập giá cả và sự phân bổ nguồn lực tối ưu nhưng Chính phủ/Nhà nước có thể can thiệp vào thị trường bằng các công cụ

và chính sách quản lý để điều tiết thị trường theo hướng mang lại lợi ích cho xã hội Trước hết, cung cầu có thể đóng vai trò quan trọng để đưa ra các chính sách khuyến khích để phát triển những thị trường về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Để tạo thị trường cho ngành dịch vụ môi trường, bước đầu tiên mà các quốc gia thực hiện là xây dựng khung pháp lý trong đó có đưa ra những qui định cụ thể về yêu cầu phải bảo vệ môi trường và tiến hành các biện pháp xử lý môi trường Chẳng hạn qui định về các đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, qui định

về thu gom xử lý rác thải, qui định về xử lý và vận chuyển các chất thải nguy hại Các qui định pháp lý sẽ dẫn tới tăng lượng cầu trong xã hội về nhu cầu bảo vệ và quản lý môi trường Khi cầu cao thì cung sẽ hình thành theo để đáp ứng Kết quả là

sẽ có các doanh nghiệp tham gia thị trường để cung cấp các thiết bị xử lý môi trường, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thu gom và xử lý rác thải, các cơ sở thực hiện dịch vụ đánh giá tác động môi trường hay cung cấp thông tin và cơ sở dữ liệu

về môi trường

Trong những năm qua, Việt Nam cũng đã bước đầu đi theo xu hướng kích cầu tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ môi trường thông qua việc thay đổi Luật ngân sách và Luật bảo vệ môi trường, trong đó dành phần tỷ trọng lớn hơn ngân sách quốc gia và địa phương chi tiêu cho bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường các

Trang 22

qui định và yêu cầu về bảo vệ và quản lý môi trường trên phạm vi toàn quốc Những thay đổi trong Luật và qui định đã dẫn tới gia tăng nhu cầu xã hội cho bảo

vệ môi trường, từ đó tạo ra những thị trường mới, những nhà cung cấp mới cho các hoạt động bảo vệ môi trường

Nhìn chung với những hoạt động mang lại lợi ích cho xã hội như bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường (ngoại ứng tích cực), cần kích thích sản xuất và tiêu dùng, Chính phủ có thể sử dụng các công cụ và chính sách trợ cấp (miễn giảm thuế, cho vay lãi suất thấp, hỗ trợ về hạ tầng, đầu vào), khi chi phí sản xuất sẽ giảm sẽ dẫn tới lượng cung tăng từ đó dẫn tới giảm giá thành và kích thích sản xuất và tiêu dùng ở mức cao hơn

(2) Vận dụng quy luật giá trị trong QLTN&BVMT

- Thứ nhất, hệ thống môi trường cung cấp cho con người và nền kinh tế rất nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau Trong đó có ba dịch vụ cơ bản là cung cấp nguồn tài nguyên đầu vào cho hệ thống kinh tế (đất, nước, khoáng sản, rừng, biển), hấp thụ và tiếp nhận các chất thải đầu ra (chất thải rắn, nước thải, khí thải) và là địa bàn để các hoạt động kinh tế diễn ra Như vậy, rõ ràng môi trường và tài nguyên có giá trị với con người và nền kinh tế

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có quan điểm cho rằng tài nguyên và môi trường

là của trời cho không có giá trị vì không có sự kết tinh sức lao động của con người trong đó Kết quả là tài nguyên và môi trường bị sử dụng một cách tùy tiện, vô tội

vạ, lãng phí dẫn đến sự suy thoái và cạn kiệt, suy giảm chức năng và tính hữu ích đối với hệ thống kinh tế

Như vậy, mấu chốt đầu tiên của việc vận dụng quy luật giá trị trong quản lý tài nguyên và môi trường là phải nhận thức được rằng môi trường là một loại tài sản, cũng giống như những tài sản khác mà con người đang có và đang sử dụng Môi trường cung cấp các yếu tố đầu vào, các dịch vụ cho các quốc gia, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội Đồng thời môi trường cũng bị khấu hao theo thời gian nếu không biết quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả Môi trường và tài nguyên là một nguồn lực để phát triển kinh tế và giống như các nguồn lực khác, chúng là khan

Trang 23

hiếm tức là có giới hạn về mặt số lượng và chất lượng Vì vậy, kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường nên đặt sự tiếp cận quản lý là tìm cách sử dụng tài sản môi trường một cách tối ưu nhất bằng các công cụ và chính sách hợp lý

- Thứ hai, sau khi đã nhận thức được tài nguyên và môi trường là có giá trị đối với sự phát triển của cá nhân, cộng đồng và xã hội thì phải định giá, lượng giá được giá trị của tài nguyên vì nếu không đánh giá được đúng giá trị thì sẽ không thể có được các chính sách có thể sử dụng tài nguyên và môi trường một cách tối ưu và hiệu quả Trước đây, giá trị của tài nguyên và môi trường thường được hiểu là giá trị sử dụng trực tiếp của chúng Ví dụ; rừng để lấy gỗ, đất ngập nước để nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị sử dụng trực tiếp thì tài nguyên và môi trường còn bao hàm cả những giá trị gián tiếp và giá trị phi sử dụng Ví dụ: rừng ngập mặn có giá trị phòng ngừa thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ C02, lọc

và điều tiết nước ngầm cũng như các giá trị văn hóa, nghệ thuật Nguyên tắc chung của sử dụng tài nguyên là tính chi phí cơ hội của nó tức là khi tài nguyên đã sử dụng cho mục đích này thì sẽ không thể sử dụng cho mục đích khác được nữa Rừng ngập mặn đã bị chặt phá để nuôi trồng thủy sản thì không còn chức năng bảo tồn đa dạng sinh học và phòng chống thiên tai nữa Chính vì vậy khi sử dụng tài nguyên cần phải xác định rõ là việc sử dụng đứng trên quan điểm nào, cá nhân hay xã hội

và quan trọng hơn là phải định ra được các nhóm giá trị của tài nguyên từ giá trị tổng thể đến giá trị thành phần để lựa chọn phương án sử dụng tài nguyên tối ưu nhất cho xã hội Chẳng hạn, Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng và trữ lượng các nguồn tài nguyên than đá, dầu mỏ và khí đốt là khá dồi dào Những nguồn tài nguyên này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước hiện tại và cả tương lai Vì vậy, cần phải có các chính sách quản lý phù hợp để

sử dụng có hiệu quả những nguồn lực này Tại các quốc gia trên thế giới, các nguồn tài nguyên không thể phục hồi này khi định giá thì ngoài giá trị sử dụng trực tiếp (khai thác để bán hoặc sử dụng cho một mục đích nào đó) còn được gán thêm các giá trị tài sản tức là giá trị đến từ sự khan hiếm của tài nguyên nếu giữ chúng không khai thác ở hiện tại mà khai thác ở tương lai Do việc khai thác tài nguyên dầu mỏ, than đá khí đốt là có tính chi phí cơ hội tức là khai thác tại thời điểm này thì không

Trang 24

thể khai thác tại thời điểm khác được nữa nên giá trị của chi phí cơ hội phải được lồng ghép khi tính giá tài nguyên bên cạnh giá trị sử dụng trực tiếp của chúng Chính vì vậy, nhiều quốc gia thường giữ một thuế suất tài nguyên khá cao với những tài nguyên không thể phục hồi vì trong thuế suất có tính đến cả chi phí khan hiếm khi sử dụng tài nguyên

Tại Việt Nam, cho đến nay chúng ta không những không thu thuế khan hiếm với tài nguyên không phục hồi mà còn áp dụng những chính sách quản lý đã không được sử dụng trên thế giới từ lâu Tiêu biểu là chính sách kiểm soát giá tài nguyên Theo lý thuyết kinh tế thì kiểm soát giá tài nguyên là một chính sách gây ra sự thất bại của chính phủ tức là chính phủ làm giảm đi phúc lợi của xã hội, gây ra những tín hiệu sai trong phân phối và sử dụng nguồn lực Kết quả là tài nguyên không được

sử dụng hiệu quả, cạn kiệt tài nguyên nhanh hơn dự kiến, thiệt hại về lợi ích cho xã hội Ví dụ, chúng ta hiện vẫn áp dụng chính sách kiểm soát giá đầu vào của than cho các ngành sản xuất phân bón, nhiệt điện, hóa chất, sản xuất giấy Giá than mà các doanh nghiệp trong những ngành này phải trả nhỏ hơn giá của thị trường Tín hiệu giá sai lệch sẽ dẫn đến suy nghĩ của các ngành trên là tài nguyên than vẫn còn dồi dào, giá rất rẽ, từ đó dẫn tới hành vi tiêu dùng tài nguyên không hợp lý, lãng phí, không sử dụng các công nghệ đạt hiệu suất sử dụng năng lượng cao, gây ra ô nhiễm môi trường

- Thứ ba, cần phải nhìn nhận chất lượng môi trường là hàng hóa để từ đó xây dựng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, đóng góp vào giá trị gia tăng của toàn bộ nền kinh tế Để bù đắp lại sự suy giảm chất lượng môi trường hoặc gia tăng chất lượng môi trường, xét về mặt kinh tế phải có sự đầu tư hao phí về chi phí và sức lao động của con người Từ đó chất lượng môi trường trở thành hàng hóa, có giá trị và được mua bán trao đổi trên thị trường Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng và phát triển những ngành dịch vụ, công nghiệp môi trường

để vừa thỏa mãn được nhu cầu của xã hội, vừa tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh

tế Việt Nam đang phải đối mặt với các vấn đề môi trường do quá trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; ngoài ra chúng ta cũng đang phải cam kết thực hiện

Trang 25

ngày càng nhiều hơn các quy định quốc tế về môi trường đặc biệt sau khi gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Hiện nay, Việt Nam đã cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ môi trường ở 5 phân ngành trong WTO (dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; Dịch vụ làm sạch khí thải; Dịch vụ xử lý tiếng ồn; Dịch vụ đánh giá tác động của môi trường Do vậy, phát triển dịch vụ môi trường đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở Việt Nam Nhu cầu này mang tính khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế nước ta hiện nay Kinh nghiệm thế giới cho thấy chỉ có cách đưa môi trường vào hệ thống hạch toán kinh tế thì mới biết được tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh tới môi trường, và biết được tính bền vững của nền kinh tế Chẳng hạn, nếu phải tiêu hao quá nhiều quặng, nước hay rừng mới làm ra được một sản phẩm, đó sẽ là nền kinh

tế phụ thuộc vào tài nguyên sẵn có, và kém bền vững Biết được tính bền vững của nền kinh tế sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra những chiến lược, quyết sách hợp lý hơn (3) Vận dụng quy luật cạnh tranh trong QLTN&BVMT

- Thứ nhất, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt sản xuất xã hội và nhờ có cạnh tranh mà sự phân bổ các tài nguyên và nguồn lực của nền kinh tế được thực hiện một cách tối ưu Nói cách khác là cạnh tranh làm cho nguồn lực tài nguyên và môi trường được chuyển tới những nơi chúng được sử dụng một cách tối ưu nhất Các quốc gia trên thế giới đã vận dụng quy luật này trong xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên và môi trường Ví dụ: các chính sách liên quan đến đấu giá sử dụng tài nguyên được áp dụng trên thế giới như đấu giá quyền sử dụng đất, đấu giá khai thác khoáng sản, đấu giá khai thác thủy sản Trong một môi trường minh bạch với các tiêu chí được lựa chọn rõ ràng những cơ sở, chủ thể kinh tế trả giá cao nhất

và quản lý tài nguyên có hiệu quả nhất sẽ được lựa chọn để khai thác và quản lý tài

nguyên Tại Việt Nam, việc áp dụng quy luật cạnh tranh có thể góp phần xóa bỏ cơ chế xin cho và bao cấp trong quản lý tài nguyên và môi trường đang tồn tại như là hậu quả của cơ tập trung bao cấp Các cơ chế này có đặc điểm bên phân

bổ nguồn lực là một cơ quan nhà nước, được giao quyền xét duyệt và cấp phát quyền liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường dựa trên những

Trang 26

tiêu chí đã có Do một số nguyên nhân, quá trình phân bổ nguồn lực có thể làm phát sinh hiện tượng “xin-cho”, tức là các giao dịch không chính thức, không minh bạch giữa cơ quan phân bổ và đối tượng được phân bổ nguồn lực Cơ chế “xin-cho” dẫn đến những tác động tiêu cực như không công bằng trong tiếp cận nguồn lực, trì trệ

và kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên và môi trường, hạn chế đóng góp vào ngân sách nhà nước từ tài nguyên và môi trường

- Thứ hai, cạnh tranh kích thích tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.Chủ thể sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu lợi nhuận cao hơn Do đó cạnh tranh là áp lực với người sản xuất buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, từ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của xã hội được phát triển Ý tưởng trên

đã được nhiều quốc gia, ngành và doanh nghiệp áp dụng trong quản lý tài nguyên

và môi trường

1.2.2 Vận dụng các nguyên tắc của KTTT trong QLTN&BVMT

(1) Vận dụng nguyên tắc “tối đa hóa lợi ích” trong QLTN&BVMT

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn hoạt động để tối đa hóa lợi nhuận và các cá nhân luôn hoạt động để tối đa hóa lợi ích cá nhân Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong việc thiết kế và thực hiện các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường Các công cụ kinh tế là những công cụ sử dụng tín hiệu lợi nhuận và lợi ích để tác động vào động cơ kinh tế để từ đó điều chỉnh hành

vi của cá nhân, doanh nghiệp theo hướng có lợi cho môi trường

Các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường được thiết kế trên nguyên tắc tối đa hóa lợi ích gồm:

 Thuế và phí môi trường

- Thuế, phí tài nguyên: Dựa trên nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền Mục đích của thuế tài nguyên là nhằm xác lập mức tối ưu kinh tế về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trả tô tức cho tài nguyên do tính tới sự khan hiếm của chúng Thuế tài nguyên thường gồm: thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế tài nguyên khoáng sản

Trang 27

- Thuế môi trường: Dựa trên nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền Mục đích của thuế môi trường là xác lập mức ô nhiễm tối ưu về mặt kinh tế, khuyến khích bảo vệ môi trường, hạn chế tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy định Thuế môi trường có thể gồm các loại như: thuế, phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm; thuế, phí đánh vào sản phẩm mà trong và sau khi sử dụng có thể gây ô nhiễm; thuế và phí cấp sai là cấp kinh phí hoặc ưu đãi về thuế cho các sản phẩm có ích hoặc không làm tổn hại đến môi trường; phí hành chính để trả cho các hoạt động thực thi, giám sát, cấp giấy phép, đăng ký

 Các chương trình thương mại

- Hạn ngạch (quota) khai thác tài nguyên có thể mua bán: mục đích của quota

là kiểm soát sản lượng khai thác và nỗ lực khai thác, đặc tính của quota có thể mua bán được là có thể phân chia, mua bán được và thị trường hoạt động hoàn hảo Cơ quan quản lý môi trường xác định mức sản lượng thu hoạch tối ưu đối với tài nguyên sau đó hình thành tổng số hạn ngạch thích ứng với sản lượng thu hoạch bền vững Phân bổ quota được bằng cách bán đấu giá Thường được áp dụng đối với tài nguyên thủy hải sản

- Giấy phép phát/ xả thải có thể mua, bán giữa các cơ sở gây ô nhiễm: Mục đích của giấy phép là nhằm kiểm soát lượng ô nhiễm phù hợp với sức chịu tải của môi trường Cơ quan quản lý môi trường xác định mức độ tối ưu phát thải tổng số ô nhiễm hoặc hạn ngạch thích ứng với khả năng tiêu hiểu chất thải của môi trường Phân phối hạn ngạch bằng cách đấu thầu, phát không hoặc vừa phát không vừa đấu thầu

 Động cơ tài chính

- Trợ cấp tài chính: mục đích là làm giảm ô nhiễm, thực hiện các hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường Có nhiều hình thức trợ cấp như giảm thuế , giảm lãi suất, hỗ trợ cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nguồn nguyên liệu đầu vào, Nhà nước giúp doanh nghiệp quảng bá và tiêu thu sản phẩm

- Hệ thống ký thác – hoàn trả: thuế (lệ phí) được gọi là ký thác, trợ cấp được gọi là hoàn trả Công cụ ký thác hoàn trả bao gồm một lệ phí vào món hàng cụ thể

Trang 28

và một trợ cấp cho hoàn trả món hàng đó Công cụ này có thể được dùng để động viên tái luân chuyển thích hợp có lợi cho môi trường Các ứng dụng: Tiền cam kết

ký quỹ xí nghiệp khai thác tài nguyên đứng trước số tiền thế chân, sau khi khai thác đảm bảo vệ sinh môi trường, số tiền sẽ được hoàn trả lại; vỏ chai, lon bia, nước ngọt

và các loại bao bi khác khi mua người tiêu thụ phải trả một khoản tiền, khi dùng xong bán lại vỏ, bao bì này các loại sản phẩm nguy hại: xe hơi, bình acquy; ti vi, máy tính…

- Thưởng phạt về môi trường: Các giải thưởng cho các cá nhân tổ chức, hãng

có các hành động bảo vệ môi trường Ngược lại phạt nặng đối với các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên

* Vận dụng nguyên tắc “người sử dụng, hưởng lợi từ TN&MT phải trả tiền” (nguyên tắc BPP) trong QLTN&BVMT

Nguyên tắc BPP là cơ sở để Nhà nước thực hiện các chính sách thu tài chính

từ người dân, doanh nghiệp và cộng đồng để cải thiện chất lượng môi trường cho xã hội Về mặt kinh tế, chất lượng môi trường được cải thiện là một loại hàng hóa công cộng tức là các thành viên trong xã hội đều được hưởng lợi chung với nhau (ví dụ không khí được làm sạch, nước thải được xử lý, đa dạng sinh học được bảo tồn) Tuy nhiên, để có được những hàng hóa công cộng môi trường thì cần phải có chi phí để cung ứng những hàng hóa đó Nước sạch, không khí sạch hay đa dạng sinh học không được bảo tồn và được cải thiện một cách miễn phí Phải có nguồn lực tài chính để làm mọi thứ tốt hơn Vì vậy, về nguyên tắc những ai được hưởng lợi từ chất lượng môi trường tốt hơn thì phải đóng góp tiền để có được chúng Tuy nhiên,

do lợi ích thu về từ việc tiêu dùng hàng hóa của mỗi người là khác nhau và thu nhập cũng khác biệt nên khả năng chi trả và đóng góp của mỗi cá nhân là khác nhau Hơn nữa do chất lượng môi trường không có tính loại trừ nên có những người không đóng góp cũng vẫn có thể được hưởng chất lượng đó Nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì sẽ không thể có nguồn đủ nguồn lực để cung cấp hàng hóa chất lượng môi trường BPP là nguyên tắc cơ bản biện hộ cho sự tham gia của Nhà nước trong việc tạo ra các chính sách huy động sự đóng góp của xã hội cho mục tiêu bảo

Trang 29

vệ môi trường Trong đó, Chính phủ có thể thông qua các công cụ như thuế, phí hoặc những qui định về đóng góp bắt buộc để yêu cầu các chủ thể hưởng lợi từ chất lượng môi trường trong xã hội phải đóng góp Sau khi thu về những khoản tài chính thì Nhà nước có thể sử dụng chúng để làm chất lượng môi trường tốt hơn

* Vận dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo” (nguyên tắc PPP) trong QLTN&BVMT

Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc

“người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thương mại quốc tế” Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” được hiểu là những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức trách của chính quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được

Nguyên tắc PPP trước hết nhằm mục đích đảm bảo sự công bằng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường vì môi trường là của chung, nếu như môi trường xấu đi thì tất cả các thành viên trong phạm vi ảnh hưởng đều phải gánh chịu trong khi sự đóng góp vào việc làm xấu đi của môi trường là không giống nhau Nguyên tắc này còn tác động vào lợi ích kinh tế của chủ thể thông qua đó tác động đến hành vi xử sự của các chủ thể với môi trường theo hướng có lợi cho môi trường Để thực hiện nguyên tắc thì phải đảm bảo những yêu cầu: số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường, tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích, đến hành vi của các chủ thể Tiền ở đây phải mang tính ngang giá, nhưng không phải thu mang tính tượng trưng Ở Việt Nam, đã từng có một đề án của một địa phương về việc áp dụng thí điểm thu phí bảo vệ môi trường đối với các phương tiện giao thông cơ giới, chủ yếu áp dụng đối với xe gắn máy 300.000đ/xe/năm, và xe hơi 5.000.000đ/xe/năm Việc thu như thế này là bình quân và không thể làm giảm lượng xe lưu thông vì có xe xử dụng nhiều có xe sử dụng ít, mức độ tác động xấu

Trang 30

đến môi trường của từng xe là khác nhau Nếu thu phí bảo vệ môi trường bằng cách tính vào giá xăng dầu thì sẽ đảm bảo mức độ gây ô nhiễm môi trường của các phương tiện giao thông cơ giới tỉ lệ thuận với tiền chủ xe phải trả Lúc này vừa góp phần hạn chế lưu thông vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách Tuy nhiên, nếu việc thu phí này quá thấp (100đ/lít xăng chẳng hạn) thì cũng không tác động đáng kể gì và người ta vẫn chấp nhận bỏ tiền ra để nộp vì thu như thế cũng là thu tượng trưng

1.2.3 Định giá, lượng hóa, hạch toán TN&MT

(1) Định giá TN&MT và áp dụng trong QLTN&BVMT

Khái niệm về định giá tài nguyên và môi trường÷

Các Nhà kinh tế học theo trường phái Mark – Lênin cho rằng, giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hóa, của cơ chế thị trường Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.1

Ở Việt Nam, định giá được hiểu như sau;2

- Định giá là họat động tư vấn, xác định giá của một tài sản cụ thể tại một thời điểm xác định

- Định giá là việc quy định giá mua, giá bán tài sản của chủ sở hữu, người sản xuất kinh doanh, cơ quan có thẩm quyền của nhà nước theo một trình tự và thủ tục nhất định Định giá được thực hiện bởi chủ sở hữu, người sản xuất kinh doanh hoặc

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, giá cả là một công cụ quan trọng để quản lý, kích thích, điều tiết các hoạt động kinh tế theo định hướng mục tiêu Hàng hóa TN&MT mang đặc trưng của hàng hóa công cộng, thường ít thông dụng trên thị trường nên sự can thiệp của Nhà nước về giá cả là không thể thiếu Đây là đặc điểm và cũng thể hiện vai trò của Nhà nước đối với tài nguyên và môi trường

1 GS.TS Chu Văn Cấp, PGS.TS Trần Bình Trọng và cộng sự, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, p 165

2 Tham khảo tại: Pháp lệnh giá, số 40/2002/PL-UBTVQH, ngày 10/05/2002 và Nghị định số

101/2005-NĐ-CP, ngày 03/08/2005 của Chính phủ, về việc thẩm định giá

Trang 31

Như vậy, Định giá TN&MT là quá trình xác định giá cả của hàng hóa và dịch

vụ TN&MT ở một thời điểm, cho mục đích xác định theo các quy luật của thị trường và tuân theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực phù hợp

Một số lưu ý khi định giá hàng hóa tài nguyên và môi trường÷

Tài nguyên và môi trường cũng là tài sản, khi tham gia vào thị trường thì nó cũng đóng vai trò như một hàng hóa hoặc dịch vụ có giá Do vậy, việc định giá TN&MT cũng cần phải tuân theo những quy luật cơ bản của kinh tế thị trường như: Quy luật giá trị; quy luật canh tranh; quy luật cung cầu Bên cạnh đó do hàng hóa TN&MT mang đặc trưng của hàng hóa công cộng Do vậy, trong quá trình định giá thì cần có những sự cân nhắc khi tính giá

Cần phải chú ý đến tính hiệu quả của TN&MT3÷

Hiệu quả của TN&MT được thể hiện trên các khía cạnh như: khai thác sử dụng tiết kiệm, không lãng phí và không gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn đạt được những mục tiêu về kinh tế và xã hội

Theo điều 3, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Việt Nam thì:4

1 Tiết kiệm là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định

2 Lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động

và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả

Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng – chúng là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất5 Tuy nhiên, đại bộ phận các nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao đều hình thành lâu đời và có nguy

cơ cạn kiệt do sự khai thác của con người Trong khi đó, hầu hết các nguồn tài nguyên này đều có hạn về trữ lượng Do vậy, khi tiến hành định giá TN thì vấn đề hiệu quả phải đặt lên hàng đầu

3 Nguyễn Văn Thanh, Chương trình giảng dạy kinh tê Fulbright, Bài giảng về Hàng hóa công cộng

4 Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Số 48/2005/QH11, ngày 29 tháng 11 năm 2005

5 GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Lao động xã hội, 2005, Tr 204

Trang 32

Xét theo nghĩa rộng, MT bao gồm cả Tài nguyên thiên nhiên, MT còn chứa đựng các yếu tố khác không trực tiếp tham gia vào thị trường như một loại hàng hóa, nhưng lại có thể tạo ra những dịch vụ có ích và mang lại thu nhập cao như dịch

vụ chi trả môi trường rừng - PES Do vậy, khi định giá chúng, cũng cần phải chú ý đến hiệu quả của nó

Việc định giá phải tạo được nguồn thu và thu hồi chi phí:

Không chỉ là một nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Đối với những quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nước mà tăng trưởng chủ yếu dựa vào TN&MT thì vấn đề tạo nguồn thu cho ngân sách là hết sức quan trọng Nguồn thu từ TN&MT sẽ tạo nguồn vốn và động lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Việt Nam là nước vừa mới đạt đến ngưỡng các quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới - đây là giai đoạn hết sức quan trọng và khó khăn để làm thế nào duy trì và vượt qua ngưỡng này để đưa nền kinh tế vào giai đoạn “cất cánh”6 Do vậy, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên vừa là lợi thế vừa là nền tảng để giúp chúng

ta tạo tích lũy cho nền kinh tế cho giai đoạn tiếp theo

Việc định giá phải được thực hiện một cách công bằng÷

Tài nguyên thiên nhiên và môi trường là sản phẩm của tự nhiên ban tặng cho con người Có những loại TN&MT dùng để đáp ứng các nhu cầu tối thiếu của con người như: nước, không khí, … Do vậy, việc định giá TN&MT cũng phải được thực hiện một cách công bằng, tạo điều kiện cho mọi đối tượng đều có quyền tiếp cận với các nguồn TN&MT và đồng thời cũng phải góp phần phân phối lại nguồn lực trong xã hội một cách công bằng

Vận dụng công cụ giá trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường÷

Hàng hóa TN&MT mang đặc trưng cơ bản của hàng hóa công cộng Do vậy, việc định giá hàng hóa TN&MT có ý nghĩa hết sức quan trọng trong QLTN & BVMT

Trang 33

- Một là, phương pháp định giá TN&MT thể hiện được bản chất giá trị của nguồn TN&MT của một quốc gia, một khu vực Ví du: Theo quan điểm của Mác thì

“Giá cả đất đai là địa tô tư bản hóa Bởi đất đai đem lại địa tô, tức là đem lại một thu nhập ổn định bằng tiền, nên nó được xem như là một loại tư bản đặc biệt Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó Do vậy, giá cả ruộng đất chỉ là giá mua địa tô

do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tức hiện hành”7 Ngoài ra, việc định giá TN&MT còn thể hiện được tính khan hiếm, những lợi thế của chúng đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực và thậm trí trên toàn cầu

- Hai là, định giá hàng hóa TN&MT sẽ khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường8

Thực tế cho thấy, có rất nhiều phương pháp định giá khác nhau, mỗi phương pháp đều chứa đựng những ưu điểm và những nhược điểm của nó Do vậy, việc đưa

ra được một phương pháp định giá hợp lý cho hàng hóa TN&MT sẽ góp ích rất nhiều vào việc thay đổi hoặc điều chỉnh hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ tiết kiệm, không lãng phí đồng thời góp phần gìn giữ và bảo tồn môi trường

- Ba là, định giá hàng hóa TN&MT tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản lý nhận định được xu hướng biến động của thị trường các dạng TN&MT, sự khan hiếm của dạng tài nguyên đó, tính cạnh tranh, tính khan hiếm và dự báo được các hướng khai thác TN&MT trong tương lai

- Bốn là, phương pháp định giá góp phần phân phối công bằng các nguồn lực trong xã hội Từ đó góp phần tích cực vào việc bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên và môi trường Điều 17, hiến pháp năm 1992 của Việt Nam quy định: “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng

Trang 34

biển, thềm lục địa và vùng trời … đều thuộc sở hữu toàn dân”9 Do vậy, nếu lựa chọn phương pháp định giá không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng không công bằng

và phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng cao

- Năm là, việc định giá hàng hóa TN&MT sẽ góp phần rất lớn để tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước10 Nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước chính là Thuế và phí Do vậy, xác định được giá cả của hàng hóa tài nguyên sẽ là cơ sở tiền đề cho chúng ta tính toán các khoản thuế và phí nhằm đóng góp cho ngân sách nhà nước

- Sáu là, định giá hàng hóa TN&MT còn tạo ra rất nhiều tiện ích và dịch vụ công được tính giá Khi các hàng hóa TN&MT được tính giá và tham gia vào thị trường như một yếu tố của sản xuất thì nó sẽ giúp cho việc tính toán các chi phí trong doanh nghiệp cũng như trong toàn bộ nền kinh tế sẽ được đầy đủ và chính xác hơn Đứng ở góc độ doanh nghiệp thì chi phí để tính toán giá thành sản phẩm sẽ đầy

đủ hơn, hàng hóa khi tham gia thị trường quốc tế sẽ có tính cạnh tranh cao hơn trong bối cảnh toàn cầu11 Thị trường hàng hóa TN&MT sẽ được phát triển

Ngoài ra, đứng ở góc độ quốc gia thì việc xác định giá cả của hàng hóa TN&MT cũng sẽ góp phần làm cho việc hạch toán các chỉ tiêu quốc gia được đầy

đủ và rõ ràng hơn Thông qua việc xác định được giá cả của hàng hóa TN&MT chúng ta sẽ thấy được những đóng góp của chúng vào sự phát triển bền vững của một Quốc gia, một vùng và cả những sự đánh đổi mà chúng ta phải trả giá cho sự tăng trưởng đó

Đặc biệt, xác định được giá cả của hàng hóa TN&MT sẽ giúp cho các nhà quản lý Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách đưa ra được những chính sách phù hợp nhằm quản lý thị trường hàng hóa TN&MT Trong nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước quản lý giá không phải bằng cách định giá trực tiếp, mà quản lý giá gián tiếp các công cụ và luật pháp để tác động vào thị

9 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hiến pháp 1992, điều 17, ngày 15/04/1992

10 Đặng Văn Thanh, Bài giảng kinh tế Vi Mô, Chương trình Fulbright, 2009

11 Doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với các vụ kiện bán phá giá Khi hội nhập vào thị trường cào sâu thì nguy cơ bị kiện càng lớn, Nguồn: Theo vneconomy

Trang 35

trường, làm thay đổi giá cả theo hướng tương đối ổn định Việc quản lý thị trường hàng hóa TN&MT cũng cần được sử dụng những công cụ và chính sách như vậy nhằm tăng cường công tác QLTN&BVMT

(2) Lượng hóa TN&MT và áp dụng trong QLTN&BVMT

Khái niệm÷

Lượng hóa giá trị hoặc chi phí của TN&MT là quá trình tiến hành áp dụng các phương pháp đo giá trị của chi phí, lợi ích (thường là có thể quy đổi được ra tiền) cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các dạng môi trường

Nội dung của lượng hóa giá trị của tài nguyên và môi trường÷

Nếu nhìn vào biểu đồ giá trị kinh tế của tài nguyên thì chỉ có giá trị trực tiếp

và một số mục của giá trị sử dụng gián tiếp được tiền tệ hóa và có thể đánh giá được bằng tiền trên thị trường bằng giá cả trực tiếp Các thành phần khác của giá trị kinh

tế của tài nguyên không tồn tại giá cả trên thị trường, chính vì vậy những giá trị này không thể đo được bằng tiền, bằng giá cả thị trường mà phải dùng các phương pháp đặc thù của kinh tế tài nguyên và môi trường

Hình 1.1: Giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường

Giá trị lựa chọn

Giá trị tồn tại

Giá trị để lại cho thể hệ

Trang 36

giá trị còn tồn tại bên trong Do vậy, nhiệm vụ đầu tiên của lượng hóa TN&MT là xác định được đầy đủ giá trị kinh tế của các dạng TN&MT

Một nội dung nữa của đánh giá giá trị của TN&MT là xác định chi phí ngoại ứng Ngoại ứng là một trong 4 thất bại truyền thống của thị trường Ngoại ứng bao gồm 2 loại là: ngoại ứng tích cực và ngoại ứng tiêu cực Ngoại ứng tiêu cực sẽ làm sai lệch chi phí của người sản xuất với chi phí xã hội Thông thường chi phí của xã hội lớn hơn chi phí của người gây ra ngoại ứng Ngoại ứng tích cực sẽ làm méo mó lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và của cả xã hội Thông thường lợi ích của xã hội sẽ lớn hơn so với lợi ích của các đối tượng gây ngoại ứng

Nhiệm vụ của lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường÷

Nhiệm vụ chính của lượng hóa giá trị của TN&MT là tìm ra phần khách hàng hoặc xã hội bằng lòng trả (Willing To Pay) cho hàng hóa, dịch vụ TN&MT Về mặt

lý thuyết, phần bằng lòng trả của khách hàng hoặc xã hội cho hàng hóa TN&MT chính là phần diện tích dưới đường cầu của người tiêu dùng với lượng hàng hóa tương ứng

Hình 1.2: Bằng lòng trả (Willing To Pay)

Nguồn: PGS TS Nguyễn Văn Song, Kinh tế tài nguyên và môi trường, ĐHNNI

Sự khác biệt giữa bằng lòng trả (Willing To Pay – WTP) và bằng lòng chấp nhận (Willing To Accept-WTA) của khách hàng hoặc xã hội Ví dụ như, chất lượng không khí cho một khu vực bị ô nhiễm

Trang 37

Bảng 1.1: So sánh giữa bằng lòng trả và bằng lòng chấp nhận

Bằng lòng trả (WTP) Bằng lòng chấp nhận (WTA) Không có quyền sở hữu

Đạt được sự cải thiện chất lượng môi trường

Không có sự cải thiện nếu không bằng lòng

trả

Có quyền sở hữu

Bỏ qua sự cải thiện tài nguyên và môi trường

Có sự hiện hữu của sự cải thiện

Nguồn: PGS TS Nguyễn Văn Song, Bài giảng Kinh tế tài nguyên, ĐHNN I - 2007

Các phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường÷ Dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế, các nhà kinh tế đã xây dựng và phát triển các phương pháp thực nghiệm để đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên và môi trường Khái quát về một số phương pháp lượng hóa giá trị kinh tế của TN&MT thường được áp dụng như sau;

Hình 1.3: Các phương pháp lượng giá TN&MT

CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ (LƯỢNG HÓA)

Phương pháp thị

trường

Phương pháp thị trường thay thế

Phương pháp dựa trên chi phí

Giá trị trường

thực (MP)

Chi phí thay thế (replacement cost) Chi phí phòng ngừa (avoided

Giá bong

(shadow method)

Chi phí du lịch (TCM)

Giá trị hưởng thu (HPM)

Đánh giá ngẫu nhiêu (CVM)

Mô hình lựa chọn (CM)

Chi phí cơ hội (opportunity cost)

Chi phí chuyển vị trí (relocacement Chuyển đổi lợi

ích (BTM)

Trang 38

Vận dụng các công cụ lượng hóa trong QLTN&BVMT12÷

Khi ra một quyết định đầu tư hoặc một chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội ở một vùng, một địa phương hay một quốc gia người ta thường cần nhắc lợi ích và chi phí cho 3 vấn đề là “kinh tế - xã hội - môi trường” Tuy nhiên, để cân nhắc được đầy đủ và chính xác thì đòi hỏi phải xây dựng được một hệ tiêu chuẩn thống nhất để đo lường và so sánh Một trong những đơn vị sử dụng thuận lợi nhất chính là công cụ tiền tệ Nhưng, việc đánh giá giá trị kinh tế của TN&MT không phải lúc nào chúng ta cũng có thể sử dụng giá cả của thị trường, bởi lẽ TN&MT chứa đựng rất nhiều giá trị khác nhau Có những giá trị tham gia trực tiếp vào thị trường thì chúng ta có thể xác định được thông qua giá cả, tuy nhiên bên cạnh những giá trị tham gia trực tiếp thì còn rất nhiều các giá trị khác như: giá trị gián tiếp; giá trị để lại … việc xác định đầy đủ các giá trị này rất khó Do vậy, cần phải

có những phương pháp xác định đặc thù của ngành TN&MT

Hàng hóa TN&MT có nhiều yếu tố không có giả cả Ví dụ, các loại chi phí ngoại ứng tiêu cực và ngoại ứng tích cực hàu như không có thị trường nên sẽ không

có giá cả để cho chúng ta xác định đầy đủ và chính xác giá trị kinh tế của TN&MT Việc đánh giá, lượng hóa giá trị kinh tế của TN&MT sẽ cho chúng ta biết tỉ lệ tài nguyên môi trường sẽ được sử dụng hết, và báo hiệu về sự khan hiếm ngày càng tăng đối với người sử dụng như thế nào, bao giờ sẽ cạn kiệt, mức độ nguy hại của ô nhiễm tới cuộc sống con người và các loài động thực vật khác ra làm sao…

Đánh giá môi trường giúp khôi phục thế cân bằng, giữa những tác động lượng hóa được và yếu tố không lượng hóa được trong phân tích lợi ích, chi phí, hay giữa những giá trị có thể quy thành tiền được và không quy thành tiền được Đối với những quyết định lớn dựa trên chi phí tài chính hay kinh tế, những tác động lượng hóa được có thể có trọng lượng nhiều hơn đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, thậm chí cả đối với cộng đồng dân cư Do vậy, việc xác định và đánh giá mức độ tin cậy của các tác động với cộng đồng dân cư

12 PGS.TS.Nguyễn Văn Song, Đại Học Nông nghiệp I, Phương pháp lượng giá tài nguyên và môi trường

Trang 39

Ngoài ra, sử dụng các công cụ lượng hóa còn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến Luật pháp về môi trường Góp phần phát triển bền vững xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

(3) Hạch toán TN&MT và áp dụng trong QLTN&BVMT

Mục đích chủ yếu của hạch toán là cung cấp các thông tin kinh tế Các hộ gia đình, các đơn vị sản xuất và các chính phủ quan tâm đến các thông tin kinh tế để đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng Thông thường, hạch toán được chia ra thành hạch toán thu nhập – hạch toán đầu vào và hạch toán đầu ra cho một chu kỳ sản xuất và hạch toán tài sản – phản ánh giá trị của tài sản và các khoản

nợ phải trả ở một thời điểm nhất định

Mục đích chủ yếu của việc hạch toán thu nhập quốc gia là cung cấp cái nhìn tổng quát về kinh tế quốc gia Việc hạch toán này để đo lường tổng giá trị đầu vào

và giá trị đầu ra của quốc gia Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong hạch toán quốc gia là chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất – GDP

Hệ thống hạch toán quốc gia về TN&MT bao gồm cả hệ thống hạch toán tài nguyên, hạch toán môi trường và cả hạch toán kinh tế, hay nói cách khác đó là việc hạch toán tích hợp giữa kinh tế với TN&MT; là một hệ thống các lý luận và phương pháp để làm thế nào tính toán tích hợp giữa tài nguyên thiên nhiên (vốn tự nhiên), môi trường và kinh tế Dựa trên nền tảng của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), hạch toán TN&MT kết hợp chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong việc phân tích kinh tế và mô tả mối tương tác giữa các vấn đề môi trường, tài nguyên với nền kinh tế, do vậy, nó có thể cung cấp hệ thống số liệu thống kê cho phân tích kinh tế, đưa ra các quyết định và đánh giá lại kết quả

Như vậy, hạch toán tài nguyên và môi trường là việc xác định dưới dạng hiện vật và tiền tệ của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và sự thay đổi của trạng thái môi trường trong quá trình hoạt động của nền kinh tế

- Hạch toán tài nguyên và môi trường trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Nền tảng cơ bản của sự phát triển bền vững là 3 trụ cột: “kinh tế”, “xã hội”

và môi trường (theo nghĩa rộng bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) Trong đó, tài

Trang 40

nguyên thiên nhiên và môi trường đóng một vai trò hết sức quan trọng để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế, và là nơi chứa đựng chất thải của nền sản xuất

Hạch toán TN&MT giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý nhìn thấy được thực trạng sử dụng tài nguyên cho nền kinh tế, nhìn nhận được hiệu quả trong sử dụng cũng như những chi phí đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế với sự tiêu hao nguồn lực thiên nhiên, mức độ tàn phá môi trường … Do vậy, hạch toán TN&MT cho phép chúng ta đánh giá được tính bền vững của quá trình tăng trưởng

và phát triển kinh tế Từ đó, giúp các nhà quản lý nhà hoạch định chính sách nhìn nhận được mức độ tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng kinh tế, từ đó đưa ra được những chiến lược và các chính sách phát triển kinh tế xã hội được hiệu quả hơn Hạch toán TN&MT không chỉ cung cấp các thông tin cho các nhà quản lý mà

nó còn cung cấp nguồn thông tin cho cộng đồng, xã hội Từ đó người dân sẽ nhìn nhận được những xu hướng biến động của tài nguyên và môi trường và có những điều chỉnh hành vi để bảo vệ và gìn giữ TN&MT tốt hơn

Việc thiết lập hệ thống các nguyên tắc và phương pháp hạch toán tài nguyên

và môi trường đầy đủ và khoa học còn giúp cho việc định giá, lượng hóa tài nguyên thiên nhiên và môi trường được đầy đủ, chính xác hơn Bởi lẽ, muốn hạch toán được tài nguyên và môi trường đồng nghĩa với việc chúng ta đã thiết lập một hệ thống các phương pháp định giá, lượng hóa chi tiết và khoa học từ đó mới tính toán được giá trị, giá cả, sự mất mát hay tăng thêm của tài nguyên hoặc môi trường

1.2.4 Công cụ kinh tế và khả năng vận dụng trong QLTN&BVMT

Khái niệm

Công cụ Kinh tế (EIs: Economic Intrusments) là một trong ba loại công cụ cơ bản được sử dụng cho việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, đặc biệt trong cơ chế của nền Kinh tế thị trường thì loại công cụ này có điều kiện phát huy tốt hiệu lực của nó, do vậy cũng có những quan niệm cho rằng đây là công cụ thị trường

Hiện nay theo quan niệm chung, khi nói về công cụ Kinh tế, người ta thường đưa ra những định nghĩa dưới những đặc trưng cơ bản sau đây:

Ngày đăng: 27/02/2021, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ và các bộ ban ngành, “hệ thống các nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn liên quan đến định giá, lượng hóa và hạch toán tài nguyên và môi trường”, cập nhật tại trang web: chinhphu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: hệ thống các nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn liên quan đến định giá, lượng hóa và hạch toán tài nguyên và môi trường
5. Đặng Văn Thanh, “Bài giảng kinh tế Vi Mô chủ đề hàng hóa công cộng”, Chương trình Fulbright, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kinh tế Vi Mô chủ đề hàng hóa công cộng
7. Đinh Đức Trường, Luấn án tiến sỹ kinh tế, “Đánh giá giá trị kinh tế phục vụ cho việc quản lý tài nguyên đất ngập nước tại cửa song Ba Lạt” 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giá trị kinh tế phục vụ cho việc quản lý tài nguyên đất ngập nước tại cửa song Ba Lạt
9. GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng, “Giáo trình kinh tế phát triển”, NXB Lao động xã hội, 2005, Tr. 204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
12. PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh, “Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường”, Nxb Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường
Nhà XB: Nxb Thống kê
13. PGS. TS. Nguyễn Văn Song, “Kinh tế Tài nguyên và môi trường”, Đại học Nông nghiệp I, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Tài nguyên và môi trường
15. PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ, “Giáo trình Kinh tế Môi trường”, NXB. Bộ Giáo dục và đào tạo, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Môi trường
Nhà XB: NXB. Bộ Giáo dục và đào tạo
17. Tổng cục môi trường, “Hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án nhuộm”, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án nhuộm
21. Viện chiến lược phát triển, “Báo cáo tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020” 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020
22. Viện nghiên cứu lập pháp, “báo cáo kết quả điều tra xã hội học 2009”. Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo kết quả điều tra xã hội học 2009
28. Hahn, R. W. & R. N. Stavins. 1991. “Economic Incentives for Environmental Protection: Integrating Theory and Practice.” Bài báo hội thảo CSIA 91-95, Trường Quản lý Kennedy, Đại học Harvard Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Incentives for Environmental Protection: Integrating Theory and Practice
39. Sterner, T. 1998. “Environmental Implications of Market-based Policy Instruments”. Loạt bài nghiên cứu chính sách về công cụ kinh tế trong phát triển bền vững. University College: Dublin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Implications of Market-based Policy Instruments
40. Sterner, T. 2003. “Instruments for Environmental Policy”. SIDA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Instruments for Environmental Policy
42. Tietenberg, T. 1997. “Disclosure Strategies for Pollution Control”. Environmental and Resource Economics 11 (3-4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disclosure Strategies for Pollution Control
59. Viện nghiên cứu lâm nghiệp, http://www.fsiv.org.vn 60. Một số trang web khác Link
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Kinh tế chính trị Mác –Lê Nin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
3. Đặng Mộng Lân (2006), Các công cụ quản lý môi trường, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Khác
4. Đặng Như Toàn (1996): Kinh tế môi trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Đinh Đức Trường (2007), Sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (số đặc san), Đại học Kinh tế quốc dân Khác
8. GS.TS. Chu Văn Cấp, PGS.TS. Trần Bình Trọng và cộng sự, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w