Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả hoạt động sản xuất
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN ĐẠI THẮNG
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận văn là công trình nghiên
cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Võ Đình Thắng
Trang 4M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHI ỆP 3
1.1 T ỔNG QUAN LÝ LU ẬN V Ề TÀI CHÍNH DOANH NGHI ỆP 3
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp 5
1.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp 9
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp 15
1.2 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHI ỆP 19
1.2.1 Khái niệm, vai trò củaphân tích tài chính doanh nghiệp 19
1.2.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 22
1.2.3 Trình tự của quá trình phân tích tài chính 28
TÓM T ẮT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCHTÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU - DẦU KHÍ VŨNG ÁNG 34
2.1 GI ỚI THI ỆU T ỔNG QUAN V Ề CÔNG TY C Ổ PH ẦN XĂNG D ẦU -D ẦU KHÍ VŨNG ÁNG 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 34
2.1.2Chức năng nhiệm vụ của Công ty 37
2.1.3 Mô hình tổ chức bộ máy quản lývà nhân lực Của công ty 39
2.1.4 Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của Công ty giai đoạn 2013-2015 42
2.1.5 Một số đặc điểm kinh tế- kỹ thuật có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty 44
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 2013-2015 46
2.2.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính của Công ty 46
2.2.2 Phân tích các chỉ số phản ánh an toàn tài chính 55
2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính 57
Trang 52.2.4 Phân tích tình hình công nợ của Công ty 65
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 68
2.3.1 Những kết quả đạt được 68
2.3.2 Những tồn tại hạn chế 69
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 70
TÓM T ẮT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH T ẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ VŨNG ÁNG 72 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRI ỂN C ỦA CÔNG TY C Ổ PH ẦN XĂNG DẦU – DẦU KHÍ VŨNG ÁNG GIAI ĐOẠN 2016 -2017 73
3.1.1 Triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2016 -2017 73
3.1.2 Triển vọng ngành dầu khíViệt Namtrong năm 2016-2017 75
3.1.3 Phương hướng và mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Xăng dầu dầu khí Vũng Áng năm 2016 78
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH C ỦA CÔNG TY 80
3.2.1 Sử dụng tiết kiệm các khoản chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ 80
3.2.2 Tích c ực tìm kiếm khách hàng,đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bán lẻ 83
3.2.3 Hoàn thiện quy trình phân tích tình hình tài chính, thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro Error! Bookmark not defined 3.2.4 Các biện pháp khác 86
TÓM T ẮT CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
BH&CCDV : Bán hàng và cung cấp dịch vụ
BQ : Bình quân CTCP : Công ty cổ phần
DN : Doanh nghiệp DTT : Doanh thu thuần HĐQT : Hội đồng quản trị HTK : Hàng tồn kho
KD : Kinh doanh LCT : Luân chuyển thuần
LN : Lợi nhuận LNST : Lợi nhuận sau thuế LNTT : Lợi nhuận kế toán trước thuế NSNN : Ngân sách nhà nước
TCDN : Tài chính doanh nghiệp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TS : Tài sản TSCĐ : Tài sản cố định TSNH : Tài sản ngắn hạn VCSH : Vốn chủ sở hữu VLĐ : Vốn lưu động VKD : Vốn kinh doanh
XD : Xăng dầu
XDDK : Xăng dầu dầu khí
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 2.0: Sơ đồ tổ chức của Công ty Cổ phần Xăng dầu dầu khí Vũng Áng 40
Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực của Công ty CP Xăng dầu dầu khí Vũng Áng 42
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của Pvoil Vũng Áng 43
Bảng 2.3:Tình hình biến động và cơ cấu tài sản của Công ty 46
Bảng 2.4:Quy mô và sự biến động của nguồn vốn 48
Bảng 2.5:Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 50
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp dòng tiền của Công ty 52
Bảng 2.7: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn 55
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty 56
Bảng 2.9:Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của Công ty 57
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu thành phần của ROE 58
Bảng 2.11 Chỉ tiêu phân tích ROS 61
Bảng 2.12 Các chỉ tiêu năng suất của tài sản 63
Bảng 2.13: Hệ số tài trợ của Công ty 64
Bảng 2.14 Bảng phân tích quy mô nợ 65
Bảng 2.15: Cơ cấu nợ và tình hình quản lý nợ 67
Bảng 3.1 Bảng chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2016 79
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khó khăn và thử thách cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, để có thể khẳng định được mình mỗi doanh nghiệp cần nắm vững tình hình cũng như kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh
Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến tình hình tài chính vì nó quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn, nguyên nhân và
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng,
hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài
sản, nguồn vốn các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, những thông tin mà báo cáo tài chính cung cấp là chưa đủ vì nó không giải thích được cho những người quan tâm biết rõ về thực trạng hoạt động tài chính, những rủi ro, triển vọng và
xu hướng phát triển của doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính sẽ bổ khuyết cho sự thiếu hụt này
Xuất phát từ nhận thức của bản thân về tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất giải
Trang 9pháp nh ằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí
V ũng Áng” làm đề tài luận văn
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp;
- Phân tích đánh giá tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Xăng dầu
Dầu khí Vũng Áng; phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu và những nguyên nhân của nó
- Đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ
phần Xăng dầu - Dầu khí Vũng Áng
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp
- Ph ạm vi nghiêm cứu: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần
Xăng dầu - Dầu khí Vũng Áng; thời gian nghiên cứu: tình hình tài chính của Công ty giai đoạn 2013- 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020
- Đề tài vận dụng các phương pháp thống kê, so sánh tương đối, so sánh tuyệt đối, thay thế liên hoàn, phân tích Dupont, … kết hợp với các phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa để trình bày các quan điểm, giải pháp để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài
- Luận văn cũng kết hợp lý luận cơ bản của khoa học chuyên ngành kế toán tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục luận văn trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty cổ phần Xăng dầu -
Dầu khí Vũng Áng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty
Cổ phần Xăng dầu - Dầu khí Vũng Áng
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
DOANH NGHI ỆP 1.1 T ổng quan lý luận về tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có các yếu tố đầu vào cơ bản
của quá trình sản xuất như: tư liệu lao động; đối tượng lao động; sức lao động
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các
yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa, đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa
vì vậy các yếu tố trên đều được biểu hiện bằng tiền Hay nói cách khác, để có các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ
nhất định, và tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có các phương thức huy động
vốn khác nhau
Vốn vận động rất đa dạng, liên tục và không ngừng chuyển đổi hình thái
biểu hiện Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa
và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ
Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết
bị, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Sản phẩm của quá trình
sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn
mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng Doanh thu bán hàng sau khi bù đắp các chi phí, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận, với
số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một cách hợp lý Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và
sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của dòng tiền vào, dòng tiền
Trang 11ra gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
Mặt khác, sự vận động của vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ
sản xuất, mà sự vận động đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng) Nhờ sự vận động của tiền tệ mà hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị đã phát sinh ở các khâu trong quá trình tái sản xuất trong nên kinh tế thị trường Những quan hệ đó tuy chứa đựng nội dung kinh tế khác nhau, song chúng đều có những đặc trưng kinh tế giống nhau mang bản chất
của tài chính doanh nghiệp
Các quan hệ kinh tế bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp dưới hình giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
• Quan h ệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước
Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (nộp thuế) Mặt khác ngân sách Nhà nước
cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể cấp vốn đối với công ty liên doanh, mua cổ phần, cấp trợ giá cho các doanh nghiệp khi cần thiết
• Quan h ệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và tổ chức
xã h ội khác
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng
và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội…
• Quan h ệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất đối với người lao động
• Quan h ệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghi ệp
Trang 12Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện góp vốn đầu tư hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
• Quan h ệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp
Như vậy, xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ
tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của mình
1.1.2 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, có rất nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi các nhà quản trị
phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn cho doanh nghiệp, đó là các
vấn đề liên quan đến việc tìm nguồn vốn cần thiết cho mua sắm tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, phân bổ có giới hạn các nguồn vốn cho những mục đích sử dụng khác nhau đồng thời đảm bảo cho các nguồn vốn được sử dụng
một cách hữu hiệu và hiệu quả để đạt mục tiêu đề ra Tài chính doanh nghiệp
thực chất quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu, đó là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ (nguồn vốn) và quyết định phân phối lợi nhuận
• Quy ết định đầu tư
Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ
phận tài sản (tài sản cố định và tài sản lưu động) Trong kế toán chúng ta đã quen với hình ảnh Bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp và quyết định đầu tư
gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản Quyết định đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
Trang 13- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán chịu hàng hóa, quyết định đầu tư tài chính
ngắn hạn…
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định
mới, quyết định thay thế tài sản cố định cũ, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu từ tài chính dài hạn…
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và tài sản cố định, bao
gồm: Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn
- Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu Ngược lại, một quyết định đầu tư sai sẽ là tổn thất giá trị doanh nghiệp, do đó sẽ làm thiệt hại tài sản cho chủ doanh nghiệp
• Quy ết định nguồn vốn
- Quyết định này gắn liền với quyết định lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn vay ngắn hạn hay dài hạn Các quyết định nguồn vốn bao gồm:
- Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn, bao gồm: Quyết định vay
ngắn hạn hay quyết định sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn
hạn ngân hàng hay sử dụng tín phiếu công ty
- Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn, bao gồm: Quyết định nợ dài
hạn hay vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần thông thường hay vốn cổ phần
ưu đãi, quyết định vay để mua hay thuê tài sản…
Những quyết định về nguồn vốn nêu trên đang là một thách thức không
nhỏ đối với các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp Để có thể có các quyết định nguồn vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải nắm vững
những điểm lợi, bất lợi của việc sử dụng các công cụ huy động vốn, đồng thời
phải căn cứ vào tình hình hiện tại và dự báo tương lai để ra quyết định phù hợp
với từng thời điểm cụ thể
Trang 14• Quy ết định phân chia lợi nhuận
Đây là quyết định gắn liền với chính sách cổ tức của doanh nghiệp Trong quyết định này, nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần
lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo chính sách cổ tức nào và
liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị của doanh nghiệp hay giá cổ phiếu trên thị trường của doanh nghiệp hay không
Ngoài ba loại quyết định trên còn có nhiều quyết định khác liên quan đến
hoạt động của doanh nghiệp như quyết định về hình thức chuyển tiền, quyết định
về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh, quyết định về tiền lương, quyết định tiền thưởng bằng quyền chọn, quyết định mua bán, sát nhập…
Căn cứ vào thời gian thực hiện có thể chia các quyết định tài chính của doanh nghiệp ra thành 2 nhóm là quyết định tài chính dài hạn và quyết định tài chính ngắn hạn
• Quy ết định tài chính dài hạn
Đây là những quyết định có tính chất chiến lược, có tầm ảnh hưởng lâu dài tới
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Mỗi quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích một cách bài bản và khoa học để hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Quyết định tài chính dài hạn bao gồm:
- Quyết định đầu tư dài hạn: là quyết định lựa chọn doanh nghiệp nên đầu
tư vào những cơ hội, hay những dự án đầu tư nào trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
- Quyết định huy động vốn dài hạn: Là quyết định lựa chọn nên huy động
vốn dài hạn từ những nguồn nào, với quy mô bao nhiêu để tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
- Quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp: Là quyết định lựa chọn nên dành bao nhiêu lợi nhuận để chia cho chủ sở hữu, dành bao nhiêu lợi nhuận để tái đầu tư trở lại doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
• Quy ết định tài chính ngắn hạn
Trang 15Đây là những quyết định có tính chất tác nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, người ta còn gọi đây là các quyết định tài chính chiến thuật, bao gồm:
- Quyết định dự trữ vốn bằng tiền
Khi doanh nghiệp dự trữ vốn bằng tiền nhằm đáp ứng các yêu cầu giao
dịch, thanh toán như mua hàng, trả tiền lương, thanh toán cổ tức, nộp thuế… đồng thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội đầu tư, dự phòng các rủi
ro bất ngờ có thể xảy ra Tuy nhiên việc dự trữ vốn bằng tiền sẽ làm tăng chi phí cơ hội của vốn, tăng rủi ro lo lạm phát hay ảnh hưởng tỷ giá…
- Quyết định về nợ phải thu
Khi doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu sẽ làm tăng khả năng
cạnh tranh dẫn đến làm tăng doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên, bán chịu sẽ làm gia tăng nợ phải thu, dẫn đến ứ đọng vốn và doanh nghiệp có thể gặp rủi
ro không thu hồi được nợ
- Quyết định về chiết khấu thanh toán
Việc áp dụng chiết khấu thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi nhanh
tiền bán hàng, giảm nhu cầu vốn, từ đó giảm bớt chi phí sử dụng vốn Tuy nhiên thực hiện chiết khấu cho khách hàng sẽ làm sụt giảm lợi nhuận bán hàng
của doanh nghiệp
- Quyết định về dự trữ tài sản tồn kho
Việc duy trì tồn kho dự trữ sẽ giảm thiểu rủi ro gián đoạn hoạt động sản
xuất kinh doanh nhưng lại làm tăng chi phí bảo quản, cất trữ… làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp
- Các quyết định tài chính ngắn hạn khác: quyết định về khấu hao TSCĐ, quyết định trích lập dự phòng, quyết định về việc thanh toán…
Như vậy, trong mỗi một quyết định tài chính, các nhà quản trị tài chính luôn phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời Một quyết định tài chính khôn ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, có nghĩa là quyết định đó phải đảm bảo tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa tỷ suất sinh lời cho chủ sở hữu
Trang 161.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Các ch ỉ tiêu phản ánh tình hình biến động và cơ cấu của tài sản
- Phản ánh sự biến động của tài sản được thực hiện thông qua so sánh
tổng số và từng thành phần của tài sản giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác định chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng thành
phần tài sản
- Phản ánh cơ cấu tài sản bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng loại,
từng thành phần tài sản chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ Đồng
thời so sánh tỷ trọng từng loại tài sản giữa cuối kỳ và đầu kỳ từ đó đánh giá được cơ cấu tài sản và sự thay đổi cơ cấu tài sản của doanh nghiệp trong kỳ
Phản ánh về cơ cấu tài sản sử dụng công thức sau:
𝑇ỷ 𝑡𝑟ọ𝑛𝑔 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑙𝑜ạ𝑖 𝑠ả𝑛 = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑐ủ𝑎 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑙𝑜ạ𝑖 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛
Thông qua việc đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản ở thời điểm cuối kỳ và đầu kỳ, ta thấy được được chính sách đầu tư, sử dụng tài sản của doanh nghiệp, đồng thời thông qua sự biến động về cơ cấu tài sản mà thấy được sự thay đổi chính sách đầu tư của doanh nghiệp trong kỳ Cơ cấu tài sản của một doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc trưng ngành nghề kinh doanh và trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp
1.1.3.2 Các ch ỉ tiêu phản ánh tình hình biến động và cơ cấu của nguồn vốn
- Phản ánh sự biến động của nguồn vốn được thực hiện thông qua so sánh
tổng số và từng thành phần nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác định chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng thành
phần nguồn vốn
- Phản ánh cơ cấu nguồn vốn bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng
loại, từng thành phần nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ Đồng thời so sánh tỷ trọng từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ từ đó đánh giá được cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp trong kỳ
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức:
Trang 17𝑇ỷ 𝑡𝑟ọ𝑛𝑔 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑡ℎà𝑛ℎ 𝑝ℎầ𝑛 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 =𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑡ℎà𝑛ℎ 𝑝ℎầ𝑛 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛
Đặc biệt, khi đánh giá cần quan tâm đến hệ số nợ Đây là hệ số tài chính
hết sức quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, các chủ nợ cũng như các nhà đầu tư Hệ số nợ thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc
tổ chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính
của doanh nghiệp
𝐻ệ 𝑠ố 𝑛ợ = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑛ợ
Tổng số nợ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ số nợ ngắn hạn và dài hạn
Tổng nguồn vốn bao gồm các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng
Thông thường các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ vừa phải vì tỷ lệ này càng
thấp thì khoản nợ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu lại thích tỷ lệ nợ cao vì họ nắm trong tay một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng vốn nhỏ và các nhà tài chính sử
dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên nếu hệ
số nợ quá cao, doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
1.1.3.3 Các ch ỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng chuyển đổi các tài sản của doanh nghiệp thành tiền để thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp theo thời hạn phù
hợp Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu sau:
- H ệ số khả năng thanh toán hiện thời
𝐻ệ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 ℎ𝑖ệ𝑛 𝑡ℎờ𝑖 = 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛
Tổng tài sản ngắn hạn bao hàm cả khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Số nợ
ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong khoảng thời gian dưới 12 tháng, bao gồm: các khoản vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, thuế và các khoản
phải trả người lao động, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản phải trả khác có thời
hạn dưới 12 tháng
Trang 18Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn, nó cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được bao nhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hiện có Vì thế, hệ số này cũng
thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Để đánh giá hệ số này cần dựa vào hệ số trung bình của các doanh nghiệp trong cùng ngành Cần thấy rằng, hệ số này ở các ngành kinh doanh khác nhau
có sự khác nhau
- H ệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả ngay các khoản nợ ngắn
hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hóa Hệ số này được xác định theo công thức:
𝐻ệ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑛ℎ𝑎𝑛ℎ = 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 − 𝐻à𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜
𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Nhìn chung, hệ số này mà cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp
là tốt, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể vay vốn dễ dàng trong tương lai Nhưng nếu tỷ trọng các khoản phải thu là lớn trong tổng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp cũng cần xem xét tới khả năng thu hồi nợ để đảm bảo tính chủ động về tài chính của doanh nghiệp
- H ệ số khả năng thanh toán tức thời
Ngoài hai hệ số trên, để đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số thanh toán tức thời Hệ số này được xác định bằng công thức sau:
Ở đây tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản đầu tư
ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời hạn 3 tháng và không gặp rủi ro lớn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bằng các khoản tiền và tương đương tiền Đây là chỉ tiêu mà chủ nợ quan tâm để đánh giá tại thời điểm xem xét doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản
Trang 19nợ ngắn hạn hay không Và nếu có những khoản nợ quá hạn, đến hạn thì chủ
nợ quan tâm đên khả năn thanh toán ngay tức thì những khoản nợ đến hạn, quá
hạn này
- H ệ số thanh toán lãi vay
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ
𝐻ệ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑙ã𝑖 𝑣𝑎𝑦 =𝑆ố 𝑙ã𝑖 𝑡𝑖ề𝑛 𝑣𝑎𝑦 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế + 𝑙ã𝑖 𝑣𝑎𝑦
Nếu chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh có khả năng sinh lời cao và đó là cơ sở bảo đảm cho tình hình thanh toán của doanh nghiệp lành mạnh và ngược lại
1.1.3.4 Các ch ỉ tiêu phản ánh sức sinh lời
- T ỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo lường mức
lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ và được xác định như sau:
𝑅𝑂𝐸 = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢â𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
Chỉ tiêu này cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong
kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp tất cả các khía cạnh về trình độ quản trị tài chính, năng lực hoạch định và thực thi các chính sách tài chính, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ
Nếu ROE càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng huy động thêm
vốn ở thị trường tài chính để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình và ngược lại Tuy nhiên không phải lúc nào ROE cao là thuận lợi, bởi vì có thể do
tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng quy mô vốn của doanh nghiệp là nhỏ do doanh nghiệp đang tận dụng ưu thế của đòn bẩy tài chính Khi đó rủi ro tài chính của doanh nghiệp là rất cao
- Thu nh ập một cổ phiếu thường ( EPS)
Trang 20𝐸𝑃𝑆 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 𝑡ℎườ𝑛𝑔 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ𝐿𝑁𝑆𝑇 − 𝐶ổ 𝑡ứ𝑐 𝑐ℎ𝑜 𝑐ổ đô𝑛𝑔 ư𝑢 đã𝑖
- T ỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản còn gọi là tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh
lời của tài sản mà không tính đến ảnh hưởng của nguồn gốc vốn kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp Công thức xác định như sau:
𝐵𝐸𝑃 = 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑙ã𝑖 𝑣𝑎𝑦 𝑣à 𝑡ℎ𝑢ế𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 đồng tài sản bỏ ra trong kỳ, doanh nghiệp thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Chỉ tiêu này có tác dụng rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi
suất vay vốn để đánh giá việc sử dụng nguồn vốn vay có tác động tích cực hay tiêu cực đối với khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu
- T ỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tài sản
𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 𝐿𝑁𝑇𝑇 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 = 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡𝑟ướ𝑐 𝑡ℎ𝑢ế 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛
Chỉ tiêu này cho biết, bình quân 1 đồng tài sản bỏ ra trong kỳ thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay
Chỉ tiêu này đánh giá trình độ quản trị tài sản của doanh nghiệp
- T ỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản (ROA)
𝑅𝑂𝐴 =𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛
Chỉ tiêu này cho biết, bình quân 1 đồng tài sản bỏ ra trong kỳ, doanh nghiệp thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn,
chứng tỏ hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý càng cao
- T ỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS)
ROS = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
DT thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán được Qua đó cho chúng ta biết được tỷ lệ phần trăm của mỗi đồng doanh số sẽ đóng góp vào
Trang 21lợi nhuận Hệ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỷ
số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Hệ số này âm nghĩa là công ty kinh doanh thua
lỗ Nếu tỷ lệ này tăng chứng tỏ khách hàng chấp nhận mua giá cao, hoặc cấp
quản lý kiếm soát chi phí tốt, hoặc cả hai Nếu tỷ lệ này giảm có thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đó đang phải chiết
khấu để bán sản phẩm hay dịch vụ của mình
1.1.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh chỉ số hoạt động (năng suất) của tài sản
Chỉ tiêu phản ánh chỉ số hoạt động thường được tính bằng doanh thu thuần
hoặc giá vốn hàng bán trên tổng tài sản bình quân
Năng suất tổng tài sản = Doanh thu thu ần
thấy doanh nghiệp đang phát huy công suất hiệu quả và có khả năng cần phải đầu tư mới nếu muốn mở rộng công suất Chỉ tiêu này thấp cho thấy vốn được
sử dụng chưa hiệu quả và là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp có tài sản ứ đọng,
hiệu suất hoạt động thấp
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, vì
vậy chỉ tiêu này còn được tính cho từng thành phần tài sản:
- Năng suất tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu
tư hình thành nên các TSCĐ và các loại tài sản dài hạn khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 22𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑑à𝑖 ℎạ𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑑à𝑖 ℎạ𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản dài hạn sử dụng trong kỳ tạo ra
được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
- Năng suất (vòng quay) tài sản ngắn hạn
𝑆ố 𝑣ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 =𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong môt kỳ nghiên cứu, tài sản ngắn hạn đã quay được mấy vòng Số vòng quay tài sản ngắn hạn càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại
- K ỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn
𝐾ỳ 𝑙𝑢â𝑛 𝑐ℎ𝑢𝑦ể𝑛 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 = 𝑆ố 𝑣ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑆ố 𝑛𝑔à𝑦 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ
Chỉ tiêu này cho biết, bình quân tài sản ngắn hạn quay 1 vòng hết bao nhiêu ngày Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn càng ngắn thì tài sản ngắn hạn luân chuyển càng nhanh và ngược lại Tùy thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, các điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn cũng khác nhau
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Sự tồn tại, phát triển cũng như quá trình suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên ngoài và nội tại của doanh nghiệp
1.1.4.1 Các nhân t ố bên ngoài doanh nghiệp
tốt hơn Ngược lại, với nền kinh tế suy thoái doanh nghiệp khó tìm thấy cơ hội đầu
tư cũng nhưng những nguồn tài trợ vốn, dẫn đến các chỉ số tài chính có thể bị sụp
giảm
Trang 23- Lãi su ất thị trường
Hầu hết các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh đều có sử
dụng vốn vay, chi phí sử dụng vốn vay phụ thuộc lớn vào lãi suất thị trường Lãi
suất thị trường ảnh hưởng đến quá trình đầu tư, chi phí vốn và cơ hội huy động các nguồn tài trợ của doanh nghiệp Mặt khác khi lãi suất thị trường cao, người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng dẫn tới sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp có thể giảm, khi đó các hệ số quay vòng tài sản ngắn hạn và vốn kinh doanh sẽ giảm, mức sinh lợi của doanh thu cũng giảm theo
- L ạm phát
Khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao, giá cả leo thang, việc tiêu thụ
của doanh nghiệp có chiều hướng giảm ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ số tài chính của doanh nghiệp Mặt khác do việc huy động vốn của các tổ chức tín dụng
gặp khó khăn kết hợp chính sách thắt chặt tiền tệ của ngân hàng Nhà nước, nên ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chỉ có thể cung cấp phần nào nhu
cầu vốn cho doanh nghiệp đối với những hợp đồng đã ký với mức độ rủi ro cho phép Trong tình trạng đó, nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích
cực có thế dẫn tới mất vốn kinh doanh, ảnh hưởng lâu dài đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp
- Chính sách kinh t ế và tài chính của Nhà nước
Các chính sách của Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xuất khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định,… là những
yếu tố tác động lớn đến tài chính của doanh nghiệp
- M ức độ cạnh tranh
Nếu doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho công tác đổi mới công nghệ, trang thiết bị và cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, công tác
quảng cáo và xúc tiến bán hàng,… sẽ ảnh hưởng lớn đến vòng quay vốn và các
chỉ số tài chính khác của doanh nghiệp
- Th ị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Trang 24Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi doanh nghiệp có thể huy động và gia tăng các nguồn lực thông qua việc huy động vốn
của các cá nhân, tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi, hoặc có thể đầu tư các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp mình nhằm gia tăng lợi nhuận Sự phát triển của thị thường vừa làm đa dạng hóa các công cụ và hình thức huy động vốn, vừa làm tăng cơ hội đầu tư khác cho doanh nghiệp
1.1.4.2 Các nhân t ố bên trong doanh nghiệp
- Năng lực quản trị
Trong nền kinh tế hiện đại, năng lực quản trị của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường Năng lực này bao gồm: khả năng lãnh đạo, khả năng ra quyết định và khó khăn về chuyên môn Nhà quản trị có tầm nhìn, có thể hoạch định chiến lược đúng đắn có thể mang lại thành công cho doanh nghiệp trong một thời gian dài
- Chi ến lược kinh doanh
Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp, mặt khác các khách hàng thường có nhu cầu khác nhau Việc phát triển và giữ chân khách hàng đỏi hỏi doanh nghiệp phải có
những chiến lược riêng cho từng nhóm khách hàng, với chiến lược hợp lý cho
từng phân khúc, từng nhóm khách hàng có thể tạo sự ổn định cho doanh nghiệp
về sản xuất kinh doanh cũng như về tài chính
- Công ngh ệ sản xuất
Công nghệ sản suất bao gồm phương thức, máy móc, thiết bị tiên tiến,
hiện đại cũng như trình độ bố trí, tổ chức sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm tốt,
Trang 25có tính đồng đều cao cũng như tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Khi đó các chỉ số tài chính của doanh nghiệp sẽ tốt hơn và thương hiệu của sản phẩm, của doanh nghiệp sẽ được củng
cố và mạnh hơn
- Trình độ lao động
Bên cạnh việc bố trí sử dụng công nghệ hiện đại hợp lý, thì một vấn đề quyết định khác có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất là yếu tố con người với trình độ lao động phù hợp Để tận dụng được công nghệ hiện đại trước hết doanh nghiệp cần có đội ngũ công nhân viên có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới Đề làm được điều này, ngoài công tác tuyển dụng
hợp lý, doanh nghiệp cần thường xuyên đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động Kết hợp giữa yếu tố công nghệ hiện đại với con người có trình độ được đào tạo, sẽ gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp
- Hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp chi phối đến việc tổ chức, huy động
vốn, quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Với một công ty TNHH thì
vốn được hình thành giới hạn trong các thành viên và lợi nhuận do các thành viên góp vốn hưởng Tương tự như vậy đối với một công ty cổ phần, vốn được hình thành từ các cổ đông và có thể huy động vốn rộng rãi thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đồng nghĩa với việc lợi nhuận các cổ đông được hưởng trên cơ sở cổ tức được chia hàng kỳ,…
Trang 261.2 Phân tích tài chính doanh nghi ệp
1.2.1 Khái niệm, vai trò củaphân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái ni ệm
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp và công
cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay dự báo tình hình tài chính doanh nghiệp trong tương lai qua đó đánh giá khả năng và triển vọng của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định của quản lý phù hợp
1.2.1.2 Vai trò c ủa phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng quan tâm và sử dụng thông qua kinh tế, tài chính của doanh nghiệp ngày càng nhiều, mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ với mục tiêu khác nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích hoạt động tài chính phải được tiến hành
bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng đối tượng Điều đó, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích hoạt động tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển; mặt khác, cũng tạo ra sự phức
tạp trong nội dung và phương pháp phân tích hoạt động tài chính
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau Vì vậy, phân tích hoạt động tài chính đối với
mỗi đối tượng sẽ đáp ứng các mục tiêu khác nhau và có vai trò khác nhau:
a)Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ
nhất tài chính doanh nghiệp, do đó họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý đạt được những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động doanh nghiệp …
Trang 27- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với thực tế
của doanh nghiệp, như quyết định đầu tư, tài trợ chính xác, phân phối lợi nhuận …
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
- Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính nói riêng mà còn làm rõ các chính sách nói chung trong doanh nghiệp
b) Đối với các nhà đầu tư trực tiếp
Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp
quản lý sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro Đó là những cổ đông các
cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác Các đối tượng này quan tâm trực
tiếp đến những giá trị tính toán về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia và thăng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này
phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Trong thực
tế các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Câu hỏi chủ yếu phải làm rõ là: tiền lời bình quân cổ phiếu của doanh nghiệp là bao nhiêu Các nhà đầu tư thường không hài lòng trước món lời được tính toán trên sổ sách kế toán và cho rằng món lời này chênh lệch rất xa so với món lời trên thực tế
Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyên nghiệp trung gian (chuyên gia phân tích tài chính) nghiên cứu các thông tin kinh tế, tài chính, có
những cuộc tiếp xúc trực tiếp với ban quản lý doanh nghiệp, làm rõ việc phát triển của doanh nghiệp và đánh giá giá trị các cổ phiếu trên thị trường tài chính
Phân tích hoạt động tài chính đối với các nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa và việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh…
c) Đối với các nhà đầu tư tín dụng
Trang 28Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng như cầu vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh Khi cho vay, họ
phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay, thu nhập của họ và lãi suất tiền cho vay Do đó phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định
khả năng hoàn trả nợ của khác hàng Tuy nhiên, phân tích đối với những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau
- Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, nhà cung cấp tín dụng ngắn
hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp Nói khác đi là khả năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn
- Đối với các khoản cho vay dài hạn, nhà cung cấp tín dụng dài hạn
phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi tùy thuộc vào khả năng sinh lời này
d )Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp
Người hưởng lương trong doanh nghiệp là người lao động của doanh nghiệp, có nguồn thu nhập chính từ tiền lương được trả Bên cạnh thu nhập từ
tiền lương, một số lao động còn có một phận góp vốn nhất định trong doanh nghiệp Vì vậy, ngoài phần thu nhập từ tiền lương được trả họ còn có tiền lời được chia Cả hai khoản thu nhập này phụ thuộc và kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tình hình doanh nghiệp giúp
họ định hướng việc làm ổn định và yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công
e) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước
Thông qua phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các cơ quan
quản lý đánh giá và kiểm soát được tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên
cơ sở đó có thể đề ra các cơ chế chính sách, giải pháp tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng tích lũy cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc dân
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh
Trang 29giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và
chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù
hợp với mục đích mà họ quan tâm
1.2.2.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính c ủa doanh nghiệp
a) Phân tích b ảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài sản
và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Phân tích ph ần tài sản: Thực chất nhằm đánh giá quy mô sự biến động
tài sản của doanh nghiệp Mục đích nhằm để trả lời các câu hỏi: Hoạt động đầu
tư của doanh nghiệp chủ yếu vào lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh hay
hoạt động tài chính? Đầu tư ngắn hạn hay dài hạn là chủ yếu? Cơ cấu đầu tư có
hợp lý không? Mức độ tăng trưởng đầu tư các loại tài sản? Trên cơ sở đó đề xuất
những kiến nghị giúp doanh nghiệp có chính sách đầu tư hợp lý, hiệu quả hơn
nữa Để đánh giá tình hình đầu tư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: + Chỉ tiêu về quy mô và sự biến động tài sản giữa các kỳ cả số tuyệt đối
và số tương đối Qua đó thấy được quy mô tài sản của doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh; cũng thông qua sự biến động về tài sản mà ta thấy được sự biến động về mức độ đầu tư cho hoạt động kinh doanh, cho từng lĩnh
vực và cho từng loại tài sản có hợp lý không?
+ Chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và sự biến động cơ cấu tài sản, thông qua việc đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản ở các kỳ, ta thấy được được chính sách đầu
tư, đồng thời thông qua sự biến động về cơ cấu tài sản mà thấy được sự thay đổi chính sách đầu tư của doanh nghiệp kỳ
- Phân tích ph ần nguồn vốn: Thực chất nhằm đánh giá quy mô sự biến
động nguồn của doanh nghiệp Mục đích nhằm để trả lời các câu hỏi: nguồn vốn huy động để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp chủ yếu vào nguồn nào (nguồn vay hay vốn chủ sở hữu)? Cơ cấu nguồn vốn có hợp lý không? Mức độ tăng trưởng của các loại nguồn vốn? Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị giúp
Trang 30doanh nghiệp có chính sách tìm ngồn tài trợ hợp lý, hiệu quả hơn nữa Để đánh giá tình hình huy động vốn, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu về quy mô và sự biến động nguồn vốn giữa các kỳ cả số tuyệt đối và số tương đối
+ Chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn và sự biến động cơ cấu nguồn vốn, thông qua việc đánh giá tỷ trọng từng loại nguồn vốn ở các kỳ; qua đó thấy được quy
mô huy động vốn của từng nguồn có hợp lý không?
b) Phân tích báo cáo k ết quả hoạt động kinh doanh
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển tiền trong quá tŕnh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng tiềm năng về vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
c) Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một phần quan trọng trong báo cáo hàng năm, phản ánh tác động của các hoạt động của doanh nghiệp đến dòng tiền vào
và ra trong một kỳ kế toán Nói cách khác, đây là báo cáo thu chi ngân quỹ trong một kỳ kế toán, nó cho biết vị thế tiền mặt của doanh nghiệp thể hiện qua lượng tiền huy động và sử dụng trong các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó cho biết
số dư tiền mặt cuối kỳ, giúp trả lời một số câu hỏi quan trọng như:
- Doanh nghiệp có lâm vào tình trạng thiếu hụt ngân quỹ dẫn tới việc phải huy động thêm các nguồn vốn để duy trì hoạt động kinh doanh và đầu tư hay không?
Trang 31- Doanh nghiệp có tạo ra đủ lượng tiền mặt cần thiết để mua sắm thêm tài sản phục vụ tăng trưởng hay không?
- Doanh nghiệp có dư thừa tiền mặt để thanh toán nợ, mua lại cổ phiếu hoặc đầu tư phát triển sản phẩm mới hay không ?
- Các nguyên nhân nào đưa doanh nghiệp đến tình trạng trên? Các hoạt động thu chi ngân quỹ trong kỳ diễn ra như thế nào và có hợp lý hay không? Các dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ được chia thành 3 loại:
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: đây là các lưu chuyển phát sinh hoặc liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ theo chức năng của doanh nghiệp Chúng ta cũng có thể coi đây là các hoạt động sinh lời trên cơ sở chuyên môn nghiệp vụ của doanh nghiệp
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: đây là các lưu chuyển nảy sinh từ
việc góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác, cũng như việc mua bán tài sản cố định (như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết
bị)
+ Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: thuộc về nhóm này gồm có các lưu chuyển phát sinh do việc huy động vốn như phát hành trái phiếu, vay ngân hàng, thanh toán nợ và lãi vay, phát hành hoặc mua lại cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu đại chúng, chi trả cổ tức
Các báo cáo tài chính tập hợp lại cho biết khái quát vị thế tài chính của doanh nghiệp tại từng thời điểm hoặc trong một kỳ hoạt động Tuy nhiên, để có
thể hiểu rõ hơn hiệu quả hoạt động tài chính và đánh giá đúng sức mạnh và giá
trị của doanh nghiệp người ta cần phải tiến hành phân tích các chỉ số tài chính
1.2.2.2 Phân tích các ch ỉ số phản ánh an toàn tài chính
Việc phân tích này nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không và do những nhân tố nào tác động? Nguyên nhân
của những tác động đó? Bao gồm các nội dung như sau:
a) Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn
Việc phân tích này cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không? Tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ
Trang 32một cách vững chắc bằng nguồn vốn chủ sở hữu hay bằng nợ dài hạn hay không?
Theo nguyên tắc quản lý tài chính, mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn để tình hình tài chính của doanh nghiệp an toàn là: tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn (nợ ngắn hạn + vay ngắn hạn); tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn (vay dài hạn + nguồn vốn chủ sở
hữu)
b) Phân tích các ch ỉ số thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông qua phân tích
khả năng thanh toán có thể đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Để phân tích khả năng thanh toán, ta sử dụng các chỉ số sau đây:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành;
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh;
- Hệ số công nợ;
- Hệ số thanh toán lãi vay
1.2.2.3 Phân tích các ch ỉ số phản ánh hiệu quả tài chính
a) Phân tích ch ỉ số tổng quát phản ánh hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Phân tích chỉ số tổng quát phản ánh hiệu quả tài chính doanh nghiệp nhằm
mục đích trả lời câu hỏi: tình hình tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả hay không?
Để trả lời câu hỏi: tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả không? Chúng
ta tiến hành tính toán chỉ số tổng quát phản ánh hiệu quả tài chính doanh nghiệp
là sức sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu (ROE); tiếp đó so sánh chỉ tiêu tính toán
giữa các kỳ nếu kỳ sau cao hơn kỳ trước thì kết luận kỳ sau hiệu quả hơn (hoặc ngược lại); so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nếu cao hơn thì kết luận
hiệu quả (hoặc ngược lại)
b) Phân tích m ức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu thành phần đến chỉ số
hi ệu quả tổng quát
Trang 33Chỉ số tổng quát phản ánh hiệu quả của tài chính doanh nghiệp là sức sinh
lời nguồn vốn chủ sở hữu (ROE) được xác định như sau:
Lãi ròng Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ ROE = x x
Doanh thu thuần Tổng tài sản BQ Vốn CSH BQ
Như vậy ROE chịu tác động của 3 chỉ tiêu thành phần:
ROE = ROS x Năng suất tổng tài sản x Nghịch đảo hệ số tự tài trợ
Mục đích phân tích là để trả lời câu hỏi: ROE tăng hay giảm giữa các kỳ
là do chỉ tiêu nào chi phối? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta tiến hành tính toán các chỉ tiêu thành phần và so sánh giữa các kỳ nếu chỉ tiêu nào tăng thì tốt, chỉ tiêu nào giảm là xấu; trong trường hợp các chỉ tiêu đều tăng (hoặc giảm) thì chỉ tiêu nào tăng nhiều nhất (hoặc giảm ít nhất) là tốt và ngược lại
c) Phân tích các nhân t ố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thành phần
- Phân tích các nhân t ố ảnh hưởng đến chỉ tiêu sức sinh lợi doanh thu (ROS)
Thực chất là phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; thông qua báo cáo kết quả kinh doanh, ta biết được tổng doanh thu và doanh thu thuần của doanh nghiệp qua các năm biến động ra sao, chỉ tiêu doanh thu thuần tăng hay giảm, việc giảm doanh thu thuần là do hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán tăng hay do các khoản chiết khấu thanh toán tăng lên Nếu doanh thu thuần giảm do hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán tăng thì doanh nghiệp
cần phải xem lại chất lượng sản phẩm của mình đã đảm bảo chưa, nếu do chiết
khấu thanh toán tăng thì xem xét tỷ lệ chiết khấu công ty đưa ra so với các đơn
vị cùng ngành có cao quá không? Nếu cao quá sẽ ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp
Thông qua báo cáo kết quả kinh doanh, ta biết được chi phí của doanh nghiệp tăng hay giảm ở khoản mục nào và lý do vì sao? Đồng thời cũng cho biết
lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt được từ các hoạt động trong năm và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng vào NSNN
- Phân tích các nhân t ố ảnh hưởng đến năng suất tổng tài sản
Trang 34Thực chất là phân tích sự biến động của tài sản; qua phân tích cho biết năng
suất tổng tài sản tăng hay giảm do thành phần tài sản ngắn hạn hay tài sản dài
hạn và nguyên nhân vì sao?
Năng suất sử dụng của tổng tài sản được chi phối bởi năng suất của từng thành phần tài sản
+ Năng suất tài sản dài hạn cao phản ánh tình hình giá trị tài sản dài hạn chuyển dịch nhanh vào giá trị sản phẩm, sớm hoàn thành kỳ luân chuyển vốn
Nếu tỷ số này thấp chứng tỏ việc đầu tư tài sản cố định không hợp lý, vốn ứ đọng
+ Năng suất tài sản ngắn hạn cao phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp đã tạo ra mức doanh thu cao và ngược lại Tài sản ngắn hạn gồm nhiều thành phần:
Phân tích những thay đổi của tài sản ngắn hạn cho thấy những thay đổi về
dự trữ có liên quan đến quy mô sản xuất của doanh nghiệp Nếu quy mô sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mở rộng sẽ kéo theo sự tăng lên của dự trữ Khi mở rộng quy mô mà dự trữ không đủ sẽ không đảm bảo cho tính liên tục
của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên cũng có những trường
hợp đặc biệt, khi quy mô sản xuất tăng lên, dự trữ thấp nhưng vẫn đảm bảo phục
vụ tốt cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không thiếu hụt vật
tư, hàng hóa dẫn đến phải ngừng sản xuất thì lúc đó dự trữ thấp lại là có lợi cho doanh nghiệp Do đó đánh giá sự thay đổi của dự trữ ta cần phải xem xét kết cấu
của từng loại tài sản dự trữ, đánh giá xem loại nào thừa, loại nào cần thiết để đưa
ra biện pháp điều chỉnh cho phù hợp
Quy mô sản xuất tăng lên thì nợ phải thu không nhất thiết phải gia tăng
Việc gia tăng công nợ phải thu phụ thuộc chủ yếu vào chính sách thương mại nói chung và chính sách bán hàng của doanh nghiệp nói riêng Nhìn chung, nếu các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp thấp thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng
vốn Tuy nhiên nếu doanh nghiệp có một chính sách thương mại và chính sách giá hợp lý thì sẽ khuyến khích khách hàng trả tiền đúng thời hạn
Trang 35Những thay đổi về các khoản tiền của doanh nghiệp có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tiền của doanh nghiệp không chỉ bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng mà còn bao gồm các khoản tương đương tiền như trái phiếu, cổ phiếu, thương phiếu… Nói chung, doanh nghiệp không nên dự trữ một lượng tiền quá lớn vì như thế sẽ gây ứ đọng vốn, lãng phí vốn Doanh nghiệp chỉ nên dữ trữ một lượng tiền vừa đủ để thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như các chi phí phát sinh thường xuyên phải thanh toán bằng tiền mặt
Khi phân tích các chỉ tiêu này, cần lưu ý đến các lĩnh vực và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất,
tỷ trọng tài sản dài hạn thường lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp thương mại
Kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất cũng khác so với các doanh nghiệp thương mại, tỷ trọng tiền mặt của doanh nghiệp sản xuất thường thấp, trong khi đó dữ trữ và các khoản phải thu và bị chiếm dụng chiếm tỷ trọng rất cao Đối với các doanh nghiệp thương mại thì kết cấu của ba bộ phận tài sản
ngắn hạn này đồng đều hơn, tỷ trọng tiền mặt thường cao hơn, các khoản phải thu và bị chiếm dụng chiếm tỷ trọng thấp hơn
- Phân tích các nhân t ố ảnh hưởng tỷ số tự tài trợ
Thực chất là phân tích sự biến động của nguồn vốn; qua phân tích cho biết nguồn vốn tài trợ cho tài sản tăng hay giảm do thành phần nguồn vốn vay hay nguồn vốn chủ sở hữu và nguyên nhân vì sao?
Tổng tài sản BQ 1
Hệ số tài trợ = =
Nguồn vốn CSH BQ 1 – Hệ số nợ bình quân
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn
chủ sở hữu Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xác định sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cho phép chúng ta đánh giá sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp
1.2.3 Trình tự của quá trình phân tích tài chính
Trang 361.2.3 1 Thu thập thông tin
Thu thập thông tin từ mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng tình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch trong đó có
những thông tin nội bộ và những thông tin bên ngoài:
- Nguồn tài liệu bên trong doanh nghiệp: Theo chế độ kế toán doanh nghiệp
hiện hành (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính
hoặc Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 đối với năm tài chính bắt đầu sau ngày 01/01/2015), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:
+ Bảng cân đối kế toán ( Mẫu số B01 – DN)
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ( Mấu số B02 – DN)
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( Mẫu số B03 – DN)
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính ( Mẫu số B09 – DN)
- Nguồn tài liệu bên ngoài doanh nghiệp: các thông tin từ các yếu tố vĩ mô
có liên quan đến doanh nghiệp như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, chính trị, pháp luật, công nghệ, văn hóa dân cư và điều kiện tự nhiên; thông tin trong ngành như: đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng và khách hàng
1.2.2.2 Xử lý thông tin
Khi đã thu thập được các thông tin cần thiết sẽ tính toán và phân tích các thông tin ở những góc độ khác nhau phục vụ mục tiêu đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định
nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá và xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
a) L ựa chọn kỳ phân tích và chỉ tiêu dùng để phân tích
- Kỳ phân tích tài chính có thể sử dụng : 1 quý, 6 tháng hay 1 năm hoặc dài hơn một năm Thông thường để phân tích tài chính doanh nghiệp người ta
Trang 37thường sử dụng kỳ phân tích là 1 năm Để so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các
kỳ chúng ta sử dụng tài liệu từ 2 – 3 kỳ kế tiếp nhau
- Chỉ tiêu dùng để phân tích bao gồm các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp:
+ Nhóm các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính
+ Nhóm các chỉ tiêu an toàn tài chính
b) Lựa chọn phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, bao gồm hệ thống các công
cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình
hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các
chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn
diện thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp
so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài chính… kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định Tuy nhiên, trong phân tích TCDN người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp so sánh
So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định
mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Để áp dụng phương pháp so sánh cần chú ý các vấn đề sau đây:
- Điều kiện so sánh:
+ Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng;
+ Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thống nhất
về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường
Ngoài ra, trong trường hợp so sánh hai doanh nghiệp với nhau, ngoài các điều kiện nêu trên, thì cần đảm bảo điều kiện khác như cùng quy mô, loại hình
hoạt động, có điều kiện kinh doanh tương tự nhau
Trang 38độ phát triển của chỉ tiêu phân tích
+ Gốc so sánh có thể là số liệu của một doanh nghiệp hoặc có thể là số liệu trung bình của ngành khi đánh giá vị trí doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác
hoặc tổng thể một ngành
- K ỹ thuật so sánh
+ So sánh về số tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ tiêu phân tích với trị số của kỳ gốc Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu
+ So sánh số tương đối: Là xác định số % tăng (giảm) giữa thực tế so với
Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ phản ánh hiệu quả hoạt động,
tỷ lệ về cơ cấu vốn và nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời
* Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp này được sử dụng khi chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân
tố ảnh hưởng, thể hiện dưới dạng phương trình tích hoặc thương Nếu là phương
Trang 39trình tích thì các nhân tố được sắp xếp theo trình tự: cứ nhân tố số lượng đứng trước nhân tố chất lượng, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hay nhiều nhân
tố chất lượng thì nhân tố chủ yếu đứng trước nhân tố thứ yếu Khi đó để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, ta tiến hành lần lượt thay thế số kỳ gốc
của mỗi nhân tố bằng số thực tế của nhân tố đó (nhân tố nào đã được thay thế mang giá trị thực tế từ đó còn những nhân tố khác giữ nguyên ở kỳ gốc); sau
mỗi lần thay thế phải xác định được kết quả của lần thay thế ấy, chênh lệch giữa
kết quả đó với kết quả của lần thay thế ngay trước nó là ảnh hưởng của nhân tố
vừa thay thế
Trong quá trình thay thế liên hoàn, trình tự của các nhân tố không được đảo
lộn Tổng đại số của mức độ ảnh hưởng của các nhân tố phải đúng bằng đối tượng phân tích
1.2.2.3 Dự đoán và ra quyết định
Mục đích của việc phân tích thông tin tài chính chính là để phục vụ cho
việc dự đoán và ra quyết định Sau khi đã phân tích các thông tin tài chính thu
thập được, căn cứ vào kết quả của phân tích, người sử dụng thông tin sẽ đưa
ra những dự đoán theo các phương pháp khoa học, từ đó nhà quản trị có thể ra các quyết định chính xác, kịp thời phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
Trang 40- Phân tích tài tài chính doanh nghiệp: khái niệm, vai trò, trình tự và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Đây là những nội dung có ý nghĩa lý luận làm cơ sở để phân tích cụ thể, chi tiết và đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công
ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Vũng Áng ở các chương tiếp theo