1. Trang chủ
  2. » Vật lý

Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá lăng chấm (Hemibagrus guttatus Lacépède, 1803) nuôi thương phẩm

6 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 777,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này tập trung phân tích “Hiện trạng dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo Phú Quý – Bình Thuận” như phân tích hiện trạng cơ sở hạ tầng trên bờ và hiện trạng các mô hình dịch vụ hậ[r]

Trang 1

HIỆN TRẠNG DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ TRÊN ĐẢO PHÚ QUÝ,

BÌNH THUẬN

STATUS OF LOGISTICAL FISHERY IN PHU QUY ISLAND, BINH THUAN

Lại Huy Toản 1 , Nguyễn Đức Sĩ 2

Ngày nhận bài: 03/10/2014; Ngày phản biện thơng qua: 29/12/2015; Ngày duyệt đăng: 15/12/2016

TĨM TẮT

Bài báo này phân tích hiện trạng cơ sở hạ tầng và hiệu quả kinh tế của dịch vụ hậu cần nghề cá trên huyện đảo Phú Quý - Bình Thuận, nhằm đề xuất mơ hình khai thác - dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo cĩ hiệu quả, bám biển dài ngày Kết quả phân tích cho thấy hiện trạng đội tàu trên đảo trang bị cơng suất < 90 cv chiếm 80%, số lượng tàu khai thác ven bờ nhiều; Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá cĩ khả năng cung ứng trên đảo cịn hạn chế; Ở Phú Quý cĩ phương thứ c là: cung ứng trên biển bằng cá c tà u thu mua sản phẩm; phương thức hoạt động mơ hình dịch vụ hậu cần là dạng “tàu mẹ - tàu con”; Chất lượng bảo quản sản phẩm loại 1 của đội tàu mẹ (thu mua mực,cá) đạt cao; Lợi nhuận trung bình tàu mẹ (thu mua cá) đạt 781,22 (tr.đ/tàu/năm), tàu

mẹ (thu mua mực) đạt 639,68 (tr.đ/tàu/năm), tàu con lợi nhuận đạt 266,76 (tr.đ/tàu/năm), tàu con khơng tham gia mơ hình đạt là 106,22 (tr.đ/tàu/năm) Vậy mơ hình dịch vụ hậu cần dạng “tàu mẹ - tàu con” là phù hợp với nghề cá trên huyện đảo Phú Quý hiện nay.

Từ khĩa: Dịch vụ hậu cần nghề cá, đảo Phú Quý, tàu mẹ

ABSTRACT

This paper analyzed the social - economic status of logistical fi shery in Phu Quy island - Binh Thuan province, in order to provide some solutions for fi shing – logistical fi sheries model on island to high effi ciency, lasting duration in the sea The analysis results showed that the engine boats at less than 90 cv were counting for 80%, and many of them were inshore fi shing vessels The system of logistical fi sheries was limited on the island; Phu Quy island was applying the model of supplying services on the sea by product-purchase vessels operated as “mother boat – fi shing boats” Quality of products were achieved highly on mother boat, average profi t of mother boat (fi sh purchase) was 781.22 (million/boat/year), mother boat (squid purchase) was 639.68 (million/boat/year), fi shing boat was 266.76 (million/boat/year) while the fi shing boat of traditional model was 106.22 (million/boat/year) Therefore, the model “mother boat – fi shing boats” was considered as suitable in

fi shery in Phu Quoc island.

Keywords: Logistical fi shery, Phu Quy island, mother fi shing boat

1 Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phịng

2 Viện Khoa học và Cơng nghệ Khai thác thủy sản – Trường Đại học Nha Trang

THÔNG BÁO KHOA HỌC

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay nghề cá của nước ta nói chung

và nghề cá ở huyện đảo Phú Quý nói riêng

đang phải đối mặt với tình trạng nguồn lợi

suy giảm, chi phí sản xuất ngày càng tăng,

việc tổ chức khai thác chưa gắn kết với nhau

dẫn đến hiệu quả kinh tế chuyến biển ngày

càng giảm

Đứng trước tình hình đó ngư dân ở một

số đ ịa phương đã hợp tác với nhau để thành

lập các mô hình dich vụ hậu cần với mục đích

là tăng hiệu quả khai thác, giảm thiểu rủi ro,

hỗ trợ nhau trong tìm kiếm ngư trường, giảm

chi phí sản xuất khi giá xăng dầu gia tăng Tuy

nhiên, số lượng tàu trong mô hình bao nhiêu

chiếc là phù hợp? Cơ cấu tổ chức như thế nào

thì chặt chẽ và có tính khoa học? Phương thức

hoạt động như thế nào là tốt?, đang là vấn đề

được nhiều ngư dân, các bộ, ngành và Trung

ương quan tâm nghiên cứu nhằm đưa ra được

mô hình tổ chức khai thác, dịch vụ hậu cần đạt

hiệu quả và bền vững

Bài báo này tập trung phân tích “Hiện trạng

dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo Phú Quý –

Bình Thuận” như phân tích hiện trạng cơ sở hạ

tầng trên bờ và hiện trạng các mô hình dịch vụ

hậu cần trên biển, nhằm đề xuất mô hình dịch

vụ hậu cần để đạt hiệu quả cao cho đội tàu

khai thác trên huyện đảo

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng số liệu thứ cấp: đang lưu giữ tại

các cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý

- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp:

bằng cách phỏng vấn thuyền trưởng/chủ tàu

về hiện trạng trên các tàu theo mẫu in sẵn tại

các bến cá của huyện đảo Phú Quý Số lượng

mẫu ước tính theo phương pháp ước lượng

mẫu của FAO (Constantine S, 2002) có độ

tin cậy 90 - 95 % như sau: tàu mẹ (thu mua

mực) là 21 mẫu; tàu mẹ (thu mua cá) là 5 mẫu;

tàu con (sản xuất) là 88 mẫu; tàu câu (không tham gia mô hình dịch vụ hậu cần trên biển) là

54 mẫu

- Đối tượng nghiên cứu: tàu dịch vụ hậu cần và tàu khai thác hải sản ở huyện đảo Phú Quý

- Đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội của dịch vụ hậu cần thông qua các tiêu chí như: mức độ tham gia của các thành phần kinh tế, mức thu nhập của thuyền viên và chủ tàu, chất lượng sản phẩm loại I (%), mức độ an toàn, an ninh trên biển của mô hình

2 Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excel để tính các chỉ số kinh tế Xử lý hiệu quả kinh tế được ước tính trung bình cho đơn vị 1 tàu:

- Lợi nhuận (Ln) [2]:

Trong đó: Ln: Lợi nhuận ròng (tr.đ/tàu/năm); DT: Tổng doanh thu (tr.đ/tàu/năm);

CP: Tổng chi phí biến đổi (tr.đ/tàu/năm).

- Khấu hao tài sản (V): Được tính bằng

10% tổng số vốn đầu tư (vỏ tàu, máy tàu, trang thiết bị hàng hải, …) [2]

- Chỉ số doanh lợi (DL): Là lợi nhuận ròng

thu được trên khấu hao tài sản của 1tàu [2]

- Lương lao động (L): Thu nhập bình quân

trên một lao động [2]

L = 50%Ln/số lượng LĐ (3) (50% tổng lợi nhuận là chủ tàu hưởng, 50% còn lại là các thuyền viên trên tàu hưởng [4])

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Hiện trạng dịch vụ hậu cần trên đảo

1.1 Cơ cấu tàu thuyền trên đảo

Theo số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận cho biết hiện trạng cơ cấu đội tàu trên huyện đảo Phú Quý thể hiện Bảng 1

Trang 3

Số lượng tàu có công suất từ 50 – 89 cv

với 52 chiếc chiếm 7,44%; tàu có công suất

từ 20 - 49cv có 506 chiếc chiếm 72,49%; tàu

có công suất từ > 90 cv có 140 chiếc chiếm

20,06% tổng số tàu thuyền của toàn huyện

Đội tàu có công suất < 50 cv chiếm 2/3 số

lượng tàu toàn huyện đảo, điều đó cho thấy

hiện trạng tàu khai thác ven đảo nhiều

1.2 Hệ thống dịch vụ hậu cần trên đảo

Huyện đảo Phú Quý có 1 cảng với diện tích mặt nước 65.000 m2, phục vụ cho 21 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên thu mua và chế biến hải sản xuất khẩu;

3 doanh nghiệp tư nhân chuyên sản xuất nước đá Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá có khả năng cung ứng trên đảo được thể hiện ở Bảng 2 [3]

Bảng 1 Phân loại theo công suất và nghề ở huyện đảo Phú Quý

Đơn vị: Chiếc

Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Bình Thuận

Bảng 2 Các dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo Phú Quý

Cung cấp nhiên

liệu (lít/ngày) Cung cấp nước đá (lít/ngày) Thu mua sản phẩm (tấn/ngày) Sửa chữa tàu thuyền (chiếc/ngày) Sửa chữa ngư cụ (chiếc/ngày) Khu neo đậu, tránh trú bão (chiếc)

Nguồn: Phòng Kinh tế - UBND huyện Phú Quý

Qua thống kê hệ thống dịch vụ hậu cần

nghề cá trên đảo ở bảng 2 cho thấy các dịch

vụ hậu cần vẫn còn nhiều hạn chế như: lượng

nước đá bảo quản sản phẩm còn thấp, khu

neo đậu trú bão chỉ được 31 % tổng số tàu trên

đảo tránh trú bão

Hiện nay, huyện đảo Phú Quý đang tồn

tại 2 phương thứ c hoạt động dịch vụ hậu cần

nghề cá là:

- Cung ứng (nhiên liệu, nước đá, lương

thực, nguyên vật liệu,…) và thu mua sản phẩm

trên đảo;

- Cung ứng (nhiên liệu, nước đá, lương

thực, nguyên vật liệu,…) và thu mua sản phẩm

trên biển

2 Hiện trạng dịch vụ hậu cần hoạt động trên biển

2.1 Hiện trạng đội tàu làm dịch vụ hậu cần

Qua điều tra cho thấy phương thức dịch vụ hậu cần hoạt động trên biển có quy mô dạng

mô hình dịch vụ hậu cần (tàu mẹ - tàu con) và hiện trang như sau:

Đội tàu mẹ (thu mua mực) được trang bị

hệ thống máy đông lạnh hiện đại, một chiếc tàu được đóng từ việc góp vốn cổ phần của (13 – 17) hộ ngư dân Đội tàu mẹ (thu mua cá) bảo quản sản phẩm bằng nước đá, một chiếc tàu được đóng từ việc góp vốn cổ phần của (9 - 13) hộ ngư dân

Đội tàu con (sản xuất) là những tàu làm nghề câu tay, nghề câu kiêm nghề lặn,

Trang 4

nghề câu kiêm mành mực, nghề chụp mực,

nghề vây ánh sáng,

Việc thu mua, cung ứng giữa tàu mẹ và tàu

con thường được thỏa thuận với nhau bằng

miệng hoặc bằng biên bản ghi nhớ nhưng

hoàn toàn không ràng buộc bằng pháp luật [1]

Trước khi xuất phát và trong quá trình hành

trình ra ngư trường tàu mẹ phải thường xuyên

liên lạc với các tàu con để nắm được vị trí khai

thác của các tàu con ở đâu để có kế hoạch thu

mua và cung ứng phù hợp Giá thu mua trên

biển thấp hơn so với giá thu mua của chủ nậu/

vựa ở bờ khoảng 10 - 15% (tùy thuộc vào loại

sản phẩm và khoảng cách giữa tàu mẹ và tàu

con) Quá trình cung ứng được thực hiện song

song với quá trình thu mua sản phẩm Mỗi lần

tàu mẹ cung cấp tối đa cho một tàu con khoảng

30 - 50 cây nước đá Số lượng dầu diesel tàu con lấy từ tàu mẹ bằng số lượng tàu con đã báo cho tàu mẹ qua máy thông tin đường dài, giá nguyên, nhiên vật liệu bằng giá bán ở bờ Các tàu thuyền khi hoạt động mô hình dịch

vụ hậu cần trên biển thì mức độ an toàn, an ninh trên biển cao bởi vì: Tàu mẹ sẽ thường xuyên liên lạc và nắm bắt chính xác vị trí của các tàu con, và thường xuyên hoạt động ở gần khu vực đó Khi gặp sự cố như hỏng máy, trang thiết bị hàng hải, trang thiết bị khai thác, ngư lưới cụ… tàu mẹ sẽ tiếp cận để cứu nạn, cứu hộ kịp thời

Cơ cấu các tàu trong mô hình dịch vụ hậu cần trên biển được thể hiện Bảng 3

Bảng 3 Bảng mô tả một mô hình dịch vụ hậu cần trên biển ở huyện đảo Phú Quý

TT Đội tàu dịch vụ hậu cần Số lượng (chiếc) Số lượng tàu mẹ (tàu/1 mô hình) Số lượng tàu con (tàu/1 mô hình) Tổng số vốn đầu tư 1 mô hình (tỷ đồng)

Kết quả điều tra cho thấy: đội tàu dịch vụ

hậu cần (thu mua mực) có 84 chiếc tàu trang bị

hệ thống hầm cấp đông hiện đại Một mô hình

dịch vụ hậu cần (thu mua mực) có vốn đầu tư

từ 5,98 - 7,73 (tỷ đồng) Đội tàu dịch vụ hậu

cần (thu mua cá) có 15 chiếc, một mô hình đội

tàu dịch vụ hậu cần (thu mua cá) có vốn đầu tư

ít hơn là 2,93 - 4,06 (tỷ đồng)

Một tàu mẹ được trang bị hệ thống cấp

đông thì mỗi chuyến biển hoạt động kéo dài từ

20 - 25 ngày, có thể thu mua được 10 - 20 tấn hải sản luôn giữ được chất lượng sản phẩm tốt

2.2 Thông số cơ bản của đội tàu tham gia mô hình dịch vụ hậu cần

Mẫu vỏ tàu của các tàu mẹ (thu mua) đóng hoàn toàn khác so với đội tàu con (sản xuất), vật liệu vỏ tàu đóng là bằng gỗ Thông số cơ bản trung bình của vỏ tàu dịch vụ hậu cần và tàu khai thác hải sản trên đảo được thể hiện Bảng 4

Bảng 4 Kích thước và thông số cơ bản vỏ của đội tàu

Loại trong mô hình Số tàu khảo sát (chiếc) Kích thước vỏ LxBxH (m) Trọng tài (tấn) Công suất (CV) Số thủy thủ (người)

L là chiều dài tàu; B là chiều rộng tàu; H là độ cao nạn tàu

Kết quả cho thấy 35% số tàu được hỏi cho

rằng kích thước vỏ tàu như hiện nay còn nhỏ,

khả năng vươn khơi còn hạn chế; có 65,25%

số tàu cho rằng máy tàu đã qua sử dụng Kết

quả điều tra có 100% đội tàu dịch vụ hậu cần

trang bị máy định vị, la bàn, đàm thoại tầm

trung và tầm xa

2.3 Hoạt động của đội tàu tham gia mô hình dịch vụ hậu cần

Kết quả điều tra cho thấy: có 25% tàu mẹ bảo quản sản phẩm theo truyền thống là bằng nước đá 75% tàu mẹ trang bị hệ thống hầm cấp đông nhằm bảo quản sản phẩm được lâu ngày trên biển Tình hình hoạt động của tàu dịch vụ hậu cần được thể hiện ở Bảng 5

Trang 5

Bảng 5 Tình hình hoạt động của các tàu

Loại trong mô hình động (tháng) Ngư trường Mùa vụ hoat TB ngày/chuyến của tàu con

(ngày)

TB ngày/ chuyến của tàu mẹ (ngày)

TB TG sang SP (giờ)

TB lượng dầu tiêu thụ (lít/ngày)

Chất lượng bảo quản SP loại I (%)

TB: trung bình; TG: thời gian; SP: sản phẩm; MT: Miền Trung; ĐNB: Đông Nam Bộ

Qua điều tra thể hiện ở bảng 5 nhận thấy:

Đội tàu mẹ (thu mua cá) số ngày thu mua/

chuyến trung bình là 4,66 (ngày/chuyến), đội

tàu mẹ (thu mua mực) là 19,63 (ngày/chuyến)

Thời gian sang sản phẩm cá từ tàu con (sản

xuất) sang tàu mẹ dài hơn thời gian sang mực

Đội tàu mẹ (thu mua cá) tiêu thụ dầu trung bình

là 216,66 (lít/ngày), đội tàu mẹ (thu mua mực)

tiêu thụ 897,72 (lít/ngày) Khoảng cách đội tàu

mẹ (thu mua cá) với tàu con là 3,33 (hải lý),

khoảng cách giữa đội tàu mẹ (thu mua mực)

và đội tàu con là 1,93 (hải lý) Chất lượng bảo

quản sản phẩm loại 1 của đội tàu mẹ (thu mua

mực) đạt cao nhất 68 (%); đội tàu mẹ (thu mua

cá) đạt 40 (%); đội tàu con đạt 57 (%); So sánh

chất lượng sản phẩm với các đội tàu không tham gia mô hình cho thấy các tàu tham gia

mô hình đạt cao hơn các tàu không tham gia

mô hình như: nghề câu đạt 10 (%); nghề lặn đạt 30 (%) [4]

2.4 Hiệu quả kinh tế của đội tàu trên đảo trong một tháng

Hình thức trả lương cho thủy thủ trên tàu

mẹ là: trả lương từng tháng, người có kinh nghiệm từ 2,5 – 4,5 (triệu đồng/tháng), người

có ít kinh nghiệm từ 1,5 – 2,5 (triệu đồng/ tháng) Hình thức trả lương cho thủy thủ trên tàu con ăn chia theo lợi nhuận Hiệu quả kinh

tế của tàu như Bảng 6

Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của các tàu trong một chuyến

Loại trong mô hình Số tàu KS

(chiếc)

TB chuyến biển/năm

Số thủy thủ/tàu (người)

SL thu mua hoặc KT (kg/ngày/tàu)

D/chuyến (Tr.đ) chuyến (Tr.đ) C biến đổi/

TB Ln/ chuyến (Tr.đ)

KS: khảo sát; TB: trung bình; SL: sản lượng; KT: khai thác; D: Doanh thu; C: Chi phí; Ln: lợi nhuận; Tr.đ: triệu đồng; TGMH: tham gia mô hình

Kết quả điều tra bảng 6 cho thấy lợi nhuận

trung bình trên một chuyến biển của đội tàu mẹ

(thu mua mực) là lớn nhất đạt 79,95 (tr.đ/chuyến/

tàu) Đội tàu con (sản xuất) lợi nhuận trung bình

đạt thấp nhất là 7,41 (tr.đ/chuyến/tàu)

2.5 Chỉ số kinh tế của tàu tham gia mô hình trong một năm

Kết quả tính toán các chỉ số về hiệu quả kinh tế của các đội tàu mô hình dịch vụ hậu cần được thể hiện ở Bảng 7

Bảng 7 Các chỉ số hiệu quả kinh tế của các đội tàu dịch vụ hậu cần trong năm

V: khấu hao tài sản; D: doanh thu; C: chi phí; Ln: lợi nhuận; L: lương lao động; DL: chỉ số doanh lợi; TGMH: tham gia mô hình

Trang 6

Qua kết quả điều tra ở bảng 7 cho thấy, lợi

nhuận trung bình của một tàu trong một năm

đội tàu mẹ (thu mua cá) đạt cao nhất đạt 781,22

(tr.đ/tàu/năm) Nhưng đội tàu con (sản xuất) có

mức lương đạt cao nhất là 33,30 (tr.đ/người/

năm); đội tàu có mức lương lao động thấp nhất

là đội tàu mẹ (thu mua mực) đạt 21,36 (tr.đ/

người/năm) Doanh lợi đội tàu mẹ (thu mua cá)

đạt cao nhất là 11,71 (tr.đ/tàu/năm) là do vốn

đầu tư của đội tàu này thấp Tuy nhiên, so sánh

tàu con tham gia trong mô hình với tàu sản xuất

không tham gia mô hình cho thấy như sau:

doanh lợi tàu con tham gia mô hình cao hơn tàu

không tham gia mô hình 3,7 lần [4]

Vậy đội tàu tham gia mô hình dịch vụ hậu

cần dạng tàu mẹ - tàu con trên huyện đảo Phú

Quý mang lại lợi nhuận và chất lượng bảo quản

sản phẩm cao hơn các tàu không tham gia mô

hình Ngoài ra, các tàu tham gia mô hình trong

quá trình đánh bắt trên biển dễ dàng hỗ trợ nhau

tìm kiếm ngư trường và khi gặp sự cố trên biển

Căn cứ vào kích thước vỏ tàu, máy tàu,

trang thiết bị, chất lượng bảo quản sản phẩm,

hiệu quả kinh tế, hỗ trợ tìm kiếm ngư trường và

phòng nạn của các tàu khai thác hải sản trên

Chúng tôi đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần

nghề cá trên huyện đảo Phú Quý như sau: mô

hình dịch vụ hậu cần là mô hình dạng (tàu mẹ

- tàu con), gồm 1 tàu mẹ có kích thước vỏ tàu

(20,6 x 5,8 x 2,6 m), trong tải từ 25 – 50 (tấn/tàu),

công suất máy tàu 245 – 385 (cv/tàu); trang

bị hầm cấp đông chứa sản phẩm được từ

15 – 30 (tấn/tàu), trang bị máy điện hàng hải Một tàu mẹ sẽ mua từ 10 – 15 tàu con có kích thước vỏ tàu là (11,80 x 3,60 x 1,30 m), trong tải từ 10 - 15 (tấn/tàu); công suất máy tàu

là 103 (cv/tàu); trang bị máy móc phục vụ khai thác và máy điện hàng hải

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá trên đảo còn nhiều hạn chế Tồn tại 2 phương thức hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá trên bờ/đảo và trên biển

- Hiệu quả kinh tế của các tàu tham gia mô hình dịch vụ trên biển là: Lợi nhuận của tàu mẹ (thu mua mực) trong một chuyến biển đạt cao nhất là 79,95 (trđ/tàu/chuyến) Doanh lợi tàu con tham gia mô hình cao hơn tàu không tham gia mô hình 3,7 lần

- Chất lượng sản phẩm của các tàu tham gia mô hình dịch vụ hậu cần trên biển đạt cao; mức độ an toàn, an ninh trên biển cao; dễ dàng

hỗ trợ nhau trong việc tìm kiếm ngư trường

- Đề xuất mô hình dịch vụ hậu cần nghề

cá trên biển phù hợp mang lại hiệu quả cao

là dạng mô hình dịch vụ hậu cần (tàu mẹ - tàu con), 1 tàu mẹ và 10 – 15 tàu con

- Cần có cơ chế để ràng buộc giữa các tàu

mẹ với các tàu con để gắn kết giữa các tàu được bền vững là bằng hợp đồng kinh tế

- Cần tiếp tục nghiên cứu và xây dựng thí điểm một mô hình hoạt động hiệu quả vào nghề cá nước ta nói chung và nghề cá huyện đảo Phú Quý nói riêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Đình, 2010 Dịch vụ biển của tư nhân Phú Quý Báo Sài Gòn tiếp thị

2 Vũ Duyên Hả i, 2008 Đá nh giá trì nh độ công nghệ khai thá c hả i sả n xa bờ Trung tâm Khuyế n nông - Khuyế n ngư quố c gia, Hà Nội

3 Nguyễn Phi Toàn, 2014 Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ miền Trung Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng

4 Lại Huy Toản, 2012 Báo cáo chuyên đề “Hiện trạng các mô hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên các đảo khu vực miền Trung” Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng

Ngày đăng: 27/02/2021, 19:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm