1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ bản tại công ty điện lực i

107 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện thực hiện các giải pháp của ngành điện trong việc nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ bản... Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

CÔNG TY ĐIỆN LỰC I

MÃ SỐ:

NGUYỄN HOÀI NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ THU HÀ

HÀ NỘI 2007

Trang 2

1.3 Đặc điểm XDCB trong Công ty điện lực – Doanh nghiệp kinh

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác XDCB 24 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác XDCB 39 1.6 Các phương hướng để nâng cao hiệu quả công tác XDCB 43

1

Chương 2 – PHÂN TÍCH CÔNG TÁC XDCB TẠI CÔNG TY

1

2.1 Khái quát một số nét lớn về tình hình đầu tư và kết quả đầu

tư XDCB của Công ty Điện lực 1 trong thời gian qua 46

Trang 3

2.2.6 Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong công tác đền bù, giải

Chương 3 - GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CễNG TÁC

3.2.2 Xiết chặt kỷ cương thực hiện nghiờm ngặt trỡnh tự đầu tư XDCB 84 3.2.3 Làm tốt cụng tỏc chỉ định thầu và đấu thầu 85 3.2.4 Đẩy mạnh cụng tỏc tổ chức quản lý thực hiện đầu tư, tăng

cường cụng tỏc kiểm tra chất lượng cụng trỡnh 86 3.2.5 Phỏt huy vai trũ của bộ mỏy Ban quản lý dự ỏn… 88 3.2.6 Đẩy nhanh cụng tỏc giải ngõn vốn đầu tư XDCB và cụng tỏc

3.2.7 Nõng cao chất lượng, trỡnh độ nguồn nhõn lực 94 3.2.8 Đẩy mạnh cụng tỏc cổ phần hoỏ cỏc đơn vị trực thuộc 95

4

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp của ngành điện trong việc

nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ bản

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐT Báo cáo đầu tư

BCNCKT Báo cáo nghiên cứu khả thi

CBĐT Chuẩn bị đầu tư

ĐL Điện lực

Đơn vị quản

lý A Đơn vị được chủ đầu tư giao quản lý dự án

ĐTPT Đầu tư phát triển

ĐTXD Đầu tư xây dựng

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Dự kiến vốn đầu tư ngành điện giai đoạn 2002 -2020 16 Bảng 1.2 Dự kiến vốn đầu tư EVN giai đoạn 2002 -2020 17 Bảng 2.1 Nguồn vốn do Công ty ĐL1 huy động cho ĐTXD các năm 56 Bảng 2.2 Cân đối nguồn vốn Kế hoạch ĐTXD Công ty ĐL 1 58 Bảng 2.3 Tổng công suất đặt các nguồn điện 59 Bảng 2.4 Các nguồn điện trong hệ thống điện đến cuối năm 2005 60 Bảng 2.5 Lưới điện truyền tải do các công ty truyền tải điện quản

63

Bảng 2.6 5ĐTXD từ 2002 đến 2005 tại các Công ty ĐL miền 64 Bảng 2.7 Kết quả thực hiện Thương phẩm các Cty ĐL miền từ

Trang 6

D ANH MỤC CÁC HèNH VẼ

Hình 1.2 Sơ đồ giai đoạn thực hiện đầu tư 35 Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Tổng Công ty Điện lực Việt Nam 50 Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức Công ty Điện lực 1 52

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Công tác xây dựng cơ bản trong thời gian qua đã gặt hái được những thành công to lớn, đất nước ngày một thay da đổi thịt, cuộc sống ngày càng tốt

đẹp hơn, cơ sở vật chất do các thành tựu kinh tế mang lại trong đó có sự đóng góp của công tác xây dựng cơ bản là điều không thể phủ nhận Song trong những thành công mà cả nước đạt được còn có những vấn đề hiện nay trở thành những điểm nóng gây bức xúc cho xã hội và dư luận đó là tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Công ty Điện lực 1 là một doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh điện năng - một ngành được coi là hạ tầng cơ sở, tạo đà phát triển cho nền kinh tế Hơn thế nữa, với địa bàn quản lý rộng lớn trải dài trên 25 tỉnh thành phía Bắc có nhiều vùng dân cư thưa thớt, điều kiện kinh doanh khó khăn thì để đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục ổn định với chất lượng ngày càng cao, đồng thời lại phải đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thì phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Thời gian qua, nhiều vụ việc liên quan đến lãng phí, tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin, báo chí, truyền hình làm cho nhiều người quan tâm theo dõi với những băn khoăn suy nghĩ khác nhau: trong đầu tư xây dựng thất thoát là bao nhiêu, có phải đến 20-30% giá trị đầu tư bị thất thoát như dư luận lâu nay; những công trình, dự án được thanh tra kiểm tra đều phát hiện lãng phí thất thoát hàng ngàn tỷ đồng; còn trên 80% dự án chưa thanh tra kiểm tra thì có hay không có thất thoát Không chỉ dư luận xã hội quan tâm đến vấn đề nâng cao hiệu quả

đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng hiện nay, mà

sự quan tâm này đã là ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm

Trang 8

qua, là vấn đề nóng bỏng luôn được nêu ra trong các kỳ Đại hội của Đảng và Chính phủ

Để đẩy lùi tình trạng thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản, Đảng và Nhà nước cũng đã sử dụng nhiều giải pháp, công cụ, chính sách nhằm ngăn chặn vấn nạn này Mặc dù những nỗ lực chỉ đạo đó là rất to lớn và đáng ghi nhận nhưng đây vẫn thực sự là một khâu còn nhiều hạn chế và bất cập trong quản lý Nhà nước của Chính phủ và chính quyền các cấp

Trên thực tế, việc thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là có thật và nghiêm trọng, nó xảy ra trong mọi khâu của quá trình xây dựng, từ quy hoạch, thiết kế, đấu thầu, thi công, thanh toán và xảy ra ở các cấp, các ngành với nhiều nguyên nhân phức tạp

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản và các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm chống thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản hiện nay là mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1“ sẽ góp phần tìm ra những giải

pháp khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB Nhà nước mà

cụ thể là của Công ty Điện lực 1 nói riêng cũng như lĩnh vực XDCB nói chung

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục đích cơ bản sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xây dựng cơ bản trong ngành điện

- Phân tích công tác xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1

Trang 9

- Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các dạng thất thoát, lãng phí trong dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tình hình đầu tư XDCB của Công ty

Điện lực 1 Kết quả, tồn tại và đề xuất khắc phục

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa những lý luận chung và trên cơ sở những số liệu cụ thể của Công ty Điện lực 1 về tình hình đầu tư XDCB từ nguồn vốn Nhà nước qua đó thấy hiện trạng đạt được, chưa đạt được biểu hiện ở từng khâu đầu tư XDCB Từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB nhằm đẩy lùi và ngăn ngừa tình trạng này trong giai đoạn hiện nay và phát triển môi trường đầu tư xây dựng lành mạnh về sau

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Trang 10

Trong quá trình thực hiện, tuy đã nỗ lực cố gắng song do kiến thức, khả năng

và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế vì vậy những kết quả đạt được mới chỉ là bước

đầu do đó không tránh khỏi những sai sót

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến TS Phạm Thị Thu Hà - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình để hoàn thành bản luận văn này, cũng như

được gửi lời cám ơn đến các bạn bè đồng nghiệp tại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Công ty Điện lực 1 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 11

Chương 1 - NHỮNG Lí LUẬN CƠ BẢN VỀ CễNG TÁC XÂY

DỰNG CƠ BẢN TRONG NGÀNH ĐIỆN

Đầu tư là một khoa học về quá trình bỏ vốn ở thời điểm hiện tại nhằm mục đích thu được hiệu quả lớn hơn trong tương lai Vốn bỏ vào đầu tư gọi là vốn đầu tư

Công tác đầu tư có nội dung liên ngành rất tổng hợp, có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức khoa học và những kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư để giúp các nhà đầu tư thực hiện kế hoạch đầu tư của mình với hiệu quả tài chính

và hiệu quả kinh tế- xã hội tốt nhất, cũng như để giúp các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện quản lý đầu tư ở cấp vĩ mô với hiệu quả cao nhất

Mặt khác, kinh tế đầu tư cũng là một lĩnh vực quản lý kinh tế quan trọng nhất của nhà nước, một hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp, vì lĩnh vực này có ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và đất nước

Hoạt động đầu tư cơ bản bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB Đầu tư XDCB là một hình thức đầu tư nói chung, trong đó mục đích bỏ vốn được xác định và giới hạn trong phạm vi tạo

ra những sản phẩm XDCB

Đầu tư XDCB đóng vai trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nó đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán chuẩn xác, quản lý một cách chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn của Nhà nước

1.2 Nội dung cụng tỏc xõy dựng cơ bản

Hoạt động đầu tư XDCB được chia làm 3 giai đoạn:

Trang 12

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, khảo sát, chọn địa điểm xây dựng

- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Xin đất, xin giấy phép xây dựng, thực hiện khảo sát, thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế, tổng dự toán

- Giai đoạn kết thúc dự án: Nghiệm thu, bàn giao, vận hành, quyết toán vốn

đầu tư

Thực hiện đầy đủ các bước trên là cơ sở để khắc phục những khó khăn, tồn tại do đặc điểm của sản xuất xây dựng tạo ra Trước khi triển khai bước tiếp theo thì bước trước phải được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng quy trình, quy phạm và đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc chấp hành trình

tự đầu tư xây dựng có ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định không những

đối với chất lượng công trình mà còn ảnh hưởng rất lớn đến thất thoát, lãng phí, tạo cơ sở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư xây dựng, làm tăng chi phí xây dựng của công trình, hiệu quả đầu tư thấp Đồng thời nếu không quản lý tốt tiến độ thực hiện giữa các giai đoạn sẽ dẫn đến sự kéo dài về thời gian gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Giai đoạn thực hiện đầu tư

Giai đoạn

kết thỳc dự ỏn

Trang 13

1.3 Đặc điểm xõy dựng cơ bản trong Cụng ty Điện lực – Doanh nghiệp kinh doanh phõn phối điện

Ngành điện lực thuộc ngành hạ tầng cơ sở:

Là ngành hạ tầng cơ sở do đó nhu cầu vốn đầu tư hàng năm rất lớn Với vai trò là ngành cung cấp tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho xã hội do đó ngành điện có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các ngành khác và đối với toàn xã hội Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, tất cả các ngành, lĩnh vực đều cùng phát triển nên nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng lên Nhưng với

đặc điểm của điện - là một sản phẩm không thể tích luỹ trước, mà quá trình sản xuất

và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do vậy đặc điểm của đầu tư cũng như đầu tư XDCB trong ngành điện là phải: đầu tư đi trước một bước so với các ngành khác, đầu tư

trước về máy móc, thiết bị, nguồn, trạm và đường dây để khi có phát sinh nhu cầu của ngành khác thì sẽ có điện để cung cấp kịp thời và không làm trễ thời gian của hoạt động sản xuất kinh doanh

Quy mô đầu tư xây dựng các công trình điện rất lớn:

Với đặc tính của ngành điện các công trình đầu tư phát triển của ngành

điện thường có quy mô lớn mặt khác suất đầu tư cho phát triển nguồn lớn:

- Suất đầu tư nhà máy thuỷ điện : 800-:-1.000USD/1kW công suất đặt;

- Suất đầu tư nhà máy nhiệt điện: 700-:- 900USD/1kW công suất đặt

Đầu tư XDCB vào ngành điện đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn, vốn để xây dựng các nhà máy điện, trạm điện, đường dây theo một hệ thống đồng bộ mới có thể truyền tải và phân phối điện tới nơi tiêu thụ Để sản xuất ra điện năng có thể từ nhiều nguồn khác nhau: Thuỷ điện, nhiệt điện, năng lượng hạt nhân với mỗi phương thức khác nhau đòi hỏi khối lượng vốn sử dụng khác nhau Do đó mỗi đất nước, mỗi khu vực, mỗi vùng có thể lựa chọn phương thức nào phù hợp nhất với điều kiện hiện

có để sản xuất ra điện hợp lý, an toàn và hiệu qủa nhất

Trang 14

Theo tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2001-2010 vốn

đầu tư vào nguồn điện được xác định theo chương trình đầu tư nguồn điện cho

đến năm 2010 là 185 ngàn tỷ đồng, tương đương với 12,2 tỷ USD chiếm 62.5% tổng vốn đầu tư Như vậy trung bình mỗi năm phải đầu tư 20,5 ngàn tỷ

đồng, tương đương với 1,36 tỷ USD Giai đoạn 2011 - 2020 vốn đầu tư cho nguồn điện cần 183 ngàn tỷ đồng (12 tỷ USD)

Với nhu cầu đầu tư lớn nêu trên thì Tổng công ty Điện lực Việt Nam khó có khả năng đầu tư được toàn bộ nguồn điện Hơn nữa hiện nay tổng dư

nợ vốn vay của Tổng công ty lên đến 1,87 tỷ USD Thực hiện chủ trương đa

dạng hoá hình thức đầu tư nguồn và lưới điện phân phối của Đảng và Chính phủ, Tổng công ty Điện lực Việt Nam đã lập danh mục các công trình nguồn

điện kêu gọi các đơn vị trong nước đầu tư theo hình thức liên doanh hoặc theo hình thức nhà máy điện độc lập

Hiện nay có 42 nhà máy thuỷ điện có công suất từ 150 MW trở xuống với tổng công suất 1200 MW đã được các tổng công ty trong nước đăng ký tham gia đầu tư Ngoài ra Tổng công ty cũng đã thống nhất liên doanh với 11 tổng công ty lớn như Tổng công ty Sông Đà, LILAMA, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, COMA, v.v, để xây dựng 3 nhà máy thuỷ điện là Kanak-Anh Khê, Sê San 4 và Sêrêpok 3 với tổng công suất 670 MW và liên doanh với 4 tổng công ty là Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, LILAMA, Tổng công ty Xây dựng giao thông 1 để xây dựng nhà máy nhiệt điện than Hải Phòng 600 MW và Quảng Ninh 1200 MW

Với các biện pháp trên, nhu cầu đầu tư thuần của Tổng công ty Điện Lực Việt Nam giai đoạn 2002-2010 sẽ là 235 ngàn tỷ đồng, tương đương 15,4

tỷ USD (các đơn vị ngoài Tổng công ty Điện lực Việt Nam dự kiến đầu tư 4,1

tỷ USD)

Trang 15

Trong đầu tư cho nguồn điện đến 2010, tổng vốn của EVN là 135 ngàn tỷ

đồng (72,8% so với toàn ngành điện), tương đương với 8,9 tỷ USD, trung bình mỗi năm 1 tỷ USD Giai đoạn 2011 - 2020 là 182 ngàn tỷ đồng (12 tỷ USD)

- Vốn đầu tư vào lưới điện truyền tải và phân phối cho giai đoạn 2002 -

2010 là: 111 ngàn tỷ đồng, tương đương với 7.3 tỷ USD, chiếm 37.5% tổng

đầu tư cho toàn ngành Như vậy trung bình mỗi năm cần 12,3 ngàn tỷ đồng tương đương hơn 800 triệu USD Giai đoạn 2011 - 2020, vốn đầu tư cho lưới

điện là 110 ngàn tỷ đồng (7,25 tỷ USD) Phần vốn đầu tư lưới điện do EVN

đảm nhiệm, trừ vốn cho lưới hạ thế thuộc địa phương đầu tư

Theo tính toán của Tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn

2002 - 2020 thì nhu cầu đầu tư của EVN giai đoạn 2000-2010 là 14,698 tỷ USD

Tổng vốn đầu tư theo từng loại cho từng giai đoạn, theo phạm vi toàn ngành điện và phạm vi EVN được đưa ra trong các bảng tổng hợp sau (Bảng 1.1 và 1.2):

Trang 16

B¶ng 1.1 Dù kiÕn vèn ®Çu t­ ngµnh ®iÖn giai ®o¹n 2002 -2020

Trang 17

Bảng 1.2 Dự kiến vốn đầu tư EVN giai đoạn 2002 -2020

Nguồn: Tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2002-2020

Thời gian chuẩn bị, xây dựng và vận hành dài:

Đối với các công trình nguồn điện đặc biệt là các nhà máy thuỷ điện, thời gian chuẩn bị và xây dựng tương đối dài Ví dụ Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 15 năm, Nhà máy thuỷ điện Sơn

La thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 10-12 năm; Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 4 –5 năm Thời gian vận

Trang 18

hành các nhà máy thuỷ điện khoảng 50 năm, thời gian vận hành các nhà máy nhiệt điện khoảng 25-30 năm

Trong đầu tư xây dựng cần phải đồng bộ và cân đối:

Đặc điểm của sản phẩm điện năng là quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối xảy ra đồng thời Do đó yêu cầu phải phát triển đồng bộ và cân đối giữa phát triển nguồn và phát triển lưới; trong phát triển nguồn phải cân đối giữa thuỷ điện, nhiệt điện và các loại nguồn khác; trong phát triển lưới phải

đồng bộ giữa phát triển lưới truyền tải và lưới phân phối

Có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác:

Nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện là sản phẩm của một số ngành khác như than, khí, dầu Do đó phát triển nguồn điện có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác như than, dầu khí,

Chính từ các đặc điểm trên ta có thể tóm lược các đặc trưng chính trong

đầu tư xây dựng ngành điện là:

- Vốn đầu tư lớn, do đó cần phải huy động các nguồn vốn khác nhau dẫn đến rủi ro về tài chính, rủi ro về lãi suất, rủi ro trong vấn đề kiểm soát, rủi

ro trong chủ động thực hiện cũng như huy động vốn,

- Quy mô đầu tư lớn đặt ra rất nhiều vấn đề như quản lý, sự phối hợp giữa các ban ngành và địa phương, chống thất thoát lãng phí,

- Thời gian chuẩn bị và xây dựng dài do đó đặt ra nhiều vấn đề như thiếu thông tin, thông tin không chính xác, vấn đề quản lý

- Đòi hỏi sự cân đối và đồng bộ giữa phát triển nguồn và phát triển lưới; trong đầu tư phát triển lưới phải cân đối giữa lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối

- Tiếp cận hệ thống (sự liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác)

Trang 19

Có thể nói, với những đặc điểm đầu tư xây dựng tương tự như các ngành khác ngoài ra cũng có những đặc thù riêng của ngành nhưng việc thất thoát, lãng phí xảy ra trong lĩnh vực đầu tư XDCB của ngành Điện cũng mang những nét chung như những ngành khác

Địa điểm sản xuất không cố định

Đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng khác với các ngành khác, mỗi công trình được tiến hành ở một địa điểm khác nhau, sau khi hoàn thành công trình, con người và công cụ lao động đều phải di chuyển đến địa điểm xây dựng mới Các phương án về xây dựng, về kỹ thuật và về tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm

Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng hay bị gián đoạn, hay phải di chuyển từ đó làm nảy sinh ra nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng thi công và chi phí để xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công Chính vì vậy trong công tác quản lý phải chủ động lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, giảm chi phí liên quan đến vận chuyển nếu không rất dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí

Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài

Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất là tài sản cố định nên thời gian sản xuất ra chúng thường dài và phải tính theo tháng, năm Thời gian xây dựng dài do bị chi phối bởi quy mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng công trình, dự án

Từ đặc điểm này làm cho công tác thanh toán vốn đầu tư gặp khó khăn, nếu chờ xây dựng xong mới thanh toán sẽ làm các đơn vị xây dựng không có vốn hoạt động, thời gian kéo dài dễ gặp rủi ro ngẫu nhiên như thời tiết, lãi suất, tỷ giá và không loại trừ việc nhà thầu sẽ lợi dụng những biến động về chế độ chính sách, thay đổi định mức nhằm hưởng phần chênh lệch do khó xác định chính xác thời điểm mang lại Trong công tác chỉ đạo thi công cần

Trang 20

kiên quyết thực hiện đúng tiến độ xây dựng để nhanh chóng đưa công trình vào sử dụng tránh những thiệt hại về kinh tế do vốn “chết” trong thời gian xây dựng hoặc có thể ảnh hưởng đến các ngành liên quan

Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc

Đặc điểm của sản xuất xây dựng là không sản xuất được hàng loạt hàng hoá như trong công nghiệp mà sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc nên sản phẩm phải được xác định trước khi thi công Do đó trong công tác quản lý phải tìm mọi giải pháp để chuẩn xác các tiêu thức đánh giá về chất lượng và giá cả công trình

Muốn vậy phải có giải pháp để tăng cường công tác quản lý sử dụng vốn ngay từ khâu lập dự án cả về chi phí như tổng mức vốn đầu tư, quy mô

đầu tư, các tiêu chuẩn kỹ thuật tránh tình trạng lãng phí do không chuẩn xác ngay từ đầu dẫn đến phải có sự điều chỉnh, bổ sung về sau Mỗi dự án, mỗi công trình xây dựng phải xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình để làm căn cứ cho quá trình tổ chức thực hiện hoạt động

đầu tư như làm cơ sở để xây dựng giá trần, giá sàn khi xét thầu, căn cứ cấp phát vốn

Ngoài ra việc nghiên cứu đặc điểm sản xuất đơn chiếc trong sản xuất xây dựng còn là cơ sở để nghiên cứu tìm các giải pháp tổ chức thi công hợp lý nhằm giảm các chi phí phát sinh trong quá trình xây dựng để rút ngắn thời gian thi công sẽ tác động tích cực để giảm lãng phí, thất thoát vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư xây dựng

Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn bởi yếu

tố tự nhiên

Điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, mưa gió, bão lụt đều ảnh hưởng

đến quá trình xây dựng, làm gián đoạn quá trình thi công, ảnh hưởng đến máy móc, vật tư thiết bị thi công Đòi hỏi đơn vị thi công phải lập tiến độ thi công

Trang 21

hợp lý để tránh thời tiết xấu, giảm thời gian tổn thất do thời tiết gây ra, phải tổ chức tốt hệ thống kho bãi để bảo quản vật tư, tài sản nhằm tránh những thất thoát, hư hỏng, mất mát do thiên nhiên gây ra

Quá trình sản xuất XDCB thường tiến hành ngoài trời và bị ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn quyết định

đến quy mô, các giải pháp thi công, tiến độ xây dựng, chất lượng và hiệu quả

đầu tư của dự án Công tác khảo sát địa chất là nền tảng cho tuổi thọ của công trình, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nền móng, nếu không khảo sát chính xác có thể dẫn đến việc phải điều chỉnh thiết kế trong qúa trình thi công gây lãng phí Có khảo sát tốt thì mới có đầu vào tin cậy cho việc lập dự án cũng như thiết kế mới làm tai mắt để đảm bảo công trình làm ra bảo đảm yêu cầu

Việc nghiên cứu thuỷ văn có thể giúp cho việc tận dụng triệt để được các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có hay hạn chế được những nguy hiểm tiềm ẩn của nó gây ra nhằm tránh được những mất mát không đáng có

Việc phân tích kỹ điều kiện sinh thái sẽ hạn chế được những thất thoát

do quá trình đầu tư xây dựng diễn ra làm ảnh hưởng môitrường tự nhiên xung quanh cả tích cực như tạo thêm nguồn nước sạch, tạo vẻ đẹp cảnh quan và cũng có thể tiêu cực do không đầu tư thích đáng cho việc khảo sát điều kiện tự nhiên dẫn đến phá hỏng cảnh quan, gây ô nhiễm cho các khu dân cư

Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp

Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia, nhiều thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp

Đặc điểm này đòi hỏi các đơn vị thi công phải có trình độ phối hợp cao trong sản xuất để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình Đồng thời cũng do đặc điểm này mà chủ đầu tư phải có biện pháp kiểm tra giám sát

Trang 22

tốt hoạt động thi công của các đơn vị và sự phối hợp giữa các đơn vị nhằm

đảm bảo chất lượng công trình và giảm tối đa thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện dự án

- Đặc điểm sản phẩm XDCB

Sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định, nó gắn liền với đất đai, nơi sản xuất và

nơi sử dụng trong khi sản xuất di động, tư liệu sản xuất di động, sức lao động di

động Từ đó đặt ra đối với hoạt động XDCB phương pháp quản lý là rất phức tạp

Và cũng do tính chất này nên việc tìm địa điểm xây dựng công trình chuẩn bị đầu tư

là một khâu rất quan trọng, có những công trình xây dựng tại địa điểm không hợp

lý, toàn bộ chi phí do chuyển địa điểm rất lớn Tìm địa điểm cho sản phẩm có tính

cố định là điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành khởi công xây dựng công trình Các điều kiện địa hình cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện dự án đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư Quá trình sản xuất thường tiến hành ngoài trời và bị ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Vật liệu xây dựng nhiều,

có trọng lượng lớn, nhu cầu vận chuyển cao Do vậy phải có một tổ chức cung ứng vật tư kỹ thuật đặc biệt để đưa vật liệu đến tận công trình theo tiến độ thi công Hoàn thành dự án phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiều đơn vị tham gia thực hiện mới tạo ra được một sản phẩm có tính chất cố định

Tất cả những yếu tố đa dạng và phức tạp trên tạo ra nhiều khe hở, nhiều công đoạn

và nhiều tác nhân có thể dẫn đến thất thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước

Tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm rất rõ của sản phẩm

XDCB Tính đơn chiếc có nghĩa không có sản phẩm XDCB nào giống sản phẩm nào Dù thiết kế giống nhau, sản phẩm cố định nhưng địa điểm khác nhau, thời tiết khí hậu các vùng khác nhau sản phẩm không giống nhau hoàn toàn, chi phí sản xuất cũng không giống nhau

Từ tính đơn chiếc ta thấy mỗi một công trình đầu tư có tính chất quản lý khác nhau, giữa các công trình, dự án khác nhau đòi hỏi phương pháp và trình độ quản lý thay

đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc tính này cũng gây ra sự bất ổn

Trang 23

định cho quá trình thi công xây lắp Tính đơn chiếc không chỉ chịu ảnh hưởng của yếu tố kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật và bị ảnh hưởng lớn bởi tính cố định của sản phẩm XDCB

Thời gian xây dựng và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu Từ đặc điểm thời

gian xây dựng dài nên ứ đọng vốn đối với hoạt động đầu tư XDCB lớn, càng ứ đọng vốn càng thiệt hại lớn vì khối lượng vốn lớn, khối lượng sản phẩm lớn Hơn nữa do thời gian xây dựng lâu nên chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giá trị đồng tiền, điều kiện thời tiết, tình hình chính trị, chế độ chính sách Thời gian càng dài các yếu tố khác đó càng dễ xảy ra những thay đổi Nếu tác động từ các yếu tố đó theo chiều hướng xấu sẽ dẫn đến tổn thất lớn Và sản phẩm XDCB tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu tố trên tốt, chất lượng công trình tốt thì thành quả hoạt động đầu tư XDCB càng phát huy tác dụng tốt trong thời gian dài, đóng góp lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã hội, có những công trình tồn tại vĩnh viễn và ngược lại

Về phương diện sử dụng, sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, vùng

địa phương như các đường giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt, đường dây điện

Từ đó đòi hỏi phải chú ý cân nhắc kỹ về chủ trương đầu tư đồng thời phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các địa phương nhằm hạn chế và tránh thất thoát, lãng phí khi triển khai dự án

Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất

cân đối trong quan hệ phối hợp đồng bộ giữa các khâu công tác từ quá trình chuẩn

bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công Vì có thể xảy ra tình trạng

đảm bảo về chất lượng kỹ thuật nhưng lại chưa có hiệu quả kinh tế cao hoặc chưa

đảm bảo tính thẩm mỹ

Có thể nói, với những đặc điểm rất phức tạp của sản xuất XDCB cũng như sản phẩm XDCB như vậy thì để tránh tình trạng thất thoát, lãng phí có thể xảy ra chẳng những phải thận trọng về chủ trương, mà còn đòi hỏi phải có trình độ tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây dựng, đấu thầu mua sắm

Trang 24

thiết bị, kiểm tra chất lượng đến nghiệm thu khối lượng, quyết toán dự án đưa vào khai thác sử dụng

Chỉ tiờu hiệu quả cụng tỏc đầu tư xõy dựng cơ bản

Hiệu quả là chỉ tiờu chất lượng phản mức độ sử dụng cỏc nguồn lực và

thường được xỏc định bằng tỷ số

aoloiichdo chiphibora

uoc loiichthud

det

Lợi ớch thu được cú thể là doanh thu, lợi nhuận gia tăng do cú hoạt động đầu tư xõy dựng cơ bản, chi phớ bỏ ra cú thể là giỏ trị đầu tư xõy dựng

cơ bản đó bỏ ra, cú thể là giỏ trị cỏc nguồn lực đó bỏ rả để tạo ra lợi ớch vớ dụ

như: giỏ trị TSCĐ, giỏ trị TSLĐ, giỏ trị chi phớ, giỏ trị cỏc nguồn vốn

Chỉ tiờu hiệu quả sử dụng tài sản

- Tài sản cố định

* Khỏi niệm: Số lượng và giỏ trị của tài sản cố định phản ỏnh năng lực

hiện cú, trỡnh độ khoa học kỹ thuật mà doanh nghiệp đầu tư nhằm nõng cao năng suất lao động, hạ giỏ thành sản phẩm Mặt khỏc sử dụng hết cụng suất của tài sản cố định là một biện phỏp quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất

* Phõn tớch tài sản cố định : là phõn tớch tỡnh trạng thiết bị tài sản cố

định, cơ cấu tài sản cố định là mối quan hệ tỷ trọng của từng loại tài sản cố định trong toàn bộ tài sản cố định xột về mặt giỏ trị Phõn tớch cơ cấu tài sản cố định là xem xột đỏnh giỏ tỡnh hỡnh hợp lý về sự biến động tỷ trọng của từng loại tài sản cố định, trờn cơ sở đú hướng đầu tư xõy dựng tài sản cố định một cỏch hợp lý

Trang 25

Xét trong mối quan hệ tài sản dùng vào sản xuất kinh doanh sẽ chiếm

tỷ trọng lớn hơn so với tỷ trọng của tài sản dùng ngoài việc kinh doanh

* Một số chỉ tiêu để phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định

(4)

Công thức trên cho ta biết cứ một đồng đầu tư vào tài sản cố định thì

đem lại thêm bao nhiêu đồng doanh thu và lợi nhuận

Hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Để xác định hiệu quả nguồn vốn người ta thường dùng các hệ quả sử

dụng vốn:

(5)

Chỉ tiêu này nói lên sức sinh lợi của nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng

trong kỳ sản xuất kinh doanh

- Một số chỉ tiêu phân tích tình hình sử dụng vốn

Doanh thu gia tăng

Giá trị TSCĐ tăng thêm

Doanh thu /TSCĐ=

Lợi nhuận/TSCĐ = Lợi nhuận tăng thêm

Giá trị TSCĐ tăng thêm

Mức lợi nhuận

trên doanh thu thuần =

Lợi nhuận

Doanh thu thuần

Sức sản xuất của vốn xây

dựng cơ bản =

doanh thu gia tăng Vốn xây dựng gia

t ăng

Trang 26

Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định thì một đồng xây dựng cơ bản tham gia vào quá trình kinh doanh sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu, lợi nhuận

Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí

- Để phân tích hiệu quả sử dụng chi phí ta cần phân tích các chỉ tiêu

doanh thu trên tổng chi phí, lợi nhuận trên tổng chi phí

*Doanh thu là số tiền doanh nghiệp thu được từ kết quả bán hàng và các dịch vụ trong một kỳ sản xuất kinh doanh Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh

* Lợi nhuận là bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi các khoản thuế Đây

là chỉ tiêu phản ánh kết quả quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh chất

C 2 =

Lợi nhuận gia tăng

chi phí XDCB gia tăng

C1 =

Doanh thu gia tăng

chi phí xây dựng cơ bản gia tăng

Sức sinh lợi của vốn xây dựng cơ bản =

lợi nhuận gia tăng

Vốn xây dựng gia tăng

Trang 27

lượng sản xuất kinh doanh Để phân tích được các chỉ tiêu trên cần phải dựa

vào các căn cứ sau:

(1) Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

(2) Bảng báo cáo tài chính tổng hợp

Trên cơ sở đó ta có thể đánh giá được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu

phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác ta cũng sẽ

nghiên cứu sự biến động của các chi tiêu của kỳ vừa qua so sánh với kỳ trước

được lấy làm kỳ gốc của doanh nghiệp Điều này giúp ta đánh giá được thực

trạng và triển vọng của từng doanh nghiệp so với nền kinh tế quốc dân

Trong việc phân tích, chúng ta cần sử dụng các nhóm chỉ tiêu đánh giá

tổng hợp về lợi nhuận như sau:

Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà mỗi doanh nghiệp cần đạt được

trong hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là chỉ tiêu chính của doanh

nghiệp, cũng là kết quả tổng quát kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Chi phí

(1) Tỷ suất hoàn vốn hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh

doanh được tính bằng cách lấy lợi nhuận so với vốn kinh doanh đã bỏ ra (vốn

lưu động và vốn cố định)

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn tự có: chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn

tự có của doanh nghiệp sẽ thu đựợc bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này

được tính bằng công thức sau:

Vốn tự có trong kỳ

X 100%

Trang 28

(3) Tỷ suất lợi nhuận doanh thu: chỉ tiêu này so sánh giữa phần lợi

nhuận mà doanh nghiệp đạt được và doanh thu tiêu thụ Chỉ tiêu này cho biết

cứ một đồng doanh thu đạt được thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất

lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt

Chỉ tiêu lợi nhuận chi phí: chỉ tiêu này phản ánh sức sinh lời, khả

năng sinh lời của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này được tính toán dựa vào phần lợi

nhuận mà doanh nghiệp đạt được sản phẩm với tổng chi phí đã bỏ ra

Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả

kinh doanh mà doanh nghiệp thường dùng Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng

chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

(1) Tạo công ăn việc làm cho người lao động

Chính vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần

tuyển dụng lao động là doanh nghiệp đã góp phần tạo nên công ăn việc làm

cho người lao động

(2) Tăng ngân sách

Nộp ngân sách là nghĩa vụ của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh(

thuế doanh thu, thuế đất ) Hơn 90% ngân sách Nhà nước được hình thành từ

việc thu thuế Do vậy nộp thuế là góp phần phát triển kinh tế xã hội

Doanh nghiệp không những có trách nhiệm đảm bảo công ăn việc làm

cho người lao động mà còn có trách nhiệm nâng cao đời sống tinh thần cũng

như vật chất Trên góc độ kinh tế, hiệu quả này phản ánh thông qua chỉ tiêu

Tỷ suất lợi nhuận chi phí =

Tổng lợi nhuận trong kỳ

Tổng chi phí trong kỳ

Trang 29

tăng thu nhập bỡnh quõn trờn một đầu người, gia tăng đầu tư xó hội, mức hưởng phỳc lợi

Mức độ thất thoát lãng phí là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản Để xác định tiêu chí đánh giá mức độ thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư xây dựng phải bám sát những đặc trưng cơ bản, bám sát từng khâu của hoạt động đầu tư xây dựng để phân tích đánh giá Một số tiêu chí dùng để xác định thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB Nhà nước trong đầu tư XDCB được trình bày dưới đây

(1) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát do chủ trương đầu tư

Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải đưa ra những quyết định quan trọng đó là: quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư

Hình 1.1 Sơ đồ giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Dự án dùng vốn Ngân sách

Báo cáo tiền khả thi

Quy hoạch B/C khả thi Thẩm định

Sai lầm trong chủ trương đầu tư bắt nguồn từ quy hoạch sai hay không

có quy hoạch, từ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi không chính xác, biên soạn

Chủ trương

đầu tư

Quyết định

đầu tư

Trang 30

qua loa chiếu lệ, thường xem nhẹ việc điều tra xã hội học và môi trường đối với công trình hạ tầng, hoặc điều tra qua loa thị trường tiêu thụ và thị trường các yếu tố sản xuất đối với công trình sản xuất kinh doanh

Sai lầm trong quyết định đầu tư, ngoài việc bắt nguồn từ sai lầm trong chủ trương đầu tư còn là do các sai lầm trong khâu biên soạn và thẩm định báo cáo khả thi, dẫn đến lựa chọn địa điểm công trình sai lầm, xác định quy mô

đầu tư quá lớn, nội dung đầu tư không đồng bộ, lựa chọn công nghệ sản xuất không phù hợp hoặc lạc hậu, kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án và xác định chủ đầu tư không thích hợp, ít quan tâm đến thực tế sử dụng và vận hành công trình sau này

Một sai lầm nữa cũng cần chú ý là sự trao đổi không ngang giá khi thực hiện chủ trương “đổi đất lấy hạ tầng” (phóng đại giá hạ tầng, định giá thấp đất

đai) Các sai lầm và thiếu sót trong quyết định đầu tư dẫn đến hậu quả công trình xây xong đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội mong muốn, thậm chí hoàn toàn không có hiệu quả; công trình xây dựng tuy đạt hiệu quả mong muốn nhưng với chi phí vượt quá mức cần thiết

(2) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát trong khâu chuẩn bị xây dựng Thất thoát, lãng phí trong công tác tư vấn, lập thiết kế và dự toán Nếu

như trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư chủ thầu lập dự toán thấp, chi phí cần thiết không được tính đúng, khi xây dựng dở dang sẽ xin bổ sung kinh phí; hoặc lập

dự toán vượt xa nhu cầu cần thiết kế về kết cấu vật tư, khối lượng xây dựng để khi quyết toán theo dự toán số tiền chênh lệch được chia nhau đút túi giữa A

và B, thì trong khâu thiết kế còn có nhiều thủ đoạn tinh vi hơn

Không ít trường hợp cố tình làm sai lệch thiết kế, thiết kế không qua khảo sát, tự ý thay đổi vị trí, lấy vật liệu làm tăng dự toán, tính sai đơn giá thiết kế để trục lợi, gây thất thoát lớn Bởi thực tế hiện nay có nhiều công trình xấu, kém lỗi do nhà thiết kế dẫn đến tình trạng thi công đến đâu hoàn chỉnh

Trang 31

nghiệm thu và quyết toán đến đó, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng

đã làm để làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung

Trên thực tế đã có không ít dự án, cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán thiếu chính xác đến khi thi công phải điều chỉnh nhiều lần, hoặc có công trình vừa thiết kế vừa thi công, thậm chí đến khi hoàn thành mới điều chỉnh lại tổng dự toán, làm ảnh hưởng

đến tiến độ, chất lượng thi công, gây lãng phí vốn đầu tư Thực tế đã chứng minh hiệu quả của dự án thấp kém so với dự kiến là do việc chuẩn bị không tốt, công tác khảo sát thiết kế không bảo đảm chất lượng, phần lớn các thất thoát, sự cố nảy sinh cũng xuất phát từ đó

Qua các thực trạng trên có thể rút ra một số tiêu chí gây thất thoát trong giai đoạn này đó là

- Kê khống khối lượng, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng đã làm để làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượng sai quy phạm và quy chuẩn quy định

- áp dụng sai giá cả theo từng loại thiết bị đã được sở tài chính vật giá thông báo theo thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán

- áp dụng sai hoặc do tính sai về khối lượng định mức, giá cả dẫn đến sai về các loại chi phí tính theo định mức

(3) Thất thoát, lãng phí trong khâu đền bù, bàn giao mặt bằng chậm

Có thể nói việc bàn giao mặt bằng đúng thời hạn cho các nhà thầu giữa chủ đầu tư và địa phương là rất khó, tình trạng khá phổ biến hiện nay là vừa thi công vừa giải phóng mặt bằng Có những công trình xây dựng trên nền đấtyếu, theo quy trình phải đắp chất tải ít nhất 3 đến 6 tháng để chờ lún Song chủ

đầu tư trên cơ sở tính toán lợi ích kinh tế đã cho thảm nhựa để thông xe và cắm biển baó “đoạn đường chờ lún” để đỡ gây thắc mắc và tai tiếng cho nhà thầu Việc để máy móc, các phương tiện thi công nằm chờ hoặc điều đi nơi

Trang 32

khác đến khi có mặt bằng lại đưa về gây tốn kém, lãng phí Chủ đầu tư luôn

đưa ra câu trả lời đang xúc tiến nhưng khâu quyết định thuộc thành phố, tỉnh, huyện, quận được uỷ quyền Chính quyền địa phương quản lý đất đai, quản lý dân, còn các cơ quan chức năng và cơ quan thực thi pháp luật để thực hiện giải phóng mặt bằng thì nói, dân chưa thông hoặc còn thắc mắc về chính sách, cơ chế và cách đền bù hoặc nơi tái định cư cho nên phải chờ đợi

Vòng luẩn quẩn giữa chủ đầu tư, chính quyền, nhà thầu đã gây ra không

ít sự phiền toái kéo theo những giải pháp tình thế trong thi công xây dựngnhằm theo kịp tiến độ dẫn đến tình trạng công trình kém chất lượng và đương nhiên là một dạng của thất thoát, lãng phí

Tiêu chí đánh giá việc thất thoát trong khâu này thể hiện trong việc áp dụng có đúng đắn hay không các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với công tác đền bù giải phóng mặt bằng: tính pháp lý, việc xác định giá đền bù tài sản, đất đai, hoa màu, tính chính xác của số lượng các hộ dân, tài sản của dân cư trên khu vực cần đền bù

(4) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát, lãng phí trong bố trí kế hoạch vốn và cấp vốn đầu tư

Từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư phải thông qua khâu bố trí kế hoạch vốn và cấp vốn đầu tư đây cũng là khâu

dễ gây ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực Tại Hội nghị toàn quốc về các biện pháp chống thất thoát, lãng phí trong XDCB bằng nguồn vốn NSNN do Bộ Kế hoạch và đầu tư tổ chức ngày 6/01/2005, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu: “ngay trong năm 2005 phải quyết tâm phát hiện tất cả các dự án ngoài quy hoạch, bố trí nguồn vốn ngoài kế hoạch” Phó Thủ tướng nhấnmạnh: “ Ta làm không được nể nang, không sợ người trước đã ra quyết định

đầu tư mà nay ta lại dừng” Thủ tướng Phan Văn Khải đã lưu ý với lãnh đạo các địa phương rằng tình trạng đua nhau xây dựng các khu công nghiệp là

“thái quá” và “làm khổ dân”

Trang 33

Vi phạm thủ tục đầu tư, không đủ điều kiện nhưng vẫn được bố trí kế hoạch làm cho việc triển khai kế hoạch gặp khó khăn, phải chờ đợi để thực hiện các thủ tục dẫn đến thiếu điều kiện để khởi công xây dựng, hoặc khởi công xong khối lượng thực hiện vẫn không đủ điều kiện để thanh toán Nhiều

dự án vẫn được ghi kế hoạch vốn mặc dù hồ sơ vẫn chỉ là công văn đề nghị hoặc có báo cáo nghiên cứu khả thi cũng chỉ làm cho qua chuyện là một thực trạng không hiếm

Bố trí vốn đầu tư phân tán Các dự án nhóm B, nhóm C ngày càng nhiềutrong khi đó dự án nhóm A chiếm tỷ lệ nhỏ Hậu quả là vốn cấp rải mành mành khiến nhiều dự án phải kéo dài tiến độ qua nhiều năm

Bố trí kế hoạch chỉ chú trọng đến kế hoạch khối lượng không xây dựng

kế hoạch vốn dẫn đến phát sinh mất cân đối giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốn dẫn đến thừa thiếu vốn giả tạo cho các dự án

Nợ XDCB đang rất gay gắt Trong đầu tư xây dựng, việc vay hay ứng trước vốn đôi khi cũng cần thiết như để giải phóng mặt bằng kịp thời hay đầu tư hạ tầng rồi đấu giá quyền sử dụng đất Thế nhưng nếu lạm dụng việc này,

cứ chủ trương phát sinh nợ rồi cấp trên phải trợ giúp giải quyết, thì đó là ỷ lại,

là bao cấp, vừa gây mất cân đối ngân sách, vừa tạo ra bất công giữa các ngành, các địa phương Tình trạng này dẫn đến chiếm dụng vốn lẫn nhau: A nợ B, B

nợ Ngân hàng và các bên cung ứng, gây bất ổn cho kinh doanh của doanh nghiệp và thị trường xây dựng

Cũng theo báo cáo tại Hội nghị 6/01/2005 số vốn bị tồn đọng tại các dự

án tính đến cuối năm 2004 là 13.000 tỷ đồng, trong khi số tiền được cấp từNgân sách Nhà nước bị lãng phí, tham ô cũng lên tới hàng nghìn tỷ đồng Khoản nợ đọng khá nhiều gây ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ xây dựng của các năm sau và làm cho tình hình tài chính của các nhà thầu rất khó khăn, không lành mạnh (chịu thuế, ảnh hưởng đời sống của người lao động) mặt khác gây nên chậm luân chuyển lưu thông hàng

Trang 34

hoá vật tư, nhất là vật tư phục vụ xây dựng Tình hình đó là nguyên nhân hỗn hợp, do chủ đầu tư cũng có, do bên nhà thầu cũng có, song nguyên nhân chủ yếu là do việc bố trí và kiểm soát kế hoạch vốn không sát thực tế Nói cách khác là các cơ quản lý XDCB từ Trung ương đến địa phương nắm không chắc thực chất tình hình XDCB trong cả nước Các bên có liên quan không thực hiện nghiêm túc điều lệ quản lý đầu tư xây dựng, quá ham muốn những lợi ích

do XDCB mang lại cho cá nhân và cho lợi ích cục bộ

(5) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát trong giai đoạn thực hiện đầu tư:

Có thể nhận thấy thất thoát trong giai đoạn thực hiện đầu tư là do rất nhiều nguyên nhân như do thiếu sót trong khảo sát thiết kế, trong chất lượng xây lắp, sai lầm khi tuyển chọn công nghệ, trong đền bù giải phóng mặt bằng

và trong thanh toán quyết toán chi phí xây dựng, làm cho công trình có chất lượng kém, khởi công chậm, tiến độ kéo dài, giá thành đắt, vận hành và sử dụng kém hiệu quả

Các sai lầm và thiếu sót đó bắt nguồn từ:

- Năng lực hạn chế của tư vấn thiết kế, của nhà thầu và của Ban quản lý

Trang 35

Hình 1.2 Sơ đồ giai đoạn thực hiện đầu tư

Xin giao (thuê) đất

Tuyển chọn tư vấn thiết kế

Đấu thầu mua sắm

Trang 36

Trong khâu chọn nhà thầu qua hai hình thức chỉ định thầu và đấu thầu

Hình thức chỉ định thầu áp dụng rất hạn chế vì nó được coi là thiếu tính cạnh tranh nên chỉ áp dụng đối với những gói thầu có giá trị nhỏ dưới 1 tỷ

đồng (đối với dự án xây lắp, mua sắm thiết bị), dưới 500 triệu đồng (đối với các gói thầu tư vấn)

Hình thức đấu thầu là hình thức tiến bộ trong chọn thầu xây dựng, nhưng trong thực tế đã diễn ra nhiều tiêu cực gây ra thất thoát, lãng phí và tham nhũng làm sai lệch bản chất đấu thầu do:

- Không thực hiện đúng trình tự đấu thầu; xét thầu, đánh giá để xếp loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác, thiếu chuẩn mực, không đủ khả năng;

- Hiện tượng thông đồng giữa các nhà thầu khi tham gia đấu thầu đã khống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thoả thuận để thắng thầu đưa đến phá giá trong đấu thầu;

- Hành vi đưa, nhận hoặc đòi hỏi bất cứ thứ gì có giá trị về vật chất có liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu và thực hiện hợp đồng dẫn tới những hành động thiếu trung thực, không khách quan trong việc quyết định lựa chọn nhà thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng;

- Dùng ảnh hưởng cá nhân để tác động, can thiệp làm ảnh hưởng sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu

Hơn thế, ngay cả những lỗi khá phổ biến hiện nay như nêu yêu cầu về thương hiệu, hoặc nguồn gốc hàng hoá trong hồ sơ mời thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp hoặc gói thầu EPC vẫn xảy ra

Trong giai đoạn thi công:

Thủ đoạn tham nhũng phổ biến nhất trong đầu tư XDCB lại bắt nguồn

từ bên A và B trong quá trình thi công A bắt tay B để trục lợi Như bên A ký

Trang 37

kết các hợp đồng mua bán máy móc thiết bị thường gửi giá tăng trung bình từ 10% giá trị hợp đồng để bên B trả lại Đồng thời để rút được tiền tham ô và hối lộ cho bên A, bên Bthường thanh toán khống khối lượng vật tư, nhân công bằng cách lập các chứng từ giả Tất nhiên theo “luật làm ăn”, bên A không bao giờ quên “ơn” bên B bằng cách đưa hối lộ một khoản tiền xứng đáng

Riêng đối với hợp đồng chìa khoá trao tay, “khoán gọn” thì khi hoàn thành công trình đúng thiết kế, bảo đảm chất lượng và thời hạn, nhà thầu được thanh toán đúng số tiền đã ký trong hợp đồng, không phụ thuộc quyết toán công trình của bên B Thế nhưng, ngay cả ở loại hợp đồng này cũng vẫn có sơ

hở, gây thất thoát ngân sách Nhà nước bằng một “chiêu” khá táo bạo là các

đơn vị thiết kế dự toán không chuẩn xác dẫn đến phát sinh thay đổi quá trình thi công Nhiều công trình được giao thầu thi công khi chưa có đủ thiết kế và

dự toán được duyệt dẫn tới tình trạng vừa làm vừa thiết kế, sau khi hoàn thành mới lập dự toán trình duyệt

Đây là giai đoạn rất dễ xảy ra tiêu cực, nên cơ quan chức năng cần phải giám sát chặt chẽ quá trình thi công để xác định được khối lượng xây lắp thực

tế làm cơ sở thanh quyết toán sau này

Thất thoát phần lớn rò rỉ từ vật liệu xây dựng:

Có thể nói, thất thoát trong XDCB phải kể đến các sai sót trong khâu thiết kế công trình, tính toán không chặt chẽ, chọn hệ số an toàn quá cao dẫn

đến lãng phí vật liệu xây dựng Đến khi thực hiện dự toán công trình, cơ quan chức năng dựa vào đơn giá không chính xác như sử dụng định mức vật tư, đơn giá của những loại máy móc thi công lạc hậu, nên gây ra lãng phí

Trong quá trình thi công vật liệu xây dựng đi qua nhiều khâu trung gian mua đi bán lại đầu cơ nâng giá, gửi giá tăng khối lượng, dùng vật liệu có giá thấp thay cho vật liệu có giá cao, dùng vật tư ở địa bàn gần tính vào giá vật tư

ở địa bàn xa để hưởng chênh lệch cước phí vận chuyển Do cơ quan Nhà

Trang 38

nước không thể quản lý nổi, nên tất cả các công đoạn thất thoát trên đã làm giá dự toán xây dựng các công trình được đầu tư từ ngân sách Nhà nước cao hơn giá thực tế

Về giá trị thiết bị lắp đặt cho công trình XDCB, theo quy định hiện hành, chủ đầu tư căn cứ vào thiết kế và dự tóan đã được duyệt để tổ chức đấu thầu và lấy giá trúng thầu được duyệt làm căn cứ thanh toán và quyết toán vốn

đầu tư

Như vậy trên lý thuyết xem ra tưởng chặt chẽ, những trên thực tế nhiều trường hợp do thiếu thông tin về thị trường giá thiết bị của thế giới, nên các công ty tư vấn xây dựng thường dựa vào gía thiết bị của các công trình tương

tự để đưa vào dự toán hoặc dùng bảng giá chào hàng của các công ty thương mại nước ngoài đưa vào dự toán

Khi tổ chức đấu thầu, các nhà thầu đã tìm hiểu nắm chắc giá dự toán để chỉnh lý, thêm bớt và bỏ thầu với giá xấp xỉ dưới giá dự toán Nhìn vào kết quả bỏ thầu, cơ quan quản lý nghĩ rằng đã tính toán chuẩn xác Song một điều cơ bản họ không hiểu là trình độ công nghệ, kỹ thuật thiết bị sản xuất của thế giới được cải tiến đến chóng mặt, giá cả thay đổi rất nhanh nên khi thiết bị về

đến công trình đã bị đắt hơn so với giá trúng thầu

(6) Nhóm tiêu chí đánh giá thất thoát trong khâu thanh quyết toán vốn đầu tư XDCB

Khâu thanh toán:Vốn đầu tư XDCB chỉ được thanh toán cho giá trị

khối lượng thực hiện đã hoàn thành, đủ điều kiện thanh toán Do đó khi thanh toán nếu không bám sát vào các điều kiện của giá trị khối lượng hoàn thành

đủ điều kiện thanh toán sẽ gây lãng phí, thất thoát và các hiện tượng tiêu cực

có thể xảy ra Các điều kiện làm căn cứ thanh toán vốn đầu tư đó là: đủ thủ tục pháp lý về đầu tư theo quy định; có quyết định thành lập Ban quản lý dự án, quyết định bổ nhiệm Trưởng ban, kế toán trưởng, tài khoản thanh toán; có kế

Trang 39

hoạch đầu tư được thông báo; có quyết định đơn vị trúng thầu hoặc chỉ định thầu; có hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu; có khối lượng hoàn thành đủ điều kiện thanh toán được A-B nghiệm thu, A chấp nhận và đề nghị thanh toán

Khâu quyết toán: Tình trạng nhiều công trình xây dựng xong nhưng

việc tổ chức quyết toán bàn giao đưa vào sử dụng, quản lý, khai thác, bảo trì, thanh toán không dứt điểm đang là vấn đề nhức nhối đáng bàn

Có thể nhận thấy những nguyên nhân dẫn đến một thực trạng trên từ nhiều phía ở góc độ cơ quan tài chính: về biên chế và năng lực của cán bộ thẩm định báo cáo quyết toán hiện nay còn hạn chế và bất cập Có nơi đã có nhiều hồ sơ được gửi nhưng việc thẩm định trình phê duyệt quyết toán không kịp thời với nhiều lý do khác nhau liên quan đến thủ tục, chi phí đầu tư xin đề nghị quyết toán Khi có nhiều hồ sơ xin thẩm tra quyết toán do chủ đầu tư gửi

đến sự căng kéo, chậm chạp sẽ nhiều thêm và từ đây có thể nảy sinh tiêu cực, thậm chí thiếu chặt chẽ về thủ tục các khoản chi phí, thiếu hợp lý trong đầu tư bởi nhiều lý do khác nhau trong đó có lý do chậm về thời gian hoàn thiện thủ tục xin quyết toán

Trong sản xuất kinh doanh, trong đầu tư xõy dựng cơ bản, hầu hết cỏc doanh nghiệp đều bị tỏc động bởi mụi trường bờn trong và mụi trường bờn ngoài doanh nghiệp Vỡ vậy doanh nghiệp cần phải phõn tớch đỏnh giỏ và biết kết hợp hài hũa giữa cỏc yếu tố này để nõng cao hiệu quả đầu tư xõy dựng cơ

bản cho doanh nghiệp mỡnh

1.5 1 Nhõn tố bờn ngoài doanh nghiệp

Thị trường cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh

Trang 40

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cùng ngành và cùng sản xuất một ngành hàng hoặc một nhóm hàng có thể trở thành bạn hàng của nhau trong kinh doanh nhưng có thể lại là đối thủ của nhau trên thị trường đầu vào và đầu ra

- Đối thủ cạnh tranh:

Bao gồm hai nhóm, đối thủ cạnh tranh sơ cấp và đối thủ cạnh tranh thứ cấp Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là rất khó khăn.Vì vậy doanh nghiệp cần phải đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tổ chức bộ máy lao động phù hợp để tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại cũng như mẫu mã… để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Như vậy, đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời cũng tạo ra động lực phát triển doanh nghiệp.Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì viêc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng trở nên khó khăn

- Thị trường:

Bao gồm thị trường bên trong, thị trường đầu vào và thị trường đầu ra

Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp

Đối với thị trường đầu vào:

Cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị Cho nên nó có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất, giá thành sản phẩm

Đối với thị trường đầu ra:

Nó quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định doanh thu của doanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng

Ngày đăng: 27/02/2021, 19:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kế hoạch kinh doanh, Khoa Kế hoạch & Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê tháng 8/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế hoạch kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống kê tháng 8/2004
2. Giáo trình Kế hoạch hoá phát triển kinh tế- xã hội, Khoa Kế hoạch và phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Thống kế 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế hoạch hoá phát triển kinh tế- xã hội
Nhà XB: NXB Thống kế 2002
4. Phạm Thị Thu Hà (2005), Bài giảng cao học Phân tích dự án đầu tư và Quản lý dự án đầu tư, Khoa Kinh tế và quản lý, Đại học Bách khoa Hà nội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cao học Phân tích dự án đầu tư và Quản lý dự án đầu tư
Tác giả: Phạm Thị Thu Hà
Năm: 2005
2. Luật điện lực (2005), Vụ công tác lập pháp , NXB Tư pháp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật điện lực
Tác giả: Luật điện lực
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
3. Luật xây dựng (2004), NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xây dựng
Tác giả: Luật xây dựng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Luật doanh nghiệp nhà nước (2003), Vụ công tác lập pháp, NXB Tư pháp, Hà néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Luật doanh nghiệp nhà nước
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2003
5. Công ty Điện lực 1, Kế hoạch ĐTXD năm 2006, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch ĐTXD năm 2006
7. Tổng Công ty Điện lực Việt nam (2003), Quy trình kế hoạch ĐTXD, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kế hoạch ĐTXD
Tác giả: Tổng Công ty Điện lực Việt nam
Năm: 2003
3. PGS.TS Thái Bá Cẩn (2003), Giải pháp và cơ chế quản lý tài chính ngăn ngừa, chống lãng phí và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng Khác
1. Hội KHKT Xây dựng Việt nam, Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt nam, Hiệp hội nhà thầu xây dựng Việt nam (11/2003), Báo cáo hội thảo chống thất thoát trong ®Çu t­ x©y dùng nh×n tõ nhiÒu phÝa Khác
6. Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư XDCB Khác
7. Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung nghị định 52 ngày 08/7/1999 Khác
8. Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng Khác
9. Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về quy chế đấu thầu Khác
10. Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều Quy chế đấu thầu Khác
11. Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 17/02/2005 của Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Khác
12. Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về Quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác Khác
13. Nguồn Báo điện tử: Việtnamnet, Lao động, Bộ Tài chính, Bộ xây dựng, Bộ Công nghiệp, Tổng công ty Điện lực Việt nam Khác
14. Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, thanh toán vốn đầu tư Khác
15. Thông tư số 45/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w