1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiện quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho công ty cổ phần may sông hồng

136 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần may Sông Hồng, em đã chọn đề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY LINH

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

TS PHẠM THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục 2

Lời cam đoan 5

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt 6

Danh mục các bảng, sơ đồ, hình vẽ 7

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH Phần mở đầu 9

1.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH 11

1.1.1 Khái niêm về hiệu quả kinh doanh 11

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh 12

1.1.3 Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 16

1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 22

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 23

1.3.1 Phương pháp so sánh đơn giản 23

1.3.2 Phương pháp thay thế liên hoàn 25

1.3.3 Phương pháp phân tích tương quan 27

1.3.4 Phương pháp phân tích chi tiết 27

1.3.5 Phương pháp phân tích tài chính Dupont 28

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SXKD CỦA DN 28

1.3.1 Theo tính tất yếu của nhân tố 28

1.3.2 Theo tính chất của nhân tố 29

1.3.3 Theo xu hướng tác động của nhân tố 29

1.3.4 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 29

1.3.5 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô 32

1.3.6 Các yếu tố thuộc về Doanh Nghiệp 34

1.4 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CỘNG NGHIỆP DỆT MAY ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SXKD CỦA DN 36

1.4.1 Đặc điểm chung của ngành Dệt may Việt Nam 37

Trang 3

1.4.2 Đặc điểm của nguồn nhân lực ngành Dệt may 37

1.4.3 Đặc điểm thiết bị công nghệ ngành Dệt may 40

1.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HQSXKD CỦA DN 41

1.5.1 Tăng doanh thu bán hàng 41

1.5.2 Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm 42

1.5.3 Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn 43

1.5.4 Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 43

1.5.5 Quản lý tốt nguồn vốn nợ 45

Tóm tắt chương 1 47

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 48

2.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần may Sông Hồng 48

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 49

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 50

2.1.4 Mạng lưới kinh doanh 59

2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 61

2.2.1 Phân tích khái quát tình hình hiệu quả SXKD của công ty 61

2.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của công ty 67

2.3.3 Chỉ tiêu sinh lời bình quân của lao động 87

2.3 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 88

2.3.1 Phân tích các yếu tố bên ngoài Doanh nghiệp 88

2.3.2 Phân tích các yếu tố bên trong Doanh nghiệp 90

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HQSXKD CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 93

Trang 4

2.4.1 Những kết quả đạt được 95

2.4.2 Những hạn chế 96

Tóm tắt chương 2 99

CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG ĐẾN NĂM 2015 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 99

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 99

3.1.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 99

3.1.3 Những cơ hội của ngành Dệt may 101

3.1.4 Những thách thức của ngành Dệt may 101

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 103

3.2.1 Mục tiêu của công ty trong thời gian tới 103

3.2.2 Chiến lược phát triển của công ty đến năm 2015 103

3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 105

3.3.1 Giải pháp 1: Tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm của công ty 106

3.3.2 Giải pháp 2: Quản lý tốt khoản nợ phải thu 112

3.3.3 Giải pháp 3: Quản lý tốt nguồn vốn nợ 115

3.3.4 Giải pháp 4: Thực hiện tốt việc giảm chi phí sản xuất sản phẩm 118

3.3.5 Giải pháp 5 : Giảm hàng tồn kho 121

Tóm tắt chương 3 124

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu, vận dụng kiến thức để phân tích

và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty

cổ phần may Sông Hồng, Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ hình thức nào

Học viên

Nguy ễn Thùy Linh

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

18 ROA Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản (Return On Assets)

19 ROE Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (Return On Equity)

20 ROS Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Return On Sales)

21 EBIT Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (Earning before Interest

and Tax)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

1 Bảng 2.1 Danh mục các nhóm sản phẩm sản xuất kinh doanh

2 Bảng 2.2 Bảng hệ thống các nhà phân phối trên toàn quốc 59

4 Bảng 2.4 Bảng một số các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh

5 Bảng 2.5 Bảng tăng trưởng Doanh thu và Lợi nhuận của

7 Bảng 2.7 Bảng so sánh các chỉ tiêu sinh lợi của một số công

8 Bảng 2.8 Bảng phân tích tổng quát biến động cơ cấu tài sản 68

9 Bảng 2.9 Bảng phân tích biến động cơ cấu nguồn vốn 70

10 Bảng 2.10 Bảng phân tích mối quan hệ cân dối giữa tài sản và

11 Bảng 2.11 Bảng phản ánh các chỉ tiêu phản ánh tài sản của

12 Bảng 2.12 Bảng so sánh một số các chỉ tiêu về quản lý Tài sản

13 Bảng 2.13 Bảng phân tích các chỉ tiêu thanh khoản 80

14 Bảng 2.14 Bảng so sánh các chỉ tiêu thanh khoản của các công

15 Bảng 2.15 Bảng phân tích khả năng quả lý vốn vay 81

16 Bảng 2.16 Bảng so sánh hệ số nợ của một số công ty may trên

17 Bảng 2.17 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hệ số 83

Trang 8

tài trợ

18 Bảng 2.18 Hiệu quả sử dụng lao động của công ty giai đoạn

19 Bảng 2.19 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản

28 Hình 2.3 Qui trình dây chuyền sản xuất chăn ga gối đệm 56

Trang 9

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, ngành may mặc ở Việt Nam ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước

Sự phát triển của ngành may mặc trong những năm qua đã mang lại nhiều lợi ích cho các nhà sản xuất, các trung gian thương mại và người tiêu dùng Sự thành lập của các công ty may nói chung và Công ty cổ phần may Sông Hồng nói riêng đã góp phần làm sôi động thị trường may mặc ở Việt Nam, đánh dấu một bước phát triển của ngành may mặc Việt Nam

Kinh doanh trong cơ chế thị trường, cũng như nhiều doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng khác, các doanh nghiệp kinh doanh may mặc đều mong muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh Kinh doanh có hiệu quả là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp may mặc nói riêng

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần may Sông Hồng, em đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:

“Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh

doanh cho công ty cổ phần may Sông Hồng”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Từ đó luận giải và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty cổ phần may Sông Hồng từ nay đến năm 2015

3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần may Sông Hồng trong những năm gần đây

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trong Công ty cổ phần may Sông Hồng và chủ yếu tập trung xem xét, phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các số liệu, tài liệu về

Trang 10

báo cáo tài chính của Công ty cổ phần may Sông Hồng trong những năm gần đây

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp như: quan sát, tổng hợp, so sánh, phân tích, thay thế liên hoàn kết hợp với việc sử dụng các bảng biểu số liệu minh hoạ để làm sáng tỏ quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu đã được đặt ra

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần may Sông Hồng

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty

cổ phần may Sông Hồng trong giai đoạn từ nay đến năm 2015

5 Kết cấu của luận văn

Nội dung luận văn tốt nghiệp gồm 3 chương:

CHƯƠNG I: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH

1.1.1 Khái niêm về hiệu quả kinh doanh

Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh (HQKD), mặc dù các nhà nghiên cứu cũng như các nhà kinh doanh đều thống nhất nhìn nhận rằng “ Hiệu quả kinh doanh” là thước đo về mặt chất lượng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt trong điều kiện nước ta hiện nay đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,

từ nền kinh tế còn chịu nhiều ảnh hưởng của kinh tế kế hoạch hoá tập trung lại càng đòi hỏi cấp thiết hơn nữa

- Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: “ Hiệu quả kinh tế: Chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố sản xuất – kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu”( tr 407) Tuỳ theo mục đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như: năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, … Chỉ tiêu thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra “ Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực của hoạt động kinh tế, vì vậy khái niệm hiệu quả kinh tế trong kinh doanh có thể được hiểu

là hiệu quả kinh doanh, trước hết là khía cạnh hiệu quả đó, là chỉ tiêu phản ánh trình

độ và chất lượng sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu, với các chỉ tiêu đánh giá tương ứng …

- Như vậy, có thể hiểu “ hiệu quả sản xuất kinh doanh” là một phạm trù phản ánh về mặt chất lượng trình độ quản lý, khai thác, sử dụng và huy động các nguồn lực của doanh nghiệp Nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận cao nhất với chi phí nhỏ

Trang 12

nhất Tỷ lệ chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao Có thể biểu thị hiệu quả bằng công thức sau:

H = K ( 1.1 )

C Trong đó: H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh

K: Kết quả đạt được C: Chi phí nguồn lực gắn với kết quả Với khái niệm này, xét trên góc độ từng doanh nghiệp thì một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả lý tưởng là 1 doanh nghiệp hoạt động trên đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp, và tưng tự có thể suy rộng ra cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng vậy Đây là trường hợp lý tưởng, nhưng trong thực tế nhà doanh nghiệp thường gặp phổ biến các trường hợp: “Đựơc cái này, mất cái kia” Ví

dụ, khi đầu tư công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất, hạ giá thành – một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh (xét về mặt lý thuyết), thì doanh nghiệp cần phải bỏ chi phí lớn, cần thời gian đầu tư dài và có lúc còn làm mất chỗ làm của công nhân Vì vậy cũng phải chấp nhận những rủi ro có thể có đi theo nó và

vì đó mà kinh doanh không hiệu quả

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Mục tiêu hiệu quả luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nền sản xuất Nhưng hiệu quả là gì? Như thế nào là hoạt động kinh doanh có hiệu quả? Không phải là một vấn đề đã được giải quyết triệt để và có quan niệm thống nhất trong lý luận và trong công tác thực tiễn Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, phạm trù hiệu quả kinh tế sẽ được hiểu và xem xét khác nhau Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự chỉ đạo và quản

lý của nhà nước thì việc xác định rõ bản chất, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh

tế trở thành một đòi hỏi cấp bách Thật khó đánh giá mức độ hiệu quả kinh tế đạt được mà khi bản thân phạm trù này chưa được xác định rõ về bản chất những biểu

Trang 13

hiệu quả kinh tế là vấn đề không những có ý nghĩa quan trọng về lý luận mà còn rất cần thiết trong hoạt động thực tiễn Nó sẽ cho phép xác định đúng đắn mục tiêu và biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trước đây khi nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước giao như: Giá trị tổng sản lượng hàng hoá thực hiện, khối lượng sản phẩm chủ yếu như chỉ tiêu nộp ngân sách … về thực chất đây là các chỉ tiêu phản ánh kết quả, không thể hiện được mối quan hệ so sánh với những gì mà doanh nghiệp bỏ ra và nhà nước đầu tư Mặt khác trong thời kỳ này giá cả mang tính hình thức, theo sự chỉ đạo chung nên việc tính toán các chỉ tiêu thống kê và hạch toán mang tính hình thức không phản ánh đúng thực chất trình độ quản lý của doanh nghiệp

Khi nến kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản ký kinh tế bằng các chính sách định hướng vĩ mô thông qua các công cụ là hệ thống luật pháp hành chính và luật pháp kinh tế nhằm đạt được mục tiêu chung của xã hội Các doanh nghiệp là các chủ thể sản xuất, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật cho phép, các doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đường đi cho mình và bình đẳng trước pháp luật Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả xã hội không đồng nhất với nhau

Để đánh giá kết quả đạt được của các loại hình doanh nghiệp thì Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và xác định cho mỗi loại hình doanh nghiệp các mục tiêu khác nhau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “ Lấy suất sinh lời tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh Lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích” Đây là một quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng về cả mặt lý luận và thực tiễn trong việc làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn để xác định, đánh giá hiệu quả kinh tế

Từ thực tiễn nêu trên ta thấy, “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh trình độ năng lực quản lý bảo đảm thực hiện có kinh tế cao những mục tiêu kinh tế

Trang 14

xã hội với chi phí nhỏ nhất” Chúng ta cần đánh giá hiệu quả kinh tế toàn diện trên

cả hai mặt đó là mặt định tính và mặt định lượng

- Thứ nhất: Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế, xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn, hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

- Thứ hai: Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh

sự cố gắng, nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị – xã hội

Hai mặt định lượng và định tính của phạm trù hiệu quả kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong những biểu hiện về định lượng phải nhằm đạt được những mục tiêu chính trị – xã hội nhất định Ngược lại, việc quản lý kinh tế, dù ở giai đoạn nào, cũng không chấp nhận việc thực hiện những yêu cầu, mục tiêu chính trị, xã hội với bất kỳ giá nào, cần phân biệt sự khác nhau và hiệu quả mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và kết quả kinh tế Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế luôn là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa cái phải bỏ ra và cái thu về được Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả Từ bản thân mình, kết quả chưa thể hiện nó tạo ra ở mức và phải chi phí nào

Trong quản lý sản xuất kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế được biểu hiện

ở những dạng khác nhau Việc phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế Có mấy cách phân loại chủ yếu sau đây:

- Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân

Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động của từng doanh nghiệp công nghiệp, biểu hiện trực tiếp của hiệu quả này là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp phải thu được và chất lượng thực hiện những yêu cầu do xã hội đặt ra cho

Trang 15

đó là lượng sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hoặc tổng sản phẩm xã hội, mà đất nước và tài nguyên đã hao phí

Trong việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt được hiệu quả toàn bộ hệ thống kinh tế quốc dân, mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả cá biệt Nghĩa là phụ thuộc và sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp Đồng thời, xã hội qua hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt Một cơ chế quản lý đúng tạo tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt Ngược lại, một chính sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm việc nâng cao hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả của những chi phí bộ phận và hiệu quả của chi phí tổng hợp Hiệu quả của chi phí tổng hợp thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và tổng chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Còn hiệu quả chi phí

bộ phận lại thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với lượng chi phí từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy (lao động, thiết bị, nguyên vật liệu …) Việc tính toán hiệu quả chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp, hay nền kinh tế quốc dân Việc tính toán và phân tích hiệu quả của các chi phí bộ phận cho thấy sự tác động của những nhân tố nội bộ sản xuất kinh doanh đến hiệu quả kinh tế nói chung Về nguyên tắc, hiệu quả chi phí tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả của các chi phí bộ phận

- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh

Trong công tác quản lý công nghiệp, việc xác định và phân tích hiệu quả kinh

Trang 16

Hiệu quả tuyệt đối được tính toán cho từng phương án bằng cách xác định mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, khi thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, về mặt lượng, hiệu quả này được biểu hiện ở các chỉ tiêu khác nhau, như năng suất lao động, thời gian hoàn vốn, tỷ suất vốn, lợi nhuận …

Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí, hoặc kết quả của các phương án khác nhau Các chỉ tiêu hiệu quả so sánh được sử dụng để đánh giá mức

độ hiệu quả của các phương án, để chọn phương án có lợi nhất

1.1.3 Các tiêu chuẩn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

1.1.3.1 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội

là yêu cầu khách quan Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là cơ sở để đánh giá mức độ hiệu quả của phương án khác nhau và chọn phương án có hiệu quả kinh tế Trong thực tế thiếu một tiêu chuẩn thống nhất, không thể có căn cứ xác định để đưa ra những quyết định quản lý hợp lý, nhất là trong điều kiện giải quyết một nhiệm vụ đòi hỏi thực hiện tổng hợp các biện pháp, mà ảnh hưởng của chúng đến kết quả cuối cùng không đồng nhất hoặc không đồng hướng nhau Chẳng hạn việc áp dụng kỹ thuật mới có tác động tích cực đến các chỉ tiêu khối lượng sản phẩm, năng suất lao động, nhưng lại đòi hỏi chi phí đầu tư

Một cách tổng quát, khi thực hiện một nhiệm vụ nào đó mà nhà kinh doanh

có thể gặp trường hợp lý tưởng “được tất cả”, nhưng thông thường họ gặp trường hợp “ được cái này, mất cái khác” vì vậy, cần thống nhất, không thể có cơ sở để đưa

ra quyết định tối ưu, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải thể hiện được mối tương quan giữa thu và chi theo hướng cực đại cái thu được và cực tiểu phải chi ra Tiêu chuẩn

ấy, nhất thiết phải thể hiện mục đích của sản xuất trong điều kiện nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn cụ thể Mục đích của chủ nghĩa xã hội, suy đến cùng, là nâng cao mức sống vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của mọi công dân trong xã hội Để thực hiện mục đích đó, phải sử dụng hợp lý tất cả các chi

Trang 17

phí và dự trữ sản xuất để tạo nên kết quả cao nhất Nghĩa là phải tăng năng suất lao động xã hội

Như vậy, theo nghĩa tổng quát có thể coi tăng năng suất lao động xã hội như tiêu chuẩn chung của hiệu quả kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội

Theo ý nghĩa trực tiếp, tăng năng suất lao động là giảm hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra sản phẩm hoặc tăng sản lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, theo ý nghĩa rộng hơn, tăng năng suất lao động dưới chủ nghĩa xã hội còn là việc phát triển sản xuất mở mang ngành nghề, trên cơ sở đó thu hút thêm lao động vào sản xuất của cải vật chất, tạo thêm việc làm cho người lao động vào sản xuất của cải vật chất, tạo thêm việc làm cho người lao động Tăng năng suất lao động xã hội tạo ra điều kiện vật chất để tăng thu nhập quốc dân, quỹ tích luỹ tiêu dùng xã hội Đó là điều kiện không thể thiếu để cải thiện mức sống vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của một công dân trong xã hội

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế quốc dân phải bảo đảm tính toàn diện

Trước hết, đó là sự gắn bó và ước định lẫn nhau giữa giá trị và giá trị sử dụng: Một mặt giảm chi phí lao động xã hội sản xuất hàng hoá; mặt khác, đảm bảo chất lượng sản phẩm và không ngừng mở rộng mặt hàng đáp ứng những nhu cầu đa dạng của xã hội Thứ hai, sự toàn diện của tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế quốc dân đòi hỏi phải vừa giải quyết những vấn đề kinh tế kinh doanh, vừa phải giải quyết những vấn đề xã hội của đất nước Thứ ba, sự toàn diện của tiêu chuẩn hiệu quả cũng đòi hỏi xem xét mỗi giải pháp, mỗi phương án một cách toàn diện về không gian và thời gian, làm sao phải bảo đảm hiệu quả của từng phần tử, từng phần khi

có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống nhất, nâng cao hiệu quả hiện tại và lâu dài của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mỗi doanh nghiệp cần chú trọng đến việc tạo ra và không ngừng tăng lợi nhuận Nhưng cũng không nên đơn giản coi lợi nhuận như tiêu chuẩn duy nhất đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Điều quan trọng là xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của hệ thống kinh tế

Trang 18

quốc dân, sự vận động của nó phải trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu của hệ thống Bởi vậy mà lợi nhuận mỗi doanh nghiệp thu được trong hoạt động kinh doanh vừa phải thể hiện sự gắn bó của doanh nghiệp với sự vận động của thị trường, vừa phải đảm bảo sự tôn trọng pháp luật kỷ cương của nhà nước, góp phần vào chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Đồng thời, nói cũng phải được phân phối theo cách kết hợp hài hoà giữa các lợi ích khác nhau: Lợi ích

cá nhân của người lao động, lợi ích người chủ sở hữu, lợi ích tập thể doanh nghiệp

và lợi ích xã hội

Cuối cùng, cũng phải cần chú ý rằng một phương án không sinh lời ngay khi bắt đầu thực hiện mà chỉ có thể tạo được lợi nhuận sau thời gian nhất định, bởi vậy, phải có tầm nhìn chiến lược, kết hợp trước mắt và lâu dài khi xem xét vấn đề này

1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là biểu hiện đặc trưng về lượng tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế Trong thực tế, việc phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu, vì:

Thứ nhất: Để tính được mức tăng năng suất lao động xã hội, phải tính được hao phí lao động xã hội để sản xuất hàng hoá nghĩa là phải tính được giá trị hàng hoá Tuy nhiên, điều đó chưa thực hiện được trong thực tế Việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu là nhằm phản ánh giá trị ở những mức độ và khía cạnh khác nhau

Thư hai: Bản thân mỗi chỉ tiêu có những nhược điểm nhất định trong nội dung và phương pháp tính toán Việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu cho phép thấy được mối tương quan thu – chi một cách đầy đủ và toàn diện hơn

Cũng cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa 3 loại chỉ tiêu sau đây:

- Các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế

- Các chỉ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả kinh tế

- Các chỉ tiêu dùng để so sánh hiệu quả kinh tế

Các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế chỉ phản ánh từng mặt của mối tương quan thu – chi, nó được dùng để so sánh mối tương quan ấy, chẳng hạn:

Trang 19

Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trực tiếp phản ánh từng mặt của mối tương quan thu – chi trực tiếp biểu hiện qua hiệu quả kinh tế, chẳng hạn: Năng suất lao động, thời gian thu hồi vốn, tỷ suất vốn, lợi nhuận …

Các chỉ tiêu dùng để so so sánh hiệu quả kinh tế được tính toán dùng để thực hiện sự tương quan ở các phương án khác nhau, nhằm chọn lấy phương án có hiệu quả nhất Sự so sánh này có thể thực hiện giữa các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế với nhau, giữa các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế với nhau

HQKD được xét trên một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

a-Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA).(Return on Assets – ROA)

Để xem xét sự kết hợp tác động giữ hệ số lãi ròng với số vòng quay tài sản, ta tính lãi suất sinh lời của tài sản như sau:

Suất sinh lời của tài sản (ROA) = Lãi ròng

Tài sản

Suất sinh lời tài sản = Hệ số lãi ròng x số vòng vay tài sản (1.5)

ROA là công cụ đo lường cơ bản tính hiệu quả của việc phân phối và quản lý các nguồn lực ở doanh nghiệp Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư ROA càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng lớn

b- Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE):

Trang 20

Từ trước đến nay, tiêu chuẩn phổ biến nhất mà người ta thường dùng để đánh giá tình hình tài chính của các nhà đầu tư và các nhà quản lý cao cấp là suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Nó được định nghĩa như sau:

Suất sinh lời vốn chủ sở

Lãi ròng

(1.6) Vốn chủ sở hữu

= Lãi ròng x Doanh thu x Tài sản

Gọi ba hệ số trên lần lượt là hệ số lãi ròng, số vòng quay tài sản và đòn bẩy tài chính (đòn cân nợ), công thức trên có thể viết lại như sau:

Ty suất sinh lời

vốn chủ sở hữu

(ROE)

= Lãi ròng x Doanh thu x Tài sảnbq (1.7) Doanh thu Tài sảnbq Vốn chủ sở hữubq

Suất sinh lời vốn chủ sở hữu đo lường tính hiệu quả của đồng vốn của các chủ

sở hữu của doanh nghiệp Nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, hay nói cách khác, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ

sở hữu trên vốn đầu tư của mình

c - Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS)

Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thì mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế (Lãi ròng) Tỷ số này càng lớn thì khả năng sinh lợi của công ty càng cao và ngược lại Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả

Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu

Lãi ròng

( 1.8 ) Doanh thu thuần

d - Các chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản

 Vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ và được xác định bằng công thức:

Trang 21

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán (1.9)

Hàng tồn kho bình quân Vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao và ngược lại

 Sức sản xuất của tài sản dài hạn

Tỷ số này phản ánh 100 đồng tài sản dài hạn bình quân tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Công thức tính tỷ số này như sau:

Sức sản xuất của tài

Tài sản dài hạn bình quân Năng suất TSDH càng cao phản ánh tình hình giá trị TSDH dịch chuyển nhanh vào giá trị sản phẩm, sớm thu hồi lại vốn đầu tư vào tài sản dài hạn Nếu tỷ

số này thấp chứng tỏ việc đầu tư TSDH không hợp lý, vốn ứ đọng

 Sức sản xuất tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp Nó thể hiện 100 đồng tài sản bình quân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đã thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Công thức tính như sau:

Doanh thu thuần

(1.11) Tổng tài sản bình quân

Năng suất sử dụng tổng tài sản càng lớn hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng cao và ngược lại

 Kỳ thu nợ bình quân

Kỳ thu nợ bình quân hay thời gian thu tiền bình quân là số ngày của một vòng quay các khoản phải thu, nhằm đánh giá việc quản lý của công ty đối với các khoản phải thu do bán chịu Kỳ thu nợ bình quân càng thấp phản ánh việc quản lý các khoản phải thu do bán chịu của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại

Trang 22

Kỳ thu nợ bình quân = Nợ phải thu bình quân (1.12)

e- Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động

Chỉ tiêu này cho chiết mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong 1 chu kỳ tính toán xác định, nó được xác định bởi công thức sau:

BQ = R

(1.18)

L

BQ : Lợi nhuận bình quân/1 lao động trong kỳ tính toán

R : Lợi nhuận ròng của kỳ tính toán

L : Tổng số lao động bình quân của kỳ tính toán

1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trước hết, do sự chi phối của “Quy luật khan hiếm” buộc các doanh nghiệp nói riêng và các nhà quản lý nền kinh tế xã hội nói chung, phải cân nặng việc quản

lý, sử dụng các nguồn lực sản xuất hạn chế của xã hội như thế nào để đủ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người Chính vì vậy đã buộc các doanh nghiệp phải

sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất và đây cũng chính là một tất yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh

Thứ hai, các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường là luôn tồn tại trong cạnh tranh, để tồn tại và phát triển được trong môi trường này thì doanh nghiệp phải có và luôn tạo ra và duy trì được các lợi thế cạnh tranh của mình, có thể bằng chất lượng tốt hơn, dịch vụ hậu mãi tốt hơn hay giá rẻ hơn … so với các doanh nghiệp khác sản xuất kinh doanh cùng sản phẩm Để có thể làm được điều này thì

Trang 23

chỉ bằng cách nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất lao động

Thứ ba: Mục tiêu sau cùng, bao quát và dài hạn của mọi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá lợi nhuận và là mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp Vì vậy không chỉ tạo ra và duy trì khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển là đủ, mà các doanh nghiệp còn mong muốn có lợi nhuận nhiều nhất và ngày càng cao trong điều kiện có thể được Để có thể thực hiện được mong muốn này, thì doanh nghiệp phải thường xuyên tìm mọi giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp

Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là một tất yếu cần thiết, không chỉ đối với mọi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường để cạnh tranh, tồn tại

và phát triển và thu được lợi nhuận cao nhất, mà đối với các nhà quản lý nền kinh tế

là để đòi hỏi các doanh nghiệp luôn sử dụng nguồn lực sản xuất xã hội một cách có hiệu quả nhất, trong điềun kiện ràng buộc có sự khan hiếm, để nèn kinh tế quốc doanh có thể phát triển một cách tối ưu, vươn tới tiệm cận với đường giới hạn tiềm năng của nền kinh tế, và ở đây hiệu quả bao hàm cả ý nghĩa của sự bền vững

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH

Hiện nay, có 04 phương pháp thường được sử dụng khi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là: Phương pháp so sánh đơn giản, Phương pháp thay thế liên hoàn, Phương pháp phân tích tương quan, Phương pháp phân tích chi tiết

1.2.1 Phương pháp so sánh đơn giản

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh So sánh trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá, có cùng một nội dung, một tính chất tương tự nhau Khi sử dụng phương pháp này cần nắm chắc ba nguyên tắc sau:

- Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh

- Điều kiện so sánh được

- Kỹ thuật so sánh

Trang 24

Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh:

Tiêu chuẩn để so sánh là số liệu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh và được gọi là gốc so sánh Tuỳ theo mục đích của nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp Các gốc so sánh có thể là:

- Các tài liệu, số liệu của kỳ trước: Nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu

- Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức): nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với dự kiến

- Các chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực: nhằm khẳng định vị thế của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường

Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện Đây cũng là kết quả mà doanh nghiệp đạt được

Điều kiện so sánh được :

Điều kiện tiên quyết để sử dụng được phương pháp so sánh là các chỉ tiêu được sử dụng phải có tính đồng nhất Ta cũng cần chú trọng về cả đặc điểm không gian và thời gian Về mặt không gian, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh Về mặt thời gian, cá chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán và phải thống nhất trên ba mặt sau: phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế, phải có cùng một phương pháp tính toán, phải cùng một đơn vị đo lường

Để đảm bảo tính đồng nhất, người ta cần phải quan tâm tới việc xem xét mức

độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải có, thời gian phân tích được cho phép v.v…

Trang 25

- So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số kỳ phân tích với trị số kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Kết quả sao sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các hiện tượng kinh tế

- So sánh bằng số bình quân: là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn

Trong đó C1, C0 lần lượt là số liệu kỳ phân tích và kỳ gốc

Ưu điểm: Phương pháp so sánh giản đơn dễ thực hiện, cho phép tách ra được những nét chung, nét riêng của các hiện tượng so sánh Trên cơ sở đó, ta đánh giá được những mặt hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm được biện pháp tối ưu trong mỗi trường hợp

Nhược điểm: Phương pháp so sánh giản đơn có nhược điểm lớn nhất là không xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố biến động đến chỉ tiêu cần phân tích

1.2.2 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích Thay thế liên hoàn là thay thế lần lượt số liệu gốc bằng số liệu thực tế của nhân tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêu kinh tế được phân tích theo đúng quan hệ logic giữa các nhân tố Việc so sánh mức chênh lệch hàm số giữa cái trước nó và cái đã được thay thế sẽ giúp xác định được mức ảnh hưởng của nhân tố được thay thế

Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau có thể thu được các kết quả khác nhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một mục tiêu Đây chính là nhược điểm nổi bật nhất của phương pháp này

Trình tự thực hiện phương pháp này như sau:

Trang 26

- Xác định đối tượng phân tích là mức chênh lệch của chỉ tiêu kỳ phân tích so với kỳ gốc

- Thiết lập mối quan hệ của các nhân tố với chỉ tiêu phân tích và sắp xếp các nhân tố theo trình tự nhất định từ nhân tố lượng đến nhân tố chất Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau

- Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ gốc theo trình tự sắp xếp

ở trên

- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau so với kết quả thay thế lần trước ta được mức độ ảnh hưởng của nhân tố mới và tổng đại số của các nhân tố được xác định

Trong trường hợp cùng một lúc có nhiều nhân tố chất lượng và số lượng, việc xác định trật tự thay thế trở nên khó khăn Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu thực tế so với chỉ tiêu gốc chênh lệch không quá 5 đến 10% thì kết quả tính toán trong bất kỳ trình tự thay thế nào cũng gần bằng nhau

Phương pháp thay thế liên hoàn được minh hoạ như sau:

A là chỉ tiêu cần phân tích, A có quan hệ với ba nhân tố là x, y, z và mối quan

hệ này được biểu diễn dưới dạng hàm số f(x,y,z)

A1 = f(x1,y1,z1) và A0 = f(x0,y0,z0) lần lượt là số liệu kỳ phân tích và kỳ gốc

A = A1 - A0 = f(x1,y1,z1) - f(x0,y0,z0) là lượng biến đổi của chỉ tiêu A

Để xác định sự tác động của từng nhân tố x, y, z tới chỉ tiêu A ta thay lần lượt các nhân tố biến đổi, giả sử thứ tự thay thế là x, y, z Ta có:

Mức ảnh hưởng của nhân tố x tới chỉ tiêu A:

Trang 27

A = Ax + Ay + Az = f(x1,y1,z1) - f(x0,y0,z0)

Ưu điểm: Phương pháp thay thế liên hoàn giúp xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Từ đó tìm được các biện pháp thích hợp biến đổi từng nhân tố, nâng cao hiệu quả của chỉ tiêu phân tích

Nhược điểm: Để sử dụng được phương pháp thay thế liên hoàn thì các nhân

tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích phải có mối liên hệ dưới dạng tích số hoặc thương số Bên cạnh đó, việc sắp xếp thứ tự xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là rất phức tạp

1.2.3 Phương pháp phân tích tương quan

Phương pháp phân tích tương quan là phương pháp thống kê dùng để nghiên cứu các mối quan hệ tương quan, được sử dụng để định dạng các mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế

Phân tích tương quan nhằm định dạng các mối quan hệ kinh tế và lượng hoá chúng qua thực nghiệm thống kê trên số lớn Tìm hiểu xu thế phát triển cũng như tính quy luật trong sự phát triển và mối liên hệ của các hiện tượng kinh tế khác Nếu quan sát đánh giá mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả với một tiêu thức nguyên nhân thì gọi là tương quan đơn Nếu quan sát đánh giá mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả với nhiều tiêu thức nguyên nhân thì gọi là tương quan bội

1.2.4 Phương pháp phân tích chi tiết

Phương pháp phân tích chi tiết là phương pháp phân tích các chỉ tiêu dựa trên từng thành phần cấu thành và trong một không gian, thời gian cụ thể

- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành các yếu tố cấu thành Nghiên cứu chi tiết giúp đánh giá chính xác các yếu tố cấu thành của các chỉ tiêu phân tích

- Chi tiết theo thời gian: Các kết qủa kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình trong từng khoảng thời gian nhất định Mỗi khoảng thời gian khác nhau có những nguyên nhân tác động không giống nhau Việc phân tích chi tiết giúp đánh giá chính xác và đúng đắn kết quả kinh doanh, từ đó có các giải pháp phù hợp trong từng khoảng thời gian

Trang 28

- Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh: Kết quả hoạt động kinh doanh do nhiều bộ phận theo phậm vi và điạn điểm phát sinh khác nhau tạo nên Việc phân tích chi tiết nhằm đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của từng bộ phận theo phạm vi và địa điểm khác nhau, nhằm khai thác các mặt mạnh và khắc phục các mặt yếu kém

1.2.5 Phương pháp phân tích tài chính Dupont

Phương pháp Dupont nghiên cứu tác động liên hoàn các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Với phương pháp này các nhà phân tích

sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của DN

Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của DN như tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là việc nhận thức vạch ra một cách đúng đắn những yếu tố tác động đến kết quả nhất định trong việc phân tích kinh doanh

Như vậy việc xác định ảnh hưởng của các nhân tố không những cần phải chính xác mà còn cần phải kịp thời, không những chỉ xác định các nhân tố đối tượng với hiện tượng kinh tế mà còn phải xác định sự tác động qua lại giữa các nhân tố đó

Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ta có thể phân loại theo 4 cách khác nhau là theo tính tất yếu của nhân tố, theo tính chất của nhân tố, theo xu hướng tác động của nhân tố và các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh

1.3.1 Theo tính tất yếu của nhân tố

Trang 29

Nhân tố chủ quan: Như giá thành, mức phí lao động, thời gian lao động là nhân

tố tuỳ thuộc nội lực của doanh nghiệp

Nhân tố khách quan: Giá cả thị trường, thuế suất, mức lưong tối thiểu hoặc trung

bình…tác động từ ngoài vào người kinh doanh

Phân tích hiệu quả kinh doanh theo các yếu tố chủ quan và khách quan nhằm đánh giá nỗ lực của bản thân và tìm ra biện pháp tăng hiệu quả kinh doanh

1.3.2 Theo tính chất của nhân tố

Nhân tố số lượng: Phản ánh quy mô sản xuất như số lao động, số lượng vật tư,

khối lượng sản phẩm, doanh thu bán hàng

Nhân tố chất lượng: Phản ánh hiệu suất kinh doanh như: giá thành đơn vị sản

phẩm, lãi suất, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn

Phân tích kết quả kinh doanh theo các nhân tố chất lượng và số lượng vừa giúp cho việc đánh giá phương hướng kinh doanh, chất lượng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác định các trình tự sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh

1.3.3 Theo xu hướng tác động của nhân tố

Nhân tố tích cực: Có tác dụng làm tăng quy mô kết quả kinh doanh

Nhân tố tiêu cực: Có tác dụng xấu đến kết quả kinh doanh

Trong phân tích cần xác định xu hướng và bù trừ độ lớn của các nhân tố tích cực

để xác định ảnh hưởng tổng hợp các loại nhân tố

Chú ý: Việc phân loại nhân tố phải tuỳ thuộc vào mối quan hệ của nhân tố với chỉ

tiêu phân tích

1.3.4 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

* Yếu tố chính trị, luật pháp

Trong điều kiện ngày nay, hầu hết tất cả nền kinh tế các nước trên thế giới đều

có sự quản lý của Nhà nước nhằm hạn chế một mức độ nào đó những khuyết tật của

Trang 30

nền kinh tế thị trường Sự ổn định về chính trị, hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm, khi phân tích môi trường chính trị luật pháp, doanh nghiệp cần quan tâm đến các văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp như: Luật Dược, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh ; cơ chế điều hành của Chính phủ; sự hình thành các

cơ quan quản lý thị trường, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng v.v

* Yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Theo một phạm vi rộng, các yếu tố kinh tế này bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến sức mua của người tiêu dùng và liên quan đến việc huy động và sử dụng các nguồn lực vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập hiện tại, giá cả hàng hoá dịch vụ, lãi suất ngân hàng, lạm phát, tỉ giá hối đoái Sự biến động các yếu tố này có thể tạo ra những cơ hội hay những thách thức cho các nhà hoạt động thị trường

Đối với doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, yếu tố kinh tế lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi do tính chất đặc biệt của mặt hàng kinh doanh Một ví

dụ cho thấy, sự phụ thuộc nguồn nguyên liệu thuốc chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài, những tác động mở cửa nền kinh tế ảnh hưởng đến giá cả dược phẩm được lưu thông trong nước đã ảnh hưởng đến nhu cầu, quyết định chi tiêu của người tiêu dùng về mặt hàng này, kết quả là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Yếu tố khoa học - công nghệ

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, sự phát triển nhanh chóng mọi lĩnh vực kĩ thuật - công nghệ đều tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của mọi chủ thể kinh tế có liên quan Với trình độ khoa học kĩ thuật hiện tại ở nước ta,

sự chuyển giao công nghệ sẽ ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh doanh của

Trang 31

Trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm, việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại làm cho chu kỳ sống sản phẩm bị ngắn lại Sự ra đời của nhiều loại dược phẩm mới với giá thành hạ, bao bì, kiểu dáng sản phẩm được cải tiến nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng đã và sẽ tạo ra những cơ hội cũng như những thách thức kinh doanh cho các nhà sản xuất, các trung gian thương mại tham gia vào kênh phân phối Việc ứng dụng chất lượng hiệu quả công nghệ hiện đại vào lĩnh vực thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin sẽ nâng cao khả năng tiếp cận thông tin thị trường, làm cơ sở cho các nhà quản trị xây dựng chiến lược kinh doanh cũng góp phần làm nên những thành công của doanh nghiệp

* Yếu tố văn hoá - xã hội

Đây là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu, thái độ, hành vi tiêu dùng, vì vậy doanh nghiệp cũng cần phải xem xét các yếu tố này Ở một khía cạnh khác, yếu tố này còn tác động trực tiếp đến việc hình thành môi trường văn hoá doanh nghiệp cũng như thái độ ứng xử giữa nhà quản lý với nhân viên, giữa nhân viên với nhau; giữa nhân viên với đối tác, khách hàng.v.v, điều này góp phần xây dựng nên hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng

Khi xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường văn hoá - xã hội, các yếu

tố đòi hỏi cần được doanh nghiệp tính đến có thể là: đạo đức, quan niệm về giá trị đạo đức; sự thay đổi của tháp tuổi; sự di chuyển của dân cư; dân tộc; tôn giáo; phong tục tập quán

* Yếu tố điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng

Môi trường tự nhiên bao gồm các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác, các điều kiện địa lý như địa hình, đất đai, khí hậu ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lực đầu vào cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một ví dụ chúng ta dễ nhận thấy, khí hậu mỗi mùa khác nhau nên nhu cầu thuốc của người dân mỗi mùa đối với từng loại thuốc là khác nhau, do đó khối lượng tiêu thụ từng mặt hàng của doanh nghiệp mỗi mùa là khác nhau

Các điều kiện tự nhiên có thể ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp khác nhau:

Trang 32

đất đai lại ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp chế biến hay địa hình và sự phát triển cơ sở hạ tầng lại có ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ sở hạ tầng cũng là yếu tố cần được doanh nghiệp quan tâm đến Hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin, điện, nước tất cả đều gây thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động kinh doanh

* Yếu tố quốc tế

Trước đây, trong nền kinh tế đóng, hoạt động của các đơn vị kinh tế ở nước ta

ít chịu ảnh hường của môi trường quốc tế Ngày nay, cùng hoà theo xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo hướng mở cửa và hội nhập, nền kinh tế quốc dân trở thành một phân hệ mở của hệ thống khu vực và thế giới Sự biến động của nền kinh tế thế giới, sự thay đổi thể chế chính trị của thế giới…đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp ở các quốc gia có quan hệ làm ăn kinh tế với nhau Vì vậy, nghiên cứu yếu tố quốc tế

là một một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với cả doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế và doanh nghiêp kinh doanh thương mại trong nước

1.3.5 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô

* Khách hàng

Khách hàng của doanh nghiệp là những người có nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ

do doanh nghiệp cung cấp Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng không chỉ là khách hàng hiện tại mà còn phải tính đến khách hàng tiềm năng Các đặc điểm của khách hàng: giai tầng xã hội, gia đình, tuổi tác, nghề nghiệp, nhận thức, tâm lý đều có ảnh hưởng nhất định đến hành vi tiêu dùng Sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản vô cùng quý giá của doanh nghiệp Nghiên cứu yếu tố khách hàng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cung ứng, chất lượng thoả mãn nhu cầu khách hàng

* Nhà cung ứng

Trang 33

Nhà cung ứng là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cung ứng các yếu

tố cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh Nhà quản lý phải luôn có đầy đủ thông tin chính xác về tình trạng số lượng, chất lượng, giá cả hiện tại và tương lai của các yếu tố nguồn lực cho kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến thái độ của nhà cung ứng với doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh Nguồn lực khan hiếm, giá cả tăng cao

có thể làm xấu đi cơ hội kinh doanh mặt hàng nhất định nào đó

Với doanh nghiệp kinh doanh thương mại nói chung và kinh doanh phụ tùng

ô tô, xe máy nói riêng, tìm nguồn hàng ổn định, giá cả phải chăng, chất lượng phù hợp với nhu cầu của khách hàng là một trong những vấn đề cần phải được cân nhắc

để đảm bảo hiệu quả kinh doanh

* Đối thủ cạnh tranh

Kinh doanh gắn liền với cạnh tranh Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó đều phải tính toán đến đối thủ cạnh tranh hiện hữu trên thị trường Số lượng, quy mô, năng lực cạnh tranh, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải tính đến các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn bởi

sự xuất hiện của các đối thủ mới này sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh của ngành,

do đó ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp

Là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xe máy, khi xem xét môi trường cạnh tranh, các yếu tố cần được doanh nghiệp tính đến như cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành, các rào cản cho việc gia nhập và rút lui khỏi ngành

* Các trung gian thương mại

Đứng trên góc độ nhà kinh doanh thương mại, các trung gian thương mại bao gồm các tổ chức, cá nhân giúp cho doanh nghiệp tổ chức công tác tạo nguồn, mua hàng, tiêu thụ hàng hoá ra thị trường Những trung gian thương mại đóng vai trò quan trọng giúp công ty tìm nguồn hàng chất lượng thoả mãn nhu cầu khách hàng hay giúp công ty tìm kiếm được khách hàng hoặc thực hiện công việc bán hàng cho

Trang 34

họ Các trung gian thương mại có thể là người đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ, đại lý phân phối độc quyền…

Các trung gian thương mại tham gia vào cùng một kênh phân phối hàng hoá cũng có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau Ngày nay, với xu thế hình thành nhiều tập đoàn phân phối hàng hoá với tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phân phối đã làm tăng thêm giá trị hàng hoá phân phối, mang lại lợi ích lớn hơn cho người tiêu dùng, qua đó đã tác động uy tín, khả năng tiêu thụ của nhiều doanh nghiệp phân phối khác Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc đến các yếu tố này trong việc xây dựng các chiến lược kinh doanh

* Công chúng

Công chúng là bất kỳ một nhóm hay một tổ chức nào có mối quan tâm hoặc

có thể sẽ quan tâm tới các mục tiêu đạt được của doanh nghiệp Các giới công chúng

sẽ ủng hộ hay phản đối các quyết định marketing của doanh nghiệp, có thể tạo ra những thuận lợi hay gây khó khăn cho doanh nghiệp

Giới công chúng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể kể đến như hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng liên quan đến việc huy động vốn vay của doanh nghiệp; các tổ chức phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh truyền hình) liên quan đến việc đưa tin về doanh nghiệp; các cơ quan chính quyền liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ pháp luật của doanh nghiệp; các tổ chức người tiêu dùng, các nhóm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ

1.3.6 Các yếu tố thuộc về Doanh nghiệp

Có rất nhiều yếu tố từ phía doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Ta có thể xác định được 03 nhóm yếu tố chính là: quy mô sản xuất kinh doanh, tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp

* Yếu tố về quy mô sản xuất kinh doanh

Mỗi doanh nghiệp, khi quyết định kinh doanh cái gì và sản xuất bao nhiêu thì cần phải nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường (nhu cầu có khả năng thanh toán) và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của doanh nghiệp Nhu cầu của thị trường

Trang 35

càng lớn thì khả năng tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp càng cao Khi đó, doanh nghiệp cũng sẽ có khả năng tăng được quy mô sản xuất kinh doanh

Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lớn và đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì doanh nghiệp sẽ chiếm lĩnh được thị trường Điều đáng lưu ý

là các nhà sản xuất kinh doanh luôn muốn bán được khối lượng hàng hóa lớn và do

đó, họ sẽ định ra mức giá bán sản phẩm hợp lý mà cả người mua và người bán đều chấp nhận được

Quan hệ cung – cầu về hàng hóa, dịch vụ thay đổi sẽ làm giá cả thay đổi, ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp Có thể nói rằng, việc lựa chọn quy mô sản xuất kinh doanh hợp lý (sản xuất những mặt hàng gì, số lượng bao nhiêu và chất lượng như thế nào) sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

* Yếu tố về tổ chức sản xuất kinh doanh

Khi đó lựa chọn được quy mụ sản xuất kinh doanh hợp lý, doanh nghiệp phải đưa ra quyết định sản xuất tổ chức sản xuất kinh doanh như thế nào Các yếu tố đầu vào như công nghệ, lao động vật tư v.v… nếu được lựa chọn tối ưu sẽ làm tăng năng suất lao động, nâng cao sản lượng sản xuất và chất lượng sản phẩm Do đó, việc chuẩn vị tố các yếu tố đầu vào có ý nghĩa quyết định giúp tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp cũng phải lựa chọn được phương pháp kết hợp tối ưu các yếu tố trong quá trình sản xuất Quá trình này phải được tổ chức khoa học nhằm giảm chi phí, tăng sản lượng, chất lượng, từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

* Yếu tố về tổ chức quản lý của doanh nghiệp

Tổ chức quản lý là nhân tố rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình quản lý bao gồm các khâu cơ bản sau:

- Định hướng chiến lược phát triển của doanh nghiệp

- Xây dựng kế hoạch và các phương án sản xuất kinh doanh

- Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và tổ chức thực hiện các hoạt động kinh tế

Trang 36

Các khâu này nếu được thực hiện tốt sẽ giúp tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và giảm chi phí quản lý Từ đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được nâng cao

1.4 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các sản phẩm về may mặc ngày càng hoàn thiện Từ những nguyên liệu thô sơ, con người đã sáng tạo ra những nguyên liệu nhân tạo để phục vụ cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm may mặc ngày càng phổ biến Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với những phát minh khoa học trong lĩnh vực công nghiệp đã giúp cho ngành dệt may có sự phát triển vượt bậc Quá trình phát triển của ngành dệt may trên thế giới gắn liền với sự phát triển của các nước công nghiệp Do đó, các nước công nghiệp vẫn luôn thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các nước đang phát triển Cùng với đó, dệt may cũng luôn là một lĩnh vực nhạy cảm khi đàm phán và giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia

Ở Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đậy mạnh hoạt động của ngành dệt may để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động

Ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong những năm vừa qua Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam cũng đạt được những kết quả tăng trưởng khá ấn tượng Phân tích những đặc điểm của ngành hàng dệt may ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh Nghiệp

Trang 37

1.4.1 Đặc điểm chung của ngành Dệt May

Ngành Dệt May hiện nay được coi là ngành kinh tế chủ chốt, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động trong xã hội, là ngành có doanh thu xuất khẩu đứng thứ hai chỉ sau dầu thô Ngành Dệt May vừa góp phần tăng tích lũy tư bản cho quá trình CNH, HĐH nền kinh tế của đất nước vừa tạo cơ hội cho quốc gia hòa nhập kinh tế với khu vực và thế giới Xét từ góc độ thương mại quốc tế, dệt may được đánh giá là ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh do tận dụng được nguồn nhân công rẻ và có tay nghề Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm may xuất khẩu của Việt nam

có đến gần 70% được xuất theo hình thức gia công và 30% theo hình thức bán gia công Một thực tế là ngành may mặc của Việt Nam vẫn bị phụ thuộc khá nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài, với giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu thường chiếm gần 70%-80% so với giá trị kim ngạch xuất khẩu Tuy đã được chú trọng đầu tư về công nghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn nhưng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặc không đủ cho nhu cầu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu

Do đặc thù của ngành dệt may Việt Nam hiện nay, nhưng vẫn bị phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu là thực hiện các đơn đặt hàng may gia công

và có thể bị các nước nhập khẩu áp dụng những biện pháp hạn chế kiểm soát khiến cho nhà đầu tư e ngại đối với sự ổn định trong hoạt động của các doanh nghiệp may

1.4.2 Đặc điểm của nguồn nhân lực ngành Dệt May

Lao động của ngành Dệt May Việt Nam không tập trung, do có hơn 70% các doanh nghiệp Dệt May là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số lao động dưới 300 người Gần 20% doanh nghiệp có số lao động trên 300 người và dưới 1000 người, số doanh nghiệp từ 1000 người trở lên chỉ có 6% Với độ phân tán như vậy, nếu không liên kết lại thì hoạt động đào tạo sẽ khó triển khai hiệu quả

Lao động trong ngành Dệt May hiện nay tăng nhanh và tập trung chủ yếu trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành Dệt May Thường đa số các doanh nghiệp này hiện nay lại có khuynh hướng đầu tư cho

Trang 38

việc thu hút lao động, chứ không có khuynh hướng đầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo

Do yêu cầu về lao động của ngành Dệt May tăng rất nhanh nên khả năng đáp ứng của cơ sở đào tạo không theo kịp Dẫn đến tính trạng tranh giành lao động giữa các doanh nghiệp trong ngành tăng lên đã đến mức báo động Khi tình trạng đó xảy

ra, các doanh nghiệp ngại đào tạo người lao động vì khả năng họ rời bỏ công ty sau khi được đào tạo là quá lớn Doanh nghiệp không đào tạo, nhân viên cảm thấy không thỏa mãn nhu cầu được học tập của mình lại muốn ra đi tìm nơi khác nhiều hơn

Theo tỷ lệ định chuẩn của ngành Dệt May, tỷ lệ lao động gián tiếp trên tổng

số lao động yêu cầu khoảng 10% Trong khi đó theo số liệu thống kê cho thấy lao động có trình độ cao đẳng trở lên trong ngành mới chỉ có tỷ lệ dao động từ 3,5% đến 3,9% Điều đó cảnh báo trình độ của cán bộ quản lý ngành Dệt May Việt Nam chưa cao

Theo đánh giá chung, cán bộ thiết kế mẫu mốt, cán bộ marketing trong các doanh nghiệp dệt may đang rất thiếu và yếu, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng internet

để tạo lợi thế trong tiếp cận khách hàng ở các nước và marketing cho công ty và sản phẩm Công nhân trong ngành dệt may không có tay nghề còn cao (20,4%) nên năng suất lao động thấp, chẳng hạn cùng một ca làm việc - năng suất lao động bình quân của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một lao động Hồng Kông năng suất lao động là 30 áo hoặc 15 - 20 quần Công nhân dệt may nói chung tuổi đời còn trẻ, tỷ lệ độc thân là khá cao Lao động trong ngành dệt may chủ yếu là lao động di cư từ các vùng khác đến và đa phần trong số họ phải sống nhờ ở nhà người quen hoặc tự thuê nhà để ở Phần lớn công nhân dệt may xuất thân từ các hộ làm nông nghiệp Do thiếu hụt lao động trầm trọng trong ngành nên công nhân dệt may hiện tại phải làm việc với thời gian dài, kiệt sức và không còn thời gian và sức lực để tụ tập vui với bạn bè, tìm bạn trai hoặc mở rộng quan hệ xã hội, phải làm việc muộn đến khuya

Trang 39

Theo qui hoạch phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2015 - tầm nhìn

2020, năm 2010 ngành sẽ thu hút 2,5 triệu lao động và đến năm 2020 là 3 triệu lao động Như vậy bình quân hàng năm ngành dệt may cần thêm khoảng 160 ngàn lao động chưa kể phải bổ sung cho số lao động đến tuổi nghỉ hưu và rời bỏ ngành Thêm nữa, Việt Nam gia nhập WTO, để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, ngành Dệt May đang cần nhanh chóng đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có của ngành Đây thực sự là một áp lực rất lớn cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực của ngành Dệt May nói chung và các doanh nghiệp Dệt May nói riêng

Dệt may là ngành có tỷ lệ lao động nữ chiếm tới 80% tổng số lao động với ưu điểm lao động nữ khéo léo, cẩn thận, kiên trì, chịu thương chịu khó Làm thế nào để hài hòa giữa hiệu suất lao động và cuộc sống gia đình cho nữ lao động ngành Dệt may vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ Với đặc thù công việc của ngành may, người lao động chỉ làm việc đạt năng suất, chất lượng vào khoảng từ 25 đến 35 tuổi, sau đó năng suất sẽ giảm dần Trong khi ở độ tuổi này, chị em lại đang gánh vác vai trò rất quan trọng trong gia đình là sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm lo cho gia đình Bên cạnh đó là những áp lực từ công việc đè nặng lên đôi vai mỏng manh của chị

em, như: Lương thấp, cường độ lao động cao, làm thêm giờ (thêm 2-3 giờ/ngày, làm việc cả thứ 7 và chủ nhật), môi trường làm việc độc hại, ít thời gian chăm lo gia đình, cộng thêm đời sống tinh thần còn nghèo nàn, ít phương tiện giải trí…

Đa số chị em làm việc xa nhà, xa người thân, trong khi chế độ nhà ở, nhà trẻ, trường học… vẫn rất thiếu hoặc không đáp ứng được yêu cầu Thực tế, lao động có tay nghề là nguồn tài sản quý cần giữ gìn và duy trì đối với ngành dệt may Thế nhưng, tình trạng lao động bỏ việc hay di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp vẫn còn phổ biến Để khắc phục, các doanh nghiệp cần có biện pháp đồng bộ, kịp thời để giúp doanh nghiệp phát triển bền vững, có nhiều bạn hàng và đối tác kinh doanh Tăng lương cũng là biện pháp tốt nhưng trong bối cảnh lạm phát đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, biện pháp này cũng khó khả thi Vì vậy, việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng: nhà ở, nhà trẻ, trường học, phúc lợi xã hội được đảm bảo cần phải đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển của doanh

Trang 40

nghiệp Vấn đề là, nếu chỉ riêng doanh nghiệp nỗ lực chưa đủ mà rất cần sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước và chính quyền sở tại trong việc cấp đất, điều động giáo viên mầm non cho những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở doanh nghiệp thưc hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động) cho người lao động Làm được như vậy người lao động sẽ yên tâm gắn bó với doanh nghiệp

Bên cạnh đó, việc giảm bớt áp lực trong công việc thông qua chăm lo đời sống, cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ chính là sự đầu tư đầy hiệu quả với các doanh nghiệp ngành dệt may nói riêng và các ngành kinh tế nói chung

1.4.3 Đặc điểm thiết bị công nghệ ngành Dệt may

Thiết bị công nghệ ngành Dệt may vừa lạc hậu vừa thiếu đồng bộ, sản phẩm làm ra không có năng lựccạnh tranh Theo chương trình phát triển Liên hợp quốc ngành Dệi may Việt Nam đang ở trình độ 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 3-3 thế hệ Điều này làm cho năng lực sản xuất của ngành Dệt may còn nhiều hạn chế

Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từ nhiều nước Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư hang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn

tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiết bị,góp phần năng cao chất lương công nghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng ngàn máy dệt không thoi, có thoi khổ rông

đã được nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới , hiện đại đã được trang bị thay thế cho những thiết bị quá cũ Tuy ngành Dệt đã có nhiều cố gắng trong đầu tư đổi mới công nghệ nhưng cho đến nay trình độ kỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực và thế giới

Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm được gần 20.000 máy may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao động, áo

Ngày đăng: 27/02/2021, 19:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Công ty Cổ phần may Sông Hồng, Báo cáo tài chính (2009 – 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính (2009 – 2010
[2] GS.TS Đỗ Văn Phức, Quản lý doanh nghiệp, NXB Bách Khoa – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Bách Khoa – Hà Nội
[3] Nguyễn Tấn Bình (2003), Quản trị tài chính, NXB Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
[4] GS.TS. Phạm Mạnh Hùng - PGS.TS. Lê Ngọc Trọng - PGS.TS. Lê Văn Truyền - PGS.TS. Nguyễn Văn Thưởng, Sách Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, NXB Y học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới
Nhà XB: NXB Y học
[5] PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm, TS. Nguyễn Đăng Nam (1999), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm, TS. Nguyễn Đăng Nam
Nhà XB: NXB tài chính
Năm: 1999
[6] PGS. TS. Ngô Thế Chi (2001), Lập - Đọc – Phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, NXB thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập - Đọc – Phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Tác giả: PGS. TS. Ngô Thế Chi
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2001
[7] PGS.TS. Phạm Thị Gái, Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống kê, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh
Nhà XB: Nxb Thống kê
[8] TS Nghiêm Sĩ Thương, Cơ sở của quản lý tài chính doanh nghiệp, khoa Kinh tế và quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của quản lý tài chính doanh nghiệp
[9] TS. Nguyễn Hải Sản (1996), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: TS. Nguyễn Hải Sản
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 1996
[10] TS. Nguyễn Văn Công (2003), Phân tích báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Công
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2003
[11] TS Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương (2003), Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: TS Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 2003
[12] TS. Võ Văn Nhị, TS. Đoàn Ngọc Quế, Th.S. Lý Thị Bích Châu (2001), Lập - Đọc – Phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập - Đọc – Phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Tác giả: TS. Võ Văn Nhị, TS. Đoàn Ngọc Quế, Th.S. Lý Thị Bích Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2001
2. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn (*) 129 - - Khác
2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*) 149 (11.415.656.053) - Khác
3. Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước 154 - - Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w