PVN : Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam, chủ sở hữu của Tổng Công Ty Khí Việt Nam PVGAS : Tổng Công Ty Khí Việt Nam HĐTV : Hội đồng thành viên PVGAS TGĐ : Tổng giám đốc CBCNV : Cán bộ
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRường đại học bách khoa hà nội
-o0o -
luận văn thạc sỹ
Chuyên Ngành quản trị kinh doanh
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN Lí ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ
THUẬT CễNG TRèNH KHÍ CỦA PVGAS VIỆT NAM
Trang 2Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRường đại học bách khoa hà nội
-o0o -
luận văn thạc sỹ
Chuyên Ngành quản trị kinh doanh
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN Lí ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ
THUẬT CễNG TRèNH KHÍ CỦA PVGAS VIỆT NAM
ĐẾN 2010, 2015
TRẦN ĐĂNG THUYẾT
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Luyến
HÀ NỘI- 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Hội nhập kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những cơ hội mới cùng những thách thức mới, Tổng công ty khí Việt Nam được hình thành nhằm đổi mới tổ chức quản lý, định hướng cho chiến lược phát triển trong tiến trình hội nhập chung Sau quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội em đã chủ động đề nghị và được chấp nhận cho làm tốt nghiệp theo đề tài:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH KHÍ CỦA PVGAS VIỆT NAM ĐẾN 2010, 2015”
Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích và đề xuất cải tạo thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của PV GAS
Em xin cam đoan: luận văn này là của em tự làm và chưa được công bố ở bất
kỳ dạng nào
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐTXD HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 4
1.1 Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 4
1.2 Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp 6
1.3 Quản lý ĐTXD hạ tầng kỹ thuật 11
1.3.1 Lập kế hoạch ĐTXD 11
1.3.2 Đảm bảo tổ chức cho hoạt động ĐTXD 14
1.3.3 Điều phối hoạt động ĐTXD 27
1.3.4 Kiểm tra, giám sát trong ĐTXD 31
1.4 Kết luận 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA PVGAS VIỆT NAM 36
2.1 Các đặc điểm và tình hình hiệu quả hoạt động của PVGAS trong các năm gần đây 37
2.1.1 Các loại sản phẩm và đặc điểm của từng loại sản phẩm: 37
2.1.2 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ các công trình hạ tầng kỹ thuật ngành khí 42
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVGAS 43
2.2 Tình hình ĐTXD hạ tầng kỹ thuật của PVGAS Việt Nam 45
2.2.1 Các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện nay của PVGAS Việt Nam 45
2.2.2 Cơ cấu vốn ĐTXD hạ tầng kỹ thuật trong những năm gần đây 47
2.2.3 Thực trạng thực hiện các giai đoạn ĐTXD tại PVGAS 47
2.3 Thực trạng quản lý ĐTXD hạ tầng kỹ thuật tại PVGAS Việt Nam 52
2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch ĐTXD 52
2.3.2 Thực trạng tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ trong ĐTXD của PVGAS Việt Nam 57
2.3.3 Thực trạng điều phối trong ĐTXD HTKT của PVGAS Việt Nam 65
Trang 5Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐTXD HẠ TẦNG KỸ THUẬT
NGÀNH KHÍ CỦA PVGAS VIỆT NAM ĐẾN 2010, 2015 80
3.1 Những mục tiêu phát triển của PVGAS Việt Nam đến 2010, 2015 80
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 80
3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 80
3.1.3 Sức ép phải ĐTXD hạ tầng kỹ thuật ngành khí đến 2010, 2015 82
3.2 Một số giải pháp quản lý ĐTXD hạ tầng kỹ thuật ngành khíđến 2010, 2015 83
3.2.1 Đổi mới phương pháp lập kế hoạch ĐTXD 84
3.2.2 Đổi mới tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ trong ĐTXD HTKT của PVGAS Việt Nam đến 2010, 2015 87
3.2.3 Đổi mới phương pháp điều phối trong ĐTXD HTKT của PVGAS Việt Nam 92
3.2.4 Đổi mới kiểm tra, giám sát trong ĐTXD HTKT của PVGAS Việt Nam đến 2010, 2015 97
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6PVN : Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam, chủ sở hữu của Tổng Công Ty
Khí Việt Nam PVGAS : Tổng Công Ty Khí Việt Nam
HĐTV : Hội đồng thành viên PVGAS
TGĐ : Tổng giám đốc
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
ĐTXD: : Đầu tư xây dựng công trình
HTKT: Hạ tầng kỹ thuật
Ban KHĐT : Ban kế hoạch – đầu tư là ban chức năng thuộc PVGAS
Ban XD : Ban xây dựng là ban chức năng thuộc PVGAS
Ban TC : Ban tài chính là ban chức năng thuộc PVGAS
Ban PTNL : Ban phát triển nguồn nhân lực
Ban TMTĐT : Ban thương mại và thẩm định thầu là ban chức năng thuộc PVGAS
DAK : Công ty tư vấn quản lý dự án khí là đơn vị trực thuộc PVGAS
CNG : Sản phẩm khí khô ở dạng khí nén, tên đầy đủ bằng tiếng Anh là
Compressed Natural Gas GPP : Nhà máy xử lý khí Dinh Cố do Tổng Công Ty Khí quản lý và vận hành LNG : Sản phẩm khí khô đã được hóa lỏng, tên đầy đủ bằng tiếng Anh là
Liquefied Natural Gas PNG : Khí thiên nhiên vận chuyển bằng đường ống tên đầy đủ bằng tiếng Anh là
Pipeline Natural Gas LPG : Khí hóa lỏng, hỗn hợp giữa Butane (C4H10) và Propane (C3H8)
Auto Gas : Sản phẩm khí dùng cho nhiên liệu phương tiện giao thông vận tải
Trang 7Bảng 1-1 Đặc điểm các loại cơ cấu tổ chức quản lý dự án 23
Bảng 1-2 Nội dung và các cơ sở, căn cứ của điều phối hoạt động quản lý 28
Bảng 1-3 Chất lượng sản phẩm quản lý đầu tư xây dựng 34
Bảng 2-1 Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh từ 2006 – 2008 43
Bảng 2-2 Công trình hạ tầng kỹ thuật chủ yếu của PVGAS 46
Bảng 2-3 Cơ cấu vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật 03 năm gần đây 47
Bảng 2-4.Tỷ lệ phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tại PVGAS 48
Bảng 2-5 So sánh giữa kế hoạch và thực tế thực hiện các DAĐT 48
Bảng 2-6 Tỷ lệ dự án thực hiện đúng kế hoạch 51
Bảng 2-7 Thống kê tình hình thanh quyết toán của PVGAS 52
Bảng 2-8 Loại dự án đầu tư liên quan đến các công trình HTKT ngành khí 67
Bảng 2-9.Quy định phân cấp, ủy quyền quyết định đầu tư tại PVGAS 67
Bảng 2-10.Tổng hợp các dự án đầu tư phê duyệt giai đoạn 2006 - 2008: 68
Bảng 2-11.Tổng hợp các dự án được phê duyệt theo phân cấp hiện hành 69
Bảng 2-12 Hệ số phụ cấp trách nhiệm cán bộ tham gia quản lý dự án đầu tư 74
Bảng 3-1 Sản lượng khí khô và LNG đến 2025 81
Bảng 3-2 Cân đối cung cầu khí 82
Bảng 3-3 kiến nghị sửa đổi quy định phân cấp quyết định đầu tư 92
Bảng 3-4 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 93
Bảng 3-5 Giai đoạn thực hiện đầu tư 94
Bảng 3-6 Giai đoạn hoàn thành dự án và quyết toán vốn đầu tư 95
Bảng 3-7 Phân định trách nhiệm dự án nhóm A và nhóm B 96
Bảng 3-8 Chất lượng quản lý đầu tư xây dựng 98
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1-1 Sơ đồ thu thập thông tin 9
Hình 1-2 Cơ cấu tổ chức theo sơ đồ chức năng 19
Hình 1-3 Cơ cấu tổ chức theo Sơ đồ Ma trận yếu 19
Hình 1-4 Cơ cấu tổ chức theo Sơ đồ Ma trận cân bằng 20
Hình 1-5 Cơ cấu tổ chức theo Sơ đồ Ma trận mạnh 20
Hình 1-6 Cơ cấu tổ chức theo kiểu dự án 21
Hình 1-7 Cơ cấu tổ chức theo sơ đồ tổ chức hỗn hợp 22
Hình 2-1 Sơ đồ tổ chức quản lý, điều hành của PVGAS 37
Hình 2-2 Sản lượng khí khô PVGAS sản xuất từ 1995 – 2007 38
Hình 2-3 Tổng hợp tình hình bán khí khô của PVGAS từ 2005 – 2007 38
Hình 2-4 Sản lượng LPG PVGAS sản xuất từ 1999 – 2007 39
Hình 2-5 Tổng hợp nguồn cung LPG trên thị trường Việt Nam 2005-2007 39
Hình 2-6 Sản lượng Condensate PVGAS sản xuất từ 1999 – 2007 40
Hình 2-7 Biểu đồ tỷ lệ chậm thanh quyết toán công trình 51
Hình 2-8 Lưu đồ lập kế hoạch năm của PVGAS 53
Hình 2-9 Sơ đồ tổ chức trong quản lý đầu tư của PVGAS 58
Hình 2-10 Sơ đồ tổ chức quản lý ĐTXD của Công ty DAK 60
Hình 2-11 Qúa trình kiểm tra việc thực hiện theo kế hoạch tại PVGAS 76
Hình 3-1 Cân đối cung cầu khí trong nước giai đoạn 2010-2025 83
Hình 3-2 Qúa trình lập kế hoạch ĐTXD tại PVGAS (đề xuất đổi mới) 86
Hình 3-3 Sơ đồ tổ chức trong quản lý ĐTXD 88
Hình 3-4 Tổ chức quản lý dự án theo sơ đồ Ma trận cân bằng 90
Hình 3-5 Mô hình tổ chức quản lý dự án Ma trận mạnh 90
Hình 3-6 Tổ chức quản lý dự án theo kiểu dự án 91
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của một doanh nghiệp là một trong
những yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp ổn định, mở rộng sản xuất, nâng cao
hiệu quả kinh doanh Việc đầu tư xây dựng có hiệu quả sẽ không chỉ tạo tiền đề cho
doanh nghiệp giữ vững thị phần/thị trường mà còn là động lực cho việc mở rộng thị
trường, nâng cao hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trong quá trình tòan cầu hóa ngày
càng khắc nghiệt Việc thực hiện đầu tư hạ tầng kỹ thuật của dooanh nghiệp có hiệu
quả có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả, phát triển và chiếm lĩnh thị phần của mình trên thị trường tuy
nhiên do việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung sang nền kinh tế thị trường, hệ
thống cơ sở pháp lý, hành lang còn chưa rõ ràng, phần lớn các doanh nghiệp nhà
nước, trong quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển đều còn và phải đối mặt với
những bất cập, điều này làm giảm một phần đáng kể hiệu quả của công tác đầu tư xây
dựng hạ tầng kỹ thuật, hạn chế từ việc nghiên cứu và phát triển thị trường, lập kế
hoạch đầu tư, công tác quản lý đầu tư xây dựng và công tác quản lý tài chính, huy
động vốn đầu tư
Tổng Công Ty Khí Việt Nam (PVGAS) là một đơn vị thành viên của Tập
Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam (PVN) chuyên về lĩnh vực khí Trải qua một
chặng đường 18 năm xây dựng và phát triển, PVGAS đã cung cấp cho thị trường 30,5
tỷ m3 khí khô, 2,8 triệu tấn LPG, hơn 1,1 triệu tấn condensate PVGAS đã tạo nguồn
nguyên, nhiên liệu ổn định để sản xuất 40% sản lượng điện, 35% sản lượng phân bón,
10% sản lượng xăng và đáp ứng 42 – 45% nhu cầu LPG phục vụ các ngành công
nghiệp, dân dụng của cả nước Ngày 20/9/2007, PVGAS đã vinh dự đón nhận Huân
chương Lao động Hạng 1, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng để
ghi nhận cho những thành tích và đóng góp quan trọng của tập thể, cán bộ, kỹ sư
PVGAS qua nhiều thế hệ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của ngành dầu khí
Việt Nam nói riêng, sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế - xã hội đất nước nói
chung
Tuy nhiên, cũng như nhiều doanh nghiệp khác trong ngành dầu khí nói riêng
cũng như ngành công nghiệp nói chung, công tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
ngành khí của PVGAS mặc dù đã có những cố gắng nhưng thực sự vẫn chưa được
quan tâm và chú trọng đúng mức Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tính đặc thù của
ngành và sản phẩm dầu khí cũng như những lợi thế về sản phẩm và thị trường mà
PVGAS đã có được trong thời gian qua Tuy vậy, tất cả đều đã và đang bắt đầu có sự
thay đổi một cách cơ bản và mạnh mẽ Những lợi thế không còn được duy trì do trữ
lượng khí trong nước ngày càng giảm sút Mô hình tổ chức hoạt động cũng có những
thay đổi mang tính bước ngoặt Do vậy, để có thể tiếp tục giữ vững và phát huy vai
Trang 10trò và ảnh hưởng của mình, PVGAS phải mở rộng hoạt động và tham gia vào cuộc
cạnh tranh gay gắt và quyết liệt cả trên thị trường trong nước và quốc tế Xuất phát từ
bối cảnh thực tiễn và thực trạng của PVGAS, để thành công và tiếp tục phát triển giữ
vai trò là đơn vị hàng đầu của quốc gia trong lĩnh vực khí, một trong những yếu tố
quyết định mà PVGAS phải có được đó là không ngừng đầu tư và phát triển hạ tầng
kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đó là lý do chính để tác giả quyết
định chọn đề tài “Một số giải pháp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngành khí của
PVGAS Khí Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015.”
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngành khí kết
hợp phân tích thực trạng quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của PVGAS trong
thời gian qua để từ đó, đưa ra một số giải pháp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
ngành khí của PVGAS Khí Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015, phục vụ cho việc giữ
vững danh hiệu Công ty hàng đầu về ngành khí tại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu:
Tổng Công Ty Khí Việt Nam (PVGAS) - đơn vị thành viên của Tập Đoàn Dầu
Khí Quốc Gia Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này bao gồm:
Phương pháp thu thập số liệu, thông tin:
Thu thập các số liệu, thông tin của PVGAS thông qua việc tiếp cận các nguồn
tài liệu có sẵn của PVGAS và trao đổi, thảo luận với các CBCNV trong PVGAS đặc
biệt là các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên đang trực tiếp làm công tác nghiên cứu thị
trường, lập kế hoạch đầu tư xây dựng, quản lý đầu tư xây dựng và quản lý tài chính,
công tác huy động vốn đầu tư Đồng thời, kết hợp với việc tham khảo các thông tin từ
sách, báo, internet và các phương tiện truyền thông khác
Phương pháp tổng hợp, phân tích:
Trên cơ sở các số liệu, thông tin thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân tích
và đưa ra các nhận xét
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Với sự lựa chọn thực hiện đề tài này, tác giả đã cố gắng đưa ra và hy vọng
người đọc sẽ thấy được khái quát về quá trình hình thành và phát triển của PVGAS
gắn liền với lịch sử ngành công nghiệp khí của Việt Nam; khái quát về các dự án đầu
tư thuộc hạ tầng kỹ thuật ngành khí từ những công trình đặt nền móng cho hạ tầng kỹ
thuật đến những công trình phát triển dáp ứng mục tiêu và chiến lược sản xuất kinh
doanh và thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng của PVGAS; thấy được những
mặt tích cực cũng như những hạn chế vẫn còn tồn tại trong công tác quản lý đầu tư
Trang 11xâu dựng Từ những phân tích đó, tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp đầu tư xây dựng
hạ tầng kỹ thuật ngành khí của PVGAS Khí Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
6 Kết cấu của Luận văn:
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của Doanh
nghiệp trong kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng đầu tư đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của Tổng Công
ty Khí Việt Nam (PVGAS)
Chương 3: Một số giải pháp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngành Khí của
Tổng Công ty Khí Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
Luận văn này là kết quả tổng hợp của những tìm tòi, nghiên cứu và nỗ lực của
bản thân tác giả Đồng thời qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và
giúp đỡ của Thầy GS.TS Đỗ Văn Phúc và các Thầy, Cô của trường Đại học Bách
Khoa Hà Nội, các CBCNV của PVGAS, những người thân trong gia đình và những
người bạn đã ủng hộ và hỗ trợ cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
này Do giới hạn về thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức, kinh nghiệm của bản
thân tác giả nên Luận văn này chắc chắn không thể tránh những sai sót Vì vậy, tác
giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô và tất cả những độc
giả để Luận văn được hoàn thiện hơn và có thể được triển khai áp dụng trong thực tế
một cách hiệu quả
Xin chân thành c ảm ơn!
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐTXD HẠ TẦNG KỸ THUẬT
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
1 Trong kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp có bản chất đầu tư, sử
dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ nhu cầu của thị trường, những cơ
hội, lợi ích phát sinh Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường bao
gồm các giai đoạn:
- Nghiên cứu lựa chọn các cặp sản phẩm – khách hàng;
- Cạnh tranh vay vốn;
- Cạnh tranh mua các yếu tố kinh doanh;
- Tổ chức quá trình kinh doanh;
- Cạnh tranh bán sản phẩm đầu ra;
- Suy tính sử dụng các nguồn thu
- Đem các nguồn lực ra đầu tư doanh nghiệp tranh giành được thị phần cụ thể
lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào năng lực cạnh tranh so với các đồi thủ - vị thế
cạnh tranh
Trong kinh tế thị trường, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu
quả cao, bền lâu nhất có thể Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp là kết quả
tương quan, so sánh những lợi ích do hoạt động của doanh nghiệp đưa lại với
những chi phí để được lợi ích đó Hiệu quả kinh doanh là tiêu chuẩn do con người
sáng tạo ra để có cơ sở so sánh, cân nhắc, lựa chọn: đầu tư kinh doanh hay không
đầu tư kinh doanh; đầu tư kinh doanh lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, các cặp sản
phẩm - khách hàng này hay các cặp sản phẩm - khách hang khác với quy mô này
hay quy mô khác, lúc này hay lúc khác, ở nơi này hay ở nơi khác…Điều rất quan
trọng là phải đánh giá tương đối chính xác hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp,
nhận diện và biết đầu tư tác động nâng cấp các nhân tố của nó, để đánh gía tương
đối chính xác hiệu quả kinh doanh cần:
- Chọn đúng bộ chỉ tiêu;
- Các dữ liệu đảm bảo chất lượng;
- Thống kê đầy đủ các loại lợi ích và quy tính ra tiền tương đối chính xác;
- Thống kê đầy đủ các loại chi phí, bóc tách và quy tính ra tiền tương đối chính
xác các loại chi phí
- Chọn đúng mốc chuẩn để so sánh…
- Để có cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hàng năm sử dụng
đồng thời các chỉ tiêu hiệu quả như: Lợi nhuận, Lợi nhuận/Tổng tài sản
(ROA), Lãi/Toàn bộ chi phí sinh lãi, Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu (ROE) Để đánh
giá được tình hình hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cụ thể cần có trọng số
Trang 13của các chỉ tiêu và đo lường, đánh giá từng chỉ tiêu sau khi so sánh với mức độ
đạt được của các doanh nghiệp trong ngành và trong khu vực, tính được tốc độ
tăng trưởng Từ đó theo chúng tôi cần lượng hóa đánh giá bằng cách cho điểm
và xếp lại cao hoặc trung bình hoặc thấp như sau:
Hiệu quả cao: 75-100 điểm
- Hiệu quả trung bình: 46-74 điểm
- Hiệu quả thấp: 20-45 điểm
Doanh nghiệp chỉ được coi là phát triển khi hoạt động tăng thêm về chất, các chỉ
tiêu chất lượng tăng, nhất là các chỉ tiêu hiệu quả Để có cơ sở cho việc định
hướng, thiết kế biện pháp nâng cao cần hiểu biết sâu sắc về các yếu tố quyết định
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đạt được cao hay thấp, phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
- Năng lực (Chất lượng) quản lý chiến lược (lãnh đạo) và quản lý điều hành hoạt
động doanh nghiệp như:
- Mức độ hợp lý (Mức độ đúng đắn) của quyết định chọn lĩnh vực khinh doanh
và các cặp sản phẩm – khách hang cụ thể;
- Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn và đổi mới công nghệ;
- Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn cơ cấu nguồn vốn và phương
thức huy động;
- Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn mua dùng thiết bị, vật tư,
nhân công;
- Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn cơ cấu và sử dụng tài sản
- Chất lượng quản lý chiến lược và quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp
quyết định chủ yếu hiệu quả kinh doanh, nhưng nó lại phụ thuộc vào chất
lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp đó
2 Chất lượng của đội ngũ giúp việc cho lãnh đạo, quản lý về chuyên môn, nghiệp
vụ và đội ngũ thừa hành của doanh nghiệp
- Chất lượng của nhóm yếu tố này là kết quả của nhiều tác động, trong đó vai trò
lớn nhất là vai trò của lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Đối với các doanh
nghiệp Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 21, nâng cao chất lượng của hai
đội ngũ càng cao thì càng làm cho hoạt động của doanh nghiệp được nâng cao
3 Vốn quan hệ, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp
- Thương hiệu càng mạnh, vốn quan hệ, uy tín càng nhiều, càng thuận lợi trong
việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 144 Mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh (Trình độ- Chất luợng quản lý vĩ
mô):
- Là mức độ đồng bộ và sắc sảo của hệ thống luât pháp nhà nước và mức độ sát
hợp, hấp dẫn của chính sách –hành chính của chính phủ
- Trong trường hợp chính sách trích thu để hoàn chi cho hoạt động vĩ mô chưa
hoàn toàn hợp lý thì khi môi trường kinh doanh thuận lợi hơn sẽ làm cho việc
nâng cao hiệu quả hoạt động dễ dàng hơn
5 Mức độ thuận lợi của cơ sở hạ tầng về mặt kỹ thuật và hạ tầng về mặt xã hội
- Trong trường hợp chính sách thu để hoàn chi cho cơ sở hạ tầng chưa hoàn toàn
hợp lý, khi cơ sở hạ tầng về mặt kỹ thuật và hạ tầng về mặt xã hội thuận lợi
hơn thường làm cho việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp dễ dàng hơn
6 Mức độ ưu đãi của tài nguyên thiên nhiên
- Trong trường chính sách thuế tài nguyên chưa hợp lý thì doanh nghiệp đóng ở
nơi ưu đãi hơn sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động dễ dàng hơn
- Nhóm các yếu tố 4, 5, 6 thuộc về quản lý nhà nước trung ương và nhà nước địa
phương
- Như vậy hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào trình độ
- chất lượng quản lý của bản thân doanh nghiệp, vào trình độ- chất lượng quản
lý nhà nước trung ương và nhà nước địa phương Hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp chỉ cao khi đa số hoặc tất cả 6 nhóm yếu tố trên đạt mức cao
1.2 Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp
Đầu tư là một phạm trù đặc biệt đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất kinh tế, đó là quá trình bỏ
vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi
nhuận Có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt
động kinh tế nhằm thu lại lượng vốn lớn hơn sau một thời gian nhất định Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các
quy định khác của pháp luật có liên quan
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, chẳng hạn theo tiêu thức quan hệ quản
lý của chủ đầu tư, có hai loại: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Trong đó, đầu
tư trực tiếp là hình thức người chủ đầu tư trực tiếp bỏ vốn và nguồn lực để quản lý
hoạt động đầu tư Đầu tư gián tiếp là hình thức người chủ đầu tư không tham gia
trực tiếp vào hoạt động đầu tư mà thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư
tài chính vào các doanh nghiệp khác… nhằm tăng thu nhập, lợi nhuận của mình
Tóm lại, có thể hiểu đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại, để tiến hành các
hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong tương lai
Trang 151)Vai trò của đầu tư cho phát triển kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng phức tạp, khi các thị trường ngày
càng mở rộng nhưng đồng thời cũng bị thu hẹp và rút ngắn lại thì thực tiễn đòi hỏi
các doanh nghiệp phải luôn cải thiện sản phẩm của mình hoặc đầu tư để sản xuất
sản phẩm mới có chất lượng, giá trị cao hơn… Vì vậy, đầu tư là hoạt động chủ
yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Trong
hoạt động đầu tư, doanh nghiệp thường bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ
sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh Hoạt động
này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với mục tiêu, phương
pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong muốn Nội dung của dự
án đầu tư được thể hiện trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật, là văn bản phản ánh
trung thực, chính xác về kết quả nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế - kỹ
thuật cũng nhưng môi trường pháp lý, và tình hình tài chính
Để đáp ứng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, doanh nghiệp cần có
chiến lược trong việc tìm kiếm và lựa chọn các dự án đầu tư Nếu không có những
ý tưởng mới và dự án đầu tư mới, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển
được Các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi phải nghiên cứu
kỹ thị trường và có những hoạt động đầu tư thích hợp nhằm gia tăng khả năng cạnh
tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp
Tùy theo mục đích của mỗi doanh nghiệp nhằm phát triển sản phẩm mới, kéo dài
tuổi thọ sản phẩm hay làm tăng khả năng thu lợi cho sản phẩm hiện có mà có thể
phân loại đầu tư doanh nghiệp theo tiêu thức khác nhau.Theo cơ cấu tài sản đầu tư
có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp thành:
a) Đầu tư tài sản cố định, đây là các hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở
rộng tài sản cố định của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất Loại
đầu tư này bao gồm: đầu tư xây lắp, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư
tài sản cố định khác;
b) Đầu tư tài sản lưu động, đây là khoản đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu
động cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được tiến hành bình thường Nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động phụ
thuộc vào đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh, vào nhu cầu tăng
trưởng của doanh nghiệp
c) Đầu tư tài chính, các doanh nghiệp có thể mua cổ phiếu, trái phiếu, hoặc tham
gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác
Có thể căn cứ vào mục đích đầu tư để phân loại đầu tư ra thành: đầu tư tăng năng
lực sản xuất, đầu tư đổi mới sản phẩm, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu
tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Hoạt động đầu tư phân theo mục đích
Trang 16đầu tư có vai trò định hướng cho các nhà quản trị doanh nghiệp xác định hướng
đầu tư và kiểm soát được tình hình đầu tư theo những mục tiêu chiến lược đã
chọn
Như vậy, có thể nói hoạt động đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa
chiến lược đối với doanh nghiệp Đây là quyết định tài trợ dài hạn, có tác động lớn
tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những sai lầm trong việc ra
quyết định đầu tư sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh cũng như
mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư có vai trò rất quan trọng
trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các quyết định
đầu tư phải được tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng
2) Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho doanh nghiệp:
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh toàn cầu
hiện nay đều phải không ngừng cải tiến hay đưa ra sản phẩm mới để mở rộng quy
mô, tăng doanh thu hay lợi nhuận của mình thông qua công tác đầu tư cải tiến
công nghệ hay đầu tư dự án mới để phát triển sản phẩm
Đầu tư cơ sở hạng tầng kỹ thuật là một phần trong quá trình phân tích và nghiên
cứu của Nhà Quản trị doanh nghiệp để lập ra “CHIẾN LƯỢC KINH DOANH”
của doanh nghiệp Do đó, đầu tư cơ sở hạ tần kỹ thuật cho doanh nghiệp sẽ được
phân tích và xác định trong Chiến lược kinh doanh
3) Phương pháp xác định nhu cầu đầu tư hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp:
Xác định nhu cầu đầu tư hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp là một phần trong quá
trình xây dựng và phân tích chiến lược
Để xác định được nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp cần phải bắt đầu từ bước 1 đó
là: “Phân tích môi trường kinh doanh và hệ thống thông tin quản lý”, bước 2 là:
“Xác định mục tiêu” và bước 3 “Phân tích danh mục đầu tư” Sau khi đã có dữ
liệu cụ thể về môi trường kinh doanh và mục tiêu của doanh nghiệp, phân tích
danh mục đầu tư thông qua các phân tích ở ba bước trên, Nhà Quản trị mới có đủ
thông tin và cơ sở để đưa ra danh mục đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược
Để có thế hiểu rõ hơn phương pháp xác định nhu cầu đầu tư hạ tầng kỹ thuật,
chúng ta tìm hiểu thế nào là “phân tích môi trường kinh doanh và hệ thống thông
tin quản lý“ và “xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu”
a)Phân tích môi trường kinh doanh và hệ thống thông tin quản lý:
Muốn quản lý chiến lược một cách hiệu quả đòi hỏi phải thu thập và xử lý thông
tin rộng rãi khác nhau Các công việc thu thập và xử lý thông tin là chiếc cầu nối
giữa yếu tố môi trường của doanh nghiệp và công việc quản lý chiến lược Vai trò
của nó là cung cấp cho nhà quản trị dữ liệu đầu vào cần thiết để hoạch định các
chiến lược hữu hiệu, ngoài ra nó còn tham gia tích cực vào việc tạo ưu thế cạnh
Trang 17tranh Hệ thống thông tin quản lý là tập hợp các qui tắc, kỹ năng và phương pháp
được mô tả rõ ràng để từ đó có các thông tin cần thiết cho nhà Quản trị quyết định
Hệ thống thông tin tốt là một hệ thống đơn giản, cung cấp thông tin cho đối tượng
có nhu cầu dưới dạng có thể sử dụng được
Hình 1- 1 Sơ đồ thu thập thông tin
Trên đây là mô hình thu thập thông tin được xem là toàn diện và hiệu quả cho các
doanh nghiệp:
Khi doanh nghiệp xây dựng được một hệ thống thu thập thông tin của riêng mình
trên nhiều khía cạnh khác nhau (Marketing, Tài chính, nhân sự, chính sách vĩ
Nhân viên kế hoạch công ty
Yêu cầu về thông tin
Có thông tin này trong ngân hàng dữ liệu không?
Đề ra nhiệm vụ tìm kiếm bất thường
Luồng thông tin liên tục và định kỳ
Luồng thông tin liên tục và định kỳ
Sản xuất Marketing Tài chính Nhân sự Khác
Tất cả các môi trường liên quan
NGÂN HÀNG
D Ữ LIỆU
Truy tìm thông tin
Dữ liệu có thể
sử dụng ngay không?
Tìm kiếm bất thường
Dữ liệu có thể
sử dụng trong tương lại không?
Trang 18mô ) thì sẽ giúp nhà Quản trị đưa ra được những chiến lược phù hợp cũng như
quyết định chính xác phản ứng lại những thay đổi của môi trường kinh doanh
Ngoài ra một vai trò quan trọng nhất của công tác thu thập thông tin chính là làm
cơ sở đầu vào để:
- Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh
- Phân tích các mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT matrix)
a) Xác định mục tiêu:
Sau khi đã có thông tin để phân tích môi trường kinh doanh, nhà quản trị biết
doanh nghiệp của mình đang đứng ở đâu tại thị trường cũng như mặt mạnh, yếu,
cơ hội, thách thức… nhà quản trị phải đề ra những mục tiêu chính để phát triển
doanh nghiệp Một mục tiêu đúng phải hội tụ đủ các yếu tố sau:
hoặc huy động được để thực hiện mục tiêu Trong đó việc xác định nhu cầu đầu tư
được hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu
b) Phân tích danh mục đầu tư:
Phân tích danh mục đầu tư là việc tổng hợp thông tin thu được trong quá trình
phân tích môi trường Các thông tin này thường được tổng hợp trên ma trận hoặc
theo phương pháp phân tích vốn đầu tư
Có thể sử dụng nhiều phương pháp để phân tích danh mục vốn đầu tư, gồm ma
trận thị trường/tăng trưởng của Boston Consulting Group, chiến lược cội nguồn
của Porter, lưới kinh doanh GM… Toàn bộ hoặc bất kỳ một ma trận nào trong số
các ma trận vừa nêu trên đều có thể giúp ích cho việc thực hiện các mục tiêu của
doanh nghiệp
Thông thường phân tích danh mục đầu tư gồm 6 bước: (1) Chọn cấp độ quản lý
trong tổ chức để phân tích, (2) xác định đơn vị để phân tích, (3) chọn phương của
ma trận vốn đầu tư, (4) thu thập và phân tích số liệu, (5) dựng và phân tích các ma
trận vốn đầu tư, (6) xác định danh mục vốn đầu tư thích hợp
Trang 19- Loại bỏ một số đơn vị kinh doanh khỏi danh mục đầu tư
- Giữ nguyên cơ cấu hoạt động kinh doanh như hiện tại và phát triển ở nhịp độ cao hơn bằng các đầu tư lớn
- Liên kết hoặc chuyển sang một ngành mới
Nói tóm lại để một có thể phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt
như hiện nay bắt buộc nhà quản lý doanh nghiệp phải có một chiến lược rõ ràng để
làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Trong đó, đầu tư hạ tầng kỹ
thuật là một bước quan trọng trong phân tích chiến lược và được tổng hợp từ quá
trình phân tích tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp (phân tích môi
trường kinh doanh, dự báo xu hướng về sản phẩm, mục tiêu của doanh nghiệp,
SWOT …)
1.3 Quản lý ĐTXD hạ tầng kỹ thuật
1.3.1 Lập kế hoạch ĐTXD
1.3.1.1 Thực chất và mục đích của lập kế hoạch ĐTXD:
Lập kế hoạch hoạt động là quá trình tìm hiểu lựa chọn trước hoạt động, Các yếu tố
cho hoạt động và phương thức (Phương pháp, cách thức) tiến hành hoạt động Cần
hiểu biết nhiều hoạt động, nhiều yếu tố, nhiều phương pháp có thể lựa chọn và các
tiêu chuẩn lực chọn thì chuẩn mới lựa chọn tốt được
Sản phẩm của quá trình lập kế hoạch là bản kế hoạch Bản kế hoạch thường có tên
của hoạt động cụ thể và bao gồm các nội dung như: a) Mục đích và các mục tiêu của
hoạt động: b) Nội dung, quy mô, địa điểm, thời gian hoạt động, người chủ trì các
phần việc chính…: thành phần và toàn bộ kinh phí Như vậy, có thể tách tương đối 3
mặt của quá trình lập kế hoạch Đó là, kế hoạch hóa mục đích, các mục tiêu (Xây
dựng cây mục tiêu): kế hoạch hóa chương trình hành động: và kế hoạch hóa các
nguồn lực Và như vậy dẫn đến kết quả là bản kế hoạch gồm có 3 phần tương đối
riêng biệt nhưng liên quan mật thiết với nhau Đó là phần kế hoạch mục đích và các
mục tiêu, phần kế hoạch (chương trình) hành động và phần kế hoạch các nguồn lực
(Kế hoạch tài chính) Khi xác định (xây dựng) phần kế hoạch này phải dự kiến, dựa
vào hai phần kế hoạch kia Vì thế mà có nhiều phương án kế hoạch, và vì thế mà việc
lập kế hoạch trong thực tế gặp nhiều khó khăn, trở ngại… Mặt khác, do phải dự báo,
dự kiến nhiều thứ liên quan biến động phức tạp trong tương lai nên không thể có kế
hoạch hoàn toàn chính xác Tuy vậy, bản kế hoạch phải có chất lượng nhất định mới
được sử dụng
Lập kế hoạch đầu tư xây dựng gồm các nội dung sau:
- Xác định hệ thống các mục tiêu (xây dựng cây mục tiêu)
- Hoạch định các chính sách lớn, quan trọng
- Xây dựng chương trình hành động: tiến hành những gì? Quy mô, mức độ?
Địa điểm? Thời hạn? giá trị? Người/đơn vị phụ trách?
- Làm sẵn những gì sẵn có và những gì còn thiếu
Trang 20- Dự kiến trước những khó khăn, trở ngại có thể xảy ra và các dự phòng biện
pháp khắc phục, nhân – tài – vật lực cũng như trách nhiệm quản lý
- Xác lập trước các biện pháp kiểm tra hành chính
1.3.1.2 Phương pháp lập kế hoạch ĐTXD:
Quy trình lập kế hoạch gồm các bước như: Nhận biết (nhận thức) cơ hội, nguy cơ,
sức ép; Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ (tiền đề); Xây dựng các phương án kế
hoạch; Chính thức lựa chọn, quyết định kế hoạch…
Bước 1: Hình thành ý tưởng đầu tư xây dựng trên cơ sở nhận biết (nhận thức) cơ
hội, nguy cơ
Theo dõi mọi sự thay đổi có liên quan, nhận ra cơ hội, nguy cơ là để thấy được sự
xuất hiện thay đổi của nhu cầu, của các đối thủ cạnh tranh là hoàn toàn cần thiết đối
với bất kỳ ai muốn và đang đầu tư xây dựng để kinh doanh Thông thường ban đầu
chúng ta nhận biết, dự đoán sơ bộ các cơ hội, nguy cơ có thể diễn ra trong tương lai
sau đó nếu thấy cần thiết thì chúng ta xem xét chúng một cách nghiêm túc, toàn diện
và rõ ràng Trong thiên nhiên, trong cuộc sống, trong xã hội luôn xuất hiện các cơ
hội Cơ hội là tình huống chứa đựng nguồn sống và các điều kiện phát triển Có thể
nêu một số cơ hội về đầu tư như: 1) kinh tế phát triển, thu nhập người dân tăng làm
tăng cơ hội đầu tư các công trình cung cấp nhiên liệu sạch, 2) nhu cầu về điện năng
tăng làm tăng cơ hội xây dựng kho chứa LNG cung cấp khí cho các nhà máy nhiệt
điện vvv Trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong xã hội cũng thường xuyên xuất hiện
các mối đe doạ (nguy cơ) Khi các đối thủ có hoặc biết cách khai thác các yếu tố tiến
bộ, hiện đại… mà chúng ta không tiến hoặc tiến chậm là chúng ta có nguy cơ tụt hậu
(thất thế trong cạnh tranh) Hiện nay đất nước nào, doanh nghiệp nào, gia đình nào,
người nào cũng bị sức ép của cạnh tranh, cũng phải có những hoạt động ứng phó khi
bị sức ép của cạnh tranh Việt Nam vào WTO tạo thách thức lớn cho doanh nghiệp
trong nước đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngành điện, khí vì doanh nghiệp các nước G7, EU
có kinh nghiệp và tiền năng về nhân lực và tài chính, nguồn cung cấp nhiên liệu toàn
cầu vv
Sau khi có ý tưởng về đầu tư xây dựng thông qua việc nhận biết cơ hội, nguy cơ, sức
ép người ta tiến hành dự đoán, tìm hiểu cụ thể, tương đối chi tiết chúng để đi đến
chính thức xác định các nội dung của bản kế hoạch đầu tư xây dựng
Hình thành ý
tưởng đầu tư
xây dựng
Tìm hiểu cụ thể, thu nhập thông tin, kiểm định dữ liệu
Xây dựng các phương án kế hoạch đầu tư xây dựng
Chính thức lựa chọn phương án
Ý tưởng đầu tư hạ tầng (sơ bộ lựa chọn danh mục đầu tư xây
dựng)
Trang 21Bước 2: Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ (tiền đề) liên quan
Phải có các cơ sở, căn cứ (nguyên liệu) thì mới có thể xây dựng được kế hoạch Như
vậy, bước thứ hai của việc lập kế hoạch là phải tập hợp, kiểm định và thống nhất về
các cơ sở, căn cứ phục vụ cho việc xác định các chỉ tiêu kế hoạch Các cơ sở, căn cứ
phục vụ cho lập kế hoạch là các kết quả dự báo về nhu cầu, về các nguồn đáp ứng
khác (các đối thủ cạnh tranh) và về năng lực của ta Khó khăn trong việc đảm bảo
mức độ đầy đủ và chính xác của các cơ sở, căn cứ lập kế hoạch có rất nhiều Trước
hết, dự báo những gì xảy ra trong tương lai không thể hoàn toàn chính xác Và các kế
hoạch thường có quan hệ hữu cơ với nhau Kế hoạch này tạo ra cơ sở, căn cứ cho kế
hoạch kia và ngược lại Ví dụ, kế hoạch xây dựng một số khu công nghiệp mới ở
thành phố Hà Nội tạo ra nhiều cơ sở, căn cứ cho các kế hoạch phát triển các mặt khác
như: cơ sở hạ tầng, nhà ở, thương mại, dịch vụ, giáo dục … Kế hoạch đầu tư của
nước ngoài vào Việt Nam, kế hoạch phát triển các khu công nghiệp là cơ sở, căn cứ
cho lập kế hoạch phát triển xi măng, thép xây dựng, kế hoạch phát triển khách sạn –
du lịch, kế hoạch đào tạo và đảm bảo việc làm …
Vì sự nhất trí về tiền đề là điều kiện quan trọng nên cần làm cho những người dưới
quyền hiểu rõ những tiền đề mà họ sẽ dùng để xây dựng kế hoạch Thông thường
người cán bộ quản lý cao nhất cần bàn bạc kỹ lưỡng và đi đến thống nhất trong các
cán bộ chủ chốt về các tiền đề của kế hoạch
Bước 3: xác định các phương án kế hoạch đầu tư xây dựng
Một phương án kế hoạch đầu tư xây dựng có ba phần: phần mục đích và các mục
tiêu, phần kế hoạch hành động và phần tài chính (các nguồn lực) Ba phần độc lập
tương đối nhưng quan hệ hữu cơ với nhau Xác định phần này phải giả định, lường
định hai phần còn lại
Xác định, đưa ra mục đích, các mục tiêu (cây mục tiêu) rõ ràng, cụ thể là bước thứ
hai của quy trình lập kế hoạch Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là hiệu quả cao
nhất, bền lâu nhất có thể do vậy đầu tư phải mang lại hiệu quả tối ưu Có giai đoạn,
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là: thâm nhập, mở rộng thị trường, tăng số
lượng sản phẩm – khách hàng; tăng trưởng doanh thu nhanh, giành thị phần áp đảo…
Mục tiêu phải thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể từ đó xác định nhu cầu đầu tư xây
dựng hạ tầng kỹ thuật
Mục tiêu, mục đích được xác định phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
1 Mục đích, mục tiêu phải được xác định rõ ràng, cụ thể trước khi tiến hành hoạt
động;
2 Sô lượng mục đích đồng thời và độ lớn của từng mục đích phải hợp lý;
Như trên đã trình bày kế hoạch hóa (kế hoạch) có ba phần quan hệ hữu cơ với nhau
Thay đổi một trong ba phần là phải điều chỉnh (thay đổi) hai phần còn lại, kết quả
cho ta một phương án kế hoạch
Người ta thường dựa vào kinh nghiệm, ý kiến chuyên gia để xây dựng ra một số
phương án kế hoạch (2-5 phương án) Nhiều phương án quá sẽ rất tốn kém và khó
khăn cho việc lựa chọn
Sau khi tìm được các phương án người ta tiến hành đánh giá chúng dựa vào mức độ
tin cậy của các cơ sở, căn cứ và dựa vào mục tiêu, mục đích cần ưu tiên trong trường
Trang 22hợp, giai đoạn cụ thể Một phương án có thể có lợi nhuận cao nhất song cần vốn đầu
tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm; phương án khác có thể có lợi nhuận ít song cũng
ít rủi ro hơn; một phương án khác nữa có thể thích hợp hơn với các mục tiêu dài hạn
của công ty
Bước 4: lựa chọn và chính thức quyết định phương án kế hoạch đầu tư xây dựng
Lựa chọn phương án kế hoạch là so sánh, cân nhắc các phương án đã được xây dựng
về các mặt vốn đầu tư, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội, về mặt môi
trường cùng với sự thể hiện ngày một rõ hơn của các điều kiện, tiền đề đi đến chính
thức quyết định chọn một phương án kế hoạch tối ưu nhất, sát hợp nhất, khả thi
nhất… Trong trường hợp phải so sánh nhiều phương án người ta phải áp dụng vận trù
học, các thuật toán và máy điện toán
Đôi khi việc phân tích và đánh giá các phương án cho thấy rằng, có hai hoặc nhiều
phương án thích hợp và người quản lý có thể quyết định thực hiện một số phương
án…
Như vậy, lập kế hoạch đầu tư xây dựng là quá trình đầu tư dự báo nhu cầu thị trường
về cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu, dự báo các đối thủ cạnh tranh, năng lực của ta ,
tiếp theo là sử dụng các kết quả dự báo đó để tính toán, cân nhắc đi đến quyết định
lựa chọn trước đầu tư xây dựng gì để phục vụ hoạt động kinh doanh cụ thể, các yếu
tố cho việc tiến hành đầu tư xâu dựng hạ tầng trên thực tế và phương pháp thực hiện
Chất lượng của kế hoạch đầu tư xây dựng chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng (mức tin
cậy) của các kết quả dự báo đó – chất lượng của các cơ sở, căn cứ
Khi nghiên cứu biến động của các yếu tố làm cơ sở cho lập kế hoạch đầu tư xây dựng
chúng ta cần phân lớp, phân tầng chúng thành các nhân tố trực tiếp, nhân tố trung
gian và các nhân tố sâu xa … để tránh trùng lặp; tiếp theo cần tìm cách lượng hóa
mức độ ảnh hưởng, tác động (làm tăng hoặc làm giảm) của các trường hợp khác
thường, đột xuất …
1.3.2 Đảm bảo tổ chức cho hoạt động ĐTXD
1.3.2.1 Những kiến thức chung về đảm bảo tổ chức:
Đảm bảo tổ chức cho hoạt động là thiết lập – không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức
quản lý và xác định – không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực Không
có hệ thống tổ chức thì không thể điều hành, kiểm soát… được hoạt động có quy mô,
phức tạp lớn
Theo Harold koontz Cyril O’donnell, Heinz Weihrich, chức năng tổ chức bao gồm:
1 Xác định các mục tiêu trung gian nhằm triển khai mục đích, các mục tiêu lớn
đã được hoạch định
2 Xác định và phân định các hoạt động cần thiết nhằm thực hiện các mục tiêu
3 Nhóm các hoạt động theo các nguồn lực
4 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho các cấp, các bộ
phận, các thủ trưởng điều hành
5 Xác lập, quy định các quan hệ ngang, dọc giữa các bộ phận, các cấp…
6 Xác định cơ cấu nhân lực tiêu chuẩn các bộ, tổ chức tuyển dụng, đề bạt các bộ,
đánh giá, đãi ngộ cán bộ, đào tạo phát triển cán bộ, nhân viên…
Trang 23Theo Dick Carlon… thực hiện chức năng tổ chức là tiến hành các công việc sau đây:
1 Hình thành sơ đồ cơ cấu tổ chức
2 Mô tả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên
3 Xác lập quan hệ giữa các thành viên
4 Xây dựng cơ cấu nhân lực và tiêu chuẩn cho các loại cán bộ
5 Tổ chức tuyển dụng, đề bạt, đào tạo cán bộ nhân viên
6 Xây dựng chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ, nhân viên
Nhiều nhà khoa học thống nhất rằng đảm bảo tổ chức cho hoạt động đông người bao
Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành bao gồm các cấp, các bộ phận, các đối tượng quản
lý và các quan hệ trực thuộc, phối hợp giữa chúng
Khoa học quản lý đã đúc kết đưa ra các kiểu loại cơ cấu tổ chức quản lý điều hành
phổ biến sau đây:
1) Kiểu tổ chức quản lý trực tuyến là kiểu cơ cấu trong đó thường có hai cấp, thủ
trưởng không có bộ phận người giúp việc Trong cơ cấu tổ chức quản lý này các thủ
trưởng con được thiết lập để quản lý toàn diện trực tiếp như kiểu cơ cấu nêu ở trên
Lãnh đạo, điều hành các thủ trưởng con là một thủ trưởng cấp trên Kiểu cơ cấu tổ
chức quản lý này thường được áp dụng khi quy mô phức tạp, quản lý tăng vượt quá
khả năng của một người nhưng chưa lớn lắm, người ta không muốn phân chia quyền
lực cho người bên ngoài và có các thủ trưởng toàn năng Kiểu cơ cấu tổ chức quản lý
này được sử nhiều trong kinh tế gia đình quy mô nhỏ và vừa
2) Kiểu tổ chức quản lý chức năng là cơ cấu trong đó có một thủ trưởng, một số bộ
phận hoặc nhân viên giúp việc về nghiệp vụ quản lý và những người thừa hành Cơ
cấu này đảm bảo chỉ huy tập trung cao độ, nhanh chóng, chính xác (ít nhiễu) và các
giải pháp quản lý có cơ sở, căn cứ khoa học và thực tế, được lực lượng nghiệp vụ
hướng dẫn thực hiện cụ thể, tỉ mỉ Kiểu cơ cấu này được sử dụng khi năng lực lãnh
đạo (quản lý chiến lược) của thủ trưởng tốt và khối lượng công việc nghiệp vụ lớn…
3) Kiểu tổ chức quản lý trực tuyến – chức năng là kiểu cơ cấu trong đó có nhiều cấp
quản lý (nhiều cấp thủ trưởng) và các bộ phận nghiệp vụ giúp việc cho các thủ trưởng
cấp trung và cao cấp Thủ trưởng trực tuyến (theo chiều dọc) là người có quyền cao
nhất – quyền quyết định trong quá trình điều hành chịu trách nhiệm trước hết và chủ
yếu về kết quả điều hành ở cấp mình phụ trách
Cấp quản lý càng cao thì càng phải tập trung giải quyết nhiều hơn các vấn đề chiến
lược như: hoạch định chiến lược, tổ chức cán bộ Chức vụ phó trưởng được thiết lập
để thay trưởng trong các trường hợp cần thiết Khi được thiết lập, được ủy quyền thì
phó là trưởng Các bộ phận chức năng (giúp việc cho thủ trưởng cùng cấp về theo
dõi, nắm bắt phản ảnh tình hình và hướng dẫn về nghiệp vụ cho cấp dưới) được thiết
lập, nhiều hay ít tùy thuộc vào yêu cầu thực tế Kiểu cơ cấu tổ chức này phát huy
Trang 24được các ưu điểm của cơ cấu trực tuyến là phân quyền để chỉ huy kịp thời… và các
ưu điểm của cơ cấu chức năng là chuyên sâu nghiệp vụ: đảm bảo cơ sở, căn cứ cho
viêc ra quyết định, hướng dẫn thực hiện các quyết định…
Các bộ phận chức năng được thành lập để giúp các thủ trưởng trực tuyến cấp trung,
cấp cao về theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện mệnh lệnh về mặt
nghiệp vụ quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức cán bộ, thống kê, kế toán, vật tư, lao
động tiền lương, tài chính… Các bộ phận chức năng cũng như các bộ phận tham mưu
không có quyền ra lệnh, chỉ huy cho các thủ trưởng cấp dưới
Ngoài các kiểu cơ cấu khác như mô hình ma trận, quản lý theo chương trình mục
tiêu…
Mỗi kiểu cơ cấu tổ chức quản lý có ưu, nhược điểm riêng, được sư dụng trong trường
hợp nhất định
Thường quy mô và tính phức tạp của phân hệ đối tượng quản lý tăng thì quy mô của
bộ máy quản lý cũng tăng theo Quy mô của bộ máy quản lý khi cần thiết thì phải
tăng nhưng mức độ phải mạch lạc, nhanh chóng trong việc hình thành và triển khai
biện pháp quản lý, hiệu lực quản lý không được giảm
Xây dựng bộ máy quản lý phải tuân theo quy trình (các bước công việc) như: Xác
định nhu cầu quản lý; Lựa chọn kiểu cơ cấu tổ chức quản lý điều hành; Xác định,
chính thức quy định các quan hệ trực thuộc hoặc quan hệ phối hợp trong hoạt động
quản lý
Bước 1: Xác định nhu cầu quản lý
Xác định nhu cầu quản lý phải căn cứ, dựa vào các yếu tố mà nhu cầu quản lý phụ
thuộc Nhu cầu (đòi hỏi) quản lý hoạt động ở cơ quan (doanh nghiệp) là một hàm số:
Y = F (X1, X2, X3, X4, X5… )
Trong đó:
Y - Nhu cầu quản lý
X1 - Số lượng và độ lớn của các mục đích, mục tiêu được đặt ra đối với hoạt động
X2 - Mức độ và tính chất cạnh tranh
X3 - Mức độ đồng bộ và hợp lý của quản lý vĩ mô (quản lý các cơ quan nhà nước, của
cấp trên đối với doanh nghiệp)
X4 - Chủng loại và mức độ phức tạp của các sản phẩm
X5 - Trình độ, khả năng tiếp ứng của đối tượng quản lý
Bước 2: lựa chọn kiểu cơ cấu tổ chức quản lý
Một trong số các biện pháp nâng cao hiệu lực quản lý là lựa chọn được một cơ cấu tổ
chức quản lý thích hợp nhất, không theo các mưu đồ cá nhân hoăc chỉ theo những
áng chừng chủ quan
Tiến hành lựa chọn kiểu cơ cấu tổ chức quan lý phải căn cứ (dựa) vào bản chất, ưu
(nhược) điểm và trường hợp áp dụng của các kiểu cơ cấu tổ chức quản lý; nhu cầu
quản lý; ý đồ và năng lực của người đứng đầu bộ máy quản lý điều hành…
Trang 25Hầu hết các doanh nghiệp có quy mô hoạt động vừa và lớn người ta sử dụng kiểu cơ
cấu tổ chức trực tuyến - chức năng Trong xây lắp người ta sử dụng kiểu cơ cấu tổ
chức ma trận Trong hoạt động nghiên cứu – triển khai người ta sử dụng kiểu cơ cấu
tổ chức chương trình mục tiêu
Bước 3: Xác định quy mô của bộ máy quản lý điều hành
Quy mô của bộ máy quản lý điều hành lại được mô tả dưới dạng hàm:
Y = F (X1,- X2, -X3….)
Trong đó:
Y - Quy mô của bộ máy quản lý điều hành
x1 – Nhu cầu quản lý điều hành
X2 - Trình độ của đội ngũ cán bộ quan lý điều hành
X3 - Trình độ trang bị phương tiện cho hoat động quản lý điều hành
Khi trình độ của lực lượng quản lý còn nhiều hạn chế, trình độ của đối tượng còn
thấp kém thì không nên tổ chức các cơ quan, tổ chức có quy mô lớn và không nên nói
đến giảm quy mô (độ cồng kềnh), biên chế của bộ máy quản lý một cách nhanh
chóng và bình quân
Bước 4: Thiết lập các bộ phận chức năng (giúp việc về nghiệp vụ quản lý)
Thiết lập các bộ phận chức năng cần xét tính, căn cứ vào các yếu tố sau đây:
- Khối lượng các công việc của từng chức năng (nhu cầu quản lý theo từng chức
năng);
- Trình độ của lực lượng sẽ thực hiện từng chức năng;
- Mức độ trang bị máy móc, thiết bị cho thực hiện từng chức năng;
- Yêu cầu, đòi hỏi về hiệu lực quản lý
- Tách hay gộp các bộ phận chức năng đã có cũng phải xem xét cụ thể các yếu tố
nêu ở trên
Bước 5: Quy trình nhiệm vụ, chức năng quyền hạn – trách nhiệm của từng cấp,
từng bộ phận của bộ máy quản lý; quan hệ trực thuộc giữa các cấp hoặc quan
hệ phối hợp giữa các bộ phận trong bộ máy quản lý
Khi thực hiện bước công việc này cần chú ý vận dụng các nguyên lý, hướng dẫn như:
Các nhiệm vụ, chức năng phải được phân giao hết, có thể trùng lập một ít; Cấp càng
cao được quyết định các vấn đề càng lớn, càng quan trọng; Quyền hạn được giao phải
tỷ lệ thuận với trình độ, độ tin cậy và gắn với trách nhiệm; Sau khi giao quyền phải
thiết lập hệ thống thông tin giám sát, kiểm tra, đánh giá khen (chê) kịp thời Các quan
hệ trực thuộc hay phối hợp phải được định hình rõ ràng, hợp lý Quan hệ trưc thuộc
được thể hiện trên sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của cơ quan (doanh nghiệp)
Bộ máy quản lý phải đáp ứng yêu cầu sau:
- Đảm bảo việc hình thành và triển khai các quyết định (các biện pháp) quản lý sát
đúng, có hiệu lực nhất
- Đảm bảo một cấp dưới, một người thừa hành chỉ chịu sự lãnh đạo, sự chỉ huy trực
tiếp của một thủ trưởng cấp trên
Trang 26- Đảm bảo quan sát được hệ thống quyền lực và chịu trách nhiệm trong quá trình ra
quyết định, trong quản lý
Khi thiết lập từng cấp, từng bộ phận và cả bộ máy quản lý cần chú ý vận dụng các chỉ
dẫn sau đây:
1 Một thủ trưởng trực tiếp không nên quản lý quá 15 đối tượng
2 Nếu tăng đối tượng quản lý theo cấp độ số cộng thì mối quan hệ mà quản lý
phải khai thông, xử lý tăng theo cấp số nhân
10 đối tượng có 45 mối quan hệ
1000 đối tượng có 500.000 mối quan hệ
10.000 đối tượng có 50.000.000 mối quan hệ
3 Tăng hoặc giảm quy mô của bộ máy quản lý phải căn cứ (dựa vào) nhu cầu
quản lý, trình đội đội ngũ quản lý, trình độ trang bị máy móc, phương tiện cho
hoạt động quản lý
Các sơ đồ tổ chức quản lý dự án:
Các sơ đồ tổ chức dự án thông thường ràng buộc bởi các nguồn lực (nhân sự, trang
thiết bị, nguồn vốn…) tùy theo tổ chức dự án theo sơ đồ chức năng cũng như các sơ
đồ theo ma trận đến sơ đồ theo kiểu dự án
1) Sơ đồ theo chức năng
Tổ chức quản lý dự án theo sơ đồ theo chức năng kiểu cổ điển là một tổ chức theo thứ
bậc theo đó mỗi nhân viên có một người phụ trách rõ ràng Các thành viên sẽ kết hợp
thành nhóm theo các Bộ phận theo chuyên ngành như là Kỹ thuật, Kinh tế, Thương
Mại,Tài chính Sau đó các Bộ phận này lại chia ra các tổ chức năng khác nhỏ hơn ví
dụ như Cơ khí, Điện, Xây dựng thuộc bộ phận Kỹ thuật…để hỗ trợ các cơ cấu tổ
chức lớn hơn
Mô hình này có đặc điểm là để giảm bớt gánh nặng cho nhà quản lý, người ta tổ chức
ra các bộ phận chức năng (phòng ban chức năng) Các bộ phận này sẽ trực tiếp ra
quyết định xuống các bộ phận trực thuộc phạm vi chức năng của mình
Tổ chức theo sơ đồ chức năng vẫn có các dự án nhưng phạm vi của các dự án thông
thường bị giới hạn bởi các Bộ phận chức năng
Ưu điểm:
– Phản ánh hợp lý các chức năng nhiệm vụ.Tuân theo nguyên tắc chuyên môn hoá
ngành nghề, phát huy được sức mạnh và khả năng của đội ngũ cán bộ theo từng
chức năng Tiết kiệm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo
– Tạo ra được các biện pháp kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất
Nhược điểm:
– Các cấp dưới nhận nhiều mệnh lệnh từ cấp trên, không có sự thống nhất về các
quyết định
– Các bộ phận chức năng có thể đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, có sai lầm xảy ra
thì khó quy trách nhiệm cho ai
Trang 27Hình 1- 2 Cơ cấu tổ chức theo sơ đồ chức năng
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN NHÂN VIÊN
Trang 28Hình 1- 4 Cơ cấu tổ chức theo Sơ đồ Ma trận cân bằng
Hình 1- 5 Cơ cấu tổ chức theo Sơ đồ Ma trận mạnh
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
Trang 29Tổ chức theo sơ đồ ma trận là sơ đồ trộn lẫn giữa mô hình tổ chức theo chức năng và
theo kiểu dự án
Sơ đồ ma trận yếu duy trì nhiều tính chất của tổ chức theo sơ đồ chức năng và vai trò
của Giám đốc dự án chỉ như một Điều phối viên hơn là một Giám đốc dự án Mô
hình sơ đồ ma trận mạnh có nhiều đặc tính của sơ đồ tổ chức theo dự án và Giám đốc
dự án có toàn thời gian và thẩm quyền cũng như toàn bộ nhân viên làm việc toàn thời
gian cho dự án Với sơ đồ tổ chức ma trận cân bằng tuy cần có một Giám đốc dự án
nhưng Giám đốc dự án không có hết thẩm quyền cũng như quyết định về vấn đề tài
chính cho Dự án
Ở sơ đồ ma trận yếu, các cấp quản lý phía dưới vừa chịu sự quản lý theo chiều dọc từ
trên xuống, đồng thời chịu sự quản lý theo chiều ngang
Các bộ phận trực thuộc được tổ chức tương đối độc lập, trong mỗi bộ phận này thì
cũng chỉ có các đơn vị chức năng những chỉ ở phạm vi của bộ phận đó, tuỳ theo quy
mô mà tổ chức theo kiểu trực tuyến hay chức năng
3) Sơ đồ tổ chức theo kiểu dự án
Ở sơ đồ tổ chức theo kiểu dự án, các thành viên của các dự án được sắp xếp theo vị
trí Hầu hết các nguồn lực (nhân sự, trang thiết bị, tài chính ) của tổ chức đều tham
gia Dự án, và Giám đốc dự án được quyền tự quyết và tương đối độc lập Ở cơ cấu tổ
chức theo kiểu dự án, thông thường các đơn vị của tổ chức được gọi là phòng nhưng
những đơn vị này hoặc báo cáo trực tiếp cho Giám đốc Dự án hoặc hỗ trợ hoặc tham
gia nhiều dự án
Ưu điểm:
Linh hoạt trong điều động nhân sự; Thúc đẩy sự hợp tác giữa các bộ phận trong tổ
chức; Phát huy vai trò ra quyết định, thông tin và giao tiếp
Nhược điểm:
Có sự mâu thuẫn về quyền hạn trong tổ chức; Có khả năng có sự không thống nhất về
mệnh lệnh theo chiều dọc và chiều ngang
Hình 1- 6 Cơ cấu tổ chức theo kiểu dự án
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN NHÂN VIÊN
Trang 304) Sơ đồ tổ chức hỗn hợp
Hình 1- 7 Cơ cấu tổ chức theo sơ đồ tổ chức hỗn hợp
Hầu hết các sơ đồ tổ chức quản lý dự án hiện đại kết hợp các sơ đồ trên với nhiều
mức độ khác nhau, Ví dụ: thậm chí một sơ đồ tổ chức quản lý dự án theo kiểu chức
năng có thể đưa ra một nhóm quản lý dự án triển khai được một dự án quan trọng
Một nhóm như vậy có nhiều đặc tính của nhóm quản lý dự án trong mô hình theo
kiểu dự án Nhóm này có thể gồm các nhân viên dự án từ các phòng chức năng khác
nhau họat động toàn bộ thời gian cho nhóm dự án, có thể thiết lập quy trình họat
động cho riêng nhóm của mình và theo các quy trình ngoài tiêu chuẩn hoặc theo sơ
đồ báo cáo truyền thống
Cơ cấu tổ chức kiểm hỗn hợp là kiểu cơ cấu trong đó có nhiều cấp quản lý và các bộ
phận nghiệp vụ giúp việc cho các lãnh đạo cấp trung và cao Trong đó quan hệ quản
lý trực tuyến từ trên xuống dưới vẫn tồn tại, nhưng để giúp người quản lý ra các
quyết định đúng đắn còn có các bộ phận chức năng giúp việc trong các lĩnh vực
chuyên môn Các đơn vị này không ra quyết định trực tiếp mà tham mưu cho người
quản lý cấp cao trong việc chuẩn bị ban hành và thực hiện các quy định thuộc phạm
vi chuyên môn của mình Theo sơ đồ này có 1 phòng chức năng chuyên cung cấp
giám đốc dự án, quản lý toàn bộ giám đốc dự án
Ưu điểm:
Đạt được sự thống nhất trong mệnh lệnh; Giảm bớt gánh nặng cho người quản lý;
Quy định rõ trách nhiệm cho người thực hiện
NHÂ VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂN VIÊN
NHÂ VIÊN
ÁN
Điều phối dự án B
Trang 31Bảng 1-1 Đặc điểm các loại cơ cấu tổ chức quản lý dự án
Sơ đồ tổ
chức
Đặc điểm
Sơ đồ theo chức năng
Sơ đồ Ma trận Sơ đồ theo Dự án
Ma trận yếu Ma trận cân
bằng Ma trận mạnh
Thẩm quyền của
Giám đốc Dự án Ít hoặc không có
bình
Trung bình tới Cao
Cao tới Tuyệt đối
Sự sẵn có của
nguồn lực Ít hoặc không có
bình
Trung bình tới Cao
Cao tới Tuyệt đối Người kiểm soát
chi phí dự án Trưởng đơn vị
chức năng
Trưởng đơn vị chức năng Trưởng đơn vị chức năng +
Ở con người năng lực bao gồm sức lực, trí lực và tâm lực Năng lực của con người
còn gọi là khả năng lao động – khả năng thực hiện, hoàn thành công việc Trong thời
đại mới trí lực và tâm lực ngày càng có vai trò quan trọng
Nhân lực của Doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và có
thể huy động, sử dụng cho việc thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt và lâu
dài Nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành của tất cả các loại khả năng
lao động (đội ngũ cán bộ công nhân viên) của doanh nghiệp đó Chất lượng nhân lực
của doanh nghiệp của doanh nghiệp càng cao thì sức mạnh hợp thành càng lớn
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về toàn
bộ và về mặt đồng bộ (cơ cấu) các loại Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
cần có bộ ba nhân lực mạnh đồng bộ: chuyên gia quản lý, chuyên gia công nghệ và
thợ lành nghề, trong từng lực lượng cần có người nghiên cứu đưa ra ý tưởng, những
người chuyên thiết kế và những người chuyên thi công Đây là những lực lượng
quyết định sáng tạo của doanh nghiệp, quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm
doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp…
Trong quản lý đầu tư xây dựng của doanh nghiệp cũng như các hoạt động quản lý
doanh nghiệp, đối với cán bộ quản lý cấp cao cần đặc biệt quan tâm đầu tư cho việc
1) Xác định nhu cầu nhân lực cho chiến lược, kế hoạch đầu tư xây dựng số lượng
từng loại, tổng số và cơ cấu các loại; 2) Hoạch định, thẩm định và tổ chức thực thi hệ
thống chính sách nhân lực
* Về nhu cầu nhân lực
Có hơn 10 cách phân loại cơ cấu nhân lực, tức là có hơn 10 loại cơ cấu nhân lực Mỗi
cách phân loại có ít nhất hai loại nhân lực
Nhu cầu nhân lực quản lý đầu tư xây dựng cũng như nhu cầu quản lý của doanh
nghiệp về mặt tổng số lượng (NL) bao gồm nhu cầu cho thực hiện các mục tiêu kế
Trang 32hoạch (NL2) và cho phần chiến lược chưa được chuyển hóa thành kế hoạch như:
nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý (NL1) + Nhu cầu
thay thế cho số về hưu, chuyển đi nơi khác và đi đào tạo (NL3) (xem H.4.3)
NL = NL1 + NL2 + NL3
Cơ sở căn cứ xác định nhu cầu nhân lực cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm:
1 Phần chiến lược kinh doanh chưa chuyển hóa thành kế hoạch kinh doanh và
các định mức tổng hợp: NL1 = 3% - 5% của NL2;
2 Kế hoạch kinh doanh và hệ thống định mức lao động:
NL2 = Sản lượng KH (N) x Số lượng người lao động các loại cho một đơn
vị sản lượng trong kỳ KH (ĐMnlKH) ĐMnlKH = ĐM nl HT x K1 x K2 x
K3 Trong đó, K1 là hệ số xét đến mức độ đổi mới, thay đổi cơ cấu sản
phẩm của DN, K1 >1; K2 là hệ số xét đến mức độ đổi mới công nghệ K2 <
1; K3 là hệ số xét đến mức độ nâng cao mặt bằng trình độ nhân lực doanh
nghiệp, K3 < 1 Trị số cụ thể của từng K được xác định sau khi so sánh
hiện trạng với phương án đổi mới trong tương lại, đánh giá mức độ (%)
thay đổi
3 Kết quả ước tính số người về hưu theo hồ sơ, số người chuyển đi nơi khác
theo % của các năm trước đó, số người đi đào tạo theo kế hoạch đào tạo
Như vậy, dựa (căn cứ) vào nhân lực thực tế, mức độ thay đổi của các chỉ tiêu thuộc
mục tiêu đầu tư xây dựng, mục tiêu kinh doanh khác, mức độ thay đổi của cơ cấu sản
phẩm – khách hàng, mức độ thay đổi của công nghệ – thiết bị, mức độ thay đổi của
mặt bằng trình độ ta tính toán được số lượng của từng loại nhân lực
Cộng số lượng nhân lực của các loại ta được toàn bộ nhân lực
Chia số lượng nhân lực của từng loại cho toàn bộ ta được tỷ trọng
Tập hợp tỷ trọng của tất cả các loại người lao động ta được cơ cấu nhân lực theo từng
cách phân loại
Đối với doanh nghiệp đang hoạt động cần xác định cơ cấu nhân lực cần thiết cho việc
thực hiện, hoàn thành công việc cơ cấu nhân lực hiện có So sánh hai kết quả đó
chúng ta có kết luận về mức độ phù hợp, để có biến pháp ứng phó
Đối với doanh nghiệp đang hình thành cần xác định cơ cấu nhân lực cần thiết để có
cơ sở tuyển dụng, đào tạo
Cơ cấu nhân lực cần thiết (nhu cầu nhân lực về mặt cơ cấu) được xác định trên cơ sở
hai loại kết quả: Kết quả suy tính từ cơ cấu thực tế và mức độ thay đổi nội dung, tính
chất hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai và kết quả tổng hợp ý kiến của
những người am hiểu, trong cuộc sau khi cung cấp cho họ cơ cấu thực tế và khả năng
thay đổi nội dung, tính chất hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai xác định
Khi có máy móc thiết bị thay thế năng suất lao động tăng cao, số lượng lao động cho
một đơn vị sản phẩm giảm Trong trường hợp này tăng quy mô sản xuất thì nhu cầu
lao động có thể tăng
* Về chính sách nhân lực
Thực chất của chính sách thu hút và sử dụng nhân lực là phương án quan hệ lợi ích
giữa một bên là sử dụng lao động và một bên là ứng viên, người lao động; mục tiêu
của chính sách quản lý nhân lực là có đủ nhân lực đảm bảo chất lượng để dùng và sử
Trang 33dụng tốt nhất, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu, chủ trương hoạt
động của chủ doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần hoạch định và thực thi các chính sách nhân
lực như nhau: Chính sách thu hút người lao động có trình độ cao; chính sách đãi ngộ
phân biệt mạnh đối với những người có công đặc biệt; chính sách hỗ trợ đào tạo lại
và đào tạo nâng cao… Các chính sách đó phải hợp thành một hệ thống Từ doanh
nghiệp ở từng giai đoạn phát triển phải hoạch định và thực thi từng chính sách nhân
lực đó với mức độ cụ thể phù hợp Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển sang
kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đầu
tư cho: chính sách mạnh về hỗ trợ đào tạo mới, hỗ trợ đào tạo lại và đào tạo nâng cao;
chính sách thu hút người lao động có trình độ cao như: chuyên gia quản lý, chuyên
gia công nghệ, thợ lành nghề; chính sách đãi ngộ phân biệt mạnh cho những trường
hợp có thành tích gây ảnh hưởng tốt, to lớn đến hiệu quả, tạo giá trị mới, tạo điều
kiện, tiền đề cho phát triển kinh doanh của doanh nghiệp… Như vậy, chất lượng
(mức độ đầy đủ và chính xác) của các cơ sở, căn cứ cho hoạch định chính sách nhân
lực quyết định chủ yếu chất lượng của hệ thống chính sách nhân lực Tiếp theo, chất
lượng của hệ thống chính sách nhân lực quyết đinh chủ yếu khả năng thu hút, huy
động được nhiều nhất, tốt nhất, phân bổ hợp lý nhất nhân lực cho việc thực hiện,
hoàn thành chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, cho việc tạo ra và luôn duy trì
ưu thế về chất lượng, thời hạn sản phẩm đầu ra, hiệu quả hoạt động tương lai
1.3.2.2 Phương pháp phân tích, thiết kế một bộ máy điều hành:
Phân tích thiết kế bộ máy quản lý đầu tư xây dựng là một phần việc phân tích thiết kế
tổ chức quản lý doanh nghiệp và là nghiên cứu về cơ cấu tổ chức quản lý, về các
quan hệ trực thuộc và phối hợp, về các quy định phân nhiệm, phân quyền giữa các
cấp, các bộ phận trong chủ thể quản lý
Cơ cấu tổ chức quản lý đầu tư xây dựng được hình thành phải đáp ứng các yêu
cầu sau đây:
- Đảm bảo việc hình thành và triển khai các quyết định (các biện pháp) quản lý
sát đúng và hiệu lực nhất
- Đảm bảo một cấp dưới, một người thừa hành chỉ chịu sự lãnh đạo, sự chỉ huy
trực tiếp của một thủ trưởng cấp trên
- Đảm bảo quan sát được hệ thống quyền lực và chịu trách nhiệm trong quá trình
ra quyết định trong quản lý
Khi phân tích thiết kế bộ máy quản lý đầu tư xây dựng cũng như quản lý doanh
nghiệp cần tiến hành lựa chọn kiểu cấu trúc, tính chọn quy mô, thiết kế cụ thể các
cấp và các bộ phận cùng các quan hệ trực thuộc và phối hợp giữa chúng Trong đó
điều đặc biệt quan trọng phải tính chọn được quy mô của bộ máy quản lý doanh
nghiệp Nếu gọi quy mô của bộ máy quản lý doanh nghiệp Nếu gọi quy mô của
bộ máy quản lý doanh nghiệp là Y thì Y thuận biến với X1 ngịch biến với X2 và
Trang 34X1 – Nhu cầu quản lý các hoạt động kinh doanh
X2 - Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
X3 – Trình độ trang bị máy móc, phương tiện cho hoạt động quản lý ở doanh
nghiệp
Để hình thành bộ máy quản lý không chỉ phải biết rõ các chức năng (loại công
việc) như: hoạch định, tổ chức, điều phối, kiểm tra, mà còn phải xác định rõ khối
lượng và mức độ phức tạp của từng chức năng quản lý Khối lượng và mức độ
phức tạp của chức năng quản lý phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
Trước hết, khối lượng và mức độ phức tạp của chức năng (loại công việc) quản lý
thuận biến với độ lớn và tính đồng thời của các mục tiêu, ý đồ kinh doanh Nếu
trong thời hạn ngắn, hoàn cảnh không thuận lợi lại định ra mục tiêu cải thiện
nhanh đời sống cho tập thể người lao động và tích lũy đáng kể để hiện đại hóa
công nghệ – kỹ thuật, không gây phương hại cho môi trường sống… thì khối
lượng và mức độ phức tạp của công tác quản lý rất lớn Nếu tập thể nào nhận thấy
trước và quyết tâm chuẩn bị trước các tiên đề, điều kiện cho tương lai như đào tạo,
nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác lâu dài… thì khối lượng và mức độ phức
tạp của công tác quản lý lớn hơn nhiều so với trường hợp không lo chuẩn bị các
mặt đó
Thứ hai, khối lượng và mức độ phức tạp của chức năng (loại công việc) quản lý
thuận biến với mức độ cạnh tranh giành giật đầu vào và giải tỏa đầu ra của sản
xuất kinh doanh Trong sản xuất kinh doanh khi không còn bao tiêu, độc quyền về
sản phẩm, không có cung ứng vật tư kỹ thuật… thì quản lý phải được tăng cường
theo hướng dự đoán diễn biến tình hình, nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến
lược, phương án sản phẩm, tổ chức triển khai, hạch toán, đánh giá, phân chia
thành quả, tìm cách tác động đến lực lượng lao động
Thứ ba, khối lượng và mức độ phức tạp ở doanh nghiệp nghịch biến với mức độ
đồng bộ và hợp lý quản lý vĩ mô (quản lý Nhà nước về mặt kinh tế) và mức độ ổn
định thuận lợi của môi trường chính trị - xã hội Nếu các vấn đề: quyền sở hữu tư
liệu sản xuất, Ngân hàng, tín dụng, hối đoái, thuế, thuê nhân lực ngoại thương,
thuê đất đai, thông tin vận tải không được giải quyết hợp lý, hài hòa, đồng bộ,
thì khối lượng và mức độ phức tạp của công tác quản lý ở doanh nghiệp rất lớn
Thứ tư, khối lượng và mức độ phức tạp của công tác quản lý ở doanh nghiệp thuận
biến với số lượng và nghịch biến với khả năng tiếp ứng quản lý của những đối
tượng quản lý Nếu dân trí thấp, người bị quản lý không có những kiến thức về xã
hội, về quản lý, về khoa học kỹ thuật và nhất là khi họ có những thói quen xấu
như thụ động; ích kỷ, hẹp hòi; thông đồng móc túi chung; cản phá lẫn nhau… thì
quản lý họ để làm những điều lớn lao, cao xa là vô cùng phức tạp, đòi hỏi công
phu, trình độ quản lý cao Quản lý là thực hiện hệ thống tác động trực tiếp đến con
người (cộng đồng con người) nhằm định hướng và phối hợp tốt đẹp hoạt động của
họ, tạo ra những gì bổ ích, có lợi Do vậy, hiệu lực tác động không thể không phụ
thuộc vào khả năng tiếp ứng của đối tượng quản lý
Thứ năm, khối lượng và mức độ phức tạp của công tác quản lý thuận biến với mức
độ đa dạng của hoạt động, ở doanh nghiệp thuận biến với chủng loại, sản lượng và
Trang 35mức độ phức tạp kỹ thuật của các sản phẩm sản xuất kinh doanh Quản lý là lĩnh
vực hoạt động trí tuệ phức tạp bậc cao
1.3.2.3 Phân giao quyền hạn trong bộ máy quản lý:
Phân giao quyền hạn về cơ bản là sự phân công lao động trong quản lý, là sự giành
cho thuộc cấp, cho bộ phận nghiệp vụ được tham gia hoặc chủ trì ra các quyết định
nhằm triển khai các hoạt động được phân công Phân công, giao quyền hạn còn được
hiểu là sự ủy quyền, đảm bảo công cụ cho thuộc cấp chủ động trong việc triển khai
các chức trách quy định
Khi phân giao quyền hạn trong bộ máy quản lý đầu tư xây dựng cũng như quản lý
doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo phù hợp với chức trách đã quy định cho thuộc cấp
- Đảm bảo đi đôi, tương xứng với trách nhiệm
- Đảm bảo thuận biến với trình độ, độ tin cậy của thuộc cấp
- Đảm bảo đi đôi, tương xứng với thông tin, sự giám sát, kiểm tra, đánh giá
và khen (chê)
- Đảm bảo công bố chính thức, trình bày rõ ràng
Chức vụ phó được thiết lập để thay trưởng trong các trường hợp cần thiết như: công
việc ra quyết định, chịu trách nhiệm ở cấp quản lý quá lớn…
1.3.3 Điều phối hoạt động ĐTXD
1.3.3.1 Thực chất và nội dung của điều phối hoạt động quản lý ĐTXD:
Điều phối (Điều hành) là cho vận hành, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong hệ
thống tổ chức đã được thiết lập nhằm thực hiện những gì đã hoạch định
Điều phối hoạt động quản lý đâu tư xây dựng là thực hiện các công việc (nội dung)
sau:
1 Lập kế hoạch tiến độ (kế hoạch tác nghiệp…)
2 Giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận, cá nhân
3 Đảm bảo điều kiện vật chất-kỹ thuật cần thiết cho các bộ phận, cá nhân thực
hiện, hoàn thành các nhiệm vụ được giao
4 Hướng dẫn, đôn đốc các bộ phận, cá nhân thực hiện, hoàn thành từng nhiệm vụ
theo yêu cầu chất lượng và tiến độ…
5 Kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và khen thưởng (phạt) các bộ
phận, cá nhân…
Phương pháp điều phối hoạt động quản lý đâu tư xây dựng là tổng hợp các
phương pháp thực hiện tất cả các công việc điều phối nêu ở trên Phương pháp chủ
Trang 36yếu bao gồm quy trình và các cơ sở, căn cứ Trong nhiều trường hợp chúng ta cần
đặc biệt quan tâm đến các cơ sở, căn cứ
Bảng 1-2 Nội dung và các cơ sở, căn cứ của điều phối hoạt động ĐTXD
Nội dung của điều phối
1 Lập kế hoạch tiến độ
Thời hạn nộp sản phẩm;
Mốc thời gian thực hiện từng nhiệm vụ (công việc);
Khả năng thực hiện song song các công việc;
Mục đích, các mục tiêu của hoạt động chung…
2 Giao nhiệm vụ (công việc) cụ
thể cho từng đơn vị hoặc cá nhân
Các yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ đối với người thực hiện;
Trình độ của các ứng viên;
Mục đích, các mục tiêu của hoạt động chung…
3 Đảm bảo điều kiện vật chất làm
việc cho từng đơn vị hoặc cá nhân
đã được giao nhiệm vụ
Các yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ đối với điều kiện làm việc;
Các hướng dẫn của Ecgônômi;
Mục đích, các mục tiêu của hoạt động chung…
4 Hướng dẫn, đôn đốc việc thực
hiện nhiệm vụ của các đơn vị, cá
nhân
Yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ về mặt khối lượng, chất lượng, tiến độ…; Phương pháp làm việc, thao tác; Trình độ của người lao động…
5 Đánh giá mức độ hoàn thành
nhiệm vụ và thưởng hoặc phạt
Yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ về mặt khối lượng, chất lượng, tiến độ…; Thực tế hoàn thành nhiệm vụ về mặt khối lượng, chất lượng, tiến độ…; Quy chế khen thưởng…
Thực hiện công tác điều phối phải đáp ứng các yêu cầu sau:
1 Bám sát mục đích, các mục tiêu, các yêu cầu về chất lượng, thời hạn, khối
lượng đã được hoạch định, nhất trí thông qua
2 Giảm thiểu trục trặc, trở ngại và khắc phục chúng nhanh nhất, ít tốn kém nhất
3 Tạo được các điều kiện, tiền đề cho tái sản xuất mở rộng, cho phát triển, hiệu
quả trong tương lai, không rơi vào tình trạng: “bóc ngắn cắn dài”, chỉ cốt thành
tích trước mắt, vô trách nhiệm với hậu quả sau này
Người đảm nhiệm, thực hiện công tác điều phối hoạt động quản lý đâu tư xây dựng
phải là người còn trẻ khoẻ, được đào tạo chính quy về quản lý đầu tư xây dựng trong
kinh tế thị trường, hiểu biết sâu và rộng, năng động, sáng tạo, có khả năng “tuỳ cơ
ứng biến”
1.3.3.2 Động cơ làm việc, lợi ích, tính cách của người lao động trong quản lý đầu tư
xây dựng là cơ sở căn cứ của các biện pháp quản lý điều hành hoạt động đầu tư xây
dựng:
Trong điều hành hoạt động quản lý đâu tư xây dựng thường xuyên phải ra quyết định
và tổ chức thực hiện các quyết định Ra quyết định, xây dựng các biện pháp quản lý
là loại công việc đặc biệt quan trọng nên phải tuân theo quy trình nghiêm ngặt Trên
thực tế có nhiều con đường cùng đi đến một đích Và như vậy cũng có nhiều cách
tiếp cận để ra quyết định
Trước hết, chúng ta hãy xem xét bản chất của quyết định Có thể nói rằng, quyết định
nói chung là sự chính thức lựa chọn Quyết định có thể bằng văn bản có thể không
bằng văn bản Con người thường xuyên phải cân nhắc, chọn làm, chọn đúng, chọn
cách phân chia thành quả chung nào? Hướng hoạt động, hoạt động chính thức lựa
Trang 37chọn có phải là bổ ích không, có trúng không, có nhiều triển vọng sinh lợi không?
Các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, công nghệ - thiết bị, lao động, phương pháp
quản lý, phương pháp tổ chức sản xuất, phương pháp tổ chức lao động… được chính
thức chọn dùng có phải tiến bộ, hiện đại không? Quy trình và các căn cứ của cách
tính toán chia thưởng được chọn dùng đã là phương án ràng buộc giữa ăn và làm
thông minh, tế nhị chưa? Quy trình, căn cứ của việc lựa chọn bao giờ người lao động
cũng biết, cũng có tác động mạnh mẽ đối với họ Cách lựa chọn phản ánh trình độ, ý
đồ của lãnh đạo quản lý Thông qua cách lựa chọn người ta nhận ra ai là minh chủ, ai
không là minh chủ để theo hết mình, theo hờ hay không theo Như vậy, lựa chọn
đúng hay sai quyết định chủ yếu thành công hay thất bại của cuộc đời, sự nghiệp,
công việc Thế thì, thực chất của quyết định là gì? Quyết định là sự chính thức lựa
chọn Để đi đến lựa chọn chính thức con người phải trải qua cả một quá trình như
Trong quản lý điều hành thường chỉ có thủ trưởng trực tuyến (ngành dọc) được quyền
và có trách nhiệm ra quyết định Trong thực tế nhiều quyết định liên quan đến lợi ích
của nhiều bên, nhiều người Và những người trong cuộc bao giờ cũng hiểu biết tốt
nhất về tình thế, điều kiện cụ thể, các khả năng quyết định và thấy rõ tương quan lợi
ích Do vậy, trong các trường hợp như vậy cần thiết cho họ có quyền và trách nhiệm
tham gia vào quá trình ra quyết định Quy trình ra quyết định có sự đồng ý của các
bên liên quan vừa đảm bảo cho quyết định có mức độ sát đúng cao nhất vừa đảm bảo
cho quyết định có mức độ thuận lòng người cao hơn vì nó được ra đời từ lòng người
Khi nghiên cứu đi đến quyết định trong quản lý điều hành doanh nghiệp nói chung và
trong hoạt động quản lý đầu tư xây dựng nói riêng cần chú trọng thu hút, sử dụng con
người nói chung, người tài nói riêng để họ đảm nhiệm, hoàn thành các nhiệm vụ cụ
thể của quá trình quản lý Khi thiết kế và thực thi phương án thu hút, sử dụng con
người cần hiểu biết, xét đến nhu cầu, động cơ hoạt động và tính cách của từng loại
người, của từng con người cụ thể
1.3.3.3 Quy chế quản lý hoạt động đầu tư xây dựng:
Quy chế chia ra làm hai loại chính:
a) Quy chế điều chỉnh quan hệ giữa con người và con người (có khi cũng đồng
thời điều chỉnh quan hệ giữa con người với tự nhiên) thông thường biểu hiện là
quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm xã hội như tập tục xã hội và
chuẩn mực đời sống công cộng
b) Quy chế điều chỉnh quan hệ giữa con người và tự nhiên (có khi đồng thời
cũng điều chỉnh quan hệ giữa con người và con người) thông thường biểu hiện
là quy phạm kỹ thuật như quy trình thao tác, quy trình kỹ thuật, quy trình quản
lý
Quy chế chỉ được đem ra thực thi khi nó đảm bảo các yêu cầu như đối với chính
sách quản lý; khi được các nhà chuyên môn sơ thảo, được những người có liên
Trang 38quan tham gia ý kiến và được chủ thể quản lý chấp nhận, ra quyết định, tức là đảm
bảo tính chuyên nghiệp, dân chủ và đảm bảo về mặt pháp lý
Vai trò của quy chế trong quản lý đầu tư xây dựng:
Tổ chức doanh nghiệp nào cũng cần đến sự trật tự và ổn định, hoạt động đầu tư
xây dựng là một phần hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng cần có quy
chế cho lĩnh vực này và là một phần của quy chế quản lý doanh nghiệp Không có
trật tự và ổn định thì không thể tiến hành bình thường hoạt động kinh doanh
Không có trật tự và ổn định thì không thể bảo đảm các quyền lợi của các cá nhân
trong doanh nghiệp và ảnh hưởng đến cả quyền lợi của các cá nhân ngaòi xã hội
nói chung Muốn có trật tự và ổn định trong tổ chức doanh nghiệp thì phải có sự
điều chỉnh các mối quan hệ trong tổ chức Sự điều chỉnh các mối quan hệ đó được
thực hiện chính bằng một hệ thống quy chế của tổ chức doanh nghiệp Như vậy,
hệ thống quy chế quản lý doanh nghiệp như hệ thống pháp luật của một nước là
sống giúp cho tổ chức doanh nghiệp vận hành thông suốt, liên tục và có hiệu quả
Hệ thống quy chế của tổ chức doanh nghiệp có vai trò bảo đảm sự ổn định của tổ
chức doanh nghiệp
Quy chế quản lý đầu tư xây dựng còn có vai trò là công cụ thể chế hoá các quan
hệ trong đầu tư xây dựng từ pháp luật của nhà nước về đầu tư xây dựng, các lợi
ích kinh tế, các quan hệ hợp đồng kinh tế, quan hệ giữa doanh nghiệp và khách
hàng… Quy chế quản lý đầu tư xây dựng có vai trò đặc biệt là xác lập và củng cố
cơ chế quản lý kinh tế của doanh nghiệp, đảm bảo cho cơ chế đó vận hành có hiệu
quả Bằng hệ thống quy chế, doanh nghiệp giải quyết những vấn đề nảy sinh
thường xuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh như bảo vệ chất lượng sản
phẩm, bảo vệ vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn, thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng
Để thực hiện được mục đích, vai trò của mình quy chế quản lý đầu tư xây dựng
cũng như quy chế quản lý doanh nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Quy chế quản lý phải đảm bảo tính quy phạm
- Quy chế quản lý phải đảm bảo tính xác định chặt chẽ
- Quy chế quản lý phải được sự bảo đảm bởi chủ thể quản lý
- Các quy chế quản lý phải có tính thống nhất và tính hệ thống cao
- Quy chế quản lý phải có tính ổn định và năng động cao
Một số nguyên tắc mà các doanh nghiệp cần quán triệt khi xây dựng quy chế:
- Nguyên tắc dân chủ
- Nguyên tắc nhân đạo
- Nguyên tắc thống nhất giữa các quyền và nghĩa vụ
- Nguyên tắc công bằng
Khi soạn thảo quy chế phải tiến hành các bước sau:
- Xác định nhu cầu, yêu cầu soạn thảo, ban hành quy chế quản lý cho một giai
đoạn cụ thể
- Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng
- Tổ chức nghiên cứu biên soạn quy chế quản lý đầu tư xây dựng
- Tổ chức trao đổi, xin ý kiến về bản thảo của quy chế quản lý đầu tư xây dựng
Trang 39- Sửa đổi, hoàn thiện quy chế
- Chính thức quyết định và ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng
Tiêu chuẩn của cán bộ tham gia xây dựng quy chế quản lý:
- Có tinh thần trách nhiệm cao với công việc, có thái độ khách quan khi xử lý
các công việc, có tác phong nghiêm túc, cẩn thận Có sự đồng cảm, lòng nhân
đạo chính trực và trung thực
- Hiểu biết tốt về sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng của doanh nghiệp, về
quản lý hoạt động đầu tư xây dựng và sản xuất kinh doanh
- Có khả năng làm việc và hợp tác với mọi người
- Nhanh nhạy, năng động, có năng lực quan sát, phân tích và tổng hợp sắc sảo
- Có khả năng giải quyết vấn đề theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
- Có kinh nghiệm lập pháp, lập quy
1.3.4 Kiểm tra, giám sát trong ĐTXD
1.3.4.1 Thực chất và tác dụng kiểm tra:
Kiểm tra là quá trình xem xét, phát hiện những sai lệch so với những gì đã hoạch
định theo kế hoạch, đã thiết kế để kịp thời xử lý, điều chỉnh Cần kiểm tra tất cả
các yếu tố, các hoạt động về mặt thành phần, chất lượng, tiến độ; kiểm tra tất cả
các khoản chi và các nguồn thu; đặc biệt phải kiểm tra chất lượng của các sản
phẩm quản lý…
Kiểm tra trong quản lý phải được tiến hành theo quy trình sau đây:
Bước 1 – Chính thức lựa chọn các đối tượng, chuẩn mốc, cách thức tiến hành
kiểm tra;
Bước 2 – Tiến hành kiểm tra, tìm kiếm, phát hiện sai khác (sai lệch) so với những
gì đã được hoạch định, đã thiết kế, đã quyết định;
Bước 3 – Tìm kiếm, thẩm định, khẳng định các nguyên nhân của những sai lệch
(sai khác);
Bước 4 – Xử lý các trường hợp theo thẩm quyền
Dự kiến và thực tế tiến hành kiểm tra hợp lý bao giờ cũng tạo ra sức ép tích cực
đối với người thừa hành, đối với tất cả mọi người Khi bị sức ép của kiểm tra con
người phải lo chuẩn bị và làm việc nghiêm túc, toàn tâm, toàn ý để đảm bảo các
yêu cầu của tổ chức về chất lượng, tiến độ … đối với mình Vì nếu không nỗ lực,
cố gắng thì sự kém cỏi, sự vi phạm sẽ bị phát hiện, người khác sẽ biết và lợi ích,
danh dự của bản thân sẽ bị ảnh hưởng Kiểm tra vì thế rất có tác dụng đối với sự
chấp hành, hoạt động của cấp dưới, của người thừa hành Kiểm tra làm cho hiệu
lực quản lý được đảm bảo và tăng cường
Quản lý là tác động đến con người để công việc, sản phẩm được hoàn thành thông
qua họ, là dự đoán, thiết kế … cho tương lai Mỗi con người là cả một xã hội
Tương lai gồm nhiều thứ không ngừng biến động Do vậy, sai lệch so với dự kiến
trong hoạt động nào cũng có, trong quản lý sai lệch lại càng dễ xảy ra Kiểm tra
giúp cho chúng ta phát hiện kịp thời các sai lệch cụ thể để có cơ sở sửa đổi, chấn
chỉnh, xử lý cần thiết nhằm bảo đảm cho toàn bộ hoạt động được diễn ra liên tục,
nhịp nhàng, đạt hiệu quả cao nhất có thể
Sai lệch được phát hiện trong quá trình kiểm tra có thể do:
Trang 40− Hoạch định không hoàn toàn sát đúng;
− Hệ thống tổ chức được thiết lập không hoàn toàn hợp lý;
− Điều phối yếu kém;
− Người thừa hành vi phạm kỷ luật công nghệ, kỷ luật phối hợp lao
động Yêu cầu cơ bản đối với hoạt động kiểm tra là phải cung cấp cho chủ thể quản lý
kết quả tương đối khách quan, chính xác và kịp thời Đây là yêu cầu quan trọng
nhất và cũng là yêu cầu khó đáp ứng nhất Vì kiểm tra phải dựa vào các tài liệu, số
liệu do con người lưu lại và phản ánh Thường người nào cũng ghi nhận, phản ánh
hiện tượng (sự vật) theo sự chứng kiến, trên cơ sở sự hiểu biết và lợi ích cá nhân
của họ Như vậy, thông tin mà chúng ta sử dụng trong quá trình kiểm tra rất dễ
không đầy đủ hoặc không chính xác Để đáp ứng yêu cầu đó, kiểm tra phải được
tiến hành một cách khoa học và phải có lực lượng kiểm tra mạnh, hiện đại
Để góp phần tạo ra kết quả kiểm tra khách quan, chính xác trong quản lý người ta
thường sử dụng kết hợp các cách thức kiểm tra như: Kết hợp kiểm tra định kỳ
thường xuyên với kiểm tra đột xuất; kết hợp kiểm tra lựa chọn với kiểm tra toàn
bộ; kết hợp kiểm tra hiện vật và kiểm tra về mặt giá trị; kết hợp kiểm tra chuyên
ngành với kiểm tra liên ngành, kiểm tra chéo, kiểm tra hoạt động của lực lượng
kiểm tra …
Kiểm tra có vai trò, tác dụng sau đây :
Kiểm tra tạo ra các căn cứ, bằng chứng cụ thể, rõ ràng phục vụ cho công việc
hoàn thiện các quyết định trong quản lý Kiểm tra thẩm định tính đúng sai của
đường lối, chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án; tính tối ưu của cơ cấu tổ
chức quản lý; tính phù hợp của các phương pháp mà cán bộ quản lý đã và đang sử
dụng để đưa tổ chức tiến tới mục tiêu của mình
Kiểm tra góp phần đôn đốc việc thực hiện kế hoạch với hiệu quả cao Trong thực
tế, những kế hoạch tốt nhất cũng có thể không được thực hiện theo ý muốn Các
nhà quản lý cũng như cấp dưới của họ đều có thể mắc sai lầm và kiểm tra cho
phép chủ động phát hiện, sửa chữa các sai lầm đó trước khi chúng trở nên nghiêm
trọng để mọi hoạt động quản lý đâu tư xây dựng được tiến hành theo đúng kế
hoạch đã đề ra
Kiểm tra đảm bảo thực thi quyền lực quản lý của những lãnh đạo quản lý Nhờ
kiểm tra, các nhà quản lý có thể kiểm tra được những yếu tố sẽ ảnh hưởng tới sự
thành công của doanh nghiệp Điều này rất quan trọng vì mất quyền kiểm tra cũng
có nghĩa là nhà quản lý đã bị vô hiệu hóa, doanh nghiệp có thể sẽ bị lái theo
hướng không mong muốn
Kiểm tra tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới quản lý hoạt động,
phương thức tiến hành hoạt động nói chung Với việc đánh giá các hoạt động,
kiểm tra khẳng định những giá trị nào sẽ quyết định sự thành công của doanh
nghiệp trong sản xuất – kinh doanh Những giá trị đó sẽ được tiêu chuẩn hóa để
trở thành mục đích, mục tiêu, quy tắc, chuẩn mực cho hành vi của các thành viên
trong doanh nghiệp Đồng thời kiểm tra giúp các nhà quản lý bắt đầu lại chu trình
cải tiến mọi hoạt động thông qua việc xác định những vấn đề và cơ hội cho doanh
nghiệp