TMĐT bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng CNTT vào hoạt động của mình, từ bán hàng, mark
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HUY THỊNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ THANH HỒNG
HÀ NỘI – 2014
Trang 21
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của tỉnh Quảng Ninh
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Phạm Thị Thanh Hồng, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lãnh đạo và chuyên viên các Sở, Ban, Ngành tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này; cám ơn những người thân trong gia đình
và bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Thịnh
Trang 32
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 10
1.1 Khái niệm chung về Thương mại điện tử 10
1.1.1 Khái niệm Thương mại điện tử 10
1.1.2 Quá trình phát triển Thương mại điện tử 11
1.1.3 Các vấn đề chiến lược trong Thương mại điện tử 12
1.1.4 Đặc điểm, phân loại TMĐT 14
1.1.5 Lợi ích và hạn chế của Thương mại điện tử 16
1.2 Tác động của Thương mại điện tử đến các chức năng kinh doanh 20
1.2.1 Tác động của Thương mại điện tử đến hoạt động Marketing 20
1.2.2 Thay đổi mô hình kinh doanh 20
1.2.3 Tác động đến hoạt động sản xuất 21
1.2.4 Tác động đến hoạt động tài chính, kế toán 21
1.2.5 Tác động đến hoạt động ngoại thương 21
1.2.6.Tác động đến các ngành 22
1.3.Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Thương mại điện tử 25
1.3.1 Xây dựng cơ sở pháp lý và chính sách vĩ mô 26
1.3.2 Phát triển hạ tầng Công nghệ thông tin 28
1.3.3 Hệ thống thanh toán điện tử 29
Trang 43
1.3.4 Chiến lược, mô hình kinh doanh 29
1.3.5 Nguồn nhân lực 30
1.3.6 An toàn, bảo mật 30
1.4 Các tiêu chí đánh giá hoạt động TMĐT 31
1.4.1 Hạ tầng CNTT và và nguồn nhân lực 31
1.4.2.Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C) 32
1.4.3 Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) 33
1.4.4 Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước tới doanh nghiệp (G2B) 35
1.5 Phát triển TMĐT trên thế giới và kinh nghiệm một số quốc gia 35
1.5.1 Kinh nghiệm của Singapore 36
1.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 37
1.6 Tình hình phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam 39
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 43
2.1 Tổng quan về Quảng Ninh 43
2.1.1 Vị trí địa kinh tế 43
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực 45
2.1.3 Tăng trưởng kinh tế 46
2.1.4 Các điều kiện kinh tế xã hội khác 47
2.2 Thực trạng ứng dụng TMĐT trong cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 48
2.2.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 48
2.2.2 Cơ sở hạ tầng CNTT và nguồn nhân lực 48
2.2.3 Giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C) 49
2.2.4 Giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) 52 2.2.5 Giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp (G2B) 54
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động thương mại điện tử tại tỉnh Quảng Ninh 55
Trang 54
2.3.1 Yếu tố về hạ tầng, công nghệ 55
2.3.2 Yếu tố chính sách pháp lý 64
2.3.3 Yếu tố nguồn nhân lực 65
2.3.4 Yếu tố về công tác quản lý 66
2.3.5 Yếu tố về nhận thức trong cộng đồng 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 72
3.1 Định hướng mục tiêu phát triển TMĐT của Quảng Ninh 72
3.1.1 Quan điểm phát triển và mục tiêu tổng quát phát triển TMĐT của Quảng Ninh 72
3.1.2 Mục tiêu nâng cao ứng dụng TMĐT 72
3.1.3 Dự báo việc ứng dụng TĐMT của doanh nghiệp 73
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển TMĐT cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 77
3.2.1 Giải pháp về phát triển hạ tầng, công nghệ 77
3.2.2 Giải pháp về chính sách và công tác quản lý nhà nước 81
3.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 86
3.2.4.Giải pháp nâng cao nhận thức trong cộng đồng về TMĐT 89
3.3 Một số kiến nghị 91
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 91
3.3.2 Đối với Doanh nghiệp 92
3.3.3 Đối với người tiêu dùng: 93
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 65
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động theo cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh 46
Bảng 2.2 Doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh CNTT trên địa bàn tỉnh 48
Bảng 2.3 Tỉ lệ doanh nghiệp cung cấp thông tin và dịch vụ trên website/cổng thông tin 50
Bảng 2.4 Tỉ lệ ứng dụng phần mềm trong doanh nghiệp 52
Bảng 2.5 Hiện trạng hệ thống vị trí cột ăng ten thu phát sóng thông tin di động 57
Bảng 2.6 Tỉ lệ máy tính và kết nối internet trong CQNN tỉnh Quảng Ninh: 59
Bảng 2.7 Hiện trạng điểm phát sóng wifi công cộng 59
Bảng 2.8 Tỉ lệ cung cấp thông tin trên các cổng thành phần – năm 2013 62
Bảng 2.9 Số dịch vụ công qua các năm 62
Bảng 2.10 Danh sách và mức của một số dịch vụ công được ưu tiên cung cấp trực tuyến của tỉnh Quảng Ninh 63
Bảng 2.11 Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp năm 2013 65
Bảng 3.1 Ước tính số lượng DN Quảng Ninh tham gia sàn TMĐT các năm 2013-2015 75
Bảng 3.2 Dự báo thuê bao sử dụng dịch vụ thông tin di động trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 76
Trang 76
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quá trình phát triển thương mại điện tử 12
Hình 1.2 Các bước triển khai TMĐT 13
Hình 1.3 Mô hình kinh doanh bảo hiểm khi chưa có internet 25
Hình 2.1 Vị trí của Quảng Ninh 43
Hình 2.2 So sánh GDP Quảng Ninh với GDP khu vực và cả nước 47
Hình 2.3 Tình hình sử dụng thư điện tử trong doanh nghiệp 50
Hình 2.4 Mục đích sử dụng internet của doanh nghiệp 51
Hình 2.5 Doanh nghiệp sử dụng phương tiện điện tử để nhận đơn hàng 54
Hình 2.6 Sự quan tâm của doanh nghiệp đến các thông tin trên cổng thông tin điện tử của tỉnh 54
Hình 2.7 Số liệu phát triển thuê bao internet 2011-2013 60
Hình 2.8 Số liệu phát triển điện thoại 2011-2013 61
Hình 2.9 Dự báo dân số Quảng Ninh, 2012 – 2030 69
Trang 87
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 98
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế toàn cầu, TMĐT có những ưu thế hơn hẳn thương mại truyền thống với những tiện ích mà nó mang lại Trước hết TMĐT cho phép tiết kiệm chi phí
và rút ngắn thời gian giao dịch mua bán nhờ không phải đi lại để thực hiện các cuộc gặp trực tiếp giữa người bán và người mua; mặt khác TMĐT còn tạo tiền đề cho các quốc gia nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, mang lại khả năng cải thiện môi trường hành chính và môi trường đầu tư, tiến tới một nền kinh tế tri thức Mặc dù không thể phủ nhận những ưu thế của TMĐT, nhưng để chuyển từ thương mại truyền thống sang TMĐT không phải là dễ dàng vì đòi hỏi phải thỏa mãn những điều kiện về
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, về pháp lý, về nguồn nhân lực, về dân trí và cả việc làm những thói quen trong giao dịch mua, bán hàng hóa của dân cư
Trong điều kiện phát triển và hội nhập nền kinh tế của đất nước, để xây dựng Quảng Ninh trở thành trọng điểm của khu vực Bắc Bộ, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã không ngừng tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, ban hành những chính sách ưu đãi để khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực TMĐT
Mặc dù trong những năm qua, TMĐT được ứng dụng trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, các doanh nghiệp luôn đứng trước những khó khăn
về nguồn vốn, nguồn nhân lực, cơ sở pháp lý để triển khai Những hiểu biết hạn chế về lợi ích của TMĐT cũng như tâm lý e ngại, chưa chủ động trong thay đổi hướng kinh doanh đã phần nào cản trở đến việc phát triển TMĐT trong các doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên là hết sức cần thiết, vì vậy
tôi lựa chọn vấn đề “Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu với mong muốn góp phần
đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp có những quyết định phù hợp để ứng dụng TMĐT Đồng thời giúp cho các nhà quản lý có những giải pháp tích cực nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp ứng dụng và phát triển TMĐT một cách hiệu quả hơn
Trang 109
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về ứng dụng TMĐT trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Vận dụng những cơ sở đó để đánh giá, phân tích thực trạng ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2013, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển TMĐT trong thời gian tới nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển KT - XH trên địa bàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến ứng dụng
TMĐT trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Phương hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và các giải pháp nhằm phát triển TMĐT cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vào tình hình ứng dụng
TMĐT của doanh nghiệp trên địa bàn Quảng Ninh trong thời gian qua (2011-2013)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng lý luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng ứng dụng TMĐT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển TMĐT cho các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh
Trang 1110
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm chung về Thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm Thương mại điện tử
Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mại điện tử” ( Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” ( Online trade), “Thương mại không giấy tờ” ( Paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (e- bussiness) Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay các nhà nghiên cứu TMĐT bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng CNTT vào hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán, đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng,…khi đó TMĐT phát triển thành kinh doanh điện
tử và doanh nghiệp ứng dụng TMĐT ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử Như vậy có thể hiểu kinh doanh điện tử là mô hình phát triển của doanh nghiệp khi tham gia TMĐT ở mức cao và ứng dụng CNTT chuyên sâu trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.[3]
Theo Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế, TMĐT được hiểu theo
nghĩa rộng: “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các
vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại
lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”
Trang 1211
Ủy ban Châu Âu nêu khái niệm: “TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động
kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện
tử dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh”
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng
cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng internet”
Trong nghiên cứu này, tôi xin được sử dụng định nghĩa TMĐT của Efraim Turban1:
“TMĐT là quy trình mua, bán, chuyển giao hoặc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và/hoặc
thông tin thông qua mạng máy tính, bao gồm Internet”
1.1.2 Quá trình phát triển Thương mại điện tử
Thương mại điện tử phát triển qua 3 giai đoạn chủ yếu, bao gồm:
1.1.2.1.Giai đoạn 1: Thương mại thông tin ( I- commerce hay Information Commerce)
Giai đoạn này đã có sự xuất hiện của website, thông tin về hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp cũng như về bản thân doanh nghiệp đã được đưa lên website Thông tin trong giai đoạn này phần lớn chỉ mang tính một chiều, thông tin hai chiều giữa người bán và mua còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu thực tế Trong giai đoạn này người tiêu dùng có thể tiến hành mua hàng trực tuyến, tuy nhiên thanh toán vẫn theo phương thức truyền thống [3]
1.1.2.2.Giai đoạn 2: Thương mại giao dịch ( T – commerce hay Transaction Commerce)
Nhờ có sự ra đời của thanh toán điện tử mà TMĐT thông tin đã tiến thêm một giai đoạn nữa của quá trình phát triển TMĐT đó là TMĐT giao dịch Thanh toán điện tử ra đời đã hoàn thiện hoạt động mua bán hàng trực tuyến Trong giai đoạn này nhiều sản phẩm mới đã được ra đời như sách điện tử và nhiều sản phẩm số hóa.[3]
1 Efraim Turban (MBA, Tiến sĩ, Đại học California Berkeley) là một học giả thỉnh giảng tại Viện Thái Bình Dương về quản lý
hệ thống thông tin, Đại học Hawaii Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông về sử dụng các đại lý thông minh trong các hệ thống TMĐT và các vấn đề hợp tác trong TMĐT toàn cầu Ông cũng là tác giả của hơn 20 cuốn sách về TMĐT và CNTT quản lý.
Trang 1312
Cũng trong giai đoạn này các doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ nhằm chia sẻ
dữ liệu giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như ứng dụng các phần mềm quản lý nhân sự, kế toán, bán hàng, sản xuất, Logistics và tiến hành ký kết hợp đồng điện
Giai đoạn này doanh nghiệp đã triển khai các hệ thống phần mềm Quản lý khách hàng (CRM), Quản trị chuỗi cung ứng (SCM), Quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP).[3]
Hình 1.1 Quá trình phát triển thương mại điện tử
1.1.3 Các vấn đề chiến lược trong Thương mại điện tử
Theo nghiên cứu của UNCTAD năm 2003, để phát triển TMĐT, các nước cần triển khai 25 hoạt động từ thấp đến cao Đối với các nước phát triển có hạ tầng CNTT
Thương mại cộng tác( C - Business):
- Kết nối các bộ phận trong doanh nghiệp.
- Kết nối với các đối tác kinh doanh CRM, SCM, ERP,
- Thanh toán điện tử
- Ứng dụng phần mềm quản lý, kế toán, bán hàng,
Trang 1413
tiên tiến thì việc triển khai TMĐT sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn Ngày nay, để phát triển TMĐT, các nước cần quan tâm, chú trọng vào 4 yếu tố trong TMĐT bao gồm: nhận thức, nhân lực, nối mạng, nội dung TMĐT là một lĩnh vực hoàn toàn mới nên việc nâng cao nhận thức về TMĐT sẽ giúp cho việc triển khai và phát triển TMĐT được nhanh chóng hơn Ngoài ra TMĐT là một lĩnh vực rất rộng, đòi hỏi sự phối hợp cao nên cần phải có sự kết nối tốt giữa các bên liên quan nhằm đẩy nhanh hoạt động thương mại với phát triển CNTT Để làm được điều này, đòi hỏi phải có một đội ngũ giỏi chuyên môn
và bản thân các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng cần phát triển trong quá trình triển khai TMĐT
Vấn đề khó khăn nhất hiện nay đối với TMĐT gồm: thanh toán trực tuyến, an ninh, bảo mật trong giao dịch TMĐT, chứng thực điện tử quốc tế.[3]
Mối quan tâm
Các thiết bị có khả năng truy cập internet
Chính sách và kế hoạch của chính phủ về phát triển CNTT
Những mối đe dọa do tự do hóa mang lại
Sử dụng các phần mềm phù hợp( hợp pháp, chi phí thấp)
Máy tính có thể hiển thị ngôn ngữ địa phương
Những nội dung đã được địa phương hóa
Các cổng thông tin
Chính phủ điện tử- các cơ sở hạ tầng do chính phủ cung cấp
Các tiêu chuẩn về sản xuất, an toàn lao động và sức khỏe
Cơ sở hạ tầng cho việc thực hiện thanh toán qua mạng
Bảo vệ người tiêu dùng
Vấn đề chấp nhận xác thực liên quốc gia
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân
Mối quan tâm
Nguồn UNCTAD, E commerce development 2003
Hình 1.2 Các bước triển khai TMĐT
Trang 1514
1.1.4 Đặc điểm, phân loại TMĐT
1.1.4.1 Đặc điểm của Thương mại điện tử:
- Sự phát triển của TMĐT gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của CNTT TMĐT là việc ứng dụng CNTT vào mọi hoạt động thương mại, chính vì lẽ đó mà sự phát triển của CNTT sẽ thúc đẩy TMĐT phát triển nhanh chóng, tuy nhiên sự phát triển của TMĐT cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của CNTT như phần cứng, phần mềm chuyên dụng cho các ứng dụng TMĐT, dịch vụ thanh toán cho TMĐT, cũng như đẩy mạnh sản xuất trong lĩnh vực CNTT như máy tính, thiết bị điện tử, thiết bị viễn thông, mạng
- Về hình thức, phạm vi: giao dịch TMĐT cũng có thể hoàn toàn qua mạng Trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng Còn trong hoạt động TMĐT nhờ việc sử dụng mạng internet, các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn
có thể đàm phán, giao dịch được với nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bất
cứ quốc gia nào
- Chủ thể tham gia: trong hoạt động TMĐT phải có tối thiểu ba chủ thể tham gia
Đó là các bên tham gia giao dịch và sự tham gia của bên thứ ba đó là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, đây là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT
- Thời gian không giới hạn: Các bên tham gia vào hoạt động TMĐT đều có thể tiến hành các giao dịch liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này, hơn nữa các phương tiện điện tử có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy nhanh quá trình giao dịch
- Trong TMĐT, hệ thống thông tin chính là thị trường: Trong thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và ký kết hợp đồng Còn trong TMĐT các bên không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng Các bên có thể truy cập vào hệ thống thông tin của nhau thông qua mạng internet để tìm hiểu thông tin và từ đó tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng.[3]
Trang 1615
1.1.4.2 Phân loại Thương mại điện tử:
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các hình thức/ mô hình TMĐT:
- Phân loại theo công nghệ kết nối mạng: Thương mại di động, thương mại điện
Thương mại điện tử giữa Doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C):
Đây là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường doanh nghiệp sẽ thiết lập Website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng
Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng: doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm đáng
kể Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng mà chỉ cần
ở bất kỳ nơi đâu và vào bất kỳ thời gian nào cũng có khả năng lựa chọn sản phẩm,
so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc cũng như tiến hành việc mua hàng
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B):
B2B được hiểu đơn giản là TMĐT giữa các doanh nghiệp, đây là mô hình TMĐT gắn với mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau Mô hình này chiếm tới trên 80% doanh số TMĐT trên toàn cầu và ngày càng trở nên phổ biến Mô hình này đã giúp hỗ
Trang 1716
trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài dựa trên các lợi ích mà nó đem lại Một trong những mô hình điển hình trên thế giới đã thành công trong hoạt động theo mô hình B2B là Alibaba.com của Trung Quốc
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G):
Trong mô hình này, cơ quan nhà nước đóng vai trò như khách hàng và quá trình trao đổi thông tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử Cơ quan nhà nước cũng có thể lập các website, tại đó đăng tải những thông tin về nhu cầu mua hàng của cơ quan mình và tiến hành việc mua sắm hàng hóa, lựa chọn nhà cung cấp lên website Ví dụ: hải quan điện tử, thuế điện tử, đấu thầu điện tử,….[3]
Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C):
Đây là các giao dịch giữa các cá nhân người tiêu dùng với nhau Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một mặt hàng mình có
1.1.5 Lợi ích và hạn chế của Thương mại điện tử
1.1.5.1 Lợi ích của thương mại điện tử
Lợi ích đối với tổ chức:
- Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn rất nhiều so với thương mại truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác khắp thế giới
- Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, chi phí chia sẻ thông tin, chi phí in
ấn, gửi văn bản truyền thống
- Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc được hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ trong ngành sản xuất ô tô ( GM, Ford Motor) tiết kiệm được hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho
Trang 1817
- Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện liên tục mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi
- Sản xuất theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng
- Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng Mô hình của amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá sản phẩm qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình cho những thành công này
- Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với những lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường
- Giảm chi phí thông tin liên lạc: Email tiết kiệm hơn fax hay gửi thư truyền thống
- Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính (80%), giảm giá mua hàng (5-15%)
- Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành
- Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên mạng như sản phẩm, dịch vụ, giá cả,… đều có thể cập nhật nhanh chóng và kịp thời
- Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng
- Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ, tăng khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh.[3]
Lợi ích đối với người tiêu dùng:
- Vượt giới hạn về không gian và thời gian: TMĐT cho phép khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc với các cửa hàng trên khắp thế giới
Trang 1918
- Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: TMĐT cho phép người mua có nhiều
sự lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn
- Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất
- Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm, việc giao hàng được thực hiện dễ dàng qua internet
- Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng có thể dễ dàng tìm được thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm kiếm (search engines); đồng thời các thông tin đa phương tiện ( âm thanh, hình ảnh) giúp quảng bá, giới thiệu sản phẩm tốt hơn
- Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể tham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới
- Cộng đồng TMĐT: Môi trường kinh doanh TMĐT cho phép mọi người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệu quả, nhanh chóng
- Đáp ứng mọi nhu cầu: Khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn hàng khác nhau từ mọi khách hàng
- Thuế: Trong giai đoạn đầu của TMĐT, nhiều nước khuyến khích bằng cách miễn thuế đối với các giao dịch trên mạng.[3]
Lợi ích đối với xã hội:
- Hoạt động trực tuyến: TMĐT tạo ra môi trường làm việc, mua sắm, giao dịch, từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn giao thông
- Nâng cao mức sống: Có nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp sẽ tạo áp lực giảm giá, do đó tăng khả năng mua sắm của khách hàng, nâng cao mức sống
- Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua internet và TMĐT Đồng thời cũng
Trang 20ví dụ thành công điển hình.[3]
1.1.5.2 Hạn chế của Thương mại điện tử:
Có hai loại hạn chế của TMĐT, một nhóm mang tính kỹ thuật, một nhóm mang tính thương mại
Hạn chế về kỹ thuật:
- Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy
- Tốc độ đường truyền internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người dùng, nhất là trong TMĐT
- Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn trong giai đoạn phát triển
- Khó khăn khi kết hợp các phần mềm TMĐT với các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu truyền thống
- Cần có các máy chủ thương mại điện tử đặc biệt ( công suất, an toàn) đòi hỏi thêm chi phí đầu tư
- Chi phí truy cập internet vẫn còn cao
- Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi hệ thống kho hàng tự động lớn
Hạn chế về thương mại:
- An ninh và riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối với người tham gia TMĐT
- Thiếu lòng tin vào TMĐT và người bán hàng trong TMĐT do không được gặp trực tiếp
- Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa được làm rõ
- Một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều kiện để TMĐT phát triển
- Các phương pháp đánh giá hiệu quả của TMĐT còn chưa đầy đủ, hoàn thiện
Trang 2120
- Sự tin cậy đối với môi trường kinh doanh không giấy tờ, không tiếp xúc trực tiếp, giao dịch điện tử, thói quen dùng từ thực tế ảo cần thời gian
- Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô
- Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của TMĐT
1.2 Tác động của Thương mại điện tử đến các chức năng kinh doanh
1.2.1 Tác động của Thương mại điện tử đến hoạt động Marketing
Trong hoạt động thương mại truyền thống chủ yếu triển khai chiến lược marketing
“đẩy” thì trong hoạt động TMĐT chủ yếu là triển khai hoạt động marketing “kéo” Hàng hóa trong TMĐT có tính cá biệt hóa cao do thông qua website doanh nghiệp có thể giao tiếp trực tiếp với một lượng khách hàng lớn ở cùng một thời điểm, như vậy doanh nghiệp
sẽ biết được thị hiếu của người tiêu dùng cũng như những thay đổi về thị hiếu người tiêu dùng, để từ đó tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt nhất đáp ứng cao nhất nhu cầu người tiêu dùng Điều này đồng nghĩa với việc vòng đời sản phẩm sẽ rút ngắn lại Ngoài
ra TMĐT còn giúp các doanh nghiệp giảm chi phí phân phối, chi phí bán hàng do loại bớt được các thành phần trung gian tham gia vào hoạt động marketing Đặc biệt là đối với hàng hóa số hóa thì việc mua bán, trao đổi và thanh toán diễn ra cùng một lúc cho
dù người mua và bán ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.[3]
1.2.2 Thay đổi mô hình kinh doanh
Một mặt, các mô hình kinh doanh truyền thống bị áp lực của TMĐT phải thay đổi, mặt khác các mô hình kinh doanh TMĐT hoàn toàn mới được hình thành Ví dụ:
- Amazon.com: Là một trong các doanh nghiệp thương mại điện tử B2C đầu tiên trên thế giới Ngay từ ngày đầu thành lập công ty đã xây dựng cho mình một mô hình kinh doanh đó là bán hàng hoàn toàn trực tuyến trên mạng Thay vì xây dựng các gian hàng ngoài đời thực thì công ty xây dựng các gian hàng ảo trên trang website của công
ty là amazon.com, nơi mà người tiêu dùng có thể vào tìm kiếm thông tin sản phẩm, tiến hành việc mua hàng và thanh toán tại website của công ty Amazon.com được đánh giá
là website bán lẻ lớn nhất trên thế giới hiện nay và có tầm ảnh hưởng lớn tới hầu hết các cửa hàng bán lẻ
Trang 221.2.3 Tác động đến hoạt động sản xuất
TMĐT đã làm thay đổi hoạt động sản xuất từ sản xuất hàng loạt thành sản xuất đúng lúc và theo nhu cầu Trong TMĐT, hệ thống sản xuất được tích hợp với hệ thống tài chính, hoạt động marketing và các hệ thống chức năng khác trong và ngoài tổ chức Giờ đây nhờ ứng dụng TMĐT mà doanh nghiệp có thể hướng dẫn khách hàng đặt hàng theo nhu cầu của từng cá nhân chỉ trong vài giây bằng cách sử dụng phần mềm ERP trên nền website Thời gian cho ra đời sản phẩm đã rút ngắn khoảng 50% nhờ ứng dụng TMĐT.[3]
1.2.4 Tác động đến hoạt động tài chính, kế toán
Khác biệt lớn nhất giữa hoạt động tài chính, kết toán trong lĩnh vực TMĐT so với truyền thống chủ yếu là nằm ở hệ thống thanh toán điện tử Giờ đây hệ thống thanh toán truyền thống là không còn hiệu quả với hoạt động TMĐT, thay vào đó là việc triển khai các giải pháp thanh toán trực tuyến Giải pháp thanh toán trực tuyến đã giúp cho khách hàng và doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí và thời gian, đồng thời đẩy nhanh tốc độ giao dịch trong hoạt động tài chính, kế toán Hiện nay, trong lĩnh vực TMĐT đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như ví điện tử, tiền điện tử, Trong lĩnh vực ngân hàng
đã hình thành và phát triển nhiều hoạt động mới như: ngân hàng trực tuyến, thanh toán thẻ tín dụng trực tuyến, thanh toán bằng thẻ thông minh, ngân hàng di động, [3]
1.2.5 Tác động đến hoạt động ngoại thương
Thương mại điện tử có một đặc điểm đó là thị trường toàn cầu, phi biên giới, cho nên hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này có những điểm khác biệt so với hoạt động ngoại thương trước đây Nhờ việc ứng dụng TMĐT mà việc tiến hành các hoạt
Trang 2322
động ngoại thương ngày càng trở lên dễ dàng hơn, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như sách điện tử, bản nhạc, phim, ảnh hay dịch vụ như dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải, Ngoài ra TMĐT đã giúp các doanh nghiệp giảm được nhiều chi phí và thời gian bao gồm chi phí đi lại, chi phí giao dịch, chi phí cho trung gian Hiện nay TMĐT được xem là một công cụ hữu hiệu cho việc tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Triển khai TMĐT, hay việc ứng dụng web, internet vào trong hoạt động kinh doanh đã giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh chóng tới các thị trường trên toàn cầu với chi phí thấp mà không phải qua bất cứ trung gian nào.[3]
1.2.6.Tác động đến các ngành
Tác động của TMĐT đến ngành âm nhạc, giải trí:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, internet đã tác động mạnh mẽ hơn tới ngành âm nhạc Với công nghệ đường truyền băng thông rộng, luôn trong trạng thái kết nối, máy tính có địa chỉ IP cố định nó có thể trở thành máy chủ trong những trường hợp nhất định; công nghệ chia sẻ dữ liệu ngang hàng cũng có khả năng chuyển một máy tính cá nhân thông thường nhất thành một máy chủ Tính tự do và tính mở này
đã làm nên cuộc cách mạng thông tin trong thời gian qua Mô hình cấu trúc của ngành
âm nhạc thay đổi.[3]
Thay đổi thứ nhất, đó là hướng duy nhất từ sản xuất tới việc phân phối sản phẩm;
nghệ sỹ, người tiêu dùng và các bộ phận trong ngành âm nhạc đã hòa trong một mạng với sự hỗ trợ của công nghệ internet
Thay đổi thứ hai, đó là các chức năng của hoạt động sản xuất, phân phối và
marketing đã “trở thành” các ứng dụng, mang tính trung lập hơn và ít bị phụ thuộc hơn vào sự không chắc chắn của mối quan hệ tương tác qua lại giữa các nghệ sĩ và các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực âm nhạc Công nghệ trở thành nguồn lực chung cho tất cả những ai tham gia vào ngành và công nghệ P2P cũng được áp dụng trên phạm vi quốc tế.[3]
Tác động của TMĐT đến ngành giáo dục:
Trang 2423
Với sự phát triển của công nghệ điện tử và đặc biệt là sự ra đời và phát triển của internet, ngành giáo dục đã cung cấp những hình thức đào tạo mới: ngoài đào tạo trực tiếp trên giảng đường hay đào tạo từ xa truyền thống còn có hình thức đào tạo điện tử (e-learning) đào tạo điện tử có thể là đào tạo trực tuyến (online education) hoặc hỗn hợp (blended learning)
Đào tạo điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử (như đài, tivi, CD/DVD, máy tính hay email, web) để thực hiện các hình thức đào tạo Đào tạo trực tuyến là một phần của đào tạo điện tử, trong đó chủ yếu sử dụng internet để cung cấp các khóa học trực tuyến trong đó cho phép trao đổi giữa giáo viên và người học qua mạng Đào tạo hỗn hợp là sự kết hợp của các hình thức trên, tuy trên thực tế chủ yếu là sự kết hợp giữa đào tạo trực tuyến và hướng dẫn trực tiếp
Đào tạo trực tuyến đã phát triển mạnh Nguyên nhân, đó chính là công nghệ internet tạo ra những động lực cho việc đầu tư và phát triển hình thức đào tạo này:
- Nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ đào tạo: Internet cho phép tiếp cận được với nhiều đối tượng học hơn ở những vùng địa lý xa hơn, khó có điều kiện sử dụng dịch vụ đào tạo truyền thống
- Nâng cao chất lượng học: Học trực tuyến cho phép tăng cường khả năng cá biệt hóa với từng người học, mềm dẻo hơn và tăng sự lựa chọn cho người học, từ đó nâng cao chất lượng học
- Tăng cường khả năng tiếp cận: đào tạo điện tử có thể cung cấp các giải pháp hữu hiệu đối với những vấn đề về tiếp cận giáo viên
- Hiệu quả về chi phí: đào tạo điện tử có khả năng làm tăng năng lực cung cấp dịch vụ và tăng khả năng tiếp cận của sinh viên, do đó có khả năng tiết kiệm chi phí (cung cấp dịch vụ cho nhiều người học hơn với chi phí thấp hơn) thông qua việc giảm chi phí đối với từng học viên, từ đó nâng cao vị thế tài chính của tổ chức đào tạo
- Tăng cường khả năng nắm giữ các kỹ năng và cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, từ đó đẩy mạnh việc tiếp cận đến nền kinh tế tri thức
Trang 2524
- Chiến lược marketing và cạnh tranh: Vì đào tạo trực tuyến chính là thuộc
về tương lai, nên các tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo phải đầu tư vào hạ tầng cho đào tạo trực tuyến để có thể cạnh tranh và tồn tại được.[3]
Tác động của TMĐT đến Chính phủ điện tử:
Chính phủ của hầu hết các quốc gia hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT, cũng đang có những bước đi tích cực để tiến tới xây dựng một Chính phủ điện tử, trong đó các dịch vụ công của chính phủ và các giao dịch với chính phủ được thực hiện qua mạng, thương mại hoặc phi thương mại Các dịch vụ phi thương mại thường bao gồm: thông tin công cộng (xuất bản các kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin y tế trực tuyến, đào tạo công trực tuyến), thuận lợi hóa việc thanh toán (nộp
tờ khai thuế điện tử, nộp phạt) hoặc các dịch vụ khác Các dịch vụ thương mại của chính phủ bao gồm: những hoạt động xác nhận danh tính (hộ chiếu, chứng minh thư,…), bằng cấp (bằng lái xe, đăng ký ô tô - xe máy), cũng như đăng ký thu thuế điện
tử Tất cả các giao dịch trên đều có thể sử dụng với sự hỗ trợ của phương tiện điện
tử, đặc biệt là internet
TMĐT cũng có tác động mạnh đến quy trình mua sắm của chính phủ Với sự khác biệt rõ nét trong mua sắm tư (kinh doanh thương mại) và mua sắm công, quy trình mua sắm công cần phải đảm bảo tất cả những nhà cung cấp tiềm năng đều phải được thông báo về cuộc đấu thầu, và không có nhà cung cấp nào có thể có thông tin lợi thế hơn người khác [3]
Tác động của TMĐT đến ngành bảo hiểm:
Cùng với sự ra đời của internet, ngành bảo hiểm cũng có hình thức kinh doanh Bảo hiểm điện tử và cấu trúc của ngành bảo hiểm cũng thay đổi Khi chưa có internet, cấu trúc ngành bảo hiểm hầu như theo chiều ngang, trong đó, các khách hàng – người được bảo hiểm (cá nhân hoặc công ty) chuyển rủi ro sang cho người bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm Việc chuyển rủi ro có thể thực hiện trực tiếp hoặc thông qua trung gian là các đại lý hay môi giới bảo hiểm
Trang 2625
Hình 1.3 Mô hình kinh doanh bảo hiểm khi chưa có internet
Khi thị trường và ngành bảo hiểm hoạt động dựa trên nền internet, mô hình trên
đã thay đổi, đường chuyển rủi ro và thông tin từ người mua bảo hiểm sang người bảo hiểm/tái bảo hiểm đã không còn Người mua bảo hiểm có thể có nhiều cách để có được thông tin về các dịch vụ bảo hiểm và chính sách bảo hiểm Nhà bảo hiểm và tái bảo hiểm cũng như đại lý và trung gian bảo hiểm cũng mở rộng thị trường hơn thông qua việc hiện diện trên internet Một điểm mới, đó là việc sử dụng các tiêu chuẩn trong ngành bảo hiểm (ACORD), tạo thuận lợi hơn trong giao dịch và thỏa thuận bảo hiểm
Một điểm mới nữa là sự xuất hiện của phần mềm tương tác (middleware), cho phép chia sẻ nguồn thông tin và dữ liệu giữa các nhà bảo hiểm với nền kinh tế internet.[3]
1.3.Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Thương mại điện tử
Theo nghiên cứu của CommerceNet, 10 cản trở lớn nhất của TMĐT tại Mỹ và các nước trên thế giới nói chung theo thứ tự là:
- Dễ mất an toàn
- Thiếu tin tưởng và rủi ro
- Thiếu nhân lực về TMĐT
- Thiếu hạ tầng về chữ ký số ( hoạt động của các tổ chức chứng thực còn hạn chế)
- Nhận thức của các tổ chức về TMĐT còn chưa cao
- Gian lận trong TMĐT ( thẻ tín dụng)
Tái bảo hiểm
Trung gian
Nguồn UNCTAD 2002
Trang 2726
- Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng
- Các rào cản thương mại quốc tế về TMĐT
Vậy để hạn chế những rào cản nói trên nhằm phát triển TMĐT hơn nữa thì cần phải quan tâm tới những vấn đề dưới dây:
1.3.1 Xây dựng cơ sở pháp lý và chính sách vĩ mô
Để TMĐT phát triển, trước hết cần có một hệ thống pháp luật và chính sách vững vàng, tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch TMĐT Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp, cơ quan và tổ chức tham gia vào TMĐT; tạo lòng tin và bảo vệ người tiêu dùng.[3]
Xây dựng cơ sở pháp lý và chính sách cho TMĐT phải giải quyết được những vấn đề chính sau:
(1) Thừa nhận giá trị pháp lý cho tất cả những giao dịch được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Điều này đảm bảo cho các doanh nghiệp tham gia TMĐT, trong khuôn khổ cho phép, tính hợp pháp khi thực hiện những hoạt động TMĐT
(2) Hài hòa giữa các quy định có liên quan của pháp luật liên quan đến TMĐT: Ngoài việc thừa nhận giá trí pháp lý cho các giao dịch TMĐT, các vấn đề liên quan như: giá trị văn bản, vấn đề bản gốc, vấn đề chữ ký và con dấu, vấn đề giá trị làm chứng cứ, mà trong các luật chung hoặc luật chuyên ngành yêu cầu đối với các giao dịch truyền thống, phải được quy định cụ thể đối với giao dịch TMĐT
(3) Có chính sách để tạo ra môi trường cạnh tranh nhất để phát triển những nền tảng cho TMĐT như: chính sách đầu tư và phát triển đối với thị trường CNTT, chính sách ưu tiên phát triển và ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân,
(4) Có chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng Hiện nay, việc xây dựng cơ sở pháp lý cho TMĐT đang rất được quan tâm trên phạm vi quốc
tế và phạm vi quốc gia:
1.3.1.1.Các tổ chức quốc tế
- UNCITRAL - Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế, đi đầu trong việc đưa luật mẫu về TMĐT vào năm 1996
Trang 2827
- OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế: đi đầu về các nghiên cứu, điều tra một số lĩnh vực TMĐT như thuế, bảo vệ người tiêu dùng và riêng tư cá nhân, tác động của CNTT đến tăng trưởng kinh tế
- WIPO – Tổ chức bảo vệ Sở hữu trí tuệ: đi đầu về các lĩnh vực bản quyền, nhãn hiệu thương mại và các vấn đề liên quan đến tên miền
- ICANN – giải quyết các tranh chấp về tên miền quốc tế
- WTO – giải quyết các vấn đề liên quan đến rào cản thương mại điện tử quốc tế
- Phòng Thương mại quốc tế ICC: ra bản phụ trương của UDP (eUDP) quy định các vấn đề liên quan đến việc xuất trình chứng từ điện tử; Incoterms 200, 2010, điều chính tập quán Thương mại quốc tế có tính đến các giao dịch Thương mại điện tử.[3]
1.3.1.2 Các nước trên thế giới và khu vực
- EU: Năm 2000 đưa ra hướng dẫn chung về TMĐT “Directive on electronic commerce”
- Mỹ: Luật giao dịch điện tử thống nhất UETA ( Uniform Electronic Transactions Act)
- Canada: Luật giao dịch điện tử
- Australia: Luật giao dịch điện tử các bang
- Singapore: Luật giao dịch điện tử, 1998
1.3.1.3.Việt Nam:
Về chính sách: Việt Nam đã sớm nhận ra những lợi ích về TMĐT đem lại cho nền kinh tế, thể hiện sự quan tâm định hướng của chính phủ trong chính sách phát triển kinh tế từ những năm 2005 trở lại đây:
- Chính sách quan trọng nhất, liên quan trực tiếp tới hoạt động TMĐT là “Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010”, tiếp đến là giai đoạn 2011-2015
- Chính sách liên quan đến phát triển hạ tầng chung về công nghệ thông tin như
“Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2020’
2011 Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử đến 2015
Trang 2928
- Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến
2020 của Việt Nam
Về Luật pháp: Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước đã tích cực xây dựng, hoàn chỉnh và bổ sung các quy định pháp luật liên quan tới TMĐT Nhà nước đã ban hành rất nhiều chi tiết cùng nghị định và thông tư hướng dẫn
- Luật giao dịch điện tử 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội
- Nghị định 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử và Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Nghị định 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
- Nghị định 35/2007/NĐ-CP về Giao dịch điện tử hoạt động ngân hàng,
- Thông tư 09/2008/TT-BCT hướng dẫn nghị định TMĐT về cung cấp thông tin
và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử
- Quyết định 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử giai đoạn 2010-2015
- Nghị định 52/2013/NĐ-CP của chính phủ về Thương mại điện tử
Bên cạnh những luật, nghị định điều chỉnh chi tiết các hoạt động trong lĩnh vực TMĐT, thì TMĐT tại nước ta còn chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật chung như Bộ Luật dân sự, Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật Công nghệ thông tin.[3]
- Đề án xây dựng và phát triển chính quyền điện tử
1.3.2 Phát triển hạ tầng Công nghệ thông tin
TMĐT là những giao dịch thương mại được thực hiện chủ yếu thông qua máy tính và mạng internet Do đó, để TMĐT có thế phát triển được, yêu cầu về hạ tầng CNTT
Trang 3029
và truyền thông là không thể thiếu Xây dựng hạ tầng CNTT và truyền thông để TMĐT phát triển phải đạt được những mục tiêu sau:
- Cho phép người dân và tổ chức, doanh nghiệp có thể sử dụng các thiết bị CNTT
và truyền thông như máy tính và các thiết bị xử lý
- Cho phép người dân và các tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ viễn thông cơ bản và Internet với giá rẻ Ngoài ra, mọi doanh nghiệp, cộng đồng và công dân đều được kết nối và tiếp cận tới cơ sở hạ tầng băng rộng
- Thiết lập được các hệ thống mạng viễn thông cố định và không dây mạnh
- Nâng cao năng lực đường truyền với hệ thống băng thông rộng, cho phép các tổ chức và doanh nghiệp có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng cao vào các ứng dụng TMĐT của mình với chi phí chấp nhận được Ngoài việc đầu tư mới cho các thiết bị, việc nâng cấp các hệ thống thiết bị hiện thời là điều không thể thiếu, vì các ứng dụng TMĐT ngày càng phức tạp, dung lượng dữ liệu cần truyền tải ngày càng lớn hơn, do đó yêu cầu về mặt thiết bị và công nghệ cũng cao hơn.[3]
1.3.3 Hệ thống thanh toán điện tử
Một trong những khâu cơ bản trong quy trình thực hiện TMĐT là khâu thanh toán Sự phát triển của hoạt động thanh toán trong TMĐT đã giúp cho hoạt động TMĐT trở nên dễ dàng và là một chu trình hoàn chỉnh Thanh toán điện tử có sử dụng đến các phương tiện điện tử kết nối mạng viễn thông, cho nên thanh toán trong TMĐT cũng có những đặc thù riêng, trong đó hoạt động thanh toán điện tử không nhất thiết phải gắn liền một ngân hàng hay tổ chức tài chính truyền thống mà có thể thông qua một tổ chức trung gian cung cấp thanh toán qua mạng Thanh toán điện tử phát triển giúp đẩy nhanh hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia với nhau, không chỉ trong hoạt động xuất nhập khẩu giữa các doanh nghiệp với nhau mà còn thúc đẩy hoạt động mua bán giữa các cá nhân với cá nhân.[3]
1.3.4 Chiến lược, mô hình kinh doanh
Mọi hoạt động trong đời sống kinh tế muốn phát triển đều phải có chiến lược cụ thể cho từng bước đi Vậy muốn phát triển TMĐT thì trước hết doanh nghiệp TMĐT cần phải xây dựng cho mình một chiến lược cụ thể, để xây dựng một chiến lược TMĐT thành
Trang 3130
công, trước hết phải xây dựng một chiến lược cho phát triển CNTT, mà ở đây chính là xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT, đào tạo nguồn lực cho ngành CNTT nhằm hỗ trợ cho hoạt động TMĐT
Phần lớn các giao dịch TMĐT chủ yếu là thực hiện qua internet thông qua các website Do vậy để phát triển TMĐT, trước hết các doanh nghiệp cần phải có chiến lược xây dựng và quảng bá website Ngoài ra các doanh nghiệp TMĐT cũng cần phải xác định được mô hình kinh doanh của doanh nghiệp để kinh doanh hiệu quả sao cho phù hợp với khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp Ví dụ: xác định xem doanh nghiệp sẽ hướng tới mô hình hoạt động đấu giá C2C (ebay.com) hay hướng tới mô hình hoạt động bán hàng trực tuyến B2C (amazon.com), B2B (Dell.com) [3]
Tóm lại, hoạt động TMĐT trên thế giới đã đạt được những thành tựu nổi bật trong nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, TMĐT tại Việt Nam đến nay vẫn trong giai đoạn đầu phát triển Các doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai được một số ứng dụng TMĐT như trong mua bán hàng hóa dịch vụ, cung cấp dịch vụ công cho dù kết quả đạt được còn khiêm tốn.[3]
Trang 3231
mua… Tất cả các giao dịch đó đều liên quan đến các thông tin dưới dạng dữ liệu tồn tại
và di chuyển trên mạng Về mặt công nghệ, kỹ thuật mã hoá là nền tảng cơ bản giải quyết vấn đề này Kỹ thuật mã hoá cơ bản bao gồm một thuật toán mã hoá - giải mã và một khoá được dùng để mã hóa - giải mã Thách thức đặt ra là kỹ thuật này chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định, việc dò và giải mã là hoàn toàn có thể nếu loại bỏ yếu tố thời gian Hơn nữa với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, CNTT và năng lực tạo ra các sản phẩm riêng chưa có nên hoàn toàn phụ thuộc công nghệ vào các nước phát triển - đây là điều không hề mong muốn
1.4 Các tiêu chí đánh giá hoạt động TMĐT
1.4.1 Hạ tầng CNTT và và nguồn nhân lực
Hạ tầng công nghệ của TMĐT với sự phát triển của kỹ thuật tính toán điện tử và truyền thông điện tử là quan trọng Để phát triển TMĐT, hạ tầng công nghệ phải bảo đảm tính hiện hữu, nghĩa là phải có một hệ thống các chuẩn của doanh nghiệp, của quốc gia và các chuẩn này phải phù hợp với quốc tế Các chuẩn này gắn với hệ thống các cơ
sở kỹ thuật và thiết bị ứng dụng của quốc gia như một phân hệ của hệ thống mạng toàn cầu Cùng với tính hiện hữu, hạ tầng công nghệ của TMĐT còn phải bảo đảm tính kinh
tế, nghĩa là chi phí của hệ thống thiết bị kỹ thuật và chi phí dịch vụ truyền thông phải ở mức hợp lý để bảo đảm cho các tổ chức và cá nhân đều có khả năng chi trả và bảo đảm giá cả của các hàng hoá và dịch vụ thực hiện qua TMĐT không cao hơn so với thương mại truyền thống
Thanh toán trực tuyến là một trong những vấn đề cốt yếu của TMĐT Thiếu hạ tầng thanh toán điện tử TMĐT sẽ khó có điều kiện để phát triển theo đúng nghĩa của nó Một hệ thống thanh toán điện tử phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Khả năng có thể chấp nhận được; an toàn và bảo mật cho các giao dịch tài chính qua mạng; khả năng có thể hoán đổi; hiệu quả, tin cậy và dễ sử dụng
Bên cạnh hạ tầng CNTT, để phát triển TMĐT cần phải có con người có trình độ tương ứng, con người cấu thành cơ sở nhân lực của TMĐT trước hết là đội ngũ các chuyên gia tin học, thường xuyên cập nhật các kiến thức của CNTT và có khả năng đưa vào ứng dụng trong môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể Đội ngũ các chuyên gia
Trang 3332
CNTT và kỹ thuật máy tính sẽ tạo ra nền tảng vật chất kỹ thuật cho TMĐT Đồng thời, các chuyên gia công nghệ thông tin và kỹ thuật máy tính, các nhà kinh doanh, những người quản lý, các chuyên viên, người tiêu dùng cũng phải có khả năng tham gia TMĐT với trình độ nhất định về CNTT, về ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp trên mạng Chính vì vậy, để hạn chế rủi ro khi tham gia vào TMĐT cần đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cho những người thực hiện TMĐT và tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người tiêu dùng nắm được các đặc điểm kỹ thuật của TMĐT.[1]
1.4.2.Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C)
Là thương mại trên internet giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng, liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (sách, sản phẩm tiêu dùng, ) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung
số hoá, như phần mềm, sách điện tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử thông qua các hình thức trao đổi như: email, website thương mại điện tử, sàn giao dịch điện tử, thanh toán điện tử,
* Lợi ích đối với doanh nghiệp:
- Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn
- Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia sẻ thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống, giảm chi phí quảng cáo tiếp thị
- Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng
- Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện liên tục, thông suốt mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi
- Giảm thiểu chi phí thông tin liên lạc, đi lại
Trang 3433
- Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả… đều
có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời
- Chăm sóc khách hàng, thông tin liên hệ tiện lợi, nhanh chóng
* Lợi ích đối với khách hàng:
- Có nhiều lựa chọn hơn, khách hàng có thể thoái mái xem hàng, chọn lựa những sản phẩm tốt, phù hợp, vì được tiếp xúc với nhiều nhà cung cấp hơn
- Có thể so sánh giá cả, dịch vụ hậu mãi giữa những nhà cung cấp vì thông tin thuận tiện, dễ dàng
- Thông tin phong phú, thuận tiện, chất lượng cao, khách hàng có thể dễ dàng tìm
ra thông tin mình cần dựa vào các công cụ tìm kiếm bao gồm các thông tin đa chiều, đa phương tiện, các đánh giá, bình luận…
- Tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại chỉ với một nhấp chuột, khách hàng có thể mua được sản phẩm như ý mà không cần phải ra ngoài
- Hỗ trợ nhiều hình thức mua hàng, ví dụ mua chung, cùng mua giúp giảm chi phí mua hàng [13]
1.4.3 Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)
Thương mại điện tử B2B được định nghĩa đơn giản là TMĐT giữa các công ty Đây là loại hình TMĐT gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau, tác động của B2B với nền kinh tế được thể hiện như sau:
Chi phí giao dịch: Có ba loại chi phí được giảm xuống một cách đáng kể qua
việc thực hiện thương mại điện tử B2B Thứ nhất là giảm chi phí tìm kiếm, như là khách
hàng không cần phải thông qua các trung gian để tìm kiếm thông tin về nhà cung cấp sản phẩm và giá cả như trong chuỗi cung ứng truyền thống Trên khía cạnh các nỗ lực, thời gian và tiền bạc bỏ ra, Internet là kênh thông tin hiệu quả hơn là cách truyền thông Trong thị trường B2B, người bán và người mua tập hợp lại cùng với nhau trong một cộng đồng
thương mại đơn nhất, giảm nhiều hơn chi phí tìm kiếm Thứ hai là việc giảm chi phí
trong quá trình giao dịch (ví dụ: hoá đơn, thanh toán và đặt hàng) khi mà B2B cho phép việc tự động hoá trong quá trình giao dịch và từ đó, thực hiện nhanh chóng những công việc như vậy so với các phương thức khác (như điện thoại và fax) Tính hiệu quả trong
Trang 3534
quá trình và giao dịch thương mại cũng được tăng cường qua khả năng của thị trường ảo
B2B nhằm thực hiện quá trình bán hàng qua đấu giá trên mạng Thứ ba, xử lý trên mạng
thúc đẩy việc quản lý kho hàng và hậu cần
Loại bỏ trung gian: Qua thị trường B2B, người cung cấp có khả năng trao đổi
trực tiếp với người mua, từ đó loại bỏ những người trung gian và các nhà phân phối Tuy nhiên, các hình thái mới của trung gian cũng đang xuất hiện, ví dụ: thị trường mạng tự bản thân nó có thể được xem xét như là trung gian bởi vì chúng đứng giữa người cung cấp và người mua trong một chuỗi cung ứng
Minh bạch trong giá cả: Giữa những lợi ích của thị trường mạng là việc tăng
cường tính minh bạch trong giá cả, việc tập hợp một lượng lớn người mua và người bán trong một thị trường mạng đơn nhất sẽ lộ ra thông tin về giá cả thị trường và quá trình giao dịch tới những người tham dự Internet cho phép việc xuất bản thông tin về một hoạt động mua bán hoặc giao dịch, làm cho thông tin sẵn sàng được tiếp cận và sẵn có với tất cả thành viên của thị trường mạng Tăng tính minh bạch của giá cả có ảnh hưởng tới việc kéo sự chênh lệch giá trong thị trường xuống Với nội dung này, người mua được cung cấp nhiều thời gian hơn để so sánh giá và ra những quyết định mua hàng tốt hơn
Hơn thế nữa, thị trường mạng B2B mở rộng biên giới cho việc thương thuyết giá
cả cho dù ở đâu, nhiều người bán và người mua tham dự vào việc định hình giá và đấu thầu hai chiều Trong môi trường như vậy, những yêu cầu cho cả người mua và người bán được tập hợp lại để đạt được những giá cạnh tranh, thấp hơn những giá do từng cá nhân đưa ra
Hiệu ứng mạng và phạm vi của các nền kinh tế: Sự tăng trưởng nhanh chóng
của thị trường mạng B2B tạo ra nền kinh tế cung cấp dựa trên giá thành truyền thống Hơn thế nữa, việc đem lại cùng với nhau một cách có ý nghĩa số lượng người mua và người bán cung cấp các nền kinh tế nhu cầu hay là hiệu ứng mạng Mỗi một sự tham gia thêm vào trong thị trường mạng tạo ra giá trị cho tất cả những người tham gia theo một bên nhu cầu Thêm nhiều người tham gia định hình nên số lượng chủ yếu, là chìa khoá cho sự thu hút thêm nhiều người tới thị trường mạng [13]
Trang 36của TMĐT có hai đặc tính: thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò dẫn đầu trong việc thiết lập TMĐT; thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong
việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn Các chính sách mua bán trên web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua hàng (và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách) Tuy nhiên, tới nay kích cỡ của thị trường thương mại điện tử G2B như là một thành tố của của tổng TMĐT thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển.[13]
Việc cung cấp trực tuyến thông tin và dịch vụ công của các cơ quan nhà nước (G2B) là một thành phần quan trọng của TMĐT Năm 2013 có 31% doanh nghiệp cho biết thường xuyên truy cập website của các cơ quan nhà nước, 56% doanh nghiệp thỉnh thoảng mới truy cập và 13% doanh nghiệp chưa bao giờ truy cập các website này Các
tỷ lệ này cho thấy tình hình truy cập website của các cơ quan nhà nước để thu thập thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp không có sự khác biệt lớn so với năm 2012 Trong khi đó, năm 2013 có khoảng 48% doanh nghiệp đã sử dụng các dịch
vụ công trực tuyến, tăng hơn một chút so với năm 2012 Có 25% doanh nghiệp đánh giá dịch vụ công trực tuyến rất có ích cho hoạt động kinh doanh của mình, tỷ lệ này cùng với tỷ lệ 58% doanh nghiệp cho biết dịch vụ công trực tuyến tương đối có ích phản ảnh dịch vụ công trực tuyến đã thực sự hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.[5]
1.5 Phát triển TMĐT trên thế giới và kinh nghiệm một số quốc gia
Trong một số ứng dụng kinh doanh điện tử, băng thông rộng đã trở thành một điều kiện không thể thiếu Nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển không thể truy cập Internet băng rộng, họ khó có thể triển khai các chiến lược CNTT nhằm cải thiện năng suất lao động trong những mảng tìm kiếm và duy trì khách hàng, kho vận và quản lý hàng tồn Khoảng cách ứng dụng TMĐT giữa các nước phát triển và
Trang 3736
đang phát triển vẫn còn rất lớn, các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện từ toàn cầu, trong đó riêng phần của Bắc Mỹ và Châu Âu đã lên tới trên 80% Phương thức kinh doanh B2B đang và sẽ chiếm ưu thế nổi trội so với B2C trong các giao dịch thương mại điện tử toàn cầu Trong phương thức B2C, loại hình bán lẻ tổng hợp (siêu thị thương mại điện tử) dù chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giao dịch B2C trên thị trường ảo Việc kết hợp cửa hàng bán lẻ trực tuyến với các kênh phân phối truyền thống hiện vẫn
là phương thức được nhiều nhà kinh doanh lựa chọn
1.5.1 Kinh nghiệm của Singapore
Cùng với Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc, Singapore đã gây được sự chú ý đặc biệt của thế giới về sự phát triển kinh tế của quốc gia này từ những năm 1989 - 1990 Cho đến nay, Singapore đã trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về phát triển CNTT, đặc biệt là TMĐT
Không ngừng phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet:
Singapore One là một phần cấu thành quan trọng của dự án IT2000 - được liên kết xây dựng và điều phối bởi Cục Tin học Quốc gia (NCB), Cục Kỹ thuật và Khoa học Quốc gia (NSTB), Cơ quan Truyền thông Singapore (TAS) và Singapore Broadcasting Authority (SBA) Trong đó, TAS phụ trách việc xây dựng cơ sở hạ tầng phần cứng, NCB chịu trách nhiệm xây dựng ứng dụng mạng, NSTB có nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật băng thông rộng SBA có trách nhiệm giúp đỡ và khuyến khích các công ty truyền thanh truyền hình và các nhà cung câp nội dung cung cấp các nội dung thông tin đầy đủ về Singapore One
Chú trọng đặc biệt tới TMĐT:
Singapore có nhiều ưu điểm thuận lợi đặc biệt để phát triển TMĐT Quốc gia này giữ vai trò đặt biệt quan trọng về tài chính, thương mại và truyền thông ở châu Á - Thái Binh Dương và trên thế giới Các ngành công nghiệp phát triển truyền thống của Singapore bao gồm truyền thông, thương mại, tài chính, hàng không, đóng tàu - đều là những "nền móng" tốt cho việc phát triển TMĐT
Trang 3837
Trong lộ trình thúc đẩy phát triển TMĐT, ngay từ đầu, chính phủ Singapore đã thành lập một ủy ban đặc biệt để hợp pháp hoá phương thức giao dịch điện tử, các công tác hợp tác và hỗ trợ đầy đủ cho các doanh nghiệp với những khả năng sử dụng công nghệ mạng tốc độ cao Hàng loạt động thái tích cực đã được chính phủ thực thi Singapore đã đề ra 5 chiến lược phát triển TMĐT như sau:
- Phát triển cơ sở hạ tầng TMĐT theo tiêu chuẩn quốc tế;
- Phát triển Singapore trở thành trung tâm TMĐT;
- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng TMĐT;
- Tăng cường hoạt động TMĐT ở nơi công cộng và trong thương mại;
- Đưa ra các chính sách và luật thích hợp với giao dịch ngoài quốc gia
Theo khảo sát năm 2006, tại Singapore, 74% gia đình sống ở các khu chung cư
và 92% gia đình riêng có máy tính Cơ quan Tình báo Kinh tế ước tính cứ 100 người thì
có 50 người sử dụng máy tính
1.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT nhanh và ổn định Trong giai đoạn 2000-2005, TMĐT Hàn Quốc tăng trung bình từ 35-45%/ năm, trong đó doanh số TMĐT năm 2004 đạt 314 tỷ USD, chiếm 20% tổng giao dịch thương mại của Hàn Quốc TMĐT của "xứ sở kim chi" này phát triển khá đồng đều trên nhiều loại hình như B2B, B2C và B2G
Để phát triển TMĐT, các quốc gia cần đến nhiều yếu tố như: nền tảng CNTT, nhận thức của doanh nghiệp, nguồn nhân lực, khuôn khổ pháp lý, phát triển các sản phẩm
và dịch vụ hỗ trợ TMĐT Ở Hàn Quốc, khu vực kinh tế tư nhân rất năng động và là nhân tố chính triển khai các hoạt động TMĐT Tuy nhiên, đóng vai trò đầu tàu cho phát triển TMĐT lại chính là Chính phủ, với những cam kết mạnh mẽ và quyết tâm phát triển TMĐT
Xây dựng môi trường pháp lý
Môi trường CNTT ở quốc gia này được đánh giá là đạt tiêu chuẩn quốc tế Tháng 12/2000, Hàn Quốc đã xây dựng xong mạng lưới Internet băng rộng kết nối 144 khu vực trên toàn đất nước Năm 2005, Hàn Quốc có 30 triệu người dùng Internet, chiếm gần
Trang 3938
70% dân số Đến nay, tỷ lệ người dùng Internet băng thông rộng của Hàn Quốc đứng hàng đầu trong các nước thuộc tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), chiếm 88% tổng số người dùng Internet; số người dùng ngân hàng qua Internet của nước này
là 24 triệu người, chiếm 60% dân số Để phát triển TMĐT liên tục, cơ sở hạ tầng phải
sẵn sàng với 3 yếu tố cơ bản: công nghệ, nguồn nhân lực và các tiêu chuẩn TMĐT
Chính phủ Hàn Quốc đã thiết kế nhiều chương trình khác nhau để hỗ trợ phát triển các yếu tố này Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ 112 dự án phát triển công nghệ TMĐT gồm 3 dạng công nghệ: tích hợp, ứng dụng và công nghệ cơ bản
Để hỗ trợ phát triển nhân lực TMĐT, năm 2000, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra "Kế hoạch phát triển nhân lực TMĐT" và tiếp đó là một loạt chương trình hỗ trợ chia thành
2 loại:
(i) Nâng cao hệ thống và mở rộng cơ sở hạ tầng phát triển nhân lực TMĐT; (ii) Hỗ trợ các môn học TMĐT, các chương trình này có thể kể đến: hỗ trợ các trương đại học xây dựng giáo trình TMĐT, đào tạo nhân lực TMĐT cho địa phương, xây học viện cho cho phụ nữ tham gia TMĐT, hỗ trợ học thạc sĩ TMĐT tại đại học Carnegie Melon (Mỹ)
Hỗ trợ xuất khẩu về TMĐT để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia thị trường thế giới thông qua TMĐT
Để giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn khi triển khai TMĐT, Chính phủ đã xây dựng Chỉ số Thương mại điện tử Hàn Quốc (gọi tắt là KEBIX) nhằm giúp doanh nghiệp đánh giá khả năng sẵn sàng TMĐT của mỗi ngành nghề thông qua 5 yếu tố: môi trường, con người, nguồn lực và cơ sở hạ tầng, quy trình và giá trị Bên cạnh đó các kế hoạch,
Trang 4039
chính sách, chương trình hỗ trợ cũng được kịp thời ban hành và thực hiện không chỉ ở các thành phố lớn mà còn ở rất nhiều địa phương khác trên toàn quốc
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Chính phủ Hàn Quốc đã chuẩn bị một loạt các đạo luật TMĐT và liên tục nâng cao khuôn khổ pháp lý TMĐT bằng cách chỉnh sửa luật hiện hành, ban hành luật mới Dưới đây là một số các đạo luật chính liên quan đến TMĐT đã được ban hành tại Hàn Quốc:
- Khuôn khổ pháp lý TMĐT cơ bản:
+ Luật khung về TMĐT: Ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002 và 2005
+ Luật bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT: Ban hành năm 2002 và sửa đổi năm 2005
+ Luật chữ ký điện tử: Ban hành năm 1998, sửa đổi năm 2001 và 2005
+ Luật phát triển ngành đào tạo điện tử: Ban hành năm 2004
+ Luật phát triển ứng dụng mạng CNTT và truyền thông và bảo vệ thông tin: Ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2002, 2004 và 2005
- Các khung pháp luật khác liên quan đến TMĐT:
+ Luật bảo vệ người tiêu dùng
+ Luật kinh doanh tài chính về tín dụng
+ Luật khuyến khích ngành nội dung số trực tuyến
+ Luật sản phẩm trò chơi, sản phẩm hình ảnh và âm thanh
+ Luật về các nguồn địa chỉ Internet
+ Luật bản quyền
+ Luật CP điện tử
+ Luật bảo vệ chương trình máy tính
+ Luật hóa đơn điện tử
1.6 Tình hình phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, trong điều kiện phát triển kinh tế đất nước và hội nhập nền kinh tế toàn cầu, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng những kĩ thuật công nghệ mới, đặc biệt là ứng dụng CNTT, TMĐT trong quá trình