Là cơ quan lần đầu tiên được thành lập ở Việt Nam trong, sau 10 năm xây dựng và phát triển, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phát tr
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sỹ khoa học Ngành: Quản trị kinh doanh
Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán nhà nước việt nam
Vương Văn Quang
Hà Nội 2006
Trang 2Trường đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sỹ khoa học
Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán nhà nước việt nam
Ngành: quản trị kinh doanh
Vương Văn Quang
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Đỗ Văn Phức
Hà Nội 2006
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả Luận văn
Vương Văn Quang
Trang 5Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực
1.1 Nội dung, tính chất và đặc điểm hoạt động của Kiểm toán
1.4 Kinh nghiệm xây dựng, quản lý nhân lực của một số cơ quan
Kiểm toán tối cao trên thế giới và khuyến cáo của INTOSAI 34 Chương 2 Thực trạng chất lượng nhân lực của
2.1 Đặc điểm hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 46 2.2 Thực trạng chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 58 2.3 Nguyên nhân của tình trạng chất lượng nhân lực chưa cao của
Chương 3 Một số Giải pháp Nâng cao chất lượng
3.1 Mục tiêu, yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra đối với chất
lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 80 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7Số hiệu Tên bảng Trang 1.1 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu chức danh công chức 19 1.2 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu ngạch công chức 20 1.3 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu trình độ đào tạo 20 1.4 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu chuyên môn đào tạo 21 1.5 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu độ tuổi 21 1.6 Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu giới tính 22 1.7 Đánh giá chất lượng nhân lực theo thời gian làm việc theo
1.8 Đánh giá chất lượng nhân lực l2nh đạo, quản lý 24 1.9 Phiếu điều tra mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của các loại
1.10 Lượng hoá các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhân lực 27 1.11 Xếp loại chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước 28 2.1 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu chức danh công chức 62 2.2 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu ngạch công chức 63 2.3 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu về trình độ đào tạo 64 2.4 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu chuyên môn đào tạo 65 2.5 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu về độ tuổi 66 2.6 Thực trạng nhân lực theo cơ cấu về giới tính 67 2.7 Thực trạng nhân lực theo thời gian làm việc theo chuyên môn
2.9 Tổng hợp kết quả điều tra mức độ đáp ứng yêu cầu công việc
2.10 Lượng hoá kết quả đánh giá chất lượng nhân lực 71 3.1 Tổng hợp biên chế của Kiểm toán Nhà nước đến năm 2010 95 3.2 Cơ cấu tuyển dụng nhân lực theo chuyên ngành đào tạo 97
Trang 8Số hiệu Tên Biểu đồ, Sơ đồ Trang Biểu đồ 2.1 Tình hình phát triển nhân lực của Kiểm toán
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy của Kiểm toán Nhà nước
Trang 9
ADB Asian Development Bank - Ng©n hµng Ph¸t triÓn Ch©u ¸ ASOSAI Asian Organization of Superme Audit Institutions - Tæ chøc
Quèc tÕ c¸c C¬ quan KiÓm to¸n Tèi cao Ch©u ¸
CNAO National Audit Office of China - C¬ quan KiÓm to¸n Quèc vô
viÖn Trung Quèc
COA Commission on Audit - Uû ban KiÓm to¸n Philippines
GAO General - Accounrability Offce - C¬ quan gi¶i to¶ tr¸ch nhiÖm
Hoa Kú
GTZ Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit (GTZ)
GmbH - Tæ chøc Hîp t¸c kü thuËt §øc
NCKH Nghiªn cøu khoa häc
INTOSAI International Organization of Supreme Audit Institutions - Tæ
chøc Quèc tÕ c¸c C¬ quan KiÓm to¸n Tèi cao
ODA Official Development Assistance - Dù ¸n Hç trî ph¸t triÓn
chÝnh thøc
SAI Supreme Audit Institutions - C¬ quan KiÓm to¸n Tèi cao
Trang 10Mở đầu
1 Sự cần thiết
Nhân lực là một trong những nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị và các tổ chức Trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức và xu hướng hội nhập quốc tế, nhân lực đ6 thực sự trở thành nguồn động lực chính, quyết định ưu thế cạnh tranh và uy tín của các tổ chức; đồng thời là nhân tố quyết định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn trong hệ thống thiết chế nhà nước, thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát độc lập đối với các hoạt động tài chính công, tiền và tài sản nhà nước Là cơ quan lần đầu tiên được thành lập ở Việt Nam trong, sau 10 năm xây dựng và phát triển, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và phát triển các loại hình hoạt động kiểm toán, xây dựng và hoàn thiện các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ, Kiểm toán Nhà nước đ6 xây dựng và phát triển nhân lực bước đầu đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị theo luật định
Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu cải cách nền hành chính Nhà nước, triển khai thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Chống tham nhũng đ6
được Quốc Hội thông qua, đáp ứng kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân
đối với cơ quan Kiểm toán Nhà nước là phòng, chống, ngăn chặn các hành vi tham nhũng, l6ng phí trong các lĩnh vực công, góp phần lành mạnh hoá các quan hệ tài chính - tiền tệ, tăng cường hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, tăng cường hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nước, đòi hỏi Kiểm toán Nhà nước phải có bước phát triển mang tính đột phá về mọi mặt - Trong đó một trong những vấn đề mang tính quyết định là nâng cao chất lượng nhân lực cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức công vụ Đây là vấn
đề mang tính thời sự đối với tất cả các cơ quan trong hệ thống thiết chế nhà
Trang 11nước và nó càng có ý nghĩa quan trọng đối với kiểm toán nhà nước - Công cụ kiểm tra, kiểm soát vĩ mô của nhà nước trong các lĩnh vực công
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với công tác phát triển nhân lực của Kiểm toán Nhà nước và những kiến thức đ6 được học về quản lý, quản trị nhân lực, tôi chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước" để thực hiện Luận văn thạc sỹ Nội dung nghiên cứu đề tài không chỉ nhằm giải quyết về vấn đề lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn nhằm hoạch định các chính sách phát triển nhân lực nói chung và nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước nói riêng, góp phần giải quyết những mục tiêu phát triển Kiểm toán Nhà nước theo Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2010, triển khai thực hiện Luật Kiểm toán Nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước;
- Đánh giá thực trạng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển; nghiên cứu kinh nghiệm của một số tổ chức kiểm toán quốc tế và các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới về xây dựng và quản
lý nhân lực
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề về nguồn nhân lực; các chính sách phát triển nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi: Nghiên cứu lý luận cơ bản về nhân lực của quan Kiểm toán Nhà nước; đánh giá thực trạng chất lượng nhân lực
Trang 12của Kiểm toán Nhà nước; đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sử dụng đồng thời phương pháp:
- Sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá và suy luận logic đề nghiên cứu cơ sở lý luận về nhân lực và chất lượng nhân lực;
- Sử dụng các phương pháp khảo sát thực tiễn, thống kê, tổng hợp, phân tích và suy luận logic để tổng kết, đánh giá thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế và rút ra những bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nhân lực;
- Sử dụng các phương pháp dự đoán, mô hình hoá, phân tích hệ thống và suy luận logic để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
6 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được bố cục theo kết cấu 3 chương Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước; Chương 2 Thực trạng chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam;
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Trang 13Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực của kiểm toán nhà nước 1.1 Nội dung, tính chất và đặc điểm hoạt động của Kiểm toán Nhà nước 1.1.1 Bản chất và nội dung hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
Sự hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước trên thế giới gắn liền với sự hình thành, ra đời và phát triển của tài chính nhà nước mà chủ yếu
là ngân sách nhà nước; xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chi tiêu ngân sách và công quỹ quốc gia từ phía nhà nước Kiểm toán Nhà nước trên thế giới đ6 có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay ở các nước phát triển, kinh nghiệm của các nước đ6 khẳng định sự hiện diện và hoạt động của cơ quan Kiểm toán Nhà nước đ6 góp phần hữu hiệu vào việc thiết lập và giữ vững kỷ cương, kỷ luật tài chính, chấp hành luật Ngân sách nhà nước, phát hiện và ngăn chặn các hành vi tham nhũng, lạm dụng, tiêu xài phung phí tiền của Nhà nước, của nhân dân Kiểm toán Nhà nước thực sự đ6 trở thành bộ phận hợp thành không thể thiếu được trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Vị trí, tác dụng của nó đ6 được x6 hội công nhận và không một cơ quan chức năng nào khác thay thế được trong việc tăng cường kiểm soát, thực hiện mục đích sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực tài chính của các cơ quan công quyền, các tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước Kiểm toán Nhà nước được khẳng định như một chức năng, một công cụ quan trọng không thể thiếu được của hệ thống quyền lực nhà nước hiện đại
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước
và công quỹ quốc gia Vì vậy, Kiểm toán Nhà nước là một cơ quan trong bộ máy quyền lực của Nhà nước Tuỳ thuộc vào thể chế chính trị và sự phân chia quyền lực của mỗi nước mà Kiểm toán Nhà nước có thể trực thuộc cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) hoặc đứng độc lập với cả Quốc hội
Trang 14và Chính phủ, nhưng hoạt động của nó nhằm phục vụ cho cả ngành lập pháp
và hành pháp Tính đa dạng đó được thể hiện qua địa vị pháp lý và mô hình tổ chức các cơ quan Kiểm toán Nhà nước các nước trên thế giới
Xuất phát từ thực tế hoạt động của 180 Cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới là thành viên của Tổ chức các cơ quan Kiểm toán Tối cao (International Organzation of Supreme Audit Institutions - INTOSAI) và những vấn đề đặt ra trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế, tại Đại hội lần thức IX của INTOSAI họp tại Lima (Paragoay) năm 1998 đ6 thông qua Nghị quyết về hoạt động của các Cơ quan Kiểm toán nhà nước (Supreme Audit Istitutions - SAI) và các chuẩn mực kiểm tra tài chính công (gọi tắt là Tuyên
bố Lima) với 100% số phiếu thông qua
Về sự cần thiết của hoạt động kiểm toán nhà nước theo Tuyên bố Lima:
…Việc sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn kinh phí công hữu là một trong những tiền đến cơ bản đối với việc sử dụng đúng đắn các nguồn tài chính công hữu hiệu và hiệu lực của các quyết định do các cơ quan có thẩm quyền ban hành Để đạt mục tiêu này nhất thiết mỗi quốc gia phải có một Cơ quan Kiểm toán tối cao mà tính độc lập của nó phải được quy định trong luật pháp; sự tồn tại của một cơ quan như vậy càng cần thiết hơn, vì các các hoạt
động của nhà nước ngày càng mở rộng hơn sang lĩnh vực xH hội và kinh tế và
do vậy sẽ vượt ra khỏi những giới hạn của nền tài chính thông thường (Tuyên
- Kiểm toán cơ quan nhà nước và cơ quan khác ở nước ngoài: Nội dung này bao gồm việc kiểm toán tình hình quản lý và sử dụng kinh phí được cấp từ
Trang 15ngân sách nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt
động theo chức năng, nhiệm vụ được quy định; kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các
đơn vị sự nghiệp công hoạt động cả ở trong và ngoài nước
- Kiểm toán thuế: Thuế là nguồn thu chủ yếu của các quốc gia, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyền kiểm toán việc thu thuế không chỉ dừng lại ở các cơ quan quản lý thu mà còn được pháp luật cho phép kiểm toán cả hồ sơ thuế của các các công ty, các cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định Cùng với việc kiểm toán tính pháp lý và tính chuẩn tắc trong quá trình hành thu, khi kiểm toán việc áp dụng luật thuế, Cơ quan Kiểm Nhà nước còn phải kiểm tra hệ thống thu và hiệu quả thu thuế, việc thực hiện các chỉ tiêu thu và nếu có thể, phải đề xuất các biện pháp cải tiến cho cơ quan lập pháp
- Kiểm toán các hợp đồng công và công trình xây dựng công: Các hợp
đồng trong lĩnh vực công và các công trình xây dựng công cộng sử dụng khoản chi đáng kể trong cơ cấu chi ngân sách của quốc gia Do vậy, đây là một nội dung quan trọng mà các cơ quan kiểm toán Nhà nước trên thế giới phải tập trung kiểm toán từ khâu xây dựng dự án, thực hiện dự án và kết thúc
dự án Nội dung này được kết hợp cả việc kiểm toán tính nguyên tắc trong thanh toán và tính hiệu quả trong quản lý xây dựng và chất lượng công trình xây dựng
- Kiểm toán Chính phủ điện tử: Trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủ điện tử, một lượng ngân sách đáng kể sử dụng cho các thiết bị xử lý dữ liệu điện tử của các cơ quan Chính phủ được coi
là một nội dung kiểm toán thường xuyên của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới Việc kiểm toán Chính phủ điện tử được thực hiện một cách toàn diện từ khâu lập kế hoạch; sử dụng tiết kiệm thiết bị xử lý dữ liệu điện tử;
sử dụng cán bộ có chuyên môn phù hợp, nhất là cán bộ trong ban quản lý đơn
vị được kiểm toán; ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích; kiểm toán mức độ hữu ích của thông tin đầu ra, v.v
Trang 16- Kiểm toán các Doanh nghiệp có sự tham gia của khu vực công: Các doanh nghiệp có sự tham gia của khu vực công gồm các doanh nghiệp của nhà nước (100% vốn nhà nước), doanh nghiệp do các đơn vị thuộc khu vực công
đóng góp cổ phần Cơ quan Kiểm toán Nhà nước của các quốc gia thực hiện kiểm toán hàng năm đối với các doanh nghiệp này về tình hình quản lý và sử dụng vốn của nhà nước, của khu vực công trong doanh nghiệp; về những vấn
đề liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực hoạt động của các doanh nghiệp
- Kiểm toán tổ chức được trợ cấp: Các tổ chức trong x6 hội được trợ cấp
từ ngân sách nhà nước, từ các quỹ tiền tệ tập trung không thuộc ngân sách nhà nước là một nội dung kiểm toán của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới Mục tiêu kiểm toán các tổ chức này là kiểm toán việc sử dụng các khoản trợ cấp lấy từ công quỹ của nhà nước; khi khoản trợ cấp đó là đặc biệt cao, do
tự bản thân nó hay trong tương quan với lượng thu chi cơ bản của tổ chức được trợ cấp, thì cuộc kiểm toán, nếu thấy cần, có thể được mở rộng ra để bao gồm toàn bộ công tác quản lý tài chính của tổ chức đó; kiểm toán và thu hồi các khoản trợ cấp chi sai mục đích giải trình
- Kiểm toán tổ chức quốc tế và siêu quốc gia: Tổ chức quốc tế và siêu quốc gia có các khoản chi tiêu lấy từ đóng góp của quốc gia thành viên phải chịu sự kiểm toán độc lập, từ bên ngoài, giống như đối với từng quốc gia Tuy nhiên, những cuộc kiểm toán này phải tính đến mức độ sử dụng nguồn lực và nhiệm vụ của tổ chức đó, cuộc kiểm toán phải tuân theo nguyên tắc tương tự như nguyên tắc điều tiết cuộc kiểm toán do cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện tại quốc gia mình và để đảm bảo tính độc lập của cuộc kiểm toán, thành viên nhóm kiểm toán từ bên ngoài đó phải được bổ nhiệm chủ yếu từ các cơ quan Kiểm toán Nhà nước của các quốc gia thành viên
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm toán nhà nước
Với mục đích hoạt động kiểm tra của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước
được xác định là:
Trang 17Cơ quan kiểm tra nằm trong nền kinh tế - tài chính công cộng với tư cách
là một nền kinh tế thác quản Kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước không phải vì mục đích riêng mà là một bộ phận không thể thiếu được của một hệ thống
điều tiết, nó phải sớm chỉ ra những sai lệch rời xa chuẩn mực và những vi phạm đối với các nguyên tắc của tính hợp pháp và tính kinh tế, tính hợp lý và tính tiết kiệm của công tác tài chính ở mức độ có thể đề ra biện pháp sửa chữa trong từng vụ việc riêng biệt, buộc các cơ quan hữu trách phải chịu trách nhiệm, thực hiện được việc bồi hoàn hoặc đề ra các biện pháp ngăn chặn hoặc ít nhất cũng cản trở được việc tái phạm tương tự trong tương lai (Chương
I - Tuyên bố Lima, 1998) Mục đích trên đây là định hướng, chi phối các đặc
điểm hoạt động của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới, bao gồm: Thứ nhất, Đặc điểm về phạm vi hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước: Kiểm toán Nhà nước là công cụ giúp cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện việc kiểm soát nền tài chính công nhà nước, đối tượng của Kiểm toán Nhà nước trước hết và đương nhiên là các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tới thu - chi ngân sách và các công quỹ nhà nước, quản lý và
sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, tiền và tài sản nhà nước Nói một cách khác, ở đâu có hoạt động liên quan đến thu, chi quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, các công quỹ và tài sản nhà nước thì ở đó phải thực hiện kiểm tra nhà nước Các tổ chức và các cá nhân có hoạt động là đối tượng của Kiểm toán Nhà nước bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ thu, chi và quản lý ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, các tổ chức sự nghiệp nhà nước và tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước (các đơn vị thụ hưởng ngân sách), các tổ chức chính trị, chính trị - x6 hội, x6 hội - nghề nghiệp được ngân sách nhà nước cấp một phần hoặc toàn bộ kinh phí, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức khác được ngân sách nhà nước trợ cấp, bảo l6nh, góp cổ phần, v.v Về nguyên tắc, phạm vi của các hoạt động thuộc đối tượng của Kiểm toán Nhà
Trang 18nước không bị giới hạn, không có vùng cấm Tuy nhiên, do phạm vi của các hoạt động đó rất rộng lớn và đa dạng, mặt khác do một số yếu tố đặc thù về chính trị - x6 hội, pháp luật, ở nhiều nước phạm vi đối tượng của Kiểm toán Nhà nước có những giới hạn nhất định, đặc biệt là ở các lĩnh vực nhạy cảm và lĩnh vực tối mật quốc gia (an ninh, quốc phòng)
Thứ hai, Đặc điểm về mô hình tổ chức và tính độc lập trong hoạt động kiểm toán nhà nước: Tại 180 quốc gia thành viên của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán Tối cao INTOSAI mô hình tổ chức Kiểm toán Nhà nước rất
đa dạng và có thể phân chia thành 3 mô hình cơ bản sau: mô hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp, mô hình Kiểm toán Nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp và mô hình Kiểm toán Nhà nước đứng độc lập với cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Hệ thống tổ chức có thể là một cấp (đơn tuyến) tập trung thống nhất bao gồm Kiểm toán Nhà nước ở trung ương và Kiểm toán Nhà nước khu vực trực thuộc Kiểm toán Nhà nước trung ương, không lập Kiểm toán Nhà nước ở chính quyền địa phương, hoặc có thể là tổ chức đa cấp, ở mỗi cấp chính quyền đều lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước của cấp mình, cơ quan kiểm toán các cấp hoàn toàn độc lập với nhau Tuy nhiên,
dù thuộc mô hình tổ chức nào, tổ chức bộ máy theo theo hệ thống nào, các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới đều tuân thủ một nguyên tắc hoạt
động chung là độc lập, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật
Thứ hai, Đặc điểm về cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước: Cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước các nước trên thế giới cũng chia ra làm 2 dạng: cơ chế thủ trưởng và cơ chế hội đồng (đồng sự) Với cơ chế thủ trưởng mọi hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đều do người đứng đầu (thủ trưởng) cơ quan Kiểm toán Nhà nước quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật Với cơ chế hội đồng, mọi hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đều
do các uỷ viên Hội đồng quyết định tập thể theo đa số Các uỷ viên hội đồng
là người có vị trí pháp lý độc lập như một thẩm phán Mỗi cơ chế hoạt động
Trang 19đều có những ưu điểm nhất định và do từng nước lựa chọn áp dụng Để đảm bảo chất lượng kiểm toán, trung thực và khách quan của mọi kết luận kiểm toán, mỗi cơ chế hoạt động đều có những quy tắc ứng xử cần thiết và thích hợp trong l6nh đạo và điều hành hoạt động của cơ quan Kiểm toán Nhà nước Thứ ba, Đặc điểm về chức năng hoạt động của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước: Các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới thực hiện hai chức năng cơ bản là:
- Thực hiện chức năng xác nhận: Nhằm khẳng định mức độ trung thực của số liệu, tài liệu và tính hợp pháp của các thông tin được kiểm toán Xác nhận là chức năng cơ bản gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt
động kiểm toán kiểm toán nhà nước Chức năng này được phát triển nhằm phục vụ cho công tác quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế, tài chính và quản trị doanh nghiệp, do đó đòi hỏi thông tin phải chính xác và hợp pháp Để khẳng định tính trung thực trong việc ghi chép, hạch toán kế toán đến việc tính toán, phân bổ, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, v.v phản ánh trên báo cáo tài chính được chính xác và hợp pháp thì cần có một tổ chức, cá nhân độc lập có thẩm quyền xác nhận lại các thông tin đó Đây chính
là chức năng xác nhận của kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế thì chức năng xác nhận không dừng lại ở phạm vi "Xác nhận hoặc chứng thực"
mà nó được phát triển lên thành "Báo cáo kiểm toán" với đầy đủ các chuẩn mực, qui trình trợ giúp cho kiểm toán viên trong việc lập báo cáo kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng báo cáo kiểm toán nói riêng
- Thực hiện chức năng tư vấn: Mục đích của kiểm toán không dừng lại ở chức năng "xác nhận", do yêu cầu phát triển kinh tế ngày càng đa dạng, các loại hình sở hữu tư liệu sản xuất ngày càng phong phú, các hình thức kinh doanh cũng như việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước của chính phủ và các tổ chức đòi hỏi phải có hiệu quả hơn Do đó chức
Trang 20năng tư vấn về pháp luật kinh tế, tài chính để tổ chức thực hiện luật và các cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, tài chính cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước và sản xuất kinh doanh là một nhu cầu không thể thiếu được nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời
đưa hoạt động kinh tế vào khuôn khổ pháp luật
Ngoài hai chức năng cơ bản trên, ở một số quốc gia, cơ quan Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện chức năng kiểm toán điều tra trong lĩnh vực kinh tế - ngân sách (Uỷ ban Kiểm toán Philippines - COA), chức năng điều tra tội phạm kinh tế (Cơ quan quan Giải toả trách nhiệm Hoa Kỳ - GAO), chức năng phán xử đối với các sai phạm được phát hiện trong quá trình kiểm toán (Toà thẩm kế Cộng hoà Pháp), chức năng xây dựng và ban hành chế độ kế toán nhà nước áp dụng trong các cơ quan Chính phủ (COA và GAO)
Thứ tư, Đặc điểm về nhân lực và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước: Nhân sự của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới là công chức trong nền công vụ Một trong những chức danh công chức chiếm tỷ trọng chủ yếu của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước là Kiểm toán viên, chức danh này có tiêu chuẩn quy định riêng cao hơn các chức danh công chức khác trong nền công vụ Công tác đào tạo, bồi dưỡng của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước là hoạt động thường xuyên do yêu cầu nghề nghiệp, phần lớn các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới đều thành lập các cơ quan chuyên trách hoạt động này dưới hình thức các Học viện, Trung tâm Phát triển nhân lực hoặc các trường đào tạo Kiểm toán viên Nhà nước Thứ năm, Tính chất hoạt động của Kiểm toán Nhà nước: Tính chất hoạt
động của các cơ quan Kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công; là hoạt động kiểm tra, kiểm soát mang tính bắt buộc, được thực hiện từ bên ngoài (ngoại kiểm)
đối với các đơn vị được kiểm toán Hoạt động kiểm toán nhà nước được thực hiện một cách độc lập theo kế hoạch hoạt động của Kiểm toán Nhà nước,
Trang 21không phụ thuộc ý muốn chủ quan của các đơn vị được kiểm toán và không chịu sự can thiệp của các cơ quan trong hệ thống hành pháp và tư pháp
Thứ sáu: Báo cáo kiểm toán và xử lý kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước: Sản phẩm của Kiểm toán Nhà nước là các báo cáo kiểm toán và báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán hàng năm Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán hàng năm được gửi cho Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật mỗi nước Để đảm bảo tính khách quan, trung thực của hoạt động kiểm toán nhà nước, báo cáo kiểm toán của hầu hết các cơ quan Kiểm toán Nhà nước trên thế giới chỉ dừng lại ở mức nhận xét, kết luận và kiến nghị đối với các sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm toán Các cơ quan Kiểm toán không trực tiếp xử lý sai phạm, mà chỉ kiến nghị với các cơ quan tư pháp, các cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (trừ Toà thẩm kế của Cộng hoà Pháp trực tiếp thụ
động, công tác
Kiểm toán Nhà nước là cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước, là một
tổ chức trong x6 hội, nhân lực của Kiểm toán Nhà nước cũng có bản chất như
Trang 22nhân lực thuộc các tổ chức kinh tế - x6 hội khác Tuy nhiên, do tính chất và
đặc điểm hoạt động khác biệt của hoạt động kiểm toán nhà nước, nên nhân lực của Kiểm toán Nhà nước có những điểm khác biệt về cơ cấu, về yêu cầu chất lượng nhân lực cũng như công tác quản trị nhân lực
Nhân lực của nhà nước Kiểm toán Nhà nước là toàn bộ khả năng lao
động mà Kiểm toán Nhà nước cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài theo luật định
Là cơ quan chuyên môn của nhà nước, nhân lực là yếu tố đầu vào chủ yếu, sức mạnh của nhân lực là nhân tố quyết định sức mạnh, quyết định khả năng và mức độ hoàn thành những nhiệm vụ chuyên môn của Kiểm toán Nhà nước theo quy định của pháp luật là kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính công Sức mạnh nhân lực của Kiểm toán Nhà nước được hợp thành từ khả năng lao động của từng cá nhân, từng con người cụ thể Khả năng lao động của từng con người chính là khả năng đảm nhận, thực hiện và hoàn thành công việc do các yếu tố về thể chất, trình độ chuyên môn, các yếu tố về tâm lý và mức độ cố gắng trong công việc
Nhân lực của Kiểm toán Nhà nước được phản ánh thông qua các chỉ tiêu
về quy mô nhân lực, cơ cấu nhân lực và chất lượng nhân lực
Quy mô nhân lực là chỉ tiêu phản ánh về mặt số lượng nhân lực có thể huy
động cho việc thực hiện các hoạt động của Kiểm toán Nhà nước trong giai đoạn trước mắt và lâu dài Quy mô nhân lực chỉ phản ánh về mặt lượng, về tổng số
mà không phản ánh tỷ trọng các bộ phận nhân lực cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu công việc thực tế
Cơ cấu nhân lực là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng của các loại nhân lực trong tổng số nhân lực Cơ cấu nhân lực có thể được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau như: độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, chức danh công việc, thời gian làm việc công tác trong ngành, v.v Cơ cấu lực cho phép
đánh giá mức độ phù hợp của từng loại nhân lực đối với công việc thực tế đòi
Trang 23hỏi ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên chỉ tiêu này cũng không phản ánh được khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của nhân lực
Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ
và đồng bộ (cơ cấu) các loại Chất lượng nhân lực là một trong những nhân tố
ảnh hưởng mang tính quyết định đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt
động của Kiểm toán Nhà nước Như vậy, chất lượng nhân lực đ6 bao hàm cả ý nghĩa về mức độ phù hợp về quy mô và tính hợp lý về cơ cấu của nhân lực Kiểm toán Nhà nước là cơ quan trong hệ thống thiết chế nhà nước, nhân lực của Kiểm toán Nhà nước được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ các chức danh, các ngạch công chức, viên chức khác nhau theo tính chất công việc được giao, phù hợp với các quy định pháp luật về cán bộ, công chức Tuy nhiên, do tính chất và đặc điểm hoạt động, nhân lực của Kiểm toán Nhà nước ngoài việc bổ nhiệm vào các chức danh, các ngạch theo quy định về công chức trong nền công vụ nói chung, ở mỗi nước còn xây dựng tiêu chuẩn và bổ nhiệm nhân lực vào một số chức danh, ngạch công chức mang tính đặc thù Bao gồm:
- Chức danh Kiểm toán viên nhà nước: Kiểm toán viên nhà nước là chức danh công chức chuyên môn trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và quản
lý tác nghiệp kiểm toán và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Chức danh này được cơ cấu bởi các ngạch Kiểm toán viên, Kiểm toán viên chính và Kiểm toán viên cao cấp theo trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thời gian công tác thực tế trong ngành Một số cơ quan Kiểm toán tối cao trên thế giới còn có thêm ngạch Kiểm toán viên dự bị, ngạch này thực hiện nhiệm vụ giúp việc cho Kiểm toán viên nhà nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ kiểm toán; công chức bổ nhiệm ngạch này gồm những người mới được tuyển dụng hoặc chưa đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm ngạch Kiểm toán viên nhà nước
- Chức danh chuyên viên: Chức danh chuyên viên là chức danh bổ nhiệm cho bộ phận nhân lực làm việc tại các cơ quan tham mưu, chức năng của Kiểm
Trang 24toán Nhà nước, tại các đơn vị Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực và các đơn vị tham mưu, chức năng của Kiểm toán Nhà nước Cơ cấu chức danh này gồm các ngạch công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức trong nền công vụ gồm các ngạch: Chuyên viên, Chuyên viên chính và Chuyên viên cao cấp
- Chức danh Kỹ thuật viên kiểm toán: Chức danh Kỹ thuật viên kiểm toán là chức danh chuyên môn được bổ nhiệm cho bộ phận nhân lực tuyển dụng từ các chuyên ngành đào tạo kỹ thuật (Xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, công nghệ, môi trường, v.v) Công chức thuộc chức danh này không thực hiện nhiệm vụ kiểm toán mà chỉ tư vấn chuyên môn theo chuyên ngành kỹ thuật
được đào tạo cho các Kiểm toán viên nhà nước khi kiểm toán các lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành do họ được phân công tư vấn Cơ cấu chức danh Kỹ thuật viên kiểm toán gồm các ngạch công chức hoặc bậc kỹ sư tuỳ theo quy
định về công chức, công vụ của từng nước
- Chức danh nghiên cứu viên, giảng viên: Các chức danh nghiên cứu viên
và giảng viên là chức danh công chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc cơ quan Kiểm toán Nhà nước, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu phát triển và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước Cơ cấu chức danh này gồm các ngạch tương đương các ngạch thuộc chức danh chuyên viên
Ngoài các chức danh công chức chủ yếu trên đây, trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước còn có các chức danh khác như phóng viên, biên dịch viên, cán
sự và tương đương, v.v thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ khác và làm công tác phục vụ tại cơ quan Kiểm toán Nhà nước và các đơn vị trực thuộc cơ quan Kiểm toán Nhà nước
Nhân lực của Kiểm toán Nhà nước tuỳ theo năng lực và vị trí công tác
được phân công đảm nhiệm được chia thành: Công chức l6nh đạo là công chức thực hiện nhiệm vụ chỉ huy điều hành các đơn vị, các tổ chức chuyên môn của
Trang 25Kiểm toán Nhà nước và công chức chuyên môn nghiệp vụ là bộ phận nhân lực trực tiếp thực thi nhiệm vụ kiểm toán, thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác để phục vụ hoạt động kiểm toán và cung cấp dịch vụ công cho hoạt động của Kiểm toán Nhà nước
Khác với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, nhân lực chỉ là một trong
3 yếu tố đầu vào gồm lao động, vốn và công nghệ quyết định các sản phẩm
đầu ra, trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước nhân lực là yếu tố đầu vào quan trọng nhất trực tiếp quyết định các sản phẩm đầu ra là các báo cáo kiểm toán, các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước với các đơn vị được kiểm toán và các cơ quan chức năng của Nhà nước, các yếu tố về vật chất khác chỉ mang tính
hỗ trợ cho hoạt động chuyên môn của người lao động Như vậy đối với Kiểm toán Nhà nước, nhân lực không chỉ là đơn thuần là khả năng lao động mà Kiểm toán Nhà nước cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài theo luật định mà còn là yếu
tố cơ bản, quyết định quyết định chất lượng các hoạt động và sản phẩm đầu ra của Kiểm toán Nhà nước
Chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước là mức độ đáp ứng nhu cầu
về quy mô, cơ cấu nhân lực Kiểm toán Nhà nước tuyển dụng và bổ nhiệm vào các chức danh, các ngạch công chức so với yêu cầu thực tế để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định Chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước phải bao gồm cả việc đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và đáp ứng các yêu cầu về đạo đức công vụ theo quy định đối với cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước Khác với các doanh nghiệp, chất lượng yếu
tố đầu ra là sản phẩm hàng hoá chịu sự ảnh hưởng quyết định bởi 3 yếu tố đầu vào là nhân lực, vốn và công nghệ, đối với hoạt động kiểm toán nhà nước yếu
tố đầu vào chủ yếu là nhân lực, các yếu tố vật chất khác chỉ mang tính hỗ trợ hoạt động chuyên môn Vì vậy, nhân tố quyết định chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm đầu ra của Kiểm toán Nhà nước không phải là các yếu tố vật
Trang 26chất mà chính là nhân lực Điều đó khẳng định nhân lực là yếu tố quyết định sản phẩm đầu ra của Kiểm toán Nhà nước là báo cáo kiểm toán, các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị được kiểm toán, các cơ quan chức năng của nhà nước, Chất lượng nhân lực là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng mang tính quyết định đến chất lượng hoạt động kiểm toán,
đến hiệu lực của các kiến nghị kiểm toán và hiệu quả hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước không chỉ là khả năng hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được quy định, mà còn bao hàm việc đạt được những tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp đ6 được chuẩn mực hoá để duy trì và củng cố tính độc lập, khách quan, chỉ tuân thủ pháp luật - Vốn là bản chất của hoạt động kiểm toán nhà nước
Từ những vấn đề lý luận về nhân lực và chất lượng nhân lực, có thể thấy chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước được quyết định những vấn đề cơ bản sau đây:
- Mức độ phù hợp về quy mô nhân lực của Kiểm toán Nhà nước;
- Mức độ phù hợp về cơ cấu nhân lực của Kiểm toán Nhà nước, bao gồm cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn được đào tạo, theo chuyên ngành
đào tạo, theo độ tuổi, theo giới tính, v.v;
- Tính hấp dẫn và hợp lý của các chính sách thu hút nhân lực, chính sách tuyển dụng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước;
- Tính hấp dẫn của nghề nghiệp kiểm toán và các chính sách đ6i ngộ, sử dụng nhân lực;
- Tính hợp lý của các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Giải quyết những vấn đề trên đây chính là nội dung quản lý nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Khi các vấn đề này được giải quyết một cách hợp lý,
đồng bộ cũng đồng thời với việc chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
đ6 được cải thiện và nâng cao
Trang 271.2.2 Các phương pháp đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước, là so sánh, phân tích khả năng, mức độ đáp ứng của nhân lực hiện có so với những yêu cầu đặt
ra từ thực tế công việc, tìm ra nguyên nhân hạn chế để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Khi đánh giá chất lượng nhân lực, cùng với việc so sánh, đưa ra nhận xét
về mức độ phù hợp theo từng chỉ tiêu cụ thể, phải tìm ra các nguyên nhân cụ thể làm cho chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước chưa cao (theo từng chỉ tiêu đánh giá) là căn cứ cơ sở để đề xuất các giải pháp khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước phải dựa trên quan điểm toàn diện, bao gồm: Đánh giá mức độ phù hợp về quy mô (toàn bộ) nhân lực; đánh giá mức độ phù hợp về cơ cấu (tỷ trọng) nhân lực theo những tiêu chuẩn cụ thể phù hợp với yêu cầu công việc thực tế; đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của từng loại nhân lực
(1) Đánh giá chất lượng nhân lực về quy mô (số lượng toàn bộ)
Mục tiêu đánh giá: So sánh số lượng nhân lực hiện có với số lượng nhân lực cần thiết (nhu cầu) để hoàn thành công việc thực tế theo chức năng, nhiệm
vụ của Kiểm toán Nhà nước do pháp luật quy định
Nội dung đánh giá theo 2 chỉ tiêu
- Mức độ đáp ứng về quy mô nhân lực theo số tuyệt đối:
- Tỷ lệ đáp ứng về quy mô nhân lực:
Mức độ đáp ứng
về quy mô nhân lực =
Quy mô nhân lực cần thiết
Trang 28- Căn cứ để đánh giá chất lượng nhân lực theo quy mô, bao gồm:
• Quy mô nhân lực hiện có căn cứ vào báo cáo tình hình nhân lực của cơ quan Kiểm toán Nhà nước ở thời điểm đánh giá;
• Quy mô nhân lực cần thiết, căn cứ vào các tài liệu liên quan quy
định về: Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước theo quy định của pháp luật; mô hình tổ chức bộ máy theo Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2010; các tài liệu nghiên cứu phát triển Kiểm toán Nhà nước; các chính sách phát triển nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
(2) Đánh giá chất lượng nhân lực theo mức độ đáp ứng về cơ cấu chuẩn Mục tiêu đánh giá: So sánh cơ cấu nhân lực hiện có với cơ cấu chuẩn về chất lượng nhân lực theo các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau
Nội dung đánh giá bao gồm việc so sánh theo các chỉ tiêu cụ thể sau:
• Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu chức danh công chức Phương pháp đánh giá: Tính toán, so sánh về số lượng và tỷ trọng nhân lực bổ nhiệm các chức danh công chức hiện có với chuẩn về cơ cấu nhân lực theo chức danh công chức (theo Bảng 1.1)
Bảng 1.1 - Đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu chức danh công chức
TT Chức danh công chức Số lượng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
01 Kiểm toán viên nhà nước
02 Kỹ thuật viên kiểm toán
Trang 29Bảng 1.2 - Đánh giá chất l−ợng nhân lực theo cơ cấu ngạch công chức
TT Ngạch công chức Số l−ợng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
01 Kiểm toán viên cao cấp
Bảng 1.3 - Đánh giá chất l−ợng nhân lực theo cơ cấu trình độ đào tạo
TT Trình độ đào tạo Số l−ợng
hiện có
Tỷ trọng (%)
Trang 30Bảng 1.4 - Đánh giá chất l−ợng nhân lực theo cơ cấu chuyên môn đào tạo (Tiêu chuẩn này chỉ đánh giá đối với nhân lực có trình độ đào tạo từ bậc
đại học trở nên)
TT Chuyên môn đào tạo Số l−ợng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
01 Kế toán - Kiểm toán
02 Tài chính - Tín dụng
03 Kinh tế - Quản trị kinh doanh
04 Luật - Luật kinh tế
Bảng 1.5 - Đánh giá chất l−ợng nhân lực theo cơ cấu độ tuổi
TT Độ tuổi của cán bộ, công chức Số l−ợng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
Bảng 1.6 - Đánh giá chất l−ợng nhân lực theo cơ cấu giới tính
Trang 31TT Giới tính Số lượng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
01 Nam
02 Nữ
Cộng
• Căn cứ đánh giá chất lượng nhân lực theo cơ cấu chuẩn:
- Cơ cấu nhân lực hiện có theo từng chỉ tiêu đánh giá căn cứ vào số liệu
về cơ cấu thực tế tại thời điểm đánh giá của cơ quan Kiểm toán Nhà nước;
- Chuẩn đánh giá cơ cấu nhân lực của Kiểm toán Nhà nước, xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật, các quy định hiện hành của Kiểm toán Nhà nước, các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đánh giá chất lượng nhân lực và chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
(3) Đánh giá chất lượng công chức chuyên môn theo thời gian làm việc thực tế theo chuyên môn đào tạo
Đặc thù hoạt động kiểm toán nhà nước đòi hỏi các công chức chuyên môn nghiệp vụ phải có kinh nghiệm thực tế theo chuyên môn được đào tạo
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước phụ thuộc vào thời gian làm việc thực tế, kỹ năng nghề nghiệp tích luỹ
được trong quá trình làm việc theo đúng với chuyên môn được đào tạo của người lao động
- Mục tiêu đánh giá: Xác định mức độ phù hợp giữa thời gian làm việc thực tế theo chuyên môn được đào tạo với chuẩn thời gian làm việc theo chuyên môn đào tạo
- Phương pháp đánh giá: Tính toán, so sánh về số lượng và tỷ trọng nhân lực theo thời gian làm việc thực tế theo chuyên môn đào tạo với chuẩn theo quy định của pháp luật hoặc của ngành (theo Bảng 1.7)
Bảng 1.7 - Đánh giá chất lượng nhân lực theo thời gian làm việc theo chuyên môn đào tạo
Trang 32TT Thời gian làm việc theo chuyên môn đào tạo Số lượng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
- Chuẩn đánh giá thời gian làm việc thực tế xây dựng trên cơ sở các quy
định của pháp luật, các quy định hiện hành của Kiểm toán Nhà nước, các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đánh giá chất lượng nhân lực và chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
(4) Đánh giá chất lượng nhân lực lãnh đạo, quản lý theo mức độ phù hợp về tiêu chuẩn đào tạo
Nhân lực l6nh đạo, quản lý của Kiểm toán Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, đặc biệt là đối với hoạt động kiểm toán Do vậy, đánh giá chất lượng loại nhân lực, là một nội dung quan trọng trong đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Mục tiêu đánh giá: Xác định mức độ phù hợp về trình độ và chuyên môn
đào tạo của đội ngũ cán bộ l6nh đạo, quản lý từ cấp vụ trở lên
Phương pháp đánh giá: Tính toán, so sánh trình độ đào tạo, chuyên môn
đào tạo và các tiêu chuẩn khác với chuẩn về tiêu chuẩn cán bộ l6nh đạo, quản
lý (Theo Bảng 1.8)
Bảng 1.8 - Đánh giá chất lượng nhân lực l6nh đạo, quản lý
Trang 33TT Tiêu chuẩn Số lượng hiện có Tỷ trọng (%) chuẩn (%) Cơ cấu Nhận xét
01 Trình độ đào tạo
- Trên đại học
- Đại học
02 Chuyên môn nghiệp vụ
- Kế toán - Kiểm toán
• Chuẩn đánh giá được xây dựng trên cơ sở:
+ Tiêu chuẩn quy hoạch cán bộ l6nh đạo, quản lý của Kiểm toán Nhà nước và các quy định của nhà nước về công chức l6nh đạo, quản lý trong nền công vụ;
+ Chính sách phát triển nhân lực, chính sách nâng cao chất lượng nhân lực l6nh đạo, quản lý của Kiểm toán Nhà nước; các tài liệu nghiên cứu phát triển nhân lực và phát triển Kiểm toán Nhà nước
Trang 34(5) Đánh giá chất lượng nhân lực theo chất lượng công tác của các loại nhân lực chủ yếu
- Nội dung đánh giá: Đánh giá chất lượng công tác của 4 loại nhân lực chủ yếu là cán bộ l6nh đạo, quản lý; Kiểm toán viên nhà nước; công chức thuộc các đơn vị tham mưu, chức năng; công chức, viên chức thuộc các đơn vị
sự nghiệp công của Kiểm toán Nhà nước
- Phương pháp đánh giá: Dùng phiếu điều tra để khảo sát chất lượng công tác của từng loại nhân lực (Mẫu phiếu điều tra theo Bảng 1.9)
• Để có được kết quả khảo sát tương đối chính xác, cần chọn đối tượng xin ý kiến có tâm huyết và am hiểu về nghề nghiệp bao gồm công chức chuyên môn, cán bộ quản lý các cấp, cán bộ công đoàn, các đoàn thể của Kiểm toán Nhà nước
• Để đảm bảo tính khách quan, các phiếu điều tra phải lấy được ý kiến của các loại nhân lực khác nhau (gồm đại diện của cả 4 loại nhân lực của Kiểm toán Nhà nước) Mỗi đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước chọn bình quân từ 5 đến 10 người để xin ý kiến (tổng số người xin ý kiến khoảng
100 đến 150 người, chiếm tỷ lệ từ 16% đến 20% tổng số nhân lực của Kiểm toán Nhà nước)
• Mức độ đáp ứng công việc thực tế của từng loại nhân lực được tổng hợp từ các phiếu điều tra và tính mức độ đáp ứng công việc bình quân theo từng loại nhân lực chủ yếu để so sánh với chuẩn đánh giá
• So sánh mức độ đáp ứng yêu cầu công việc thực tế (tổng hợp từ kết quả điều tra) với chuẩn đánh giá được áp dụng;
- Chuẩn đánh giá xây dựng căn cứ theo luật định hoặc sử dụng các chuẩn đánh giá đ6 được thừa nhận (sau khi điều chỉnh cho phù hợp với đặc
điểm nhân lực của Kiểm toán Nhà nước)
Bảng 1.9 - Phiếu điều tra mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của các loại nhân lực
Trang 35Phiếu điều tra Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của các loại nhân lực
Đề nghị ông (bà) cho biết ý kiến của mình về chất lượng công tác của 4 loại nhân lực chủ yếu của Kiểm toán Nhà nước:
1 Cán bộ lFnh đạo và quản lý (từ cấp vụ trở nên)
01 Đạt trên 75% so với yêu cầu công việc
02 Đạt từ 50% đến 75% so với yêu cầu công việc
03 Đạt dưới 50% so với yêu cầu công việc
2 Kiểm toán viên nhà nước
01 Đạt trên 75% so với yêu cầu công việc
02 Đạt từ 50% đến 75% so với yêu cầu công việc
03 Số dưới 50% so với yêu cầu công việc
3 Công chức làm việc tại các đơn vị tham mưu, chức năng
01 Đạt trên 75% so với yêu cầu công việc
02 Đạt từ 50% đến 75% so với yêu cầu công việc
03 Số dưới 50% so với yêu cầu công việc
4 Công chức, viên chức của các đơn vị sự nghiệp
01 Đạt trên 75% so với yêu cầu công việc
02 Đạt từ 50% đến 75% so với yêu cầu công việc
03 Số dưới 50% so với yêu cầu công việc
Trang 36(6) Lượng hoá các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước được lượng hoá theo thang điểm đánh giá cụ thể cho từng chỉ tiêu (theo Bảng 1.10): Bảng 1.10 - Lượng hoá các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhân lực
02 Mức độ đáp ứng nhu cấu về cơ cấu chức danh công chức 01- 11
03 Mức độ đáp ứng nhu cầu về cơ cấu ngạch công chức 01 - 10
08 Mức độ đáp ứng nhu cầu về thời gian làm việc theo chuyên
09 Mức độ đáp ứng nhu cầu về tiêu chuẩn đào tạo của cán bộ l6nh
12 Chất lượng công tác của công chức thuộc các đơn vị tham mưu,
13 Chất lượng công tác công chức viên chức thuộc các đơn vị sự
- Thang điểm cho từng tiêu chuẩn đánh giá căn cứ các kết quả nghiên cứu
về đánh giá chất lượng nhân lực đ6 được công bố, có tính đến những đặc thù
về nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
- Tổng hợp số điểm đạt được theo các chỉ tiêu chuẩn đánh giá để xếp loại chất lượng nhân lực theo các mức xếp loại (theo Bảng 1.11)
Trang 37Bảng 1.11 - Xếp loại chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
03 Loại C - Không đáp ứng được nhu cầu chất lượng nhân lực Dưới 50
Kết quả xếp loại chất lượng nhân lực chung và theo từng chỉ tiêu đánh giá là căn cứ để xác định nguyên nhân làm hạn chế chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
1.3 Các yếu tố quyết định, ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực của một tôe chức
Chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước chịu sự ảnh hưởng quyết
định bởi các yếu tố sau:
1.3.1 ảnh hưởng của nhân lực đầu vào đối với chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Nhân lực của các cơ quan, đơn vị và các tổ chức kinh tế phụ thuộc vào nguồn nhân lực do x6 hội cung cấp Do vậy, chất lượng nguồn nhân lực x6 hội
có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nhân lực của các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ có thể tuyển dụng nhân lực chất lượng cao từ các quốc gia khác
để đáp ứng yêu nhu cầu và cải thiện chất lượng nhân lực của mình Tuy nhiên, Kiểm toán Nhà nước là cơ quan trong hệ thống thiết chế nhà nước, theo quy
định của pháp luật về cán bộ, công chức một trong những tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ, công chức là phải có quốc tịch nước sở tại Điều này càng khẳng
định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực của quốc gia đối với chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Sự ảnh hưởng của yếu tố này thể hiện tên các mặt sau:
- Các chuẩn về giáo dục, đào tạo nhân lực của x6 hội; chất lượng đào tạo nhân lực của hệ thống giáo dục quốc dân có ảnh hưởng quyết định đến chất
Trang 38lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước Đối với các nước có hệ thống kiểm toán phát triển, trong hệ thống giáo dục quốc dân hình thành các trường (học viện) đào tạo theo chuyên ngành kiểm toán ở bậc đại học và trên đại học, nguồn nhân lực tuyển dụng vào cơ quan Kiểm toán Nhà nước về cơ bản đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cả về số lượng và cơ cấu ngành nghề Tuy nhiên, ở các nước có hệ thống kiểm toán mới hình thành như nước ta, nhân lực
do hệ thống giáo dục quốc dân cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, số lượng, cơ cấu chuyên môn, v.v do hầu hết các trường đại học, các học viện (thuộc khối các trường kinh tế) chỉ đào tạo những kiến thức chung, chưa có hệ thống giáo trình cũng như các chuyên ngành đào tạo riêng và hợp chuẩn về kiến thức kiểm toán nói chung và về kiến thức kiểm toán nhà nước nói riêng Sự bất cập đó càng thể hiện rõ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Do vậy, cung về nhân lực cho lĩnh vực hoạt động kiểm toán nhà nước chưa đáp ứng được cầu cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu theo các chuyên ngành hẹp để thực hiện chuyên môn hoá hoạt động kiểm toán nhà nước
- Nhân lực do x6 hội cung cấp đảm bảo các tiêu chuẩn cần thiết về thể chất, sức khoẻ, tâm lý, là điều kiện thuận lợi để Kiểm toán Nhà nước tuyển dụng nhân lực đầu vào theo các tiêu chuẩn nghề nghiệp, không chỉ về trình độ
đào tạo, chuyên ngành đào tạo mà còn đảm bảo các yêu cầu về thể chất, tâm
lý cần thiết theo đặc điểm và tính chất hoạt động nghề nghiệp, góp phần đảm bảo chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước ngay từ khâu tuyển dụng
- Những đặc điểm về văn hoá, tôn giáo, dân tộc và nền tảng giáo dục đạo
đức của x6 hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến đạo đức và văn hoá nghề nghiệp, một trong những tiêu chuẩn chất lượng nhân lực chủ yếu của Kiểm toán viên nhà nước nói chung và của cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước nói chung Nhân lực do x6 hội cung cấp giải quyết tốt được những yêu cầu về đạo đức, văn hoá phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và văn
Trang 39hoá ứng xử của công vụ và của Kiểm toán viên nhà nước là điều kiện thuận lợi, là cơ sở để duy trì các yếu tố này nhằm đảm bảo đồng bộ các tiêu chí về chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
1.3.2 ảnh hưởng của điều kiện và môi trường hoạt động kiểm toán
đến chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
(1) ảnh hưởng của điều kiện hoạt động kiểm toán: Kiểm toán nhà nước
là hoạt động kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của Nhà nước quá trình quản
lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước Để thực hiện hoạt động này, cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước phải thường xuyên làm việc lưu động trong phạm vi cả nước, tiến hành hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - x6 hội khác nhau Điều kiện hoạt động đó
ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước từ hai góc độ:
- Việc tiến hành kiểm tra, kiểm soát đối với nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - x6 hội, được điều chỉnh bằng các quy định pháp luật khác nhau đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe đối với cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước Họ không chỉ nắm vững kiến thức theo chuyên môn được đào tạo mà phải có hiểu biết cần thiết về nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - x6 hội có liên quan; phải cập nhật thường xuyên những thay đổi, điều chỉnh về chính sách phát triển kinh tế x6 hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, những yêu cầu đó nếu không được đáp ứng kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của Kiểm toán Nhà nước
- Do điều kiện phải thường xuyên hoạt động lưu động trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản, ảnh hưởng trực tiếp
đến việc duy trì và nâng cao chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Điều kiện hoạt động kiểm toán nhà nước không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước thông qua việc đặt ra các tiêu chuẩn
Trang 40chất lượng khắt khe, ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức trong thời gian làm việc lưu động, phân tán tại các đơn vị được kiểm toán
(2) ảnh hưởng của môi trường hoạt động kiểm toán: Hoạt động kiểm toán nhà nước là hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong môi trường kinh tế - tài chính Cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước thường xuyên tiếp xúc và làm việc với các đối tượng quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước Môi trường hoạt động đó luôn có sức cám dỗ rất lớn của các lợi ích
về vật chất và các đặc quyền, đặc lợi có ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức nghề nghiệp - Một trong những tiêu chuẩn chất lượng nhân lực quan trọng của Kiểm toán Nhà nước; đồng thời tác động tiêu cực, làm hạn chế tính độc lập, khách quan và trung thực của Kiểm toán viên nhà nước - Yếu tố quyết định chất lượng của hoạt động kiểm toán nhà nước Để hạn chế và đi đến ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường hoạt động, các cơ quan Kiểm toán tối cao trên thế giới đặc biệt quan tâm tới việc quản lý đạo đức hành nghề của Kiểm toán viên nhà nước bằng các quy chế, chuẩn mực đạo đức và thậm chí là các chế tài trong Luật về Kiểm toán nhà nước
1.3.3 ảnh hưởng của các tiêu chuẩn và quy trình tuyển dụng đến chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước
Nhân lực của Kiểm toán Nhà nước là công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ các chức danh công chức và làm việc lâu dài trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước, theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức trong nền công vụ Do vậy, công tác tuyển dụng nhân lực có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng nhân lực của Kiểm toán Nhà nước không chỉ trước mắt mà cả về lâu dài Chính vì vậy, ngoài các tiêu chuẩn chung về công chức do pháp luật quy định, Kiểm toán Nhà nước phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ, công chức dựa trên yêu cầu đặt ra từ hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, phù