1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện nam đàn tỉnh nghệ an

122 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì lý do đó, tác giả quyết định chọn đề tài "Một số giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An", với mong muốn được đóng góp phần công sức nhỏ bé c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan, luận văn là quá trình nghiên cứu độc lập Số liệu được nêu trong luận văn là chính xác và có trích nguồn Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập

Em xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo - Tiến sỹ Dương Mạnh Cường - Giảng viên Viện Quản lý Kinh tế - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ để em hoàn thành luận văn

Trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện Nam Đàn, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này

Tác giả luận văn

(Nguyễn Duy Thảo)

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU: 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH 6

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch và khai thác tiềm năng du lịch 6

1.1.1 Tổng quan về du lịch 6

1.1.2 Tiềm năng du lịch 8

1.1.3 Một số vấn đề cơ bản về khai thác tiềm năng du lịch 10

1.1.4 Sự cần thiết khai thác tiềm năng lịch 13

1.2 Các nội dung để khai thác tiềm năng du lịch 15

1.2.1 Điều tra, đánh giá và xác định mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch của địa phương 15

1.2.2 Phát huy vai trò, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương trong khai thác tiềm năng du lịch 16

1.2.3 Sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch 17

1.2.4 Tuyên truyền quảng bá và mở rộng thị trường du lịch 18

1.2.5 Bảo vệ tài nguyên du lịch 19

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng du lịch của địa phương.20 1.3.1 Nhân tố bên trong 20

1.3.2 Nhân tố bên ngoài 24

1.4 Kinh nghiệm của các địa phương và bài học thực tiễn từ khai thác tiềm năng du lịch 28

1.4.1 Kinh nghiệm khai thác của một số địa phương 28

1.4.2 Bài học thực tiễn từ khai thác tiềm năng du lịch 30

Tiểu kết chương 1: 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN 32

2.1 Tổng quan về tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn 32

Trang 6

2.1.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên 32

2.1.2 Tiềm năng du lịch lịch sử - văn hoá 36

2.1.3 Những kết quả đạt được trong khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn trong thời gian qua 43

2.2 Thực trạng khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn 45

2.2.1 Thực trạng công tác điều tra tiềm năng, đánh giá thực trạng và xác định mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch của địa phương 46

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về khai thác tiềm năng du lịch 48

2.2.3 Thực trạng công tác cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch 52

2.2.4 Thực trạng công tác tuyên truyền quảng bá và mở rộng thị trường du lịch 55

2.2.5 Thực trạng công tác bảo vệ tài nguyên du lịch 57

2.3 Các nhân tố tác động ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng du lịch của huyện 62

2.3.1 Tác động tích cực 62

2.3.2 Tác động tiêu cực 66

Tiểu kết chương 2: 70

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN 72

3.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn 72

3.1.1 Căn cứ xu hướng phát triển du lịch trong nước và quốc tế 72

3.1.2 Căn cứ định hướng, mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Nghệ An 73

3.1.3 Căn cứ phương hướng, mục tiêu và các giải pháp phát triển du lịch của huyện Nam Đàn đã xác định trong thời gian qua 75

3.2 Đề xuất phương hướng và các giải pháp khai thác tiềm năng du lịch huyện Nam Đàn trong thời gian tới 76

Trang 7

3.2.1 Phương hướng khai thác tiềm năng du lịch huyện Nam Đàn trong

thời gian tới 76

3.2.2 Các giải pháp khai thác tiềm năng du lịch huyện Nam Đàn trong thời gian tới 79

3 2.2.1 Thu hút, đào tạo, bồi dưỡngng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên hoạt động trong lĩnh vực du lịch 79

3.2 2.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch 81

3.2.2.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 91

3.2.2.4 Tăng cường tuyên truyền quảng bá, liên kết phát triển du lịch 97

2.2.2.5 Tăng cường các giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch 99

3.2.2.6 Sớm xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế thu hút đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn huyện 104

3.2.2.7 Quan tâm công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo an ninh trật tự, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, an toàn, văn minh 105

Tiểu kết chương 3: 105

KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc VHTT-TT Văn hóa Thông tin - Thể thao

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1 Bảng thống kê số lượng khách đến tham quan du lịch

2.2 Bảng thống kê tỷ lệ khách trong nước đến tham quan

du lịch tại Nam Đàn bình quân hàng năm 44 2.3 Bảng thống kê tỷ lệ khách quốc tế đến tham quan du

lịch tại Nam Đàn bình quân hàng năm

44

2.4 Bảng thống kê tổng thu nhập của các hộ kinh doanh

dịch vụ du lịch trên địa bàn xã Kim Liên từ năm 2006 đến năm 2013

45

2.5 Bảng tỷ trọng cơ cấu kinh tế của huyện từ năm 2009

2.6 Bảng thống kê tỷ lệ khách du lịch lưu trú trên địa bàn

huyện Nam Đàn so với tổng lượng khách du lịch đến tham quan Nam Đàn từ năm 2006 đến năm 2013

2.9 Bảng thống kê số lượng cán bộ của cơ quan Khu di tích

Kim Liên, từ năm 2010 - 2014

51

2.10 Bảng thống kê số di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn

huyện có người bảo vệ thường xuyên, từ năm 2010 -

Trang 10

2.13 Bảng tổng kinh phí đầu tư xây dựng, trùng tu các

DTLS trên địa bàn huyện Nam Đàn từ năm 2005 đến

3.3 Danh mục dự kiến chi phí đầu tư cho công tác tuyên

truyền quảng bá, liên kết để phát triển, khai thác tiềm năng du lịch của huyện Nam Đàn trong thời gian tới:

98

3.4 Đề xuất phân cấp quản lý các di tích đã được xếp hạng

trên địa bàn huyện trong thời gian tới

102

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH MINH HỌA

2.1 Quang cảnh Sông Lam, đoạn chảy qua Nam Đàn 34 2.2 Làng Sen quê nội Bác Hồ 37

2.4 Khu vực Đền thờ Vua Mai 38

2.6 Đình Trung Cần 39

2.8 Quang cảnh Lễ hội Đền Vua Mai 40

2.11 Mô hình Chùa Đại Tuệ 43

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại mà nhân loại đang bước vào cuộc cạnh tranh kinh tế, khoa học - công nghệ quyết liệt, quá trình hội nghập kinh tế thế gới, toàn cầu hóa sâu sắc; là thời đại mà nên kinh tế tri thức đang phát huy vai trò ở khắp các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội tại mọi quốc gia Kinh tế du lịch cũng không năm ngoài xu thế đó, nó đang được đầu tư phát triển một cách mạnh mẽ và thực sự đã trở thành “ngành công nghiệp không khói” mang lại nhiều lợi ích về kinh

tế, văn hóa - xã hội cho nhiều vùng, miền, nhiều nước trên thế gới

Là vùng đất thuộc hạ lưu Sông Lam (sông Cả), Nam Đàn nằm giữa hai dãy núi lớn là Đại Huệ (ở phía Bắc), Thiên Nhẫn (ở phía Nam), giữa có dòng sông Lam chảy qua theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chia Huyện thành hai vùng Tả ngạn và Hữu ngạn Sông Lam Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên và một phần huyện Nghi Lộc; phía Tây giáp huyện Thanh Chương; phía Bắc giáp huyện Đô Lương và một phần huyện Nghi Lộc; phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ (thuộc tỉnh Hà Tĩnh) Nam Đàn cách Thành phố Vinh khoảng 20Km, cánh Thị xã Cữa Lò khoảng 35 Km; trên địa bàn huyện có nhiều trục đường giao thông chạy qua như Quốc lộ 46 (nối Nam Đàn với Thành phố Vinh, đường Hồ Chí Minh và các huyện miền Tây Nghệ An), Quốc lộ 15A (nối Nam Đàn với tỉnh Hà Tĩnh), đường

du lịch ven Sông Lam (nối Nam Đàn với Cữa Lò, Cữa Hội)

Với diện tích tự nhiên là 129.389ha và dân số 159.433 người Sông núi trên địa bàn đã tạo ra một địa hình hết sức đa dạng, vừa có đồng bằng, vừa bán sơn địa

Thiên nhiên vốn ưu ái cho Nam Đàn một địa thế sơn thủy hữu tình với các dãy núi

Đại Huệ, Thiên Nhẫn, Hùng Sơn sừng sững ôm ấp, che chắn bảo vệ; nép bên các dãy núi là hệ thống gồm 40 hồ đập lớn, nhỏ với trữ lượng hơn 19 triệu m3; Nam Đàn còn có dòng Sông Lam thơ mộng, uốn mình bồi đắp phù sa, Sông Lam chảy qua địa phận Nam Đàn với chiều dài 16km, diện tích lưu vực là 23.000km2; do điều kiện địa hình với độ dốc vừa phải nên Sông Lam đoạn chảy qua Nam Đàn thường

Trang 13

có lưu lượng nước lớn quanh năm Nam Đàn còn là mảnh đất có bề dày lịch sử - văn hoá lâu đời, với hệ thống di tích phong phú và đa dang Hiện nay trên địa bàn huyện có 160 tích lịch sử văn hoá và số di tích đã được xếp hạng là 36 di tích, trong đó: 24 di tích cấp quốc gia (di tích Kim Liên được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt cấp quốc gia), 12 di tích cấp tỉnh

Những điều kiện trên, cho phép Nam Đàn phát triển kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là là một trong những thế mạnh đặc biệt Những

năm qua, Nam Đàn có nhiều cố gắng trong đầu tư phát triển du lịch và đã tạo nên những chuyển biến đáng ghi nhận, có đóng góp khá tích cực đối với phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương Song nhìn chung kinh tế du lịch của Nam Đàn vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, giá trị kinh tế mang lại còn thấp, phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với những tiềm năng sẵn có

Vì lý do đó, tác giả quyết định chọn đề tài "Một số giải pháp khai thác tiềm

năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An", với mong muốn được

đóng góp phần công sức nhỏ bé của mình để thúc đẩy và triển khai có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã nghiên cứu một số tài liệu có liên quan đến ngành du lịch của nhiều tác giả, như: Giáo trình kinh tế du lịch của tác giả Nguyễn Văn Đính - Trần Thị Minh Hòa, năm 2009, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân; Kinh tế du lịch của tác giả Nguyễn Hồng Giáp, năm 2002, Nhà xuất bản Trẻ; Du lịch và kinh doanh du lịch của tác giả Trần Nhạn, năm 1996, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Hà Nội; Kinh tế du lịch năm 1993 của tác giả Robert Lanqeue,

do Phạm Ngọc Uyển và Bùi Ngọc Chưởng dịch, Nhà xuất bản Thế giới Một số luận án tiến sỹ như: Luận án tiến sỹ của tác giả Hồ Đức Phớc "Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam”, năm 2009; Khai thác và

mở rộng thị trường du lịch quốc tế của doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội của tác giả Phạm Hồng Chưởng, năm 2003; Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng của tác giả Trần Tiến Dũng, năm 2006 ; Luận văn Thạc sỹ kinh tế

Trang 14

"Khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An" của tác giả Thái Thanh Quý, năm 2012 và một số công trình nghiên cứu khác

Tuy nhiên, các bài viết, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu trên một số khía cạnh tổng thể, chưa chú trọng đến việc khai thác tiềm năng du lịch và đặc biệt

có nhiều nội dung chưa thực sự phù hợp với địa bàn huyện Nam Đàn Vì vậy, để sát với tình hình thực tiễn của địa phương, chọn hướng nghiên cứu "Một số giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An" là một đòi hỏi thiết thực và hiệu quả nhất đối với tác giả

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn (Nghệ An)

- Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tiềm năng và giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trong phạm vi không gian địa giới hành chính của huyện Nam Đàn hiện nay

Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sâu trong khoảng thời gian

từ năm 2005 đến năm 2014

4 Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ tiềm năng du lịch, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn Từ đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất những giải pháp thiết thực để khai thác tiềm năng du lịch Nam Đàn có hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài

- Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu tổng quát: Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về du lịch, phát triển tiềm năng du lịch, xác định những thuận lợi, khó khăn để tìm ra phương hướng, giải pháp nhằm đưa du lịch Nam Đàn trở thành một trong những ngành kinh

tế mũi nhọn trong công cuộc CNH - HĐH quê hương

Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa được một số vấn đề về du lịch và tiềm năng

du lịch; đánh giá thực trạng tiềm năng du lịch, nguồn lực cho phát triển du lịch Nam

Trang 15

Đàn trong những năm qua Xác định phương hướng và đề xuất giải pháp cụ thể để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch tại huyện Nam Đàn trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy vật lịch sử nhằm đánh giá tiến trình lịch sử, quá trình phát triển và khai thác tiềm năng du lịch Luận văn cùng nghiên cứu và sử dụng phương pháp so sánh để đưa các chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong nước làm căn cứ ứng dụng vào phát triển du lịch của Nam Đàn Các phương pháp trừu tượng hóa, thống kê, điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng nhằm làm rõ vấn đề đang nghiên cứu Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu đối với những người nghiên cứu, nhà quản lý về lĩnh vực du lịch nhằm tìm ra những kinh nghiệm, nguyên nhân của tồn tại để đưa ra các giải pháp phù hợp và có hiệu quả trong việc phát triển và khai thác các tiềm năng du lịch ở Nam Đàn

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa được một số vấn đề về tiềm năng du lịch, xu hướng phát triển ngành du lịch

- Tổng kết được bài học kinh nghiệm về khai thác tiềm năng du lịch của một

số địa phương

- Phân tích, đánh giá được thực trạng tiềm năng và khai thác tiềm năng du lịch của Nam Đàn trong thời gian qua; đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm khai thác những tiềm năng cho việc phát triển du lịch của huyện trong thời gian tới

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận vắn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về khai thác tiềm năng du

lịch

Chương 2: Thực trạng khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Nam

Đàn

Trang 16

Chương 3: Phương hướng và giải pháp khai thác tiềm năng du lịch trên địa

bàn huyện Nam Đàn

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch và khai thác tiềm năng du lịch

Nội dung này tập trung nghiên cứu: Tổng quan về du lịch; Tiềm năng du lịch; Một số vấn đề cơ bản về khai thác tiềm năng du lịch; Sự cần thiết khai thác tiềm năng du lịch:

ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Người Nhật Bản cho rằng, ngành du lịch là "Công nghiệp tin tức" có thể phản ánh tình hình chính trị, nếp sống xã hội và sự thay đổi tài chính Người Anh đặc biệt nhấn mạnh sự giao lưu giữa người với người trong du lịch, coi trọng tiếp đãi nhiệt tình, nên gọi ngành du lịch là "Ngành tiếp đãi hữu hảo nhiệt tình" Người Nam Tư gọi ngành du lịch là "Hộ chiếu đi tới hòa bình thế giới"

Các học giả Mỹ, Mathieson và Wall cho rằng: "Du lịch là ngành nghề có hàng loạt mối liên quan lẫn nhau để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước Du lịch liên quan đến du khách, hình thức lữ hành, cung cấp ăn, ở, thiết bị và các vật

Trang 18

dụng khác, nó cấu thành một khái niệm tổng hợp không ngừng biến đổi theo thời gian và hoàn cảnh, một khái niệm đang hình thành và đang thống nhất"

Như vậy, các khai niệm về du lịch trên đây tuy không thật giống nhau, nhưng đều có hai chỗ tương đồng Thứ nhất, du lịch là là một ngành kinh tế có tính tổng hợp do hàng loạt ngành liên quan cùng tổ hợp thành; Thứ hai, nhiệm vụ của du lịch

là cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách Do đó, có thể hiểu: Du lịch là lĩnh vực kinh tế có tính tổng hợp lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm cần thiết và dịch vụ cho du khách, tạo điều kiện tiện lợi cho hoạt động du lịch của họ

ở Ai Cập cổ đại; ngoài ra còn có các thể loại du lịch như du lịch nghỉ ngơi và giải trí cho giới quý tộc; du lịch tôn giáo ở tầng lớp thường dân Ngoài ra, các dân tộc ở châu Á như người Trung Quốc, Ấn Độ từ xưa đã biết sử dụng nước khoáng để chữa bệnh, chính họ đã đặt nền tảng cho du lịch chữa bệnh phát triển [15; 8] Ở Hy Lạp cổ đại, ngoài các thể loại du lịch như trên, du lịch thể thao ở đây khá phát triển nhờ các hoạt động của Đại hội thể thao Olympic

+ Thời kỳ phong kiến (từ thế kỷ thứ V đến đầu thế kỷ XVII): Trong thời kỳ này, du lịch không có biểu hiện gì lớn, đặc biệt là vào đầu thời kỳ phong kiến (từ thế kỷ V đến thế kỳ XI)

Sau khi đế chế Tây La Mã sụp đổ, quân Mông Cổ ngự trị châu Âu Trong điều kiện phân chia lao động xã hội, rất khó phát triển du lịch Ở giai đoạn này, đạo Thiến chúa đã trở thành một lực lượng lớn mạnh ở châu Âu, nó hậu thuẫn mạnh mẽ cho các cuộc chiến tranh nên đã thay thế và trở thành tư tưởng thống soái; những cuộc thập tự chinh tôn giáo, hành hương về thánh địa Du lịch tôn giáo là loại hình chủ yếu trong giai đoạn này

Trang 19

Cuối chế độ phong kiến (cuối thế kỷ XVI đến những năm 40 của thế kỷ XVII) khi phương thức sản xuất phong kiến bị phân ra và dần thay vào đó là phương thức sản xuất tư bản, những điều kiện cho sự phát triển du lịch được mở rộng, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển nhất bấy giờ như Pháp, Anh

+ Thời kỳ cận đại: Với sự phát triển mạnh của kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng tích cực đối với phát triển du lịch Sự ra đời của đầu máy hơi nước là tiền đề quan trọng cho việc phát triển du lịch Nhiều phát minh và sáng chế quan trọng như

sự sáng chế ra ô tô, phương tiện truyền thông (điện tín, điện thoại) và cùng với sự phát triển của giao thông với các phương tiện vận chuyển hiện đại đã góp phần thúc

đẩy sự phát triển du lịch trong thời kỳ này

+ Thời kỳ hiện đại: Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong ngành giao thông vận tải đã mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển du lịch Số lượng người

đi đông hơn, nhanh hơn, tiết kiệm được thời gian nên hành trình xa hơn, đến nhiều nơi hơn Trong ba thập kỷ (từ những năm 50 đến những năm 80 của thế kỷ XX), nhất là sau chiến tranh thế giới thứ II cuộc cánh mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã đạt những tiến bộ vượt bậc, nó thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển mạnh mẽ

- Các loại hình du lịch:

Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa

Căn cứ theo vị trí địa lý: Du lịch miền núi, du lịch biển, du lịch vùng nông thôn và du lịch thành thị

Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh du lịch: Du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi - giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn hóa, du lịch công vụ, du lịch thương gia,

du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi và du lịch quá cảnh

Dựa vào hình thức tổ chức chuyến đi: Du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân Căn cứ vào phương tiện lưu trú: Du lịch ở khách sạn, du lịch ở làng quê, du lịch lều trại

Căn cứ vào thời gian du lịch: Du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày

1.1.2 Tiềm năng du lịch

- Quan niệm về tiềm năng du lịch:

Trang 20

Trong từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ thì "Tiềm năng" được định nghĩa

khả năng, năng lực tiềm tàng "Tiềm năng" trong tiếng Anh có các chữ: potential,

capacity, the inside power, potency tiềm năng là các tài nguyên, thế mạnh, năng lực còn ở dạng tiềm tàng hoặc chưa được khai thác, phám phá ra hết

"Du lịch" là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Trong ngành du lịch, đối tượng lao động là tài nguyên du lịch, còn dịch vụ du lịch được thể hiện như sản phẩm lao động Nét đặc trưng của ngành du lịch là sự trùng khớp về thời gian giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ dịch vụ du lịch

Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến cấu trúc và

chuyên môn hóa của vùng du lịch Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện

tự nhiên, các đối tượng văn hóa - lịch sử đã biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch

Xét về cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai loại: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân tạo (văn hóa và lịch sử) Các cấu thể tự nhiên chúng tồn tại một cách nguyên sinh cho đến trước khi được phát triển thành ngành du lịch Sau

đó, với sự phát triển của xã hội, con người trong xã hội có nhu cầu về nghỉ ngơi du lịch, sau khi nghiên cứu đánh giá và chuẩn bị cho khai thác, chúng được chuyển sang phạm trù tài nguyên du lịch Yếu tố quyết định trong việc chuyển các điều kiện

tự nhiên thành tài nguyên là chi phí lao động xã hội cho quá trình điều tra, nghiên cứu và đánh giá khả năng sử dụng trực tiếp của chúng trong du lịch Quá trình tương tự cũng xẩy ra khi chuyển các đối tượng văn hóa - lịch sử thành lớp tài nguyên du lịch, nó là sản phẩm lao động của nhiều thế hệ

Từ những luận cứ trên có thể hiểu: "Tiềm năng du lịch" là những điều kiện tự nhiên và di sản về lịch sử, văn hóa thuận lợi cho việc xây dựng những cơ sở du lịch

và các công trình xây dựng lớn và đẹp, những quần thể kiến trúc hiện đại

- Phân loại tiềm năng du lịch:

+ Tiềm năng du lịch tự nhiên: Tiềm năng du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên Đó là hình dạng bề mặt trái đất, thực vật và nguồn nước Ngoài ra đóng vai trò quan trọng của nhiều loại hình du lịch là khí hậu,

Trang 21

đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan đến trạng thái tâm lý - thể lực của con người đó là khí hậu sinh học Phong cảnh của khu vực càng đa dạng bao nhiêu, khí hậu càng thuận lợi bao nhiêu thì chất lượng của của khu vực dành cho du lịch và nghỉ ngơi càng tốt lên bấy nhiêu Phần lớn các địa điểm du lịch được xây dựng ở phong cảnh

tự nhiên, chỉ có một số trường hợp được xây dựng trong phong cảnh nhân tạo Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tiềm năng động, thực vật

+ Tiềm năng du lịch lịch sử văn hóa: Nhóm du lịch nhân văn chỉ chung những của cải vật chất và của cải tinh thần do loài người sáng tạo nên từ xưa đến nay, có thể thu hút mọi người tiến hành hoạt động du lịch Đây cũng là nguyên nhân khiến tiềm năng du lịch nhân tạo có những đặc điểm rất khác biệt so với nguồn tiềm năng du lịch tự nhiên Tiềm năng về lịch sử văn hóa rất đa dạng, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc, lễ hội, du lịch gắn với dân tộc học, các trung tâm nghiên cứu, văn hóa, thể thao, các trung tâm nghỉ dưỡng, mua sắm

1.1.3 Một số vấn đề cơ bản về khai thác tiềm năng du lịch

- Khái niệm về khai thác tiềm năng du lịch:

Bản thân tiềm năng du lịch là khả năng dưới dạng tài nguyên du lịch; nó không thể là sản phẩm du lịch, tức là một giá trị sử dụng cụ thể để có thể thỏa mãn nhu cầu của con người Tiềm năng du lịch là không có sức hấp dẫn, chỉ có tiềm năng du lịch hiện thực mới có thể thu hút du khách và phát triển ngành du lịch

Để có sản phẩm, dịch vụ du lịch phải biến khả năng thành hiện thực thông qua quá trình lao động sản xuất Nói như nhà kinh tế học cổ điển Anh W.Petter "lao động là cha, còn đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất"; còn Các - Mác lại mô tả những tiềm năng đang nằm mơ trong lòng xã hội và lao động sống phải làm thức dậy những tiềm năng đó Vì thế, muốn tiềm năng du lịch phát huy được lợi thế kinh

tế và lợi ích xã hội thì phải coi trọng việc khai thác và xây dựng tiềm năng du lịch

Khai thác tiềm năng du lịch là quá trình sử dụng các tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về các sản phẩm du lịch của con người Đó là các hoạt động tự giác có tổ chức từ khảo sát, thăm dò, quy hoạch sử dụng tài nguyên du

Trang 22

lịch, đến tổ chức sản xuất tạo ra các sản phẩm du lịch và phân phối sản phẩm đó cho tiêu dùng một cách có hiệu quả nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội và đảm bảo sản xuất không ngừng

Vì thế phải đặc biệt coi trọng khai thác và xây dựng tiềm năng du lịch Khai thác tiềm năng du lịch là giải pháp nâng cao nguồn tài nguyên du lịch và sức hấp dẫn của du lịch, làm cho các khu du lịch tiềm tàng chuyển thành du lịch hiện thực

- Yêu cầu đặt ra khi khai thác tiềm năng du lịch:

+ Một là, giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc tốt đẹp của dân tộc và địa phương Đây là vấn đề cốt yếu cho du lịch phát triển bền vững lâu dài, và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch Nguyên tắc này đưa ra khuyến nghị cho ngành du lịch cần phải: Trân trọng giá trị văn hóa, truyền thống và bản sắc của dân tộc và của địa phương đó; đảm bảo nhịp độ, quy mô và loại hình phát triển du lịch để bảo vệ tính đa dạng văn hóa bản địa; ngăn ngừa sự phá hủy đa dạng sinh thái thiên nhiên bằng cách áp dụng nguyên tắc phòng ngừa và tôn trọng sức chứa của mỗi vùng; giám sát chặt chẽ các hoạt động du lịch đối với động, thực vật; đa dạng hóa các hoạt động kinh tế - xã hội bằng cách lồng gép các hoạt động du lịch vào vào các hoạt động của cộng đồng dân cư địa phương; ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng chuyên môn phục vụ du lịch; khuyến khích các đặc tính riêng của vùng hơn là áp đặt các chuẩn mực đồng nhất; phát triển du lịch phù hợp với văn hóa địa bàn, phúc lợi xã hội và nhu cầu phát triển; đảm bảo quy mô và tiến độ

+ Hai là, khai thác, sử dụng tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn một cách

bền vững Nguyên tắc này đưa ra khuyến nghị cho ngành du lịch cần phải: Ngăn

chặn sự phá hoại tới các nguồn tài nguyên môi trường, thiên nhiên và con người; các hoạt động du lịch phải như là một lực lượng bảo tồn, phát triển và thực thi các chính sách thật hợp lý trên tất cả các lĩnh vực của du lịch; lắp đặt các hệ thống thích hợp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường nguồn nước và không khí; phát triển các phương thức vận chuyển khách bền vững; thực thi nguyên tắc phòng ngừa trong tất

cả các hoạt động du lịch; tôn trọng các nhu cầu, quyền lợi của người dân địa

Trang 23

phương; triển khai các hoạt động du lịch một cách có trách nhiệm và đạo đức; kiên quyết chống các loại hình du lịch tiêu cực

+ Ba là, giữ gìn, bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Để đảm bảo nguyên tắc này, ngành du lịch cần phải: khuyến khích việc giảm tiêu thụ không đúng đắn của du khách; ưu tiên sử dụng các nguồn lực của địa phương thích hợp và bền vững; chỉ nhập khẩu hàng hóa khi thực sự cần thiết; giảm rác thải và đảm bảo xử lý rác thải bằng công nghệ tiên tiến; có trách nhiệm phục hồi những tổn thất nảy sinh từ các dự án phát triển du lịch

+ Bốn là, khai thác tiềm năng du lịch phải góp phần nâng cao hiệu quả kinh

tế - xã hội của địa phương Nguyên tắc này khuyến nghị các nhà du lịch phải: đảm bảo các loại hình và quy mô du lịch thích hợp với điều kiện của địa phương; chống việc khai thác quá mức; hỗ trợ các địa phương có điểm tham quan bằng cách tối đa hóa việc lưu giữ doanh thu từ du lịch cho kinh tế của địa phương; đầu tư phát triển

cơ sở hạ tầng du lịch, mang lợi ích đến cho nhiều thành phần kinh tế khác; hoạt động du lịch phải trong giới hạn cho phép của sức chứa và hạ tầng cơ sở ở địa phương; tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế của địa phương phát triển

+ Năm là, cần câng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường du lịch Một khách du lịch có được một ấn tượng tốt đẹp về chuyến đi của họ không có nghĩa thứ tạo nên ấn tượng đó là vẻ đẹp thiên nhiên, sự sang trọng của khách sạn, nhà hàng, những món ăn ngon và những trò tiêu khiển, giải trí hấp dẫn,

mà còn là sự hài lòng, sự thỏa mãn sau một chuyến đi với những điều kiện dịch vụ tuyệt hảo, sự tận tình, chu đáo và thân thiện của những người phục vụ trong suốt cuộc hành trình

+ Sáu là, coi trọng công tác nghiên cứu khoa học trong du lịch Để thực hiện

có hiệu quả công tác này, khuyến nghị: Cần có sự hỗ trợ việc nghiên cứu, đánh giá trước khi thực hiện dự án và các biện pháp giám sát đánh giá tác động môi trường, kinh tế - xã hội; tiến hành hỗ trợ và nghiên cứu các biện pháp dự đoán ảnh hưởng

của du lịch, cũng như các giải pháp kỹ thuật khi giải quyết; tiến hành nghiên cứu sử

Trang 24

dụng các kỹ năng, kinh nghiệm và ý kiến của người dân địa phương; thông báo các kết quả nghiên cứu và thông tin tới các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm ra các quyết định về du lịch; phổ biến các kết quả nghiên cứu và điều tra tới các cơ quan,

cá nhân, địa phương làm công tác du lịch và cộng đồng dân cư có liên quan

1.1.4 Sự cần thiết khai thác tiềm năng lịch

- Do tiềm năng lợi thế về du lịch của địa phương chưa được khai thác hoặc khai thác chưa có hiệu quả:

Trong quá trình hình thành và phát triển của trái đất và loài người, đã tạo nên

sự đa dạng và phong phú về tài nguyên thiên nhiên và các bản sắc văn hóa dân tộc Các di sản thế giới được coi là tiềm năng lớn nhất và quan trọng nhất để phát triển

du lịch Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa vật thể là toàn bộ các sản phẩm vật chất hiện hữu được hình thành do bàn tay sáng tạo của con người, bao gồm: Hệ thống di tích lịch sử văn hóa, thể thống danh lam thắng cảnh, thể thống di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể gồm: sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn, lễ hội truyền thống, ý thức về y dược học, trang phục truyền thống

Ngoài các di sản văn hóa, mỗi vùng đều có nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa vô cùng phong phú Tuy nhiên, việc khai thác để phát triển du lịch mới chỉ phát triển ở một số nước, một số vùng Đối với Việt Nam, là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú Với hơn 40.000 di tích, danh thắng; trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, có 117 bảo tàng, nhiều bãi biển được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới [10;31] Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng du lịch của Việt Nam còn nhiều bất cập, nhiều tiềm năng chưa được khai thác hoặc khai thác mang tính tự phát và thể hiện nhiều hạn chế Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ; tình trạng chèo kéo khách, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sở giao thông thấp, dịch

Trang 25

vụ kém, trong khi đó công tác quản lý chưa đạt hiệu quả Vì những yếu kém so với các nước trong khu vực, nên ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác quá đáng các thắng cảnh thiên nhiên và xem đó như một điểm mạnh, thiếu định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch đầu tư bài bản cho du lịch

Trong thời gian gần đây, nhà nước ta đã đưa ra quy hoạch phát triển du lịch, trong đó khuyến khích các vùng kinh tế tăng cường khai thác tiềm năng du lịch của vùng theo hướng khai thác hiệu quả và phát triển bền vững

- Do nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng:

Thế giới bước vào nền kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ; nền kinh tế không ngừng phát triển, đời sống vật chất, văn hoá - xã hội ngày càng được nâng cao Cùng với đó là những mặt trái của

sự phát triển đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân khiến họ luôn thấy ngột ngạt, căng thẳng, ức chế, Để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống, thì du lịch

đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của con người

Theo số liệu của Tổ chức du lịch thế giới, năm 2002 lượng khách đi du lịch

là 716,6 triệu lượt, thu nhập 474 tỷ USD và năm 2010 là 1.006 triệu lượt, thu nhập

900 tỷ USD Nền kinh tế phát triển, các quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá tăng lên, càng thúc đẩy du lịch phát triển, đó là xu hướng phát triển chung trên thế giới và nước ta, cũng như các địa phương không nằm ngoài xu thế đó

- Do khai thác tiềm năng du lịch có vai trò quan trọng của đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương:

Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa…của đất nước nói chung và của một địa phương nói riêng Chính vì ý nghĩa to lớn như vậy, các quốc gia ở phạm vi

và mức độ khác nhau, đã tập trung đầu tư mọi nguồn lực cũng như ban hành các thể chế, chính sách liên quan nhằm nỗ lực, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành du lịch phát triển

Trang 26

Du lịch góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và tạo nhiều việc làm cho người lao động Cứ mỗi việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra hai việc làm cho các ngành khác Ngành du lịch cũng sử dụng lao động vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp sáu lần ngành công nghiệp sản xuất ô tô, gấp bốn lần ngành khai khoáng, gấp ba lần ngành tài chính… Dịch vụ cũng dóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế thông qua mua sắm của khách du lịch

1 2 Các nội dung để khai thác tiềm năng du lịch

Nội dung này tập trung nghiên cứu về: Điều tra, đánh giá và xác định mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch của địa phương; Phát huy vai trò, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương trong khai thác tiềm năng du lịch; Sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch; Tuyên truyền quảng bá và mở rộng thị trường du

lịch; bảo vệ tài nguyên du lịch:

1.2.1 Điều tra, đánh giá và xác định mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch của địa phương

- Điều tra tiềm năng du lịch:

Điều tra tiềm năng du lịch là chỗ dựa và là cơ sở để tiến hành đánh giá và đề

ra phương án quy hoạch khai thác đối với tài nguyên du lịch Điều tra tài nguyên du lịch có thể tiến hành hai giai đoạn, đó là giai đoạn chuẩn bị trong phòng và giai đoạn điều tra giã ngoại

Chuẩn bị trong phòng, là công việc trước tiên của điều tra giã ngoại, giai đoạn này chủ yếu là có sự hiểu khái quát và ấn tượng tổng thể với tài nguyên du lịch trong khu vực Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích sơ bộ đối với tài nguyên khu vực, xác định đâu là khu vực thông thường, đâu là khu vực trọng điểm, chỗ nào có thể không đi điều tra, chỗ nào phải đi điều tra tỷ mỷ

Khi tiến hành điều tra dã ngoại, cần kiểm chứng kết luận của người đi trước

và tiến thêm một bước điều tra tỷ mỷ cảnh và vật mà người trước chưa phát hiện

Để đảm bảo tính toàn diện và chuẩn xác của tư liệu, khi thăm dò đo đạc hiện trường

có thể sử dụng biện pháp kỹ thuật hiện đại – kỹ thuật đo đạc chính xác từ xa để thu thập và kiểm chứng tư liệu, khảo sát có trọng điểm, chủ yếu là thăm dò khảo sát

Trang 27

thực địa cẩn thận, tỷ mỷ đối với khu cảnh trọng điểm, bao gồm các nội dung tài nguyên du lịch, môi trường thiên nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hiện có, kỹ thuật công trình và bảo vệ môi trường…

- Đánh giá tiềm năng du lịch:

Trên cơ sở tư liệu điều tra, tiến hành phân tích mổ xẻ sâu đối với tài nguyên

du lịch và các điều kiện liên quan Hiện nay chủ yếu dùng rộng rãi nhất là hai phương pháp đánh giá, đó là đánh giá định tính và đánh giá định lượng Đánh giá định tính là sau khi điều tra, người điều tra căn cứ vào ấn tượng cảm quan và quan niệm giá trị để tiến hành miêu tả định tính đối với chất lượng tài nguyên du lịch Đánh giá định lượng là sự đánh giá sau khi tiến hành điều tra phân tích tỷ mỷ, sâu sắc và vận dụng phương pháp toán học để đo đạc, tính toán định lượng cụ thể đối với tài nguyên du lịch

- Xác định mục tiêu, kế hoạch, chiến lược khai thác tiềm năng du lịch:

Sau khi tiếp nhận hạng mục khai thác tài nguyên du lịch thì phải làm kế hoạch khai thác cụ thể Để lập kế hoạch khai thác tiềm năng du lịch, trước tiên tiến hành phân tích tính khả thi của hạng mục khai thác điều tra và đánh giá tài nguyên, phân tích cơ sở kinh tế xã hội khu vực, phân tích thị trường, dự toán đầu tư và hiệu quả lợi ích

Căn cứ mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch của Nhà nước để xác định mục tiêu, chiến lược khai thác du lịch cho phù hợp với địa phương mình Trên cơ sở đó, vạch ra phương châm, kế hoạch khai thác (xác định chủ đề khai thác, quyết định quy mô và phạm vi khai thác, quyết định bố cục khai thác và thứ tự khai thác) rồi vạch ra quy hoạch tổng thể bao gồm phương án khai thác và tổng kim ngạch đầu tư; bên cạch đó còn phải xác định công tác chuẩn bị hạng mục như chuẩn bị thi công, thu hút vốn, thiết kế bản vẽ , và sau cùng là chuẩn bị bắt tay xây dựng khai thác

1.2.2 Phát huy vai trò, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương trong khai thác tiềm năng du lịch

Sự phát triển của thị trường cần có vài trò điều tiết thích hợp của Chính phủ

và chính quyền địa phương để khai thác tiềm năng, phát huy lợi thế so sánh của mỗi

Trang 28

quốc gia, mỗi địa phương nhất định Chính sách và biện pháp để khai thác tiềm năng du lịch ở mỗi vùng, địa phương có tầm quan trọng đặc biệt

Khi nói đến vai trò của Nhà nước trong việc khai thác tiềm năng du lịch thì cũng cần thấy rằng, Nhà nước chỉ có vài trò là "bà đỡ", tạo cơ chế, chính sách năng động cho doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, hỗ trợ giảm chi phí sản xuất có điều kiện, tạo thuận lợi về cơ sở hạ tầng ; xác định được các bất lợi của địa phương để có biện pháp khắc phục

Vì vậy, vai trò quản lý của chính quyền địa phương trong khai thác tiềm năng du lịch cần được triển khai thực hiện đồng bộ trên các lĩnh vực: Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch; Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý và kinh doanh

du lịch; Đảm bảo công tác an ninh, trật tự trong hoạt động du lịch

1.2.3 Sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch

Trong bối cảnh hiện nay, lý thuyết mới về lợi thế cạnh tranh đã kết hợp với

lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các công ty với chuyên môn hóa theo ngành của địa phương và được Micheal Porter đưa ra trong mô hình về các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh được M.Porter mô tả dựa trên 4 yếu tố: Chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch, các ngành hỗ trợ phát triển du lịch, các điều kiện hoàn cảnh và điều kiện về cầu du lịch

Theo Porter, mặc dù có những đặc điểm khác nhau cũng như đặc thù của các quốc gia, nhưng tất cả các nền kinh tế cạnh tranh đều có một đặc điểm chung, đó là

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước Cạnh tranh tĩnh dựa vào lợi thế các yếu tố sản xuất có sẵn, trong khi mô hình cạnh tranh động chủ yếu dựa vào sự đổi mới và nâng cấp Lợi thế cạnh tranh động phải dựa trên tiềm năng du lịch động mà chiến lược và chính sách phát triển du lịch của địa phương cần hướng tới M.Porter cho rằng "ngày nay cánh duy nhất để có một lợi thế là thông qua sự đổi mới và nâng cấp" Vì vậy cần thiết phải tạo ra một môi trường kinh doanh tốt nhất cho các doanh nghiệp du lịch trong vùng Các doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi khi tham gia vào dây chuyền và khi có quan hệ chặt chẽ với các ngành liên quan

Trang 29

Các điều kiện về cầu du lịch luôn gây áp lực đối với các đoanh nghiệp du lịch, buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Cầu trên thị trường nội địa vùng càng lớn thì sẽ khuyến khích tăng tối đa kinh tế theo quy mô Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường ngày càng tăng cùng với sự đa dạng về nhu cầu của du khách tạo áp lực cho các doanh nhiệp trong vùng buộc các doanh nghiệp này phải đổi mới nhanh chóng đáp ứng nhu cầu thị trường Khi cạnh tranh càng được địa phương hóa thì các doanh nghiệp càng cảm nhận được sự cạnh tranh càng trực tiếp hơn, và kết quả hoạt động của họ càng cao hơn

Do đó, sản xuất và cung ứng sản phẩm du lịch cần được thực hiện đồng bộ trên các lĩnh vực sau: Sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa lưu niệm; Sản xuất, cung ứng dịch vụ sản phẩm văn hóa ẩm thực; Sản xuất, cung ứng dịch vụ sản phẩm văn hóa tinh thần; Sản xuất, cung ứng dịch vụ lưu trú; Cung ứng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; Cung ứng các dịch vụ tài chính ngân hàng

1.2.4 Tuyên truyền quảng bá và mở rộng thị trường du lịch

Để thu hút được nguồn khách, những nhà kinh doanh du lịch bao gồm cả Nhà nước, địa phương hay doanh nghiệp du lịch đều phải dùng nhiều biện pháp để cạnh tranh trên thị trường du lịch Kinh nghiệm thực tế cho thấy, một trong những biện pháp quan trọng nhất mà Nhà nước, các địa phương, các doanh nghiệp du lịch cần thực hiện đó là tiến hành thường xuyên công tác tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch, giới thiệu hình ảnh của đất nước, con người, quê hương với những nét độc đáo, đặc sắc và hấp dẫn, để tạo ra sức thu hút khách du lịch, mở rộng và chiếm

lĩnh thị trường

Muốn khách du lịch biết đến địa phương mình, thì cần phải có dịch vụ du lịch tốt Hay để khách du lịch biết được dịch vụ du lịch của địa phương mình có tốt hay không tốt, thì phải thông qua tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến, đây không chỉ là một hình thức thu hút khách đến sử dụng hàng hóa mà còn là thu hút khách đến sử dụng và tiêu dùng dịch vụ Vì đặc điểm này, mà du lịch cần thiết có nhiều loại phương tiện tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến khác nhau, để thể hiện các

Trang 30

dịch vụ hàng hóa thông qua các hình thức nghe, nhìn, đọc và cảm quan sẽ thu hút

và kích thích nhu cầu về du lịch của con người

Để công tác tuyên truyền quảng bá hoạt động du lịch có hiệu quả cần được

tiến hành rộng rãi trên các kênh chủ yếu sau: Tuyên truyền quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tuyên truyền quảng bá thông qua liên kết du lịch với các địa phương liên quan; Tuyên truyền quảng bá cho cán bộ và nhân dân trong địa phương

1.2.5 Bảo vệ tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cơ sở phát triển ngành du lịch Việc bảo vệ tài nguyên

du lịch được nêu ra song song với khai thác tài nguyên du lịch, nó không những chỉ bao gồm bảo vệ chính du lịch mà còn đụng chạm tới bảo vệ môi trường xung quanh Hiện nay, song song với việc ra sức khai thác tài nguyên du lịch, các nước trên thế giới đều hầu hết coi trọng vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch và coi nó là bảo đảm cơ bản có duy trì được sự phát triển của ngành du lịch hay không Khai thác và lợi dụng một cách thích hợp có thể mang lại hạnh phúc cho muôn đời con cháu, ngược lại nếu lợi dung khai thác và quản lý không thỏa đáng cũng dễ gây nên phá hoại không phục hồi được Vì thế, cùng với việc khai thác tài nguyên du lịch phải cần xét tới bảo vệ tài nguyên du lịch, đây là vấn đề vừa liên quan với nhau vừa ràng buộc lẫn nhau

Nhân tố phá hoại và làm tồn hại tài nguyên du lịch cùng môi trường xung quanh gồm nhiều mặt, thường là do nhân tố thiên nhiên và nhân tố con người Do

đó, đối với sự nguy hại do nhân tố thiên nhiên gây nên thì chủ yếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết để phòng ngừa Đối với sự nguy hại do con người mang lại cần tăng cường công tác quy hoạch, đánh giá đầy đủ ảnh hưởng mang tính phá hoại đối với tài nguyên du lịch, các văn vật quan trọng và động thực vật quý hiếm phải lắp đặt thiết bị cách ly, tránh sự tác động trực tiếp của du khách; tăng cường tuyên truyền đến mọi người dân và du khách bằng nhiều cách, đặt ra pháp luật hoặc các quy định cần thiết để ràng buộc

Trang 31

Việc bảo vệ tài nguyên du lịch phải được thực hiện đồng bộ giữa bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên với bảo vệ tài nguyên du lịch lịch sử văn hóa

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng du lịch của địa phương

1.3.1 Nhân tố bên trong

Nhân tố này bao gồm: Hạ tầng kỹ thuật; Văn hóa kinh doanh; Trình độ tổ

chức, quản lý; Hệ thống mạng lưới du lịch; An ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội:

- Hạ tầng kỹ thuật:

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng

hàng đầu: Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điều

này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội Giao thông thuận lợi sẽ giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch

cho du khách

Thông tin liên lạc cũng là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ

du lịch: Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và

quốc tế Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế

Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống,

ở, đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường

Cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú: Chúng đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của

con người (ăn và ngủ) khi sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Các cơ sở

Trang 32

lưu trú được phân chia thành nhiều loại: Cơ sở lưu trú xã hội, chủ yếu đón nhận khách du lịch trong nước vì mức độ tiện nghi và chất lượng phục vụ ở mức độ trung bình Các khách sạn du lịch lớn gồm nhiều loại, như khách sạn phục vụ các thương gia hay khách du lịch quốc tế (từ 3 đến 5 sao) Ngoài các cơ sở ăn uống, lưu trú trên, trong thành phần của chúng còn bao gồm cả hệ thống nhà kho, nhà bảo quản, nhà bếp, trang thiết bị và trang trí nội thất phải được bố trí hợp lý, tạo được bầu không khí thoải mái, dễ chịu cho du khách Ngoài ra các cơ sở này còn là nơi vui chơi giải trí cho họ, vì vậy chúng còn có thể có hệ thống công trình trang thiết bị phục vụ vui chơi giải trí khác

Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: Mục đích của chúng là đáp ứng nhu cầu

về hàng hoá của khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho khách du lịch, hàng thành phẩm và các hàng hoá khác Cơ sở vật chất kỹ thuật này bao gồm 2 phần: một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, chúng phục vụ khách du lịch là chủ yếu; phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương với nhiệm vụ phục

vụ nhân dân địa phương, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc phục

vụ khách du lịch

Cơ sở thể thao: Chúng có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của khách du lịch, làm cho nó trở nên tích cực hơn Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng thể thao hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại Ngày nay, công trình cơ sở thể thao là một

bộ phận không thể thiếu ở các trung tâm du lịch Chúng làm tăng hiệu quả sử dụng của khách sạn, … và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch

Cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ

bổ sung tại các điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm các trung tâm chữa bệnh, các phòng y tế Các cơ sở y tế luôn luôn gắn liền với các cơ sở thể thao

và có thể được bố trí trong khách sạn

Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hoá phục vụ du lịch: Các công trình này nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hoá - xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành

Trang 33

tựu văn hoá của các dân tộc, địa phương Chúng có thể được bố trí trong khách sạn hoặc hoạt động độc lập tại các trung tâm du lịch Các công trình này có ý nghĩa thứ yếu đối với quá trình phục vụ du lịch, nhưng chúng giúp cho khách du lịch sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, làm cho họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình tại khu du lịch

Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác: Trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, xưởng sửa chữa, phòng rửa tráng phim ảnh, bưu điện… Nhìn chung, các công trình này được xây dựng chủ yếu phục vụ nhân dân địa phương, còn đối với khách du lịch nó chỉ có vai trò thứ yếu Nhưng tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệ thống dịch vụ du lịch

- Văn hóa kinh doanh du lịch:

Trong một địa phương, doanh nghiệp, là một tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa… chính sự khác nhau này tạo ra một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp Bên cạnh đó, với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh

tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các địa phương, doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế Điều này đòi hỏi các địa phương và doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của tất cả mọi người vào việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức, đó là văn hóa kinh doanh du lịch Thông qua hình ảnh văn hóa kinh doanh du lịch sẽ góp phần quảng bá thương hiệu, là tài sản vô hình của mỗi địa phương, doanh nghiệp trong phát triển du lịch

- Trình độ tổ chức, quản lý du lịch:

Ngoài các yếu tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội, du lịch không thể phát triển khi chỉ dựa trên tiềm năng du lịch dồi dào, phong phú mà còn phụ thuộc vào trình

độ tổ chức quản lý của chính quyền địa phương Các chính sách quản lý du lịch phải

có tính phù hợp, phải tạo được bầu không khí du lịch lành mạnh, an toàn cho du khách

Trang 34

Tại các nước đang phát triển, nền kinh tế đang ở trình độ thấp, thời gian qua phát triển "du lịch đại chúng", "du lịch bình dân" là chủ yếu Vì vậy, nếu không có

sự quy hoạch tổng thể, có thể dẫn đến đầu tư giàn trải, nhỏ lẻ, chất lượng thấp Trong quá trình thực hiện, việc quản lý, kiểm tra, giám sát bị buông lỏng thì dẫn tới

sự phát triển du lịch không bền vững làm khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến phát triển lâu dài Vấn đề đặt ra là, nhận thức về khả năng, điều kiện phát triển du lịch của địa phương mình như thế nào cho đúng, từ đó định hướng, có cơ chế chính sách phù hợp Đầu tư cài gì? ở đâu? làm sao thu hút du khách ngày càng nhiều? là một bài toán khó, nhiều ẩn số, cần bình tĩnh và sáng suốt để tìm ra lời giải; không nên nóng vội nhưng cũng không được thụ động, chần chừ, do dự làm mất đi những cơ hội tốt

- Hệ thống mạng lưới du lịch:

Mạng lưới du lịch của địa phương, doanh nghiệp được tổ chức, quản lý và điều hành một cách hợp lý nó sẽ là một phương tiện phân phối có hiệu quả để tiếp cận khách hàng Địa phương, doanh nghiệp thu hút khách hàng bằng cách chinh phục bởi các dịch vụ du lịch hợp lý nhất như: mua bán, thanh toán, vận chuyển, đi lại, ăn, nghỉ, chăm sóc sức khỏe Muốn vậy yêu cầu mỗi địa phương, đơn vị phải chủ động xây dựng và liên kết với các địa phương, đơn vị khác để hình thành một mạng lưới du lịch hoàn chỉnh, thuận lợi nhất cho khách hàng

- An ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội:

Sự phối hợp chặt chẽ giữ quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cũng như các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực lỳ quan trọng Đảm bảo về quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước, địa phương và du khách đến tham quan

Các doanh nghiệp lữ hành chỉ có thể phát triển được hoạt động kinh doanh

du lich nội địa và kinh doanh du lịch quốc tế khi mà các điều kiện chính trị, luật pháp của nơi đến du lịch cho phép Điều kiện chính trị và pháp luật một mặt tạo ra

sự nhận thức thống nhất trong xã hội để có sự phối hợp đồng bộ, thống nhất trong hành động, định hường cho kinh doanh lữ hành, làm tăng hiệu quả và làm giảm bớt

Trang 35

các rủi ro trong kinh doanh do yếu tố chính trị gây ra; mặt khác nó quyết định tới việc bảo đảm tính tiện lợi, an toàn trong kỳ vọng của khách khi tiêu dùng chương trình du lịch trọn gói

Du lịch đòi hỏi sự giao lưu, đi lại của du khách giữa các vùng, các quốc gia với nhau Do đó bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế Ngược lại, một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch, gây nên nối hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách; những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược làm hủy hoại tài nguyên du lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc

1.3.2 Nhân tố bên ngoài

Nhân tố này bao gồm: Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô:

- Môi trường vĩ mô:

Bao gồm: Kinh tế, Pháp luật, Văn hóa - xã hội, Nhân khẩu, Công nghệ, Điều kiện tự nhiên:

+ Kinh tế: Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến kinh doanh du lịch Chẳng hạn như lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng tới

xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động của các doanh nghiệp Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do vậy cũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế, khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lại, thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị đình trệ

Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc thuộc Hội đồng Kinh

tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho

du lịch Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hóa nhất cho du lịch

Trang 36

+ Pháp luật: Các yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp du lịch, bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Luật pháp đưa ra những quy định cho phép hoặc không cho phép, hoặc những ràng buộc đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp, chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định ngăn cấm, hạn chế, vừa đóng vai trò là khách hàng quan trọng đối với các doanh nghiệp và sau cùng chính phủ cũng đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp: cung cấp các thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác Một chính phủ mạnh và sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội sẽ đem lại lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Chính sự can thiệp nhiều hay ít của chính phủ vào nền kinh tế đã tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau cho từng doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp kinh doanh du lịch

+ Văn hóa- xã hội: Sự tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, nhiều lúc khó nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến các họat động kinh doanh du lịch như: những quan niệm về đạo đức, thẩm

mỹ, lối sống, về nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội Thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, vì ngay cả trong trường hợp hàng hóa thực sự có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họ chấp nhận Đạo đức có thể coi như một nhu cầu xã hội và vì vậy bất kỳ một thể chế, loại hình kinh tế nào cũng phải xây dựng một khuôn khổ đạo đức để làm một trong những nguyên tắc điều hành

Trang 37

+ Nhân khẩu: Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh của ngành du lịch Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực, đội ngũ lao động có trình độ, sức khỏe tốt, giá nhân công rẻ là tiền đề để đảm bảo thành công cho doanh nghiệp du lịch; nguồn nhân lực có tác động mạnh đến khả năng đạt được mục tiêu của doanh nghiệp

+ Công nghệ: Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều

cơ hội cũng như đe dọa đối với các doanh nghiệp Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ có thể là: sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các địa phương, doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm

áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao so với trước Ít có ngành công nghiệp và

doanh nghiệp nào mà lại không phụ thuộc vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại

+ Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai, sông, biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường nước, không khí, Tác động của các điều kiệu tự nhiên đối với các quyết sách trong kinh doanh từ lâu đã được các doanh nghiệp thừa nhận Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện

tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ

- Môi trường vi mô:

Bao gồm: Đối thủ cạnh tranh; Nhà cung cấp dịch vụ du lịch; Khách hàng; Các sản phẩm thay thế sản phẩm du lịch:

+ Đối thủ cạnh tranh: Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các địa phương, doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành

Trang 38

Quá trình cạnh tranh không ổn định, cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể thông qua

Sự hiểu biết mục đích của đối thủ cạnh tranh giúp địa phương, doanh nghiệp đoán biết được: mức độ mà đối thủ cạnh tranh bằng lòng với kết quả tài chính và vị trí hiện tại của họ; khả năng đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược; sức mạnh phản ứng của đối thủ trước những diễn biến bên ngoài; tính chất hệ trọng của các sáng

kiến mà đối thủ cạnh tranh đề ra; khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễn biến của các tiến bộ công nghệ, lạm phát và sự can thiệp mạnh của Chính phủ; những nhận định của đối thủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành, nếu như các nhận định này không chính xác thì chúng sẽ tạo ra các

"điểm mù", tức là điểm yếu của đối phương

Các địa phương, doanh nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnh tranh, các ưu, nhược, điểm của họ trong các lĩnh vực hoạt động sau: Các loại sản phẩm; hệ thống phân phối; Marketing và bán hàng; các hoạt động tác nghiệp/sản xuất; nghiên cứu và thiết kế công nghệ; giá thành sản phẩm; tiềm lực tài chính; tổ chức; năng lực quản lý chung; nguồn nhân lực để có giải pháp ứng phó kịp thời và phù hợp

+ Nhà cung cấp dịch vụ du lịch: Các địa phương, doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau, như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính

+ Khách hàng: Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của địa phương, doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh

+ Các sản phẩm thay thế sản phẩm du lịch: Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Vì vậy, các địa phương, doanh nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn Phần lớn sản phẩm thay thế

Trang 39

mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ Muốn đạt được thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực thích hợp để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình

1.4 Kinh nghiệm của các địa phương và bài học thực tiễn từ khai thác tiềm năng du lịch

Bao gồm: Kinh nghiệm khai thác của một số địa phương có nét phát triển du lịch tương đồng và rút ra bài học thực tiễn từ khai thác tiềm năng du lịch:

1.4.1 Kinh nghiệm khai thác của một số địa phương

- Kinh nghiệm của Thành phố Huế - Thừa Thiên Huế:

Huế là thành phố du lịch nổi tiếng với hai di sản văn hóa nhân loại là quần thể Di tích Cố Đô và nhã nhạc Cung đình Nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hóa như Đại Nội, Lăng Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định, Gia Long; Chùa Thiên Mụ, Văn Miếu, Trường Quốc Học Ngoài các di tích trên, đến Huế du khách còn được chiêm ngưỡng các thắng cảnh tuyệt đẹp như sông Hương, núi Ngự, bãi biển Thuận

An, Lăng Cô, phá Tam Giang, Chùa Huế, nhà vườn Huế… Cứ 2 năm một lần, Huế lại tổ chức một kỳ Festival thu hút hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước tham gia Năm 2013, Huế đã đón gần 2,6 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt gần 930.000 lượt Doanh thu du lịch đạt gần 2.500 tỷ đồng

Tuy nhiên, một điểm mạnh khác của Huế là du lịch văn hóa tâm linh nhưng vẫn chưa phát triển mạnh Khi mà việc thăm thú các di tích gần như bão hòa nhu cầu, người làm du lịch cần tìm những sản phẩm mới Chẳng hạn những lăng nhỏ nhưng rất giá trị như lăng vua Duy Tân, Thiệu Trị, điện Voi Ré, Hổ Quyền…nếu khai thác sẽ rất thu hút khách Du lịch Huế ban đêm cũng luôn bị “phàn nàn” là thiếu sản phẩm Ngoài ca Huế trên sông Hương, ít có những chương trình vui chơi, thưởng thức văn hóa đêm Du khách đến Huế cũng rất ngạc nhiên vì sao một thành phố du lịch mà người dân thường đi ngủ quá sớm? Nhiều du khách lần đầu đến Cố

đô muốn du ngoạn khắp kinh thành và thưởng thức các món ẩm thực Huế về đêm nhưng đều thất vọng Các khu phố ẩm thực chỉ nhộn nhịp vào các dịp Festival còn các ngày bình thường trở nên vắng vẻ Chợ quê ngày hội diễn ra tại Cầu ngói Thanh

Trang 40

Toàn chỉ tấp nập, phong phú trong các ngày lễ, các ngày còn lại vắng vẻ, thưa thớt, một số các loại đặc sản địa phương chế biến không bảo đảm vệ sinh phần nào đã

có ảnh hưởng không tốt tới hoạt động du lịch của Huế

- Kinh nghiệm của Thành phố Hội An - Quảng Nam:

Đã từ lâu, du khách trong và ngoài nước biết đến Hội An, di sản văn hóa thế giới là một điểm đến vô cùng hấp dẫn Và cũng bởi nét văn hóa được người dân Hội

An lưu giữ hàng trăm năm qua, nên tình trạng bu bám, chèo kéo khách, ép giá du khách thường thấy tại các khu du lịch khác thì rất ít xẩy ra tại Hội An Các ưu điểm đó đã góp phần giúp môi trường du lịch tại Hội An lành mạnh, tạo điểm nhấn

rõ rệt trong du lịch, góp phần thu hút du khách Mặt khác, việc thay đổi tư tưởng kinh doanh “ăn xổi ở thì” trong một bộ phận các cơ sở kinh doanh nói riêng cũng như trong du lịch Hội An nói chung sẽ là bước tiến gần hơn tới du lịch trách nhiệm,

du lịch bền vững có lợi cho môi trường và xã hội Trong hơn 5 năm qua, chính quyền Hội An đã có nhiều văn bản, nhiều biện pháp quy định việc kinh doanh, buôn bán trong khu phố cổ như các tiêu chí về bảng hiệu, quy tắc ứng xử, chất lượng sản phẩm, niêm yết giá…Tuy nhiên, song hành với việc chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh, thì các biện pháp trong bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết tận gốc vấn nạn ô nhiễm môi trường, việc kết hợp với các biện pháp bảo vệ môi trường du lịch với việc xây dựng ý thức bảo tồn, ý thức gìn giữ phố cổ đã hàng trăm năm tuổi đang xuống cấp theo thời gian; xây dựng ý thức, tuyên truyền bảo vệ môi sinh nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại các nhà hàng, các khu vực dân cư, các bến nước; việc mở các Tuar du lịch kết hợp như Tuar đường mòn Hồ Chí Minh - Nam Giang; du lịch tại Biển Rạng - Chu Lai; du lịch tại suối nước nóng Phú Ninh; du lịch cộng đồng tại các địa phương miền núi như làng Bơ Hoong (Đông Giang); làng Zara và thác Grang (huyện Nam Giang); làng Trà Nhiêu (Duy Xuyên); khai trương các mô hình lưu trú nhà dân (homestay) ở Mỹ Sơn; sản phẩm lưu trú trên tàu sông Thu Bồn và Cù Lao Chàm chưa được quan tâm đúng mức đã có tác động thiếu tích cực đối với việc phát triển du lịch của Hội An

Ngày đăng: 27/02/2021, 16:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w