1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hoàn thiện quản lý công nghệ công ty nhiệt điện phú mỹ

105 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với quy mô và tầm quan trọng của Công ty trong việc ổn định hệ thống điện Quốc gia và nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của các Nhà máy Nhiệt điện Tua bin khí tại Công ty Nhiệt đi

Trang 1

PH ẠM THỊ NGỌC DUNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀO CHÍNH TẠI CÔNG TY

CAO SU 75

LUẬN VĂN THẠC SỸ CAO HỌC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Bùi Xuân Hồi

Hà Nội - 2008

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tình hình kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì ngành SX và cung cấp điện cần phải đi trước một bước Việc cung cấp đủ điện cho sinh hoạt và sản xuất sẽ có tác động tích cực đến quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, đến sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước

Công ty nhiệt điện Phú mỹ với chức năng chính là sản xuất và cung cấp điện năng trong những năm qua đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc ổn định của hệ thống điện quốc gia Hiện công ty đang quản lý vận hành một cụm 04 nhà máy phát điện gồm 13 tổ máy với tổng công suất 2,485 MW Với quy mô và tầm quan trọng của Công ty trong việc ổn định hệ thống điện Quốc gia và nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của các Nhà máy Nhiệt điện Tua bin khí tại Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ là lý do tôi chọn đề tài: “Một

số giải pháp nâng cao quản lý công nghệ nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp tại công ty Nhiệt điện Phú Mỹ”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng quản lý sản xuất của công ty Nhiệt điện Phú Mỹ trong giai đoạn 1997-2007 Trên cơ sở đó luận văn đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

của các Nhà máy Nhiệt điện Tua bin khí chu trình hỗn hợp tại Công ty trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là định hướng và xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý công nghệ tại Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ trong thời gian tới

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã vận dụng các phương pháp cơ bản như phân tích dữ liệu quá khứ, tổng hợp và so sánh vừa lý thuyết vừa thực tế

5 Đóng góp của luận văn

Khi thực hiện đề tài này, luận văn cố gắng nêu lên những mặt tích cực cũng như những hạn chế trong công tác quản lý tại công ty Nhiệt điện Phú

Mỹ Từ những phân tích đó, đưa ra một số giải pháp với hy vọng sẽ đóng góp vào việc khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý công nghệ Nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp tại công ty Nhiệt điện Phú Mỹ

6 Kết cấu của luận văn

Bài luận văn được trình bày thành 3 chương Chương 1: “Cơ sở lý thuyết về nhiệt điện Tuabin khí chu trình hỗn hợp”, trình bày về tình hình hệ thống điện Việt nam, nguyên lý làm việc cơ bản của nhà máy điện tuabin khí chu trình hỗn hợp

Chương 2: “Phân tích, đánh giá thực trạng tại công ty Nhiệt điện Phú Mỹ”, trình bày về quy mô sản xuất của công ty và phân tích các tồn tại ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật

Chương 3: “Một số giải pháp để tận dụng và nâng cao quản lý nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp tại công ty nhiệt điện Phú Mỹ”, trình bày

và đề xuất các giải pháp cụ thể để xử lý đối với các tồn tại

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHIỆT ĐIỆN TUA BIN KHÍ CHU TRÌNH HỖN HỢP 5

1.1 Khái quát về thực trạng sản xuất điện tại Việt Nam hiện nay 5

1.2 Khái quát nguyên lý hoạt động của Nhà máy điện Tua bin khí chu trình hỗn hợp 9

1.3 Hệ thống thiết bị và công nghệ 15

1.4 Nhân lực trong Nhà máy nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp 18

1.5 N hiên liệu 18

1.6 Quá trình công nghệ 19

1.7 Sản phẩm: 20

1.8 Cơ sở lý thuyết về quản lý công nghệ 21

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN PHÚ MỸ 28

2.1 Giới thiệu về Công ty nhiệt điện Phú Mỹ 28

2.2 Phân tích những tồn tại ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về sản lượng, doanh thu, các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật 38

2.2.1 Cơ cấu tổ chức và nhân lực 39

2.2.2 Đào tạo và làm chủ công nghệ 45

2.2.3 Chế độ lương, thưởng 55

2.2.4 Các tồn tại khác ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và doanh thu của công ty 56

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TẬN DỤNG VÀ NÂNG CAO QUẢN LÝ NHÀ MÁY ĐIỆN TUABIN KHÍ CHU TRÌNH HỖN HỢP TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN PHÚ MỸ 66

3.1 Đặt vấn đề cho việc định hướng công ty thời gian tới 66

3.2 Các giải pháp 68

3.3 Giải pháp 1: Đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý 68

3.4 Giải pháp 2: Đào tạo và bồi dưỡng công nhân viên 78

3.5 Giải pháp 3: Nhóm giải pháp tăng công suất và giảm chi phí sản xuất 86

KẾT LUẬN LUẬN VĂN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

electricity production and trading has been having much contribution to the national power security during past time Along with the country’s economic development and with more and more mordern technology, PMTP is settling and developing production, coming to master the technology chain With the scale and the importance of PMTP in settling the National Electricity Power System and also to enhance the production effect of Combine cycle power plants at PMTP, the topic “Some solutions to enhance the management of combined cycle gas turbines at PMTP” has been chosen as my graduation topic.

The dissertation is divided into three chapters Chapter 1: “Theory base for combined cycle gas turbines” presents the situation of Vietnam power system, basic working principles of combined cycle gas turbines Chapter 2:

“Analyse, evaluate the real situation at PMTP” presents production scale of the company and analyses remained problems which may influence the output norm, receipts and technology - economic targets Chapter 3: “Some solutions

to make the most of and enhance the management of combined-cycle gas turbines at PMTP” presents and suggests detailed solutions for remained problems

Through analysing and evaluating the real situation at PMTP, the dissertation has suggested some detailed solutions including: (1) Innovating management and organization structure; (2) Enhancing the work of training and improving professional knowledge for officers and workers; (3) Solutions

to enhance the capacity and reduce expenses

Trang 6

điện năng trong những năm qua đã có nhiều đóng góp tích cực cho việc ổn định của hệ thống điện quốc gia Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi mạnh mẽ của công nghệ theo hướng ngày càng hiện đại, Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ đang hướng đến việc ổn định và phát triển sản xuất, làm chủ dây chuyền công nghệ Với quy mô và tầm quan trọng của Công ty trong việc ổn định hệ thống điện Quốc gia và với mục đích nhằm “nâng cao hiệu quả sản xuất của các Nhà máy Nhiệt điện Tua bin khí tại Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ” là lý do chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao quản lý công nghệ nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp tại công ty Nhiệt điện Phú Mỹ” làm

đề tài tốt nghiệp

Bài luận văn được trình bày thành 3 chương Chương 1: “Cơ sở lý thuyết về nhiệt điện Tuabin khí chu trình hỗn hợp” trình bày về tình hình hệ thống điện Việt nam, nguyên lý làm việc cơ bản của nhà máy điện tuabin khí chu trình hỗn hợp Chương 2: “Phân tích, đánh giá thực trạng tại công ty Nhiệt điện Phú Mỹ” trình bày về quy mô sản xuất của công ty và phân tích các tồn tại ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật Chương 3: “Một số giải pháp để tận dụng và nâng cao quản

lý nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp tại công ty nhiệt điện Phú Mỹ” trình bày và đề xuất các giải pháp cụ thể để xử lý đối với các tồn tại

Qua quá trình phân tích đánh giá thực trạng tại công ty Nhiệt điện Phú

Mỹ, luận văn đã nêu ra một số giải pháp cụ thể bao gồm: (1) Đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý; (2) Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên; (3) Giải pháp tăng công suất và giảm chi phí

Trang 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHIỆT ĐIỆN TUA BIN

KHÍ CHU TRÌNH HỖN HỢP

1.1 Khái quát về thực trạng sản xuất điện tại Việt Nam hiện nay

Để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế quốc dân, cùng chủ trương hiện đại hóa - công nghiệp hóa của Đảng và Nhà nước thì ngành điện cần phải đi trước một bước Việc cung cấp đủ điện cho sinh hoạt

và sản xuất sẽ có tác động tích cực đến quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, đến sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước

Việc quy hoạch và phát triển nguồn điện của nước ta hiện nay phụ thuộc vào 02 nguồn chính là thủy điện và nhiệt điện

(N guồn trích từ trang báo điện tử Tuổi trẻ 2006)

Hình 1.1 Biểu đồ phân bố công suất lắp đặt nguồn điện (tính đến

năm 2006)

- Thủy điện:

Thuỷ điện là nguồn điện hình thành từ sự chuyển hóa của năng lượng nước Năng lượng thuỷ điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước dùng làm quay turbine nước và máy phát điện

13,84%

Thủy điện:

46,21%

Trang 8

Ưu điểm của Thủy điện:

 Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế được giá thành sản xuất điện Các nhà máy thuỷ điện không phải chịu tác động của việc tăng giá của nhiên liệu Tuổi thọ của các nhà máy thuỷ điện cũng lớn hơn các nhà máy nhiệt điện

 Các nhà máy thuỷ điện có thể vận hành phát điện ở mức thấp vào giờ thấp điểm để tích nước và phát điện tối đa vào giờ cao điểm hàng ngày

 Các đập thủy điện được xây dựng ngoài chức năng dùng cho phát điện còn có chức năng để tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và kiểm soát lũ

Tuy nhiên trên thực tế, việc sử dụng nước của các hồ thủy điện đôi khi khá phức tạp bởi vì nhu cầu nước tưới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp có thể xảy ra không trùng với thời điểm yêu cầu phát điện ở mức cao nhất Những thời điểm hạn hán trong năm cũng gây ra một số khó khăn, bởi

vì mức nước bổ sung không tăng kịp với mức yêu cầu sử dụng và gây ra thiếu nước, giảm công suất phát và theo đó cũng làm giảm hiệu suất của nhà máy thủy điện

Đối với nước ta, do đặc điểm thuỷ văn của sông ngòi nên điện năng phát của các nhà máy thuỷ điện không được ổn định, lượng điện phát trong 5 tháng mùa mưa thường chiếm khoảng 60% lượng điện năng trung bình năm Trong khi các tháng mùa khô công suất phát trung bình chỉ đạt 30% đến 35% công suất đặt của nhà máy

Vào các tháng cuối mùa khô công suất khả dụng của các nhà máy thuỷ điện bị giảm nhiều là do mức nước các hồ giảm thấp Do đó hiện nay hệ thống điện Việt Nam thường xảy ra tình trạng thiếu điện vào các tháng mùa khô

Trang 9

(thường kéo dài từ tháng 12 năm trước đến khoảng đầu tháng 6 năm sau) Chính vì vậy mà đã xảy ra tình trạng mất cân bằng trong sản xuất cũng như phân bố phụ tải đối với hệ thống điện Việt nam và khó đảm bảo được khả năng cung ứng đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội vào các tháng mùa khô hàng năm

- Nhiệt điện:

Nhiệt điện là nguồn điện có được từ việc đốt cháy nhiên liệu - thường là than, dầu hoặc khí (gas) tự nhiên – năng lượng này được đưa vào làm quay tua bin và máy phát điện để sản xuất ra điện Nhiệt điện chu trình hỗn hợp là tận dụng lượng khí nóng thoát ra sau khi ra khỏi tua bin để đun sôi nước tạo thành hơi quá nhiệt và đưa vào tua bin hơi làm quay tua bin hơi và kéo theo máy phát điện để phát ra điện Chu trình này giúp tận dụng tối đa nhiệt lượng của nhiên liệu đầu vào và nâng cao hiệu suất của chu trình

Ưu điểm của nhiệt điện:

 Chi phí đầu tư xây dựng thấp – chỉ khoảng 0.8 lần so với chi phí đầu

tư xây dựng nhà máy thủy điện Chi phí đầu tư cho 1 kW thủy điện khoảng 2,000 đôla trong khi nhiệt điện chỉ khoảng 1,600 đôla

 Thời gian xây dựng nhà máy nhiệt điện cũng ngắn hơn (thường 2 đến 3 năm), khi vận hành không phụ thuộc nhiều về điều kiện của thiên nhiên

Do vậy nên các nhà máy nhiệt điện được xây dựng nhiều tại nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung Cho đến thời điểm hiện nay và trong quy hoạch phát triển điện Việt nam giai đoạn từ 2006 đến năm 2015 có xét đến

2025, điện năng do các nhà máy nhiệt điện sản xuất ra vẫn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống điện Việt Nam

Trang 10

Tính đến cuối năm 2006, tổng công suất nguồn điện của cả nước đạt 12.270 MW, trong đó nguồn nhiệt điện chiếm khoảng 57%, tương đương 6.586 MW (trích từ trang tin điện tử công ty điện lực 3)

Bên cạnh các ưu điểm trên, các nhà máy nhiệt điện cũng có những khuyết điểm, hạn chế như:

 Chi phí sản xuất trong các nhà máy nhiệt điện cao hơn các nhà máy thủy điện và phải chịu sự biến động lớn từ giá nhiên liệu đầu vào như than, khí đốt, dầu Nguồn nhiên liệu này không phải là tài nguyên dồi dào và sẵn có, trong tương lai sẽ dần cạn kiệt và phải nhập khẩu

 Thời gian khởi động và đáp ứng yêu cầu của phụ tải chậm hơn nhiều

so với thủy điện

 Tuổi thọ thường thấp hơn các nhà máy thủy điện, thông thường khoảng 3 – 4 năm phải ngừng đại tu sửa chữa và thay thế một loạt các thiết bị của các hệ thống

 Việc ô nhiểm môi trường do khí thải của các nhà máy nhiệt điện, đặc biệt là các nhà máy nhiệt điện vận hành bằng nhiên liệu dầu hoặc than cũng là vấn đề đang ngày càng được quan tâm do ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Thực tế nước ta hiện nay, nhiệt điện chủ yếu được sản xuất từ nhiên liệu đầu vào là than đá và khí thiên nhiên Trong đó các nhà máy nhiệt điện phía Bắc như Phả Lại - công suất 1040 MW, Uông Bí - công suất 710MW… đều dùng than của các mỏ than tại Quảng Ninh Các nhà máy trong miền Nam như Phú Mỹ - công suất 2485MW, Bà Rịa - công suất 210MW, Nhơn trạch…

sử dụng khí đốt từ ngoài khơi vận chuyển vào - khu mỏ Bạch Hổ và Nam Côn Sơn,…

Trang 11

Tính đến thời điểm hiện nay hệ thống điện Việt Nam với tổng công suất khoảng 13.000 MW, trong đó nhiệt điện chiếm khoảng trên 60% Chỉ riêng Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ, sản lượng năm 2007 đạt 17,2 tỷ kWh (trên tổng sản lượng điện quốc gia năm 2007 là khoảng 64 tỷ kWh), chiếm khoảng 26,8% Đặc biệt trong khô năm 2006 và 2007, sản lượng ngày các tháng mùa khô của Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ đạt tự 45 đến 55 triệu kWh/ngày, chiếm khoảng 35% sản lượng toàn hệ thống

Không thể phủ nhận vai trò của thủy điện cũng như chủ trương ưu tiên phát triển thủy điện trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong nhiệm vụ hạn

chế lũ lụt vào mùa mưa và cung cấp nước tưới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp vào các tháng mùa khô Tuy nhiên với tầm quan trọng ngày một nâng cao của Nhiệt điện, việc quản lý dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những vấn đề đặt ra hàng đầu đối với lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt nam, các công ty nhiệt điện nói chung và Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ nói riêng

1.2 Khái quát nguyên lý hoạt động của Nhà máy điện Tua bin khí chu

trình hỗn hợp

Các thành phần thiết bị chính của Nhà máy điện tuabin khí chu trình hỗn hợp gồm:

- Tuabin khí (gas turbine)

- Lò thu hồi nhiệt

- Tuabin hơi (steam turbine)

Ngoài ra đi kèm theo các thành phần chính này là các hệ thống cung cấp điện tự dùng và truyền tải điện, các hệ thống cung cấp nhiên liệu và các hệ thống phụ trợ liên quan khác

Để nâng cao hiệu suất của nhà máy, người ta thường xây dựng một chu

Trang 12

trình khép kín gồm tua bin khí, lò thu hồi nhiệt và tuabin hơi Thường hiệu suất của tuabin khí chỉ khoảng 30 – 37%; hiệu suất chu trình hỗn hợp khoảng 50 – 60%

1.2.1 Tua bin khí:

Có thể mô tả hoạt động của một nhà máy điện tua bin khí như sau:

- Không khí từ môi trường đi vào máy nén gió qua các tầng lược (gọi nhà lọc gió) với mục đích lọc bụi, các chất bẩn và các thành phần cứng trong không khí có thể gây bẩn, làm giảm hiệu suất của máy nén gió cũng như gây

hư hỏng các tầng cánh máy nén, tua bin

- Sau đó lượng không khí này được nén qua máy nén với một áp suất và nhiệt độ tương ứng tuỳ thuộc vào tỷ số nén của máy nén – thường tỉ số nén

này lớn hơn 9 đối với các tổ máy có công suất trên 100MW (xem đường 1-2

trong hình 1.3)

- Lượng không khí này đi vào buồng đốt kết hợp với nhiên liệu gas (hoặc dầu), được đốt cháy tạo ra dòng khí nóng với nhiệt độ khá cao (khoảng

1000oC – đến 1300oC, tuỳ theo thiết kế của tổ máy) – (đường 2-3 trong hình

1.3); sau đó đi vào tuabin làm quay tuabin (giản nở nhiệt - đường 3-4 trong

- Phần dòng khí nóng sau khi ra khỏi tuabin khí với lưu lượng lớn (khoảng

500 m3/s) và nhiệt độ cao (trên 500oC) sẽ được xả bỏ ra môi trường (khi vận

Trang 13

hành chu trình đơn) hoặc được đưa vào lò thu hồi nhiệt để tận dụng nếu vận hành chu trình hỗn hợp (đường 4-1 trong hình 1.3)

Hình 1.2.: Sơ đồ nguyên lý hoạt động tua bin khí (gas turbine)

Hình 1.3 Sơ đồ nguyên lý hoạt động tua bin khí (gas turbine)

Trang 14

1.2.2 Lò thu hồi nhiệt (Heat Recovery Steam Generator- HRSG):

Dòng khí nóng sau khi ra khỏi tuabin khí với lưu lượng lớn (khoảng

500 m3/s) và nhiệt độ cao (trên 500oC) sẽ được hướng vào lò thu hồi nhiệt để gia nhiệt cho nước tại các bộ tiết nhiệt, bộ hóa hơi và bộ quá nhiệt Hơi bão hòa sinh ra tại bộ hóa hơi được đưa về bao hơi sau đó được đưa đến bộ quá nhiệt để gia nhiệt đến nhiệt độ đủ tiêu chuẩn đưa vào vận hành tuabin hơi Thông thường hơi ra từ lò thu hồi nhiệt gồm 3 cấp áp lực (tuỳ thuộc vào từng chủng loại máy):

Hơi cao áp (còn gọi là hơi động lực) với áp suất khoảng 90bar và 502oC Hơi trung áp: áp suất 23 bar và 500oC

Hơi hạ áp: áp suất 4 bar và 152oC

Hình 1.4 Hình ảnh lò thu hồi nhiệt

Trang 15

Hình 1.5 Sơ đồ mô tả hoạt động lò thu hồi nhiệt 3 cấp áp lực

1.2.3 Tuabin hơi (Steam turbine):

Hơi bão hòa sau khi ra khỏi bao hơi sẽ được đưa đến các bộ quá nhiệt

để gia nhiệt từ hơi bão hòa thành hơi quá nhiệt và đưa vào tuabin hơi qua các van dừng chính (stop valve -SV) và các van điều khiển (control valve – CV), sinh công làm quay tuabin hơi và từ đó kéo theo máy phát để phát ra điện Dòng hơi cuối cùng sau khi đi ra khỏi tuabin hạ áp sẽ đi vào bình ngưng và ngưng tụ thành nước, sau đó được bơm chuyển lên bồn nước cấp và được bơm cấp nước cho các bao hơi trở lại

Trang 16

Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý hoạt động tua bin hơi 3 cấp áp lực

Hình 1.7 Sơ đồ nguyên lý đơn giản Nhà máy điện tua bin khí chu trình

hỗn hợp

Trang 17

Hình 1.8 Sơ đồ vận hành Nhà máy điện chu trình hỗn hợp

1.3 Hệ thống thiết bị và công nghệ

Hệ thống thiết bị tại các Nhà máy nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp thường khá tiên tiến và chủ yếu được sản xuất từ các nước phát triển có công nghệ cao trên thế giới như: Alstom (Thuỵ sỹ), Siemens (Đức), Mitsubishi (Nhật), Doosan (Hàn quốc),…Một nhà máy nhiệt điện tuabin khí chu trình hỗn hợp thường kết hợp rất nhiều hệ thống thiết bị phức tạp với hàng trăm động cơ, bơm van và hàng nghìn tín hiệu đo lường và điều khiển toàn bộ các quá trình vận hành của tổ máy

Có thể tóm tắt hệ thống thiết bị tại một nhà máy điện chu trình hỗn hợp thành các hệ thống như sau:

- Phần Tuabin khí: ngoài các thiết bị chính gồm tuabin, máy phát, máy

nén gió, còn các hệ thống đi kèm như:

Trang 18

 Hệ thống cung cấp nhiên liệu cho tua bin khí: nhiên liệu gas hoặc

dầu Diesel (hoặc cả hai); đây là nhiên liệu chính để vận hành nhà máy, các nhiên liệu này được phun vào buồng đốt trong quá trình vận hành qua các van dừng và kiểm soát nhiên liệu

 Hệ thống cung cấp nhớt bôi trơn, nâng trục, trở trục và nhớt điều khiển: hệ thống này gồm các bơm, van cung cấp nhớt thủy lực điều khiển các van nhiên liệu khi vận hành; cung cấp nhớt bôi trơn cho các

bợ trục tuabin trong mọi trường hợp và cấp nhớt nâng trục, trở trục trong tiến trình ngừng tổ máy

 Hệ thống gió vào: nhà lọc gió gồm các tầng lọc, đường dẫn gió vào, cánh hướng gió Đi kèm với hệ thống này là hệ thống giảm âm – silencer;

 Hệ thống nước làm mát máy phát điện (nước khử khoáng – Demin water): làm việc theo nguyên lý quạt làm mát nước; nước làm mát gió trong máy phát; gió làm mát các cuộn dây stator máy phát

 Hệ thống truyền tải điện: thanh cái đầu ra máy phát điện, các máy cắt, máy biến áp,

 Hệ thống điện tự dùng trong nhà máy: cấp điện cho các động cơ, bơm, van và các thiết bị điều khiển;

 Hệ thống đo lường điều khiển và bảo vệ tổ máy: khoảng 1500 tín hiệu được đo lường giám sát liên tục nhằm mục đích điều khiển và bảo

vệ ngừng khẩn cấp tổ máy tránh sự cố hư hỏng thiết bị Nhờ hệ thống điều khiển này mà các tổ máy tuabin khí chu trình hỗn hợp gần như được điều khiển tự động hoàn toàn, nhân viên vận hành rất ít khi cần phải can thiệp

Trang 19

- Phần lò thu hồi nhiệt và Tuabin hơi: ngoài các thiết bị chính gồm

tuabin, máy phát, lò thu hồi nhiệt, còn các hệ thống đi kèm sau:

 Hệ thống cung cấp nước chính (nước khử khoáng cấp cho các bao hơi);

 Hệ thống cung cấp nhớt bôi trơn, nâng trục, trở trục và nhớt điều khiển;

 Hệ thống nước làm mát máy phát điện (nước khử khoáng);

 Hệ thống nước làm mát bình ngưng (nước sông);

 Hệ thống gió điều khiển (điều khiển các van,…);

 Hê thống sản xuất nước khử khoáng (Demin water plant);

 Hệ thống truyền tải điện: thanh cái dẫn, máy cắt, máy biến áp,

 Hệ thống điện tự dùng trong nhà máy: cấp điện cho các động cơ, bơm, van và các thiết bị điều khiển;

 Hệ thống đo lường điều khiển và bảo vệ tổ máy: khoảng 1500 tín

hiệu được đo lường giám sát liên tục nhằm mục đích điều khiển và bảo

vệ ngừng khẩn cấp tổ máy tránh sự cố hư hỏng thiết bị

− Ngoài các hệ thống trên, các nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp còn các hệ thống thiết bị chung như hệ thống Phòng cháy chữa cháy: được bố trí ở tất cả các khu vực với các đầu dò phát hiện cháy (dò gas rò, nhiệt, khói, lửa) và hệ thống phun chữa cháy riêng cho từng khu vực (gồm: chửa cháy bằng bọt foam cho dầu DO, CO2, bình bọt, nước)

Bên cạnh đó, đối với các thiết bị nhà máy điện, nhà sản xuất thường đưa ra chu kỳ thanh tra bảo dưỡng khá nghiêm ngặt Phụ thuộc vào từng chủng loại tổ máy, chế độ vận hành, nhiên liệu sử dụng mà nhà sản xuất quy

Trang 20

định thời gian bảo dưỡng (được tính theo giờ vận hành tương đương) Thông

thường, chu kỳ đại tu các tổ máy tua bin khí là khoảng 3 -4 năm và tua bin hơi khoảng 5-6 năm

1.4 Nhân lực trong Nhà máy nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp

Việc sản xuất điện trong nhà máy nhiệt điện thường phức tạp hơn so với nhà máy thuỷ điện Tuy nhiên nhờ công nghệ tiên tiến nên càng ngày việc vận hành gần như tự động hoàn toàn

Để có thể quản lý vận hành và bảo trì được Nhà máy nhiệt điện chu trình hỗn hợp với công nghệ tiên tiến như trên, đòi hỏi nhân lực ở đây phải có một chuẩn trình độ cơ bản nhất định, đã được đào tạo có bằng cấp từ các trường đại học hoặc dạy nghề, và phải mất một thời ngắn nhất khoảng 18 tháng học và làm việc thực tế tại công trường mới có thể đảm nhận vận hành chính thức được tổ máy

Sau khi nắm cơ bản về công tác vận hành, để tiến tới giai đoạn làm chủ trong việc khai thác tối đa hiệu quả của công nghệ cần phải được đào tạo chuyên sâu theo từng loại công nghệ đặc trưng

Tóm lại, để đảm bảo được khả năng làm chủ công nghệ, dây chuyền sản xuất cần phải có đội ngũ nhân lực đũ và có chất lượng cao Muốn như vậy cần phải có chế độ tuyển chọn nhân lực cũng như đào tạo một cách phù hợp

1.5 Nhiên liệu

Nhiên liệu chính cho quá trình sản xuất trong Nhà máy nhiệt điện tuabin khí là khí thiên nhiên (nguồn khí từ các mỏ Bạch Hỗ, Nam Côn Sơn vận chuyển vào) Ngoài ra nhiên liệu dự phòng là dầu DO (Diesel) Tuy nhiên, việc vận hành bằng dầu DO rất giới hạn và chỉ vận hành khi thực sự

cần thiết vì ảnh hưởng rất nhiều đến tuổi thọ thiết bị cũng như giá thành sản

Trang 21

phẩm tăng cao Thông thường một giờ vận hành dầu DO tương đương 1,5 đến

2 giờ vận hành bằng nhiên liệu gas

và tua bin

- Sau đó dòng không khí này được nén qua máy nén với một áp suất và nhiệt độ tương ứng tuỳ thuộc vào tỷ số nén của máy nén và công suất của từng tổ máy

- Sau khi được nén qua máy nén, dòng khí này đi vào buồng đốt kết hợp với nhiên liệu gas (hoặc dầu) phun vào, được đốt cháy tạo ra một dòng khí nóng với nhiệt độ khá cao (thường từ khoảng 1.000oC - đến 1.300oC), đưa vào tuabin làm quay tuabin theo nguyên lý giản nở nhiệt Dòng khí nóng sau khi

ra khỏi tua bin khí có nhiệt độ khoảng 550oC

- Nhờ máy phát và tua bin được gắn đồng trục nên khi tuabin quay sẽ kéo máy phát quay theo và phát ra điện Nguồn điện này sau đó được truyền tải lên lưới điện

- Nếu vận hành chu trình đơn thì dòng khí nóng thoát ra khỏi tuabin khí này sẽ được xả ra ngoài Nếu vận hành chu trình hỗn hợp thì dòng khí nóng thoát ra sau khi ra khỏi tua bin khí sẽ được hướng vào lò thu hồi nhiệt và nung

nước trong các bao hơi tạo thành hơi quá nhiệt

- Hơi quá nhiệt sau khi ra khỏi bao hơi sẽ được đưa vào tuabin hơi qua

Trang 22

các van dừng khẩn cấp và các van điều khiển làm quay tuabin và từ đó kéo theo máy phát để phát ra điện Dòng hơi cuối cùng sau khi đi ra khỏi tuabin

hạ áp sẽ đi vào bình ngưng và ngưng tụ thành nước sau đó được bơm chuyển lên các bao hơi trở lại

- Việc điều khiển tải của máy phát điện phụ thuộc vào việc điều chỉnh các van điều khiển nhiên liệu vào (gas hoặc dầu) đối với tuabin khí Đối với các tuabin hơi thì vận hành theo tua bin khí (phụ thuộc tải của tua bin khí)

- Hệ thống điều khiển:

 Toàn bộ việc vận hành nhà máy điện tuabin khí chu trình hỗn hợp đều được thiết kế hoàn toàn tự động, nhân viên vận hành chỉ cần thao tác ban đầu khi khởi động hoặc ngừng máy (trên máy tính), còn tiến trình sẽ do chương trình điều khiển tổ máy quyết định

 Các hệ thống điều khiển tại các nhà máy điện tuabin khí chu trình hổn hợp là các hệ thống điều khiển tự động dạng phân tán (DCS – Distribution Control System), có chức năng điều khiển toàn bộ các tiến trình khởi động, vận hành, ngừng bình thường và ngừng dưới dạng bảo

vệ tổ máy Để thực hiện được điều này, chương trình phải thu thập khoảng 1.500 tín hiệu/ một tổ máy về xử lý và đưa ra các tín hiệu điều khiển các thiết bị trong hệ thống

1.7 Sản phẩm:

Như trên đã đề cập, sản phẩm đầu ra của Nhà máy điện là điện năng

Để đánh giá sản phẩm điện năng sản xuất ra của các nhà máy điện có đạt chất lượng hay không người ta thường dựa vào các thông số:

- Công suất phát thực của tổ máy (công suất vô công và hữu công), so sánh với công suất thiết kế hoặc công suất huy động theo từng thời điểm

Trang 23

- Điện áp và tần số Tuy nhiên hai thông số này phụ thuộc nhiều vào lưới điện nên rất khó đánh giá, chỉ có thể đánh giá khả năng điều chỉnh điện áp thông qua việc đáp ứng công suất vô công

- Khả năng đáp ứng kịp thời theo yêu cầu của phụ tải: thông thường các nhà máy phát công suất điện lên lưới theo yêu cầu của lưới điện – thông qua việc huy động từ Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia

- Số giờ ngừng máy sửa chữa bất thường thiết bị hay sự cố: dựa trên thời gian này người ta đưa ra các thông số về độ khả dụng và độ tin cậy của tổ máy Nhà quản lý sẽ dựa vào các thông số này để đưa ra các kế hoạch sửa chữa, bảo trì nhằm mục đích nâng cao tính an toàn trong vận hành và khả năng đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng (yêu cầu của lưới điện)

1.8 Cơ sở lý thuyết về quản lý công nghệ

1.8.1 Khái niệm, vai trò và phân loại công nghệ

- Khái niệm công nghệ: theo luật khoa học - công nghệ của Việt Nam

có hiệu lực từ ngày 01/01/2001: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, các bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”

- Vai trò của công nghệ: theo đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và

công nghệ ban hành theo Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28 tháng 09 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ: “Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững đất nước” Công nghệ là một trong 3 yếu tố tạo tăng trưởng kinh tế: tích luỹ tư bản, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ Công nghệ là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ nhất trong nền kinh tế thị trường

- Phân loại công nghệ: có nhiều cách để phân loại công nghệ như sau:

Trang 24

 Theo ngành nghề: công nghiệp, nông nghiệp, hàng tiêu dùng, …

 Theo tính chất: sản xuất, dịch vụ, văn phòng, đào tạo,…

 Theo sản phẩm: thép, xi măng,…

 Theo đặc tính: đơn chiếc, liên tục, hàng loạt

 Theo góc độ môi trường: công nghệ ô nhiểm, công nghệ sạch

 Theo mức độ tiên tiến của các thành phần công nghệ: công nghệ truyền thống, công nghệ hiện đại, công nghệ trung gian

 Theo mục tiêu chiến lược phát triển công nghệ: công nghệ phát triển (đảm bảo các nhu cầu thiết yếu), công nghệ thúc đẩy (tạo nên

tăng trưởng kinh tế), công nghệ dẫn dắt (có khả năng cạnh tranh trên thị trường)

 Theo trình độ công nghệ:

 Công nghệ hiện đại: là công nghệ có sự phối hợp của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và thiết bị thế hệ thứ IV (ra đời đầu những năm 1990);

 Công nghệ tiên tiến: là công nghệ có mức độ tự động, điện tử,

vi điện tử cao và thiết bị thế hệ thứ III/IV (ra đời đầu những năm 1980);

 Công nghệ trung bình tiên tiến: là công nghệ có trình độ tự động cơ khí, điện tử cao và thiết bị thế hệ thứ II/III (ra đời đầu những năm 1970);

 Công nghệ trung bình: là công nghệ có trình độ tự động cơ khí khá và thiết bị thế hệ thứ I/II (ra đời đầu những năm 1960);

 Công nghệ lạc hậu: là công nghệ có trình độ tự động cơ khí

Trang 25

thấp và thiết bị thế hệ thứ I (ra đời trước những năm 1950);

- Các th ành phần của công nghệ quá trình (T-H-I-O):

Có thể hiểu công nghệ biểu hiện trên 4 mặt: Thiết bị (Techno ware); Con người (Human ware); Thông tin (Inform ware); và Tổ chức (Organ ware) Cách phân chia 4 thành phần này thuận tiện cho việc phân tích mức độ

cân đối, mức độ đồng bộ, chỉ ra rõ chỗ yếu, điểm mạnh của hệ thống công nghệ và từ đó định hướng tăng cường nhằm đáp ứng các nhiệm vụ do yêu cầu sản xuất đặt ra với những chi phí ít nhất về nguồn lực của doanh nghiệp

 Thành phần kỹ thuật (T – Technoware): phần công nghệ hàm chứa trong các vật thể như máy móc, phương tiện,…

 Thành phần con người (H – Humanware): phần công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong đó bao gồm kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng,…hay còn gọi là năng lực

 Thành phần thông tin (I – Inforware): phần công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ, bao gồm dữ liệu về kỹ thuật, con người và tổ chức

 Thành phần tổ chức (O – Orgaware): phần công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức; bao gồm những quy định và quy trình về thiết kế tổ chức, nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người

Trang 26

Kỹ thuật (T)

Con người (H) Thông tin (I)

Tổ chức (O)

(phần cứng)

- Chu trình sống của công nghệ:

Một công cụ thường sử dụng để xem xét sự thay đổi của công nghệ là đường cong S – chu trình sống của công nghệ Chu trình sống gồm các giai đoạn sau:

bỏ

Hình 1.8 Chu trình sống của công nghệ

Hình 1.7 Mô hình T-H-I-O

T: là cốt lõi do H triển khai, lắp đặt và vận hành

H: là chìa khóa của các hoạt động sản xuất, chịu chi phối của I và O I: cơ sở cho H ra quyết định

O: liên kết các thành phần, tạo môi trường và động lực

Trang 27

1.8.2 Quản lý công nghệ

1.8.2.1 Khái niệm quản lý công nghệ

Có thể hiểu, Quản lý công nghệ là tiến trình liên kết các lĩnh vực khác nhau nhằm hoạch định, phát triển, thực hiện và kiểm soát năng lực công nghệ

để hình thành và thực thi các mục tiêu chiến lược của tổ chức

- Cấp vĩ mô (quốc gia): Quản lý công nghệ là tập trung vào xây dựng các chính sách để tạo điều kiện cho tiến bộ khoa học và công nghệ, chú trọng đến tác động của công nghệ để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững, ngăn ngừa tác động xấu của công nghệ có thể gây ra cho con người và môi trường

- Cấp vi mô (doanh nghiệp): quản lý công nghệ là liên kết những lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và các tri thức quản lý để hoạch định, triển khai và hoàn thiện năng lực công nghệ nhằm xây dựng và thực hiện các mục tiêu chiến lược và tác nghiệp của doanh nghiệp

 Quản lý công nghệ là một phần quan trọng trong quản trị toàn bộ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, gắn liền các chức năng của nghiệp:

 Tạo ra và đổi mới sản phẩm: gồm các hoạt động nghiện cứu, triển khai, thiết kế, chế tạo

 Phân phối: gồm marketing, bán hàng, dịch vụ

 Quản trị: nhân lực, tài chính kế toán, thông tin, pháp lý, mua

Trang 28

 Làm thế nào để đảm bảo mức phát triển chung của công ty cao

nhất và chi phí chung thấp nhất

 Làm thế nào để giảm mức độ phức tạp của sản phẩm

 Công nghệ sản xuất có cần thay đổi không

 Nên đầu tư bao nhiêu cho nghiên cứu quá trình hoặc phương pháp sản xuất mới

 Các đối thủ cạnh tranh sử dụng công nghệ nào? phản ứng của Doanh nghiệp như thế nào?

 Vấn đề đào tạo khi ứng dụng kỹ thuật hoặc công nghệ mới

 Hệ thống thông tin quản trị có cung cấp đầy đũ, kịp thời các thông tin cần thiết để ra các quyết định đúng về các vấn đề này không,…

1.8.2.2 Vai trò của quản lý công nghệ

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”

Quản lý công nghệ là hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực của các tổ chức quốc tế, các quốc gia và các bên tham gia vào quá trình nghiên cứu, triển khai hoặc chuyển giao công nghệ

Để quản lý công nghệ một cách thành công và đạt hiệu quả, doanh nghiệp cần phải:

- Cần có người lãnh đạo công nghệ - chịu trách nhiệm với sự thay đổi

- Hiểu biết công việc và các mối liên hệ giữa chúng, hiểu hoạt động kinh doanh để hổ trợ và phát triển công nghệ mới

Trang 29

- Đánh giá và nhận biết doanh nghiệp đang ở đâu trên đường cong công nghệ

- Đánh giá được điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp (dựa trên quan điểm phân tích các thành phần công nghệ theo T-H-I-O)

1.9 Kết luận chương 1

Chương 1 trình bày tổng quan về tình hình phát triển và các đặc điểm

về các nguồn điện ở Việt nam, nêu các lý thuyết cơ bản về nhà máy nhiệt điện tua bin khí chu trình hỗn hợp, một số đặc điểm về quy trình sản xuất và dây chuyền công nghệ Qua đó nhấn mạnh đến vấn đề quản lý công nghệ trong các nhà máy Nhiệt điện tua bin khí chu trình hổn hợp

Phần cuối chương, trình bày một số lý thuyết về quản lý công nghệ, vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý công nghệ

Trên cơ sở vận dụng lý thuyết từ chương này để đánh giá trình độ quản

lý công nghệ nhà máy nhiệt điện ở Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ, làm cơ sở cho

việc phân tích và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý công nghệ Nhiệt điện tuabin khí chu trình hổn hợp tại Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ trong thời gian tới

Trang 30

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TẠI

CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN PHÚ MỸ 2.1 Giới thiệu về Công ty nhiệt điện Phú Mỹ

2.1.1 Lịch sử xây dựng và phát triển

Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ là đơn vị thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt nam, được xây dựng trên diện tích 86 ha tại khu Công nghiệp Phú Mỹ, Quốc lộ 51, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách TP HCM 75km

Tên và địa chỉ giao dịch của công ty:

Tên tiếng việt: Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Nhiệt điện Phú Mỹ (tên viết tắt: Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ)

Tên tiếng anh: Phu My Thermal Power company (viết tắt: PMTP)

Địa chỉ: Thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Điện thoại: 064-876927

- Sản xuất, kinh doanh nước cất, hydro

- Dịch vụ sửa chữa, phục hồi gia công, chế tạo các chi tiết thiết bị của

nhà máy điện, thí nghiệm điện, thí nghiệm hóa, hiệu chỉnh, đo hiệu suất các nhà máy điện, sấy lọc dầu cách điện

Trang 31

- Giữ hộ dầu, cho thuê bồn chứa, cho thuê đường ống và cảng tiếp nhận

dầu, vận hành thuê các nhà máy điện

- Tư vấn kỹ thuật các nhà máy điện

- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực về quản lý, vận hành, bảo dưỡng, và

sửa chữa thiết bị nhà máy điện

Lịch sử phát triển:

Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ được thành lập tháng 2 năm 1997 và trải qua quá trình phát triển:

- Ngày 07/04/1996: Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt viên đá đầu tiên xây

dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 2.1 Tua bin khí GT13E2 chu trình đơn gồm 2 tổ máy tuabin khí có công suất 143MW/tổ máy – công nghệ của Alstom, Thụy Sỹ

Đến 12/2/1997, các tổ máy chính thức đưa vào vận hành

- Ngày 15/02/1997: Nhà máy điện Phú Mỹ được thành lập theo quyết

định số 48/ĐVN/HĐQT của Tổng công ty Điện lực Việt nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt nam)

- Ngày 23/1/1998: khởi công xây dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 2.1 mở

rộng tua bin khí loại V94.2 chu trình đơn gồm 2 tổ máy tuabin khí có công suất 138MW/tổ máy - công nghệ của Siemens, Đức

Đến 26/02/1999, công trình được xây dựng xong và chính thức đưa vào vận hành thương mại

- Ngày 15/05/1999: khởi công xây dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 1 tua bin

khí loại 701F chu trình hỗn hợp, cấu hình 3-3-1, gồm 3 tua bin khí với công suất 239MW/tuabin - 3 lò thu hồi nhiệt - 1 tua bin hơi công suất 380MW, (tổng công suất 1097 MW), công nghệ của Mitsubishi – Nhật

Trang 32

Đến 19/5/2003, xây dựng xong và đưa vào vận hành thương mại

- Ngày 20/6/2002: khởi công xây dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 4 Tua bin

khí chu trình hỗn hợp, cấu hình 2-2-1 với tổng công suất 450MW gồm

2 tuabin khí có công suất 145MW/tuabin và 1 tua bin hơi công suất 160MW

Đến ngày 17/08/2004, chính thức đưa vào vận hành thương mại

- Ngày 24/11/2004: khởi công xây dựng trung tâm dịch vụ sửa chữa Phú

Mỹ

- Tháng 12/2004: khởi công xây dựng dự án Đuôi hơi Phú Mỹ 2.1 mở

rộng với công suất 161MW

Đến ngày 21/3/2006, công trình xây dựng xong và đưa vào vận hành thương mại

- Ngày 04/10/2005: theo quyết định số 241/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng

chính phủ, Nhà máy điện Phú Mỹ được chuyển đổi thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Nhiệt điện Phú Mỹ

- Tháng 12/2006: xây dựng các dự án hệ thống nâng công suất Phú Mỹ

2.1 và 2.1 Mở rộng Đến tháng 8/2007 công trình xây dựng xong và đưa vào vận hành thương mại với tổng công suất tăng thêm khoảng 60MW

Trang 33

Đến thời điểm hiện tại, Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ đang quản lý 04 nhà máy với 13 tổ máy gồm 09 tổ máy tua bin khí và 04 tổ máy tuabin hơi Tổng công suất phát điện lắp đặt là 2.485 MW

- Hiện tại, Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ đang tiến trình thực hiện cổ phần

hóa theo Quyết định số 384/QĐ-TTg ngày 03/04/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1647/QĐ-BCN ngày 14/05/2007 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương)

1097 MW gồm:

- 03 Tuan bin khí

(3x239MW)

- 03 lò thu hồi nhiệt

- 01 Tua bin hơi

(380MW)

450 MW gồm:

- 02 Tuan bin khí (2x145MW)

- 02 lò thu hồi nhiệt

- 01 Tua bin hơi (160MW)

463 MW gồm:

- 02 Tuan bin khí (2x138MW)

- 02 lò thu hồi nhiệt

- 01 Tua bin hơi (161MW)

- 02 hệ thống Nâng công suất (2x13MW)

SƠ ĐỒ BỐ TRÍ CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN THUỘC CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN PHÚ MỸ

476 MW gồm:

- 02 Tuan bin khí (2x143MW)

- 02 lò thu hồi nhiệt

- 01 Tua bin hơi (160MW)

- 02 hệ thống Nâng công suất (2x15MW)

NHÀ MÁY ĐIỆN

PHÚ MỸ 1 NHÀ MÁY ĐIỆN PHÚ MỸ 4 NHÀ MÁY ĐIỆN PHÚ MỸ 2.1MR

PHÂN XƯỞNG VẬN HÀNH 1 PHÂN XƯỞNG VẬN HÀNH 2

NHÀ MÁY ĐIỆN PHÚ MỸ 2.1

Hình 2.1 B ố trí các Nhà máy điện thuộc Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ

Trang 34

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp công suất và đặc tính các tổ máy thuộc công ty

sản xuất

Công suất lắp đặt (MW)

Công suất hiện tại (MW)

TBH: Tua bin hơi

*) : công suất ở điều kiện nhiệt độ môi trường là 32 o C

Một số kết quả đạt được trong thời gian qua:

Trong thời gian qua, Công ty đã đạt được một số thành công đáng kể trong sản xuất kinh doanh Với việc ổn định và phát triển mạnh mẽ, đảm bảo được chất lượng điện năng, có thể nói Công ty đã hoàn thành nhiệm vụ được giao Từ một nhà máy đầu tiên được xây dựng năm 1996 gồm 2 tổ máy tua bin khí với công suất thiết kế 290MW đến nay Công ty đã có 4 nhà máy gồm

Trang 35

13 tổ máy với tổng công suất 2,485MW - tốc độ phát triển mở rộng quy mô sản xuất khoảng 8.6%/năm Đặc biệt đối với các đối tác nước ngoài, vị trí của Công ty đã được thay đổi một cách tích cực Từ ban đầu gần như phụ thuộc hoàn toàn vào các chuyên gia nước ngoài thì giờ đây trên 70% công việc trong công tác bảo trì, sửa chữa là do đội ngũ nhân viên Công ty thực hiện, riêng công tác vận hành nhà máy công ty đã đãm nhận hoàn toàn 100% ngay sau khi các dự án được chuyển giao

Nguồn: tổng hợp của Phòng kế hoạch

Hình 2.2 Tổng công suất lắp đặt từ ngày thành lập đến năm 2007

Tính tại thời điểm tháng 05/2008 tổng công suất lắp đặt của Công ty nhiệt điện Phú mỹ là 2,485 MW, chiếm khoảng gần 20% tổng công suất của

hệ thống điện Quốc gia và sản lượng điện chiếm gần 27% sản lượng của toàn

Trang 36

hệ thống Chỉ riêng năm 2007 sản lượng điện Công ty đạt 17,2 tỷ kWh (trên tổng sản lượng điện quốc gia năm 2007 là khoảng 64 tỷ kWh), chiếm khoảng 26,8% Qua 10 năm đi vào hoạt động, tính từ khi phát điện lần đầu năm 1997 đến hết năm 2007, tổng sản lượng điện năng tích lũy của Công ty đạt hơn 88

tỷ kWh

Nguồn: tổng hợp của Phòng kế hoạch

Hình 2.3 Sản lượng điện tích lũy từ ngày thành lập đến năm 2007

Trang 37

Công suất: chiếm khoảng 20% của Hệ thống điện Quốc gia

20% công suấtcủa Phú Mỹ

80% công suấtcòn lại trong hệthống điện quốc

Nguồn: tổng hợp của Phòng kế hoạch năm 2007

Hình 2.4 Tỉ lệ công suất của Công ty trên hệ thống điện Việt nam

Sản lượng:

 Chiếm khoảng 27% của Hệ thống điện Quốc gia

 Mùa khô 2006 & 2007: đạt 45~55 triệu kWh/ngày

(chiếm khoảng 35% toàn hệ thống)

Nguồn: tổng hợp của Phòng kế hoạch năm 2007

Hình 2.5 Sản lượng điện sản xuất Công ty trên hệ thống điện Việt nam

27% sản lượngđiện của Phú Mỹ73% sản lượng cònlại trên hệ thống

Trang 38

Bảng 2.2: Bảng kết quả hoạt động SXKD năm 2006 và 2007

III Tổng doanh thu 9,408,412 8,255,825

IV Tổng lợi nhuận trước thuế 216,674 11,244

V Tổng lợi nhuận sau thuế 156,005 8,095

Nguồn: báo cáo kết quả SXKD các năm 2006, 2007 của Công ty

2.1.2 Tổ chức nhân sự của Công ty

Công ty nhiệt điện Phú Mỹ có khoảng 580 cán bộ công nhân viên, đa

số là lực lượng lao động trẻ, được đào tạo chuyên môn tại các trường Đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề trước khi vào làm việc tại công ty

Cơ cấu tổ chức của Công ty theo hướng chuyên môn hóa gồm 6 phòng ban chức năng và 4 phân xưởng sản xuất trực tiếp Sơ đồ tổ chức hiện tại của Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ như sau:

Trang 39

GIÁM ĐỐC

P TỔ CHỨC-LAO ĐỘNG

P KẾ HOẠCH - VẬT TƯ

P KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH

VĂN PHÒNG

PHÓ GIÁM ĐỐC

VẬN HÀNH

P KỸ THUẬT và HÓA NGHIỆM

PX SỬA CHỮA ĐIỆN-

TỰ ĐỘNG

PX SỬA CHỮA CƠ- NHIỆT

PHÓ GIÁM ĐỐC SỬA CHỮA

Hình 2.6 Sơ đồ tổ chức Công ty Nhiệt điện Phú Mỹ

Cơ cấu lao động trong công ty: tính đến 31/5/2008 là 577 người

Bảng 2.3: cơ cấu lao động của Công ty nhiệt điện Phú Mỹ

Chỉ tiêu Số lượng lao động (người) Tỉ lệ (%)

Trang 40

Do đặc thù công việc, nguồn nhân lực lao động trực tiếp của công ty đòi hỏi phải có tính chuyên môn hóa cao, được đào tạo từ các trường đại học, trung cấp hoặc các trường dạy nghề và sau khi được tuyển dụng sẽ tiếp tục được đào tạo thực tế bởi các cán bộ nòng cốt có trình độ và kinh nghiệm của Công ty huấn luyện dựa trên các tài liệu là các quy phạm, quy trình đã có của ngành trước đây, các quy trình do Công ty biên soạn và các kiến thức về vận hành thực tế tích lũy được Nhân viên được huấn luyện kỹ quy trình, mỗi cương vị độc lập công tác phải kiểm tra đạt cả lý thuyết lẫn thực tế trước khi được bố trí làm việc chính thức

Đối với lực lượng làm công tác chuyên môn nghiệp vụ như các công tác về chế độ chính sách, công tác lập dự toán sửa chữa lớn, lập kế hoạch sản xuất,… đều được đào tạo chuyên sâu thêm hằng năm nhằm nâng cao chuyên môn bằng nhiều hình thức như mời giáo viên, các chuyên gia giỏi về tại Công

ty dạy hoặc được gửi lên các trường, trung tâm đào tạo để bồi dưỡng

Có thể nói, sản xuất điện là ngành công nghiệp đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao của người lao động trong công tác và nó còn liên quan, ảnh hưởng nhiều đến các lĩnh vực kinh tế, phát triển xã hội khác Bên cạnh đó, do đặc thù của ngành, người lao động đòi hỏi phải có sức khỏe tốt, tâm lý vững vàng để

có thể làm việc trong những điều kiện độc hại, độ rung, tiếng ồn cao, làm việc trong khu vực có điện trường cao, làm việc ca đêm,…

2.2 Phân tích những tồn tại ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về sản lượng,

d oanh thu, các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật

Mặc dù đã đạt được nhiều thành công trong những năm qua, nhưng do một số khó khăn về cơ chế quản lý, chế độ chính sách và môi trường làm việc nên cũng đã phát sinh nhiều tồn tại, bất cập cần phải sớm được khắc phục Những tồn tại này đã ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, sản

Ngày đăng: 27/02/2021, 16:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w