1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại bộ kế hoạch và đầu tư

107 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Luận văn đã đưa ra 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bao gồm nhóm yếu tố bên trong cơ quan quản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Hà Nội – Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

- TĂNG NGUYỆT ÁNH

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ

DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS PHAN DIỆU HƯƠNG

Hà Nội – Năm 2014

Trang 3

Để hoàn thành Chương trình cao học và Luận văn này, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của Quý thầy, cô trường Đại học Bách Khoa

Hà Nội và các anh, chị cán bộ của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế

hoạch và Đầu tư

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô trường Đại Học Bách

Khoa Hà Nội, đặc biệt là những thầy, cô đã tận tình dạy bảo cho tôi trong thời gian

học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Phan Diệu Hương đã dành rất nhiều

thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành Luận văn tốt

nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cũng như các anh, chị cán bộ của Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh đã tạo điều kiện cho tôi thu thập thông tin, dữ liệu để

thực hiện Luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực

tiễn của tôi còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất

mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn

HỌC VIÊN

Tăng Nguyệt Ánh

Trang 4

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

dữ liệu, kết quả nêu trong Luận văn này hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ

Tăng Nguyệt Ánh

Trang 5

Bảng 1 Các mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam…… 23

Bảng 2.Tình hình đăng ký doanh nghiệp chia theo địa phương giai đoạn

2011-2013……… 39

Bảng 3 Số lượng điều và từ được quy định tại các Luật về doanh nghiệp giai

đoạn 1991-2011……… 44

Bảng 4 Thời gian trung bình cần cho việc thành lập doanh nghiệp theo đúng luật

qua các giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2013……… 45

Bảng 5 Số lượng văn bản trảo đổi, góp ý và số lượng hội thảo, tập huấn về

nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp……… 46

Bảng 6 Số lượng tỉnh, thành phố đã được chuẩn hóa dữ liệu giai đoạn 2011-

2013……… 48

Bảng 7 Tỷ lệ trả kết quả đúng hạn cho giao dịch đăng ký thành lập doanh nghiệp……… 51

Trang 6

Hình 1 Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 5

1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 5

1.1.1 Đăng ký doanh nghiệp 5

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 10

1.2 Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp 12

1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 13

1.4 Nguyên tắc quản lý về đăng ký doanh nghiệp 15

1.4.1 Tập trung dân chủ 15

1.4.2 Thu hút người dân, doanh nghiệp tham gia quản lý nhà nước 16

1.4.3 Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước 16

1.4.4 Kế hoạch hóa trong quản lý nhà nước 16

1.4.5 Quản lý nhà nước kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ 17

1.5 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 17

1.5.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 17

1.5.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 18

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 19

1.6.1 Yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước 19

1.6.2 Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà nước 20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 25

Trang 8

2.1 Giới thiệu sơ bộ về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh 25 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh 25 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh 28 2.1.3 Bộ máy tổ chức, quản lý của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 37 2.2 Đánh giá kết quả đã đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư 37 2.3 Phân tích thực trạng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại

Bộ Kế hoạch và Đầu tư 41 2.3.1 Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký doanh nghiệp 41 2.3.2 Phân tích công tác phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 46 2.3.3 Công tác tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống thông tin phục vụ đăng ký doanh nghiệp 47 2.3.4 Công tác kết nối hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp và hệ thống thông tin thuế 49 2.3.5 Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp 51 2.3.6 Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về đăng ký doanh nghiệp 56 2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư 60 2.4.1 Phân tích các yếu tố bên trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư 60 2.4.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư 65 2.4.3 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng chưa tốt đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghịêp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư 68

Trang 9

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 70

3.1 Quan điểm quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam 70

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam 70

3.1.2 Mục tiêu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về quản lý đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam 71

3.2 Định hướng phát triển về công tác quản lý đăng ký doanh nghiệp của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 72

3.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 72

3.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 73

3.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 74

3.3.3 Kinh nghiệm của Singapore 75

3.3.4 Kinh nghiệm của Na Uy 76

3.4 Bài học kinh nghiệm cho đổi mới quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam 78

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 78

3.5.1 Giải pháp cải cách hành chính tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh 78

3.5.2 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp 88

3.5.3 Giải pháp định hướng khác 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của Đề tài

Lực lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước ở nước ta được hình thành từ cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 Tuy nhiên, trong suốt thập kỷ 1990, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế quản lý tập trung, mang tính dè dặt, thận trọng Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp giai đoạn này chủ yếu mang tính kiểm soát, kìm hãm doanh nghiệp Do vậy, lực lượng doanh nghiệp thời kỳ này chưa thực sự phát triển, đòi hỏi đối với công tác quản lý nhà nước về doanh nghiệp không cao

Sang đầu thế kỷ 21, cộng đồng doanh nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ Tiếp theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực vào ngày 01/07/2006, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/4/2010

và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2010 đã tạo ra một bước tiến mới trong tiến trình cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh, xoá bỏ cơ bản các rào cản đăng ký gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp Kết quả là số lượng doanh nghiệp đăng ký mới tăng đều qua các năm, nhờ vậy, trong 5 năm 2006 – 2010, đã có 343,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập (cao gấp 2,3 lần so với 5 năm 2001- 2005) với tổng

số vốn đăng ký đạt 2.600 nghìn tỷ đồng (cao gấp 8,4 lần so với cùng 5 năm 2001 - 2005); tính đến hết năm 2011, cả nước đã có 623,7 nghìn doanh nghiệp được đăng

ký thành lập Năm 2012, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới trong phạm vi cả nước là 70 nghìn doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký mới là 467 nghìn tỷ đồng Trong năm 2013, cả nước đã có gần 80 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

Sự phát triển nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp thành lập đã kéo theo sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng của công tác quản lý đối với doanh nghiệp Do vậy, công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp cần phải tăng cường

và đổi mới

Trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả tích cực, song, về cơ bản, công tác quản lý đối với doanh nghiệp nói chung và đăng ký doanh nghiệp nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém Trong các nội dung của

Trang 11

quản lý nhà nước về doanh nghiệp thì đăng ký kinh doanh có sự tiến bộ nhiều nhất Trong khi đó, công tác xây dựng pháp luật doanh nghiệp vẫn chậm đổi mới, tuyên truyền và phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp chưa được quan tâm, năng lực thanh-kiểm tra của cơ quan quản lý còn yếu Do đó, tình trạng vi phạm pháp luật của doanh nghiệp như trốn thuế, mua bán hóa đơn trái phép, lừa đảo, vi phạm quyền

sở hữu trí tuệ, gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm… diễn ra phổ biến Ở một số lĩnh vực, quản lý nhà nước đã bị buông lỏng, gây ra tình trạng doanh nghiệp “nhờn luật”, sẵn sàng vi phạm pháp luật, chịu xử phạt để đạt được mục tiêu lợi nhuận

Để khắc phục những mặt tiêu cực của doanh nghiệp, bắt kịp với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp thì quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp phải được đổi mới, các nội dung quản lý phải được phát triển cân bằng hơn, trình độ, năng lực của chủ thể quản lý cũng phải được nâng cao để phù hợp với đối tượng bị quản lý

Với những lý do trên, Đề tài “Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư” được nghiên cứu dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp để khắc họa cụ thể thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp, từ đó đánh giá đúng những mặt tích cực cũng như hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng này

2 Mục đích nghiên cứu của Luận văn

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận

về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư để khắc họa cụ thể thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại đây, từ đó đánh giá đúng những mặt tích cực cũng như hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu

Những nội dung cơ bản về quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với đăng

ký doanh nghiệp

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước

về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp của một số quốc gia trên thế giới

- Về thời gian: Luận văn xem xét, đánh giá thực trạng đăng ký của các doanh nghiệp và quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian từ năm 1990 đến nay

Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Về việc thu thập và xử lý số liệu, Luận văn sử dụng phương pháp thống kê;

cụ thể là tổng hợp, phân tích, so sánh các nguồn số liệu từ các báo cáo thống kê trong nước của các cơ quan Chính phủ đặc biệt là Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư cũng như một số nguồn số liệu khác

Bên cạnh đó, Luận văn cũng vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học

và thực tiễn của đề tài

6 Những đóng góp của Luận văn

Từ khái niệm quản lý nhà nước và nội dung đăng ký kinh doanh, Luận văn

đã đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Bên cạnh đó, Luận văn đã đưa ra 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bao

gồm nhóm yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước như Hệ thống các văn bản

pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký doanh nghiệp; Năng lực, trình độ

Trang 13

của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước làm việc trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp; Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp trong cơ quan quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp; Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp và nhóm yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà

nước như Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ

hơn; Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp; Sự phát triển của hệ thống

công nghệ - thông tin; Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Bằng việc phân tích, đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Luận văn đã đưa ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng không tốt đến công tác này Đồng thời, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước được đánh giá có môi trường kinh doanh thuận lợi, Luận văn đã đưa ra 03 giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

- Chương II: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Chương III: Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

1.1.1 Đăng ký doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp

Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách toàn diện môi trường kinh doanh và công tác đăng ký kinh doanh bằng việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp

1999 Về cơ bản, Luật Doanh nghiệp đã thay đổi bản chất của việc đăng ký kinh doanh từ “xin phép được tiến hành kinh doanh” sang “thông báo với các cơ quan có thẩm quyền về sự hiện hữu của doanh nghiệp” Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký kinh doanh đã được cải cách cơ bản, đơn giản hóa và rút ngắn nhiều lần so với trước đây Những thay đổi mà cải cách đem lại đã tạo nên sự phát triển mạnh

mẽ của khu vực tư nhân ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh phải khẩn trương được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải cách

Trước tình hình đó, để chỉ đạo kịp thời và quyết liệt công cuộc cải cách môi trường kinh doanh, một số các văn bản hướng dẫn quan trọng đã được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành:

Ngày 31/12/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp [7]

29/2000/CT-Ngày 02/8/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 17/2002/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh thi hành Luật Doanh nghiệp [8]

Ngày 11/12/2003, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa[9]

Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 [6]

Trang 15

Ngày 23/10/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm (2006-2010) [11]

Ngày 27/02/2007, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp [1]

Ngày 30/11/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp [12]

Ngày 29/7/2008, Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Thay thế Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA) [2]

Ngày 15/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng

ký doanh nghiệp [13]

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì khái niệm về

đăng ký doanh nghiệp được hiểu: “Đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”[13]

Đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được nhà nước bảo hộ

1.1.1.2 Hình thức đăng ký doanh nghiệp

- Đăng ký thành lập mới doanh nghiệp: Đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân; Đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn; Đăng ký thành lập công ty

cổ phần; Đăng ký thành lập công ty hợp danh

Trang 16

- Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp: Đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, công ty CP; Đăng ký thay đổi chủ sở hữu công ty; Đăng ký thay đổi cổ động sáng lập công ty CP; Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký thuế; Đăng ký giải thể doanh nghiệp

1.1.1.3 Quy trình đăng ký doanh nghiệp

+ Nộp hồ sơ trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng ký kinh doanh

Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp hồ sơ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh

nghiệp đặt trụ sở chính

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được tiếp nhận để nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia khi:

- Có đủ giấy tờ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP;

- Tên doanh nghiệp đã được điền vào Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

hoặc Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp;

- Có địa chỉ liên lạc của người nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp;

- Đã nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định

Bước 2: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng Đăng ký kinh doanh phải trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ

Bước 3: Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ

sơ đăng ký doanh nghiệp vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Nếu hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ

Trang 17

Hình 1 Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng bản giấy

tại Phòng Đăng ký kinh doanh + Nộp hồ sơ qua mạng điện tử

- Không sử dụng chữ ký số công cộng

Bước 1: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, xác thực hồ sơ và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử từ Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Bước 3: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

Bước 4: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ

Trang 18

Bước 5: Sau khi nhận được thông báo về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp phải nộp một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy kèm theo Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

Bước 6: Sau khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy, Phòng Đăng ký kinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.Doanh nghiệp có thể nhận trực tiếp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký và trả phí để nhận qua đường bưu điện

Hình 2 Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không sử

dụng chữ ký số công cộng

- Sử dụng chữ ký số công cộng

Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử,

ký số vào hồ sơ đăng ký điện tử và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Trang 19

Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “quản lý” Có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị, cũng có quan điểm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Quan niệm chung nhất được nhiều giáo trình liên quan đến khoa học quản lý, quản trị đưa ra như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá

Trang 20

trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [5] Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một hệ thống tổ chức nằm trong xã hội

Nếu xét theo góc độ đối tượng quản lý thì có thể chia hoạt động quản lý thành 3 loại:

- Loại thứ nhất: là hoạt động của con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người để bắt chúng phải thực hiện ý đồ điều khiển Ví dụ như hoạt động trồng trọt, chăn nuôi…

- Loại thứ hai: là hoạt động của con người điều khiển các vật vô tri vô giác

để bắt chúng thực hiện theo ý đồ của người điều khiển Ví dụ như hoạt động điều khiển máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải…

- Loại thứ ba: là hoạt động con người điều khiển con người Loại hình này được gọi là quản lý xã hội

Quản lý xã hội được Mác coi là chức năng quản lý đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động [5] Hiện nay, khi nói đến quản lý, thông thường người ta nghĩ đến quản lý xã hội Trong các chủ thể tham gia quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội một cách toàn diện, toàn dân bằng pháp luật, thể hiện như sau:

- Thứ nhất, quản lý toàn dân là Nhà nước quản lý toàn bộ những người sinh sống và đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm cả những người không phải là công dân

- Thứ hai, quản lý toàn diện là Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng lãnh thổ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở luật pháp quy định

- Thứ ba, quản lý bằng pháp luật là việc Nhà nước đưa ra một hệ thống quy định pháp luật buộc nhà nước, toàn dân phải tuân theo các quy định đó, nếu không tuân thủ sẽ bị xử phạt

Trang 21

Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước như sau: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp)

để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật

Từ khái niệm về quản lý nhà nước và nội dung đăng ký kinh doanh, có thể đưa ra khái niệm chung về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp như sau:

Quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là một nội dung của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, trong đó, khách thể quản lý là doanh nghiệp Quản

lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là sự tác động có tổchức và bằng pháp quyền của nhà nước đến công tác đăng ký doanh nghiệp nhằm quản lý, điều hành

và khai thác, sử dụng có hiệu quả nhất công tác đăng ký doanh nghiệp bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Sự chồng chéo của hệ thống luật pháp chính sách liên quan đến đăng ký kinh doanh, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp là một trong những yếu tố không nhỏ gây ra khó khăn cho người dân và doanh nghiệp khi gia nhập thị trường Càng nhiều quy định pháp lý thì thì doanh nghiệp càng phải chi phí nhiều hơn nhưng đối với các doanh nghiệp lớn chi phí tuân thủ quy phạm pháp luật được chia nhỏ cho từng đơn vị sản phẩm và lợi ích đạt được từ việc hoạt động hợp pháp trên thị trường sẽ

đủ bù đắp cho những chi phí đó Điều này đôi lúc các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) không đạt được do vậy họ bắt buộc phải lựa chọn con đường không tuân thủ đầy đủ các quy phạm pháp luật Đây chính là lý do tại sao trong mọi nền kinh tế luôn tồn tại một khu vực kinh doanh phi chính thức

Bên cạnh đó, để cải thiện môi trường hành chính pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật luôn

là một vấn đề cần được quan tâm Ở nhiều quốc gia, luật pháp có thể được xây dựng rất tốt, đưa ra những quy định thuận lợi cho doanh nghiệp song hệ thống cơ quan

Trang 22

thực thi chính sách, pháp luật không phải khi nào cũng triển khai hiệu quả các quy định, chính sách đó

Hồ sơ thủ tục nhiều khi được các cán bộ nhà nước hướng dẫn một cách phức tạp, thông tin về quy định nhà nước thiếu minh bạch tất cả những điều này chỉ để gây sức ép cho doanh nghiệp phải chấp nhận trả một khoản chi phí phi chính thức Với hệ thống cơ quan thực thi pháp luật như vậy sẽ ngăn cản các nhà đầu tư tiềm năng thực hiện việc bỏ vốn kinh doanh

Có thể nói rằng vai trò của Nhà nước trong phát triển môi trường kinh doanh tại Việt Nam và đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau: Tạo một hành lang pháp lý bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thực hiện thủ tục gia nhập thị trường; Đẩy mạnh tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; Cải thiện tính minh bạch của môi trường kinh doanh; Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đặt trọng tâm hoạt động vào phục vụ người dân và nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính

1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Điều 12 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định nội dung quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp [13], bao gồm:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, văn bản hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và việc đăng ký qua mạng điện tử

- Hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp cho cán bộ làm công tác đăng ký doanh nghiệp

- Tổ chức xây dựng, quản lý Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để hỗ trợ các nghiệp vụ về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc; cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp cho các cơ quan có liên quan của Chính phủ, cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu; hướng dẫn các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc chuyển đổi dữ liệu sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Trang 23

- Kết nối giữa hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp và hệ thống thông tin về thuế

- Phát hành ấn phẩm thông tin doanh nghiệp để thực hiện đăng thông tin về đăng ký doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp trên toàn quốc

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Bên cạnh đó, Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ [13] cũng quy định việc hợp nhất đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế thành đăng

ký doanh nghiệp, theo đó, đăng ký doanh nghiệp bao gồm: đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (như thay đổi tên, thay đổi trụ sở chính, thay đổi người đại diện theo pháp luật…), tổ chức lại doanh nghiệp (bao gồm chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp), tạm ngừng kinh doanh (bao gồm thông báo tạm ngừng kinh doanh và yêu cầu tạm ngừng kinh doanh), thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp.Đăng ký các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bao gồm: đăng ký hoạt động, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, thu hồi giấy chứng nhận đăng

ký hoạt động, đăng ký chấm dứt hoạt động Như vậy, quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp sẽ bao gồm toàn bộ nội dungliên quan đến việc tổ chức và thực thi đăng ký doanh nghiệp

Có thể khái quát hóa các nội dung quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp như sau:

- Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký doanh nghiệp và phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp

Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi phục vụ cho công tác đăng ký doanh nghiệp và dễ dàng, thuận tiện cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, để các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp thực sự đi vào cuộc sống thì công tác phổ biến, hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký kinh doanh là vô cùng cần thiết

Trang 24

- Tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Bộ máy cơ quan đăng ký kinh doanh hiện nay có ở ba cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện, việc tổ chức bộ máy là hết sức quan trọng, nó đảm bảo qui trình nghiệp vụ thống nhất và xuyên suốt từ cấp trung ương xuống địa phương

- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng để thực thi chính sách

Hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp có phạm vi rộng

và bao trùm nhiều cơ quan quản lý khác nhau, ở cấp địa phương bao gồm Uỷ ban nhân dân các quận - huyện với các Sở, ngành chức năng, ở cấp Trung ương bao gồm Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Cục Thuế -

Bộ Tài chính, Bộ Công an Tùy theo từng chức năng nhiệm vụ thì mỗi cơ quan có yêu cầu quản lý khác nhau nhưng nhìn chung đều có sự giao thoa về việc theo dõi

và quản lý doanh nghiệp Do đó, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý là hết sức cần thiết nhằm thống nhất cách thức thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực, bên cạnh đó, tránh được sự trùng chéo và chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả

- Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về đăng ký doanh nghiệp

Kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp là việc làm quan trọng, đảm bảo cho việc tuân thủ một cách đầy đủ các quy định của nhà nước đối với lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp Trước đây việc kiểm tra được thực hiện theo cơ chế “tiền kiểm” thì hiện nay được thực hiện theo cơ chế “hậu kiểm” đã dần nâng cao được vai trò, trách nhiệm cá nhân của các tổ chức, công dân và thể hiện rõ quyền tự do, tự chủ trong đăng ký doanh nghiệp

1.4 Nguyên tắc quản lý về đăng ký doanh nghiệp

1.4.1 Tập trung dân chủ

Về mặt hoạt động, cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên như Cục quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng, ban hành pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch…liên quan đến đăng ký doanh nghiệp Các cơ quan nhà nước ở cấp địa phương và cấp dưới như Sở, ngành chức năng, Ủy ban nhân dân cấp quận -

Trang 25

huyện được quyền dân chủ trong đóng góp ý kiến với cơ quan cấp trên trong những việc nêu trên nhưng phải thực hiện và phục tùng quyết định, chỉ thị của cơ quan cấp trên

Nguyên tắc tập trung dân chủ còn đòi hỏi cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới trong việc thực hiện các quyết định và chỉ thị của cơ quan cấp trên,thực hiện chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên giữa cấp trên và cấp dưới; đảm bảo kỷ luật nghiêm minh trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước

1.4.2 Thu hút người dân, doanh nghiệp tham gia quản lý nhà nước

Điều 53, Hiến pháp 1992 quy định rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị tới các cơ quan nhà nước và biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” [5]

Nguyên tắc này thể hiện bản chất của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân Thực hiện nguyên tắc này không những tạo ra khả năng phát huy sức lực và trí tuệ của nhân dân trong việc thảo luận, góp ý đối với chủ trương, chính sách của nhà nước liên quan đến đăng ký doanh nghiệp mà còn là một trong những phương pháp tốt để ngăn chặn tệ quan liêu, cửa quyền trong quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp; bên cạnh đó, đảm bảo sự cạnh tranh và minh bạch của môi trường doanh nghiệp

1.4.3 Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc đòi hỏi các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức,

cá nhân phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa một cách tuyệt đối Điều 12, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [5]

1.4.4 Kế hoạch hóa trong quản lý nhà nước

Kế hoạch hóa là việc đưa các hoạt động của quản lý nhà nước thành kế hoạch Chỉ khi các hoạt động quản lý được lập thành kế hoạch mới tránh được sự tùy tiện Trong quản lý nhà nước, kế hoạch hóa là nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở chỗ tất cả các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 26

đều tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch ở các cấp Đối với cấp quản lý trung ương, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư là đơn vị chủ trì xây dựng lộ trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, để xây dựng được lộ trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện về quy mô dân số, kinh tế, mức độ áp dụng công nghệ thông tin…của các tỉnh thành khác nhau đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến của cấp quản lý địa phương là các Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc các Sở Kế hoạch và Đầu tư của 63 tỉnh thành

1.4.5 Quản lý nhà nước kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ

Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo 4 cấp hành chính là cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó, cấp dưới phải tuân thủ cấp trên Quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ phải có sự kết hợp chặt chẽ Quản lý theo ngành mà tách rời yếu tố lãnh thổ sẽ có nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các quan hệ trên lãnh thổ như: sử dụng đồng bộ các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, làm phát triển xu hướng tập trung, quan liêu Quản lý theo lãnh thổ mà tách rời yếu

tố ngành sẽ dẫn đến tính cục bộ, phá vỡ tính hệ thống quốc gia

1.5 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

1.5.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Doanh nghiệp, với vai trò là tế bào của nền kinh tế, có tác động rất lớn tới xã hội: doanh nghiệp tạo ra nguồn của cải chủ yếu cho xã hội, tạo ra công ăn việc làm… Tuy nhiên, song song với những lợi ích mà doanh nghiệp mang lại cho xã hội thì vì mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp cũng gây không ít ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội như: ô nhiễm môi trường, trốn thuế gây thất thu cho ngân sách nhà nước, vi phạm pháp luật gây mất trật tự an toàn xã hội…

Do vậy, mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là: Thứ nhất, nắm bắt được thực trạng của các doanh nghiệp từ đó đưa ra các chính sách, giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân bằng của doanh nghiệp với xã hội thông qua việc tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp gia

Trang 27

nhập thị trường để tiến hành sản xuất, kinh doanh nhưng cũng hạn chế những tác động tiêu cực của doanh nghiệp tới xã hội

Thứ hai, thông qua việc nắm bắt thực trạng của doanh nghiệp, tình hình hoạt động của doanh nghiệp từ đó có phương án cân đối các mục tiêu vĩ mô của nền kinh

tế nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và hợp lý

Thứ ba, nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, đó là các nguồn lực về vốn, lao động cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung

1.5.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 [13] thì hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp bao gồm các hoạt động cơ bản:

- Xây dựng, phổ biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và pháp luật liên quan đến đăng ký doanh nghiệp;

- Tổ chức, thực hiện quản lý về đăng ký doanh nghiệp;

- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan để quản lý về đăng ký doanh nghiệp;

- Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp

Việc đưa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của các hoạt động trên là khá phức tạp, thường mang tính định tính và rất khó thực hiên Do vậy, đối với quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp, việc đánh giá hiệu quả phải dựa trên kết quả tổng hợp của việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước Kết quả tổng hợp sẽ được phản ánh thông qua tiêu chí mang tính định lượng về đăng ký doanh nghiệp và cụ thể ở đây như sau:

- Số lượng văn bản trao đổi, góp ý và số lượng hội thảo, tập huấn về nghiệp

vụ đăng ký doanh nghiệp đối với các tổ chức, đơn vị trong và ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

Trang 28

- Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giai đoạn 2011 - 2013;

- Số lượng doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động giai đoạn 2011 - 2013;

- Thời gian trung bình cần cho việc thành lập doanh nghiệp theo đúng luật qua các giai đoan từ năm 1991 đến nay;

- Tỷ lệ trả kết quả đúng hạn cho giao dịch đăng ký thành lập doanh nghiệp;

- Số lượng tỉnh, thành phố đã được chuẩn hóa dữ liệu để hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp 1.6.1 Yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước

Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký doanh nghiệp

Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký doanh nghiệp là công cụ để nhà nước quản lý công tác đăng ký doanh nghiệp Bộ

Kế hoạch và Đầu tư (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh) với chức năng là cơ quan chuyên môn của Chính phủ trong thời gian qua đã tham mưu cho Chính phủ ban hành nhiều văn bản, chính sách quan trọng về đăng ký doanh nghiệp Với cương vị

cơ quan đăng ký kinh doanh cấp trung ương, là cơ quan cấp trên, các văn bản Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành nhằm chỉ đạo và hướng dẫn kịp thời về công tác chuyên môn, nghiệp vụ cho các cơ quan đăng ký kinh doanh địa phương, góp phần tăng cường tính công khai minh bạch của các thông tin liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của cơ quan quản lý trong việc xử lý các thủ tục hành chính cho công dân và doanh nghiệp, từng bước phù hợp với hệ thống luật pháp và thông lệ của quốc tế

Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước làm việc trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Đội ngũ cán bộ công chức là chủ thể trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp, vì vậy đòi hỏi phải có trình độ hiểu biết nhất định và am hiểu các chính sách, pháp luật về doanh nghiệp Kỹ năng và kiến thức của đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh là yếu tố quyết định trong quản lý nhà nước đối

Trang 29

với đăng ký doanh nghiệp Đội ngũ cán bộ hạn chế về trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp chưa cao, nhất là kiến thức quản lý hiện đại, chưa áp dụng được tin học trong quản lý một cách đồng bộ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp trong cơ quan quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp đóng vai trò nền tảng trong việc quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp Đây là nơi lưu trữ toàn bộ thông tin đăng ký doanh nghiệp trên toàn quốc Cơ sở dữ liệu này cũng cho phép cơ quan đăng ký kinh doanh triết xuất thông tin đăng ký doanh nghiệp theo nhiều tiêu chí khác nhau để phục vụ cho công tác hoạch định chính sách

Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Sự phối hợp giữa các cơ quan cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng

ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp có chặt chẽ, liên thông một cửa mới có thể giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp khi gia nhập thị trường, tạo ra một hệ thống đăng ký minh bạch để ngăn chặn những hành vi tham

ô hoặc đưa ra những quyết định tư lợi

1.6.2 Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà nước

Nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn

Tại văn kiện Đại hội XI của Đảng, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội 2011-2020 của nước ta [5], đã nêu rõ quan điểm:

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp Phải tăng

Trang 30

cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch

Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý

và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội

Như vậy, có thể thấy, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là một hệ thống

các quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong một thời kỳ dài Việc quản lý nhà nước

về đăng ký doanh nghiệp cần phải tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung của đất nước Chiến

lược phát triển kinh tế -xã hội đưa ra định hướng để từ đó xây dựng các chính sách

về quản lý đăng ký doanh nghiệp một cách có trọng tâm, trọng điểm nhằm khai thác

và sử dụng dữ liệu đăng ký doanh nghiệp có hiệu quả phục vụ cho mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước

Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp

Có thể nói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tăng lên sau 7 năm gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp đã năng động, nhạy bén, mạnh dạn hơn trong việc xâm nhập vào thị trường thế giới Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời, doanh nghiệp có sự phát triển rất nhanh chóng cả về số lượng và nội dung hoạt động Trình độ quản lý, tay nghề của khối doanh nghiệp tăng lên; sản phẩm xuất khẩu bắt đầu chiếm lĩnh thị trường thế giới Nhiều doanh nghiệp đã trụ vững trước những biến động, khó khăn của nền kinh tế trong nước và những tác động tiêu cực

Trang 31

từ khủng hoảng tài chính, suy thoái của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do tăng nhanh về số lượng, trong khi chưa chuẩn bị đầy

đủ điều kiện cho sự ra đời và hoạt động, nên những hạn chế của doanh nghiệp như thiếu hụt vốn (nguồn vốn chủ yếu từ vay ngân hàng); chất lượng lao động thấp, lao động chủ yếu là thủ công, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp ít đượcđào tạo; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp; trình độ am hiểu luật pháp, hệ thống thị trường còn yếu ngày càng bộc lộ rõ khi nền kinh tế thế giới trong tình trạng suy thoái Những hạn chế này đã gây tác động không nhỏ đến tính tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp

Sự phát triển của hệ thống công nghệ - thông tin

Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại Với sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay, việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, con người có nhiều điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến hơn Hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực hay hoạt động trong xã hội hiện đại cũng cần tới sự góp mặt của công nghệ thông tin Bởi sự đa dạng ấy, đối tượng phục vụ của công nghệ thông tin ngày càng phong phú Do vậy, ứng dụng và phát triển công

nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,

là phương tiện chủ lực đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước

Do vậy, công tác quản lý nhà nước về dữ liệu đăng ký doanh nghiệp cần phải hướng đến yêu cầu của quá trình hội nhập, bắt kịp với công nghệ tiên tiến của thế giới để xây dựng một hệ thống thông tin hiện đại để lưu trữ cơ sở dữ liệu quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp thống nhất trong phạm vi toàn quốc

Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đây là một xu hướng tất yếu khách quan, việc hội nhập đòi hỏi chúng ta phải cùng hợp tác và trao đổi với các quốc gia nhằm cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất đáp ứng các

Trang 32

yêu cầu mới trong quá trình hội nhập Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế, chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung Đây là vấn đề mang tính chất quyết định đối với nền kinh tế của một quốc gia

Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt Nam so với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần có những quyết sách đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế về đơn giản hóa thủ tục hành chính; minh bạch hóa môi trường kinh doanh nói chung và công tác đăng ký kinh doanh nói riêng

Bảng 1 Các mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế

của Việt Nam Thời điểm Sự kiện

1986 Đại hội Đảng VI mở đường cho chính sách mở cửa và hội nhập

1992 Quan sát viên của ASEAN

1995 Thành viên chính thức của ASEAN

1996-2006 Thực hiện lộ trình AFTA

1998 Thành viên của APEC

2000 Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết

2006 Thành viên chính thức của WTO

Trang 33

Tóm tắt nội dung Chương I

Chương I đã hệ thống các cơ sở lý thuyết quan trọng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp như: Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp, nội dung của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp, nguyên tắc quản lý về đăng ký doanh nghiệp

Để từ đó đưa ra mục tiêu, tiêu chí đánh giá, xác định các yếu tổ ảnh hưởng đến quản lý nhà nước nước đối với đăng ký doanh nghiệp, làm căn cứ và cơ sở cho việc đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ

Kế hoạch và Đầu tư ở Chương II

Trang 34

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG

KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

2.1 Giới thiệu sơ bộ về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngày 8 tháng 10 năm 1955, ngày Hội đồng Chính phủ họp quyết định thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được xác định là ngày thành lập Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngược trở lại lịch sử, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập

Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ một kế hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn hóa ủy ban gồm các ủy viên là tất cả các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có các Tiểu ban chuyên môn, được đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Chính phủ

Vì vậy, trong buổi lễ ngành Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Sao Vàng được tổ chức tại Hội trường Ba Đình lịch sử ngày 4 tháng 11 năm 2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định lấy ngày 31 tháng 12 năm 1945 là ngày truyền thống của ngành Kế hoạch và Đầu tư Kể từ đây ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ

Kế hoạch và Đầu tư coi ngày 31 tháng 12 hằng năm là ngày Lễ chính thức của mình

Theo dòng lịch sử, có thể điểm lại các mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và trưởng thành của ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư như sau:

Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho Ủy ban Nghiên cứu

Trang 35

kế hoạch kiến thiết) Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc những vấn đề quan trọng khác

Trong phiên họp ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và ngày 14 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 603-TTg thông báo quyết định này Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và các Bộ phận kế hoạch của các Bộ ở Trung ương, Ban kế hoạch ở các khu, tỉnh, huyện có nhiệm vụ xây dựng các dự án kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, và tiến hành thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch Ngày 9-10-1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 158-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong đó xác định rõ Ủy ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Cùng với thời gian, qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ đã có hàng loạt các Nghị định quy định và bổ sung chức năng cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (158/CP, 47/CP, 209/CP, 29/CP, 10/CP, 77/CP, 174/CP, 15/CP, 134/CP, 224/CP, 69/HĐBT, 66/HĐBT, 86/CP, v.v )

Ngày 27 tháng 11 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 151/HĐBT giải thể Ủy ban Phân vùng kinh tế Trung ương, giao công tác phân vùng kinh tế cho

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tiếp nhận Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng chính sách, luật pháp kinh tế phục vụ công cuộc đổi mới Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

bộ máy của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư

Trang 36

Ngày 17 tháng 8 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 99/2000/TTg giao Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam về Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo Nghị định 75/CP gồm 22 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 tổ chức sự nghiệp trực thuộc Từ chỗ chỉ có 55 người khi mới thành lập năm 1955, năm 1988 biên chế của Bộ đạt số lượng cao nhất 930 người; đến nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 760 cán bộ công nhân viên, trong đó 420 cán bộ đang tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Bộ cũng không ngừng lớn mạnh, hiện nay có 2 giáo sư, 7 phó giáo sư, 126 tiến sĩ, 42 thạc sĩ, 479 người có trình độ đại học

Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban Kế hoạch Quốc gia - tiền thân của Ủy ban

Kế hoạch Nhà nước, sau này là Bộ Kế hoạch và Đầu tư - là cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện một số nhiệm vụ về quản lý nhà nước đối với công tác đăng ký kinh doanh Theo đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (nay là Cục Phát triển doanh nghiệp) thực hiện các nhiệm vụ nêu trên cùng với các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác như: xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Với số lượng các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng nhiều lên trong những năm gần đây, ngày 09/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1659/QĐ-TTg thành lập Cục Quản lý đăng ký kinh doanh trực thuộc Bộ Kế hoạch

và Đầu tư để giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh [20]

Trang 37

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo Nghị định số 116/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chức năng nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư [19], Bộ Kế hoạch

và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế (bao gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình khu kinh tế khác); quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt ODA)

và viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp

và khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã; thống kê; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật

Theo Nghị định này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau:

- Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của

Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

- Trình Chính phủ chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm

và hàng năm của cả nước cùng với các cân đối vĩ mô của nền kinh tế quốc dân; lộ trình, kế hoạch xây dựng, sửa đổi các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô; quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển; tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước theo ngành, lĩnh vực; tổng mức và

Trang 38

phân bổ chi tiết vốn trái phiếu Chính phủ, công trái quốc gia; chương trình của Chính phủ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau khi được Quốc hội thông qua; chiến lược nợ dài hạn trong chiến lược tổng thể về huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, ODA và việc đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế thuộc phạm vi quản lý của Bộ; chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã; các dự án khác theo sự phân công của Chính phủ

- Trình Thủ tướng Chính phủ:

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng, lãnh thổ; quy hoạch tổng thể phát triển các khu kinh tế; tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước; danh mục các chương trình, dự án đầu tư quan trọng bằng các nguồn vốn; các khoản chi dự phòng của ngân sách trung ương cho đầu tư xây dựng cơ bản, bổ sung dự trữ nhà nước, hỗ trợ tín dụng nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh; chi ứng trước cho đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật; kết quả thẩm định các dự án quy hoạch, thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm phát triển các loại hình doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã;

Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thống kê và các dự thảo văn bản khác trong các ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật

- Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển, thống kê đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác thuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

về các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ

Trang 39

- Về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch:

Xây dựng chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau khi được Quốc hội thông qua; điều hành thực hiện kế hoạch về một số ngành, lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao;

Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong từng thời kỳ; tổng hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển của các Bộ, ngành và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng, lãnh thổ, quy hoạch tổng thể phát triển các khu kinh tế; có ý kiến về các quy hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi được yêu cầu;

Tổ chức công bố chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ sau khi được phê duyệt; hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng quy hoạch, kế hoạch hàng năm và năm năm gắn phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và vùng, lãnh thổ đã được phê duyệt;

Tổng hợp chung các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân: cân đối tích lũy và tiêu dùng; cân đối về tài chính, tiền tệ; vay và trả nợ nước ngoài; ngân sách nhà nước; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và giám sát các cân đối này; đề xuất các giải pháp lớn để giữ vững các cân đối theo mục tiêu chiến lược và kế hoạch; phối hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng và lập dự toán ngân sách nhà nước, bảo đảm thực hiện mục tiêu kế hoạch;

Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện

kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương; tổ chức theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo định kỳ hàng tháng, quý, năm

Trang 40

- Về đầu tư phát triển và phân bổ ngân sách nhà nước:

Tổng hợp chung về đầu tư phát triển Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về đầu

tư toàn xã hội năm năm, hàng năm; danh mục các chương trình, dự án ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vốn ODA; danh mục các chương trình, dự án đầu tư nhóm A trở lên sử dụng nguồn vốn của Nhà nước và danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình mục tiêu, các dự án quan trọng;

Xây dựng tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo ngành, lĩnh vực; tổng mức và cân đối vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước theo ngành, lĩnh vực (bao gồm cơ cấu đầu tư của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương); tổng mức vốn dự trữ nhà nước, tổng mức vốn góp cổ phần và liên doanh của nhà nước, vốn bổ sung cho các doanh nghiệp công ích, tổng mức vốn trái phiếu Chính phủ và công trái theo ngành, lĩnh vực, tổng mức vốn chương trình mục tiêu quốc gia

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp phân bổ chi tiết vốn đầu tư trong cân đối ngân sách cho các Bộ, ngành, vốn bổ sung dự trữ nhà nước, vốn đối ứng ODA và các dự án quan trọng, vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và công trái theo ngành, lĩnh vực

Tổng hợp phân bổ chi tiết vốn của từng chương trình mục tiêu quốc gia (bao gồm cả vốn đầu tư và vốn sự nghiệp), các chương trình mục tiêu và các khoản bổ sung có mục tiêu khác

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan và các địa phương xây dựng tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển; giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, đặc biệt là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước;

Thường trực Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư quan trọng quốc gia; thẩm định các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình mục tiêu

và các dự án khác do Thủ tướng Chính phủ giao; thẩm tra các dự án đầu tư khác theo quy định của pháp luật về đầu tư

Ngày đăng: 27/02/2021, 16:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm