Sự xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường viễn thông Việt Nam có công nghệ hiện đại, khả năng cung cấp dịch vụ với nhiều ưu điểm vượt trội, thì việc đầu tư phát triển đúng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH: QU Ả N TR Ị KINH DOANH
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN MẠNG ĐIỆN THOẠI
CỐ ĐỊNH VÀ CÁC DỊCH VỤ GIA TĂNG TRÊN MẠNG
CỐ ĐỊNH TẠI ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN MẠNG ĐIỆN THOẠI CỐ ĐỊNH VÀ CÁC DỊCH VỤ GIA TĂNG TRÊN MẠNG CỐ ĐỊNH
TẠI ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
Trang 3Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng, biểu, hình vẽ 4
Phần mở đầu 5
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư, quản lý đầu tư 10
1.1 Đầu tư phát triển: 10
1.1.1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển: 10
1.1.2 Vai trò của đầu tư phát triển: 11
1.1.3 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển: 13
1.1.4 Các giai đoạn đầu tư: 15
1.2 Quản lý đầu tư: 17
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư: 17
1.2.2 Nội dung quản lý đầu tư: 20
1.2.3 Các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư: 22
1.3 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư: 25
1.3.1 Dự án đầu tư : 25
1.3.2 Quản lý dự án đầu tư: 28
1.4 Giám sát, đánh giá đầu tư: 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư: 33
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng của Bưu Điện TP Hà Nội 36
2.1 Những nét khái quát về Bưu điện TP Hà Nội 36
2.1.1 Giới thiệu về Bưu điện TP Hà Nội 36
2.1.2 Những kết quả Bưu điện TP Hà Nội đạt được từ năm 2000-2007 41 2.2 Tình hình cạnh tranh trên thị trường viễn thông tại Hà Nội 46
2.3 Nhu cầu của thị trường đối với mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng: 47
2.4 Công tác kế hoạch Đầu tư XDCB của Bưu điện TP Hà Nội: 52
2.4.1 Kế hoạch đầu tư xây dựng phần tập trung: 52
2.4.2 Kế hoạch đầu tư xây dựng phần phân cấp: 53
2.5 Công tác tổ chức thực hiện đầu tư XDCB tại Bưu điện TP Hà Nội: 60
2.5.1 Công tác chuẩn bị đầu tư: 60
2.5.2 Công tác thực hiện đầu tư: 66
2.5.3 Quá trình kết thúc xây dựng và khai thác sử dụng : 71
2.6 Đánh giá chung về công tác quản lý đầu tư của Bưu điện TP Hà Nội: 76 2.7 Công tác giám sát, đánh giá đầu tư của Bưu điện TP Hà Nội: 85
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng trên địa bàn TP Hà Nội 88
3.1 Đặt vấn đề: 88
3.1.1 Định hướng chiến lược phát triển mạng viễn thông Việt Nam trong giai đoạn 2011 2020: 88
Trang 4Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
3.1.2 Các yêu cầu cụ thể đối với từng giai đoạn đầu tư XDCB của
BĐHN: 90
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng của Bưu điện TP Hà Nội: 100
3.2.1 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công trình XDCB: 100
3.2.2 Các giải pháp đẩy nhanh tiến độ các dự án: 102
3.2.3 Các giải pháp đối với công tác quản lý chi phí đầu tư XDCB: 104
3.2.4 Các giải pháp khác: 106
Phần kết luận 108
Tài liệu tham khảo 110
Phụ lục 111
Trang 5Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Danh mục các chữ viết tắt
MPT Bộ Bưu chính Viễn thông Việt nam
BC KTKT Báo cáo Kinh tế kỹ thuật
TK KTTC-TDT Thiết kế Kỹ thuật thi công và Tổng dự toán
HSMT Hồ sơ mời thầu
HSDT Hồ sơ dự thầu
TCGGVĐT Tổ Chuyên gia giúp việc đấu thầu
Trang 6Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Danh mục các bảng, biểu, hình vẽ
Bảng 2 - 4: Thống kê thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn và mạng
Bảng 2 - 8: ảnh hưởng của nghề nghiệp đến việc sử dụng Điện thoại
Bảng 2 - 10: Giá trị các công trình đầu tư phát triển mạng viễn thông
Biểu 2 - 2: Mật độ điện thoại trên địa bàn Hà Nội qua các năm từ
Biểu 2 - 4: Tỷ lệ thực hiện tiến độ các dự án phát triển mạng viễn
Biểu 2 - 6: Tỷ lệ số lượng các gói thầu theo hình thức lựa chọn nhà
Trang 7Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 2002, khi nhà nước thực hiện các chuyển biến quan trọng trong cơ cấu quản lý (thành lập Bộ Bưu chính Viễn thông – MPT nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) và thực hiện chính sách tự do hoá từng bước thị trường Viễn thông Việt Nam, Ngành Viễn thông Việt Nam đã bước đầu đạt
được những bước phát triển khả quan Môi trường kinh doanh từng bước được
định hình với các qui định pháp lý được xây dựng theo các chuẩn mực của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và các qui định của WTO về thương mại dịch vụ MPT đồng loạt cấp các loại giấy phép kinh doanh viễn thông: quốc tế, đường dài, di động, Internet… cho 6 doanh nghiệp: VNPT, Viettel, SPT, EVN, Vishipel, Hanoi Telecom đã mở ra giai đoạn phát triển mới cho khu vực viễn thông Việt Nam, đồng thời khép lại giai đoạn phát triển viễn thông theo chính sách một doanh nghiệp nhà nước Thị trường Viễn thông Việt Nam đã cơ bản là một thị trường có cạnh tranh với 6 doanh nghiệp viễn thông và hàng chục doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng viễn thông, Internet Có thể nói trong 5 năm qua Việt Nam đã cơ bản thành công trong việc chuyển đổi thị trường viễn thông từ vị thế độc quyền một doanh nghiệp sang thị trường cạnh tranh tương đối cởi mở dưới sự
định hướng của MPT, tạo ra một sân chơi rộng và bình đẳng hơn Đây là xu thế phát triển chung trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tham gia WTO Sự khởi sắc trên thị trường viễn thông Việt Nam những năm qua cho thấy chính sách quản lý của nhà nước và các biện pháp mà MPT áp dụng là cơ bản đúng hướng Thị trường viễn thông Việt Nam đã có sự cạnh tranh, nhu cầu thông tin của các tầng lớp dân cư và toàn xã hội được đáp ứng tốt hơn với nhiều sự lựa chọn hơn Trước áp lực của quá trình cạnh tranh, VNPT là một doanh nghiệp chủ đạo trong lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin trong những năm qua, nhiều thách thức đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tốt về chiến lược
đầu tư và nhân lực để thích ứng tiếp tục phát triển bền vững, xứng đáng là doanh nghiệp chủ lực của Việt nam trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và
Trang 8Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
và chuyên môn hoá cao ngang tầm các nước trong khu vực; kinh doanh đa ngành, trong đó BCVT và CNTT là ngành kinh doanh chính với nhiều loại hình sở hữu, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo; nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hướng ra thị trường khu vực và thế giới; phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu tổng doanh thu của tập đoàn trong giai
đoạn 2006-2010 dự kiến là 229.420 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 10,7%/năm, riêng năm 2010, dự kiến doanh thu của tập đoàn đạt 55.700 tỷ
đồng; trên cơ sở phấn đấu phát triển mới 21,1 triệu máy điện thoại các loại, nâng tổng số máy điện thoại trên mạng của VNPT vào năm 2010 lên 34 triệu máy; phát triển mới thêm 5 triệu thuê bao internet, trong đó chủ yếu là thuê bao băng rộng
Bưu điện TP Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh bưu chính, viễn thông, là đơn vị hạch toán phụ thuộc nằm trong cơ cấu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và do Tập
đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ Trước biến động của thị trường như đã nêu trên, Bưu điện TP Hà Nội là một trong những doanh nghiệp chủ lực trực thuộc VNPT với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin - Bưu chính trên địa bàn thủ đô là đầu não tập trung bộ máy điều hành về chính trị, kinh tế, văn hoá, … của cả nước, thì thách thức đặt lên vai càng lớn hơn
Sự xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường viễn thông Việt Nam
có công nghệ hiện đại, khả năng cung cấp dịch vụ với nhiều ưu điểm vượt trội, thì việc đầu tư phát triển đúng hướng là một yêu cầu hết sức quan trọng và để công tác đầu tư đạt hiệu quả cao đồng thời đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các qui
định của Nhà nước về công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thì bắt buộc
Trang 9Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
công tác quản lý đầu tư của đơn vị phải từng bước hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đề tài Đề xuất giải pháp hoàn thiện
gia tăng trên mạng cố định tại địa bàn TP Hà Nội được lựa chọn làm luận
văn tốt nghiệp cao học quản trị kinh doanh
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
- Nghiên cứu lý luận chung về đầu tư, quản lý đầu tư
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư phục vụ phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng trên mạng cố định của Bưu điện TP Hà Nội
- Phân tích, đánh giá từ đó tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội, thách thức của Bưu điện TP Hà Nội trong công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng
- Trên cơ sở phân tích đánh giá toàn diện, luận văn đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố
định và các dịch vụ gia tăng của Bưu điện Hà Nội, góp phần huy động tối đa,
sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư, chống mọi hành vi tham
ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả của các dự án đầu tư
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Luận văn chủ yếu nghiên cứu lý luận
về đầu tư, quy trình và nội dung công tác quản lý đầu tư phát triển dịch vụ
điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư
và quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng tại địa bàn Bưu điện TP Hà Nội quản lý, để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư của đơn vị Luận văn tập trung vào những vấn đề quản lý đầu tư nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả công
Trang 10Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin qua những số liệu thu thập từ Phòng Đầu tư XDCB, Phòng Kế hoạch Kinh doanh – BĐHN, Trung tâm Thông tin Bưu điện và số liệu công bố trên mạng, …
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh trên cơ sở điều tra, quan sát thực tế và các số liệu thống kê thu thập thông tin từ sách, tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có liên quan để đánh giá tình hình một cách sát thực, làm cơ sở vững vàng để đưa ra những nhận xét đánh giá và đề xuất các giải pháp thực hiện
- Phương pháp phân tích thống kê để đánh giá các số liệu thống kê từ các nguồn: Tạp chí của Bộ Bưu chính viễn thông, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, các báo cáo tổng kết của các Công ty kinh doanh lĩnh vực viễn thông
- Phương pháp chuyên gia, tư vấn cũng được coi trọng trong việc thực hiện giải pháp có tính mới trong lĩnh vực viễn thông và dự báo nhu cầu phát triển dịch vụ viễn thông
5 Kết cấu của luận văn:
Những nội dung cơ bản của luận văn gồm chương sau đây:
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư và quản lý dự án đầu tư
Chương II: Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng của Bưu điện TP Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng trên địa bàn TP Hà Nội
Trang 11Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
6 Đóng góp, giải pháp hoàn thiện của đề tài:
Làm rõ lý luận và phương pháp luận về đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng,
Phân tích thực trạng, những mặt đã làm được và những điểm còn hạn chế, gây vướng mắc trong công tác quản lý đầu tư phát triển mạng điện thoại
cố định và các dịch vụ gia tăng trên đường điện thoại cố định của Bưu điện TP
Hà Nội
Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng tại Bưu điện TP Hà Nội
Trang 12Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư, quản lý đầu tư
1.1 Đầu tư phát triển:
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội
Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư Tuỳ từng góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau người ta có thể có các cách phân chia hoạt động đầu tư khác nhau Một trong những tiêu thức thường
được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư Theo tiêu thức này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp
* Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Chẳng hạn như nhà đầu tư không thực hiện hành vi mua các cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường chứng khoán thứ cấp Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích vật chất (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyền tiên mãi) nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn đầu tư
* Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư
Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản Chẳng hạn như nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế để có thể tham gia hội đồng quản trị một công ty, các trường hợp thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Trang 13Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động của đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo
ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức
đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia
Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển
* Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế: Về mặt lý luận, hầu hết các tư tưởng, mô hình và lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đều trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ vốn cho đầu tư là một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Theo mô hình Harrod-Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần
g = ΔY/Y = ΔY/Y * ΔK/ΔK = 1/ICOR * I/Y → ΔY = 1/ICOR * I
Trong đó : ΔY: Mức gia tăng sản lượng
ΔK: Mức gia tăng vốn đầu tư
I : Mức đầu tư thuần K: Tổng quy mô vốn của nền kinh tế Y: Tổng sản lượng của nền kinh tế (thường đo bằng GDP) ICOR=ΔY/ΔK: Hệ số gia tăng vốn - sản lượng (Increametal Capital -
Output Ratio) Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua Với chính sách
đổi mới, các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hoá và gia tăng về qui mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được
Trang 14Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
rất thoả đáng Cuộc sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện
* Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Đầu tư có tác động
đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư Trong điều hành chính sách đầu tư, Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hoá, xây dựng cơ chế quản lý dầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý
sẽ tạo đà cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng phân bổ vốn cho các ngành khác nhau sẽ mang lại những kết quả và hiệu quả khác nhau Vốn đầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có
ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồng thời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Không những thế, giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý
sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn
* Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước:
Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng, năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và của các đơn vị cơ sở Chính vì vậy, đầu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia
* Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế: Đầu tư (I) là một trong những bộ phận quan trọng của tổng cầu (AD=C+I+G+X-M) Vì vậy, khi qui mô đầu tư thay đổi cũng sẽ có tác động
Trang 15Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
trực tiếp đến qui mô tổng cầu Tuy nhiên, tác động của đầu tư đến tổng cầu là ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia tăng của sản lượng và giá cả các yếu tố đầu vào Trong dài hạn, khi các thành quả của đầu tư đã được huy động và phát huy tác dụng, năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ gia tăng thì tổng cung cũng sẽ tăng lên Khi đó sản lượng tiềm năng sẽ tăng và đạt mức cân bằng trong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi xuống Sản lượng tăng trong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi xuống Sản lượng tăng trong khi giá cảc giảm
sẽ kích thích tiêu dùng và hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của nền kinh
tế
1.1.2.2 Trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi Để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản suất và cung ứng nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác
và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vửa được tạo ra Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động
đầu tư Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học, kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, đó chính là hoạt động đầu tư
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư
1.1.3.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển trên góc độ vĩ mô:
Đứng trên góc độ vĩ mô, nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Trang 16Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành từ phần tích luỹ của nội
bộ nền kinh tế Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn khu vực dân doanh :
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Đây là nguồn vốn chiểm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế của Việt Nam thời gian qua
Nguồn vốn dân doanh bao gồm phần tích luỹ của dân cư, của các doanh nghiệp dân doanh (Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, Công ty Cổ phần, hợp tác xã… ) được đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội thực hiện các hoạt
động đầu tư phát triển Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, qui mô vốn của khu vực này không ngừng gia tăng
Nguồn vốn nước ngoài bao gồm nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODF) trong đó ODA chiếm tỷ trọng cơ bản (nguồn vốn ODA trong quá trình quản lý sử dụng có thể được chuyển vào ngân sách, được đưa vào phần tín dụng đầu tư của nhà nước, thực hiện các dự án độc lập Tuy nhiên đứng trên góc độ nguồn hình thành, vẫn có thể xem xét đây là nguồn vốn độc lập và trên thực tế có thể bóc tách được) ; nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại nước ngoài và nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế Đối với Việt Nam trong thời gian qua mới chủ yếu tập trung thu hút được từ hai nguồn vốn nước ngoài cơ bản là nguồn vỗn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Thực tế cũng cho thấy hai nguồn vốn này đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt nam thời gian qua Tuy nhiên, khi quá trình hội nhập kinh tế mà Việt Nam đang chủ động tham gia diễn ra ngày càng sâu sắc hơn thì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác sẽ chiếm vị thế ngày càng
đáng kể hơn Qui mô vốn đầu tư huy động có thể lớn hơn nhưng mức độ tương thuộc trong hoạt động đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp và của nền kinh tế cũng cao hơn
Trang 17Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các cơ sở cũng được hình thành từ hai nguồn :
- Nguồn vốn tự tài trợ: bao gồm vốn chủ sở hữu, thu nhập giữ lại và khấu hao tài sản cố định
- Nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài: bao gồm nguồn tài trợ gián tiếp qua các trung gian tài chính như các ngân hàng, các tổ chức tín dụng… và nguồn tài trợ trực tiếp qua thị trường tài chính dài hạn như thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng thuê mua…
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình với những mục tiêu đầu tư khác nhau mà các cơ sở, các đơn vị sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ có thể huy động các nguồn vốn đầu tư với qui mô và cơ cấu phù hợp đảm bảo chi phí
và hiệu quả đầu tư cho từng dự án cụ thể
Tuỳ thuộc vào từng đơn vị cụ thể mà cơ cấu và đặc trưng của các nguồn vốn có thể khác nhau :
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở hoạt động phúc lợi công cộng : vốn đầu tư có thể hình thành từ ngân sách cấp, từ vốn viện trợ không hoàn lại trực tiếp cho cơ sở và vốn tự có của đơn vị
- Đối với doanh nghiệp quốc doanh : vốn đầu tư có thể hình thành từ nguồn ngân sách, từ khấu hao cơ bản, từ phần tự tích luỹ, từ nguồn vốn vay hoặc góp vốn liên doanh liên kết
- Đối với doanh nghiệp dân doanh: nguồn vốn có thể bao gồm vốn tự
có, vốn cổ phần, góp liên doanh liên kết từ vốn vay
1.1.4 Các giai đoạn đầu tư:
Các bước công việc của các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự
án đầu tư viễn thông có thể được minh họa tóm tắt theo Hình 1.1
Trang 18Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Hình 1-1: Mô hình các giai đoạn đầu tư
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: trong giai đoạn này cần giải quyết các
công việc như nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để xác định nguồn tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức
đầu tư Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng ; Lập dự án
đầu tư Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định
đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư Giai
đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản quyết định đầu tư nếu đây là đầu tư của nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là của các thành phần kinh tế khác
Nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư
Kết thúc xây dựng và
Khai thác sử dụng
Thực hiện đầu tư
Chuẩn bị đầu tư Nghiên cứu tiền khả thi (sơ bộ lựa chọn DA)
Nghiên cứu khả thi (lập dự án - BCKTKT)
Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện
đầu tư ( đấu thầu, mua sắm vật tư, thiết bị … ) Thiết kế và lập tổng dự toán, dự toán
công trình Thi công xây lắp công trình Chạy thử, nghiệm thu bàn giao công trình
Vận hành , hướng dẫn sử dụng, bảo hành
công trình Quyết toán, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành
Trang 19Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
* Giai đoạn thực hiện đầu tư: Giai đoạn này gồm các công việc như xin giao đất hoặc thuê đất (đối với các dự án có sử dụng đất); Xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giáy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên); Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi); Chuẩn bị mặt bằng xây dựng; Mua sắm thiết bị, công nghệ; Thực hiện việc khảo sát thiết kế xây dựng; Thẩm định phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; Tiến hành thi công xây lắp; Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng; Vận hành thử; Nghiệm thu, bàn giao công trình
* Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng:
Giai đoạn này gồm các công việc như Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; Bảo hành công trình; Quyết toán vốn đầu tư; Phê duyệt quyết toán
1.2 Quản lý đầu tư:
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư:
1.2.1.1 Khái niệm quản lý đầu tư:
Là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tư
Quản lý đầu tư là thực hiện các chức năng của quản lý (kế hoạch;
tổ chức; kiểm tra; điều chỉnh) đối với đối tượng cụ thể là đầu tư
* Mục tiêu chung của quản lý đầu tư:
- Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia
Trang 20Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Huy động tối đa, sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng và khai thác tốt các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng nguồn vốn đầu tư và khai thác các kết quả của các dự án đầu tư
- Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
* Trên giác độ từng cơ sở: Doanh nghiệp có vốn đầu tư, mục tiêu của quản lý đầu tư suy cho cùng là nhằm đạt được hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất với chi phí vốn đầu tư thấp nhất trong một thời gian nhất định, trên cơ sở
đạt được các mục tiêu quản lý của từng giai đoạn của từng dự án đầu tư
- Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư: mục tiêu chủ yếu của quản lý là
đảm bảo chất lượng và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu, dự toán
- Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư: mục tiêu chủ yếu của quản lý là
đảm bảo tiến độ, chất lượng với chi phí thấp nhất
- Đối với giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư: là nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra và có lãi đối với các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất với chi phí thấp nhất
đối với các hoạt động đầu tư khác
Quản lý đầu tư là thực hiện các chức năng quản lý với đối tượng là các
dự án đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu: Chất lượng - Thời gian - Chi phí
(xem Hình 1 – 2)
Trang 21Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Hình 1 - 2: các mục tiêu chủ yếu trong quản lý đầu tư
Các mục tiêu này không phải lúc nào cũng có thứ tự ưu tiên ngang bằng nhau Trong những trường hợp cụ thể thứ tự ưu tiên có thể khác nhau Trong ngành viễn thông: mục tiêu về chất lượng (đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật) và thời gian (tính kịp thời) luôn là ưu tiên số một Có thể vì những mục tiêu này
mà chúng ta phải chấp nhận những hy sinh nhất định về mục tiêu chi phí (có thể chấp nhận giá bị tăng lên)
1.2.1.3 Các nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư:
- Thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hoà giữa hai mặt kinh
tế và xã hội Thể hiện ở vai trò quản lý của nhà nước (về chính sách, cơ chế
quản lý đầu tư, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng …), vai trò
của cơ sở (đảm bảo quyền lợi người lao động, hiệu quả kinh doanh, thực hiên
các nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội)
- Tập trung dân chủ, tuân theo sự lãnh đạo thống nhất từ một trung tâm,
đồng thời phát huy cao độ chủ động sáng tạo của địa phương, các ngành và cơ
sở trên cơ sở dựa vào ý kiến nguyện vọng, lực lượng và tinh thần chủ động sáng tạo của các đối tượng quản lý nhằm phát huy dân chủ, kích thích sáng tạo
Trang 22Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, tận dụng năng lực dư thừa của nhau, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
- Kết hợp hài hoà các loại lợi ích trong đầu tư, nhằm tạo động lực quan trọng thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế
- Tiết kiệm và hiệu quả (Hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất với Chi phí
đầu tư thấp nhất)
1.2.2 Nội dung quản lý đầu tư:
Có nhiều tác nhân tham gia công tác quản lý đầu tư, bao gồm: Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở Chức năng nhiệm vụ của từng tác nhân như sau:
* Nhà nước: Xây dựng và giám sát việc thực hiện khung pháp lý
- Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp (Luật Đầu tư, Luật Thuế,
Luật Đấu thầu … ) và những văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động đầu tư nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho các công cuộc
đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả cao
- Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch đầu tư trên cơ sở tổng thể phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngành, địa phương, từ đó xác định danh mục các dự án ưu tiên
- Ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư (chính sách tài
chính tiền tệ, tín dung linh hoạt, ưu đãi đầu tư … ) nhằm cải thiện môi trường
và thủ tục đầu tư; Phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư; Kịp thời bổ sung, điều chỉnh những bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế chính sách
- Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư
- Xây dựng chính sách cán bộ thuộc lĩnh vực đầu tư (đào tạo, huấn
luyện đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu cho từng lĩnh vực đầu tư)
- Đề ra chủ trương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài; Chuẩn
bị các nguồn lực tài chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao
Trang 23Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ đầu tư, nhằm điều chỉnh, xử lý các vấn đề
cụ thể trong quá trình đầu tư, kịp thời chấn chỉnh và xử lý những vi phạm
- Quản lý trực tiếp nguồn vốn nhà nước Đối với các dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách nhà nước Thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư hoặc
uỷ quyền quyết định đầu tư, thẩm định dự án
* Bộ, ngành, địa phương: là các các cơ quan quản lý nhà nước tại các ngành và địa phương có nhiệm vụ:
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư cho đơn vị mình
- Xây dựng danh mục các dự án cần đầu tư
- Xây dựng các kế hoạch huy động vốn
- Hướng dẫn các nhà đầu tư trực thuộc lập dự án tiền khả thi và khả thi
- Ban hành những văn bản quản lý thuộc ngành, địa phương mình liên quan đến đầu tư
- Lựa chọn đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng liên doanh, liên kết trong
đầu tư với nước ngoài
- Trực tiếp kiểm tra giám sát quá trình hoạt động của các dự án đầu tư theo chức năng nhiệm vụ được phân cấp quản lý
- Hỗ trợ và trực tiếp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư
- Kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi bổ sung những bất hợp lý trong cơ chế chính sách, quy định dưới luật …nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư
* Các cơ sở: là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động quản lý nói chung và sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng, là hạt nhân cơ bản trực tiếp tổ chức thực hiện các chức năng quản lý dự án đầu tư theo khuôn khổ các văn bản pháp lý đã quy định
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư, bao gồm: kế hoạch huy động vốn, kế hoạch triển khai đầu tư, kế hoạch thu chi của các công trình đầu tư, …
- Tổ chức lập dự án đầu tư (từ xây dựng ý tưởng dự án đến các giai đoạn
lập dự án tiền khả thi và khả thi)
Trang 24Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Tổ chức và quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả
đầu tư (tổ chức đấu thầu, ký kết hợp đồng, quản lý tiến độ, vốn đầu tư, chất lượng,….)
- Điều phối, kiểm tra, đánh giá hoạt động đầu tư của cơ sở nói chung và của từng dự án đầu tư trong cơ sở nói riêng
Vấn đề là phải đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tác nhân tham gia, tránh tình trạng “dẫm chân” hay có những “khoảng trống”
Là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các chính sách và đòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận , tín dụng, thuế,….Khác với phương pháp hành chính dựa trên mệnh lệnh , phương pháp kinh tế thông qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện đầu tư theo mục tiêu nhất định của nền kinh tế xã hội Như vậy, phương pháp kinh tế trong quản lý đầu tư chủ yếu dựa vào lợi ích kinh tế của đối tượng tham gia vào quá trình đầu tư với sự kết hợp hài hoà lợi ích của nhà nước, xã hội với lợi ích của tập thể và các cá nhân người lao động trong lĩnh vực đầu tư
1.2.3.2 Phương pháp hành chính:
Là phương pháp được sử dụng trong quản lý cả lĩnh vực xã hội và kinh
tế trong mọi nước Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những qui định về tổ chức Ưu
điểm của phương pháp này là góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể, nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng quan liêu máy móc, bộ máy hành chính độc quyền và độc đoán
Phương pháp hành chính trong quản lý được thể hiện ở hai mặt:
Mặt tĩnh: thể hiện ở những tác động có tính ổn định về mặt tổ chức thông quan thể chế hoá tổ chức (gồm cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý) và tiêu chuẩn hoá tổ chức (định mức và tiêu chuẩn tổ chức)
Trang 25Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Mặt động: là sự tác động thông qua quá trình điều khiển túc thời khi thực hiện các vấn đề cần giải quyết trong quá trình quản lý
Nội dung của các biện pháp giáo dục bao gồm giáo dục về thái độ lao
động, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện các biện pháp kích thích sự say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm lao động, về giữ gìn uy tín đối với người tiêu dùng Các vấn
đề này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực đầu tư do những đặc điểm của hoạt
động đầu tư (lao động vất vả, di động luôn đòi hỏi tính tự giác trong lao động cao để đẩm bảo chất lượng công trình tránh tình trạng phá đi làm lại gây thất thoát lãng phí,….)
phép nâng cao hiệu quả của quản lý trong hoạt động đầu tư vì những lý do sau:
- Các qui luật kinh tế tác động lên hoạt động đầu tư một cách tổng hợp Các phương pháp quản lý là sự vận dụng các quy luật kinh tế nên chúng phải
được sử dụng tổng hợp thì mới có kết quả
- Hệ thống quản lý kinh tế và quản lý hoạt động đầu tư không phải là những quan hệ riêng lẻ mà là sự tổng hợp các quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật … Do đó chỉ có sự vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý mới có thể điều hành tốt hệ thống này
- Đối tượng tác động chủ yếu của quản lý là con người Con người lại là tổng hòa các quan hệ xã hội với nhiều động cơ, nhu cầu và tính cách khác nhau Do đó, phương pháp tác động đến con người cũng phải là một phương pháp tổng hợp
- Mỗi phương pháp quản lý đều có những phạm vi áp dụng nhất định và những nhược điểm khác nhau Do đó, sử dụng tổng hợp các phương pháp này
sẽ bổ sung cho nhau các ưu điểm, khắc phục các nhược điểm
Trang 26Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Các phương pháp quản lý luôn có mối quan hệ với nhau Vận dụng tốt phương pháp quản lý này sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng tốt các phương pháp kia
Tuy nhiên, khi vận dụng các phương pháp quản lý trên đây cần tìm ra phương pháp nào là chủ yếu tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể, trong đó phương pháp kinh tế xét cho cùng vẫn là phương pháp quan trọng nhất vì nó thường đem lại hiệu quả rõ rệt, là tiền đề vững chắc và lâu dài để vận dụng các phương pháp còn lại Phương pháp kinh tế cũng là phù hợp với điều kiện của các doanh nghiêp hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường
cạnh các biện pháp định tính cần áp dụng các biện pháp định lượng, đặc biệt
là phương pháp toán kinh tế Phương pháp toán kinh tế được áp dụng trong hoạt động quản lý đầu tư bao gồm:
* Phương pháp toán thống kê: Phương pháp này được sử dụng để xử lý
và phân tích các số liệu thống kê trong hoạt động đầu tư, kiểm tra và dự báo trong xây dựng công trình Trong toán thống kê, phương pháp hàm tương quan giữ một vai trò quan trọng nhất là đối với việc phân tích nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả của hoạt động đầu tư
* Mô hình toán kinh tế: Đó là sự phản ánh mặt lượng và thuộc tính cơ bản của các đối tượng bị nghiên cứu trong đầu tư và là sự trừu tượng hoá khoa học các quá trình và hiện tượng kinh tế diễn ra trong hoạt động đầu tư
* Điều khiển học: Đó là môn khoa học về điều khiển các hệ thống kỹ thuật và kinh tế phức tạp, trong đó quá trình vận động thông qua đóng vai trò chủ yếu
Với việc vận dụng phương pháp toán kinh tế trong quản lý đầu tư cho phép người ta có thể nhận thức sâu sắc hơn quá trình kinh tế trong đầu tư, cho phép lượng hoá để chọn ra các phương án đầu tư, xây dựng tối ưu, các phương
án thiết kế và quy hoạch tối ưu Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp toán kinh tế trong quản lý hoạt động đầu tư đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý phù hợp Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các phương pháp toán kinh tế
Trang 27Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
có điều kiện áp dụng thuận lợi ở tầm quản lý vĩ mô và vi mô Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương pháp toán kinh tế có thể áp dụng quản lý đầu tư
ở các doanh nghiệp dễ dàng, còn đối với cấp quản lý vĩ mô thì khó khăn hơn
1.2.4 Công cụ quản lý hoạt động đầu tư: Có nhiều công cụ quản lý hoạt
động đầu tư Dưới đây là những công cụ chủ yếu:
- Các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư
và xây dựng
- Các kế hoạch định hướng và một số kế hoạch trực tiếp về đầu tư của các ngành và đơn vị
- Hệ thống luật pháp liên quan và thường áp dụng để quản lý hoạt động
đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Dân sự…và các văn bản dưới luật kèm theo về quản lý hoạt động đầu tư
- Các định mức và tiêu chuẩn quan trọng có liên quan đến quản lý đầu tư và lợi ích của toàn xã hội
1.3 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư:
* Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một
cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch nhằm đạt
được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
* Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài
* Về góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh
tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét trên góc độ này, dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác
kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án)
Trang 28Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
* Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động chi phí cần
thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác
định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
* Đối với nhà nước và các định chế tài chính: dự án đầu tư là cơ sở để
thầm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ vốn cho dự án
* Đối với chủ đầu tư:
- Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để bỏ vốn đầu tư;
- Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được đầu tư hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư và cấp giấy phép hoạt động;
- Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị , xin hưởng các khoản ưu đãi trong đầu tư;
- Dự án đầu tư là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư;
- Dự án đầu tư là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn;
- Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan
hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh
và nhà nướcViệt Nam Đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
* Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ, kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư, cần
có sự tư vấn của các chuyên gia tư vấn và cơ quan chuyên môn
Trang 29Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
* Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu
xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
* Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù
hợp với chính sách và luật pháp của nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan
đến hoạt động đầu tư
* Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các qui định chung
của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các qui định về thủ tục
đầu tư Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ qui định chung mang tính quốc tế
Có nhiều loại hình dự án đầu tư, và mỗi loại hình đều có những yêu cầu riêng biệt đối với quá trình quản lý dự án Dưới đây ta sẽ nghiên cứu một số loại dự án đầu tư cơ bản sau:
* Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư:
Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án
và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và
C Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào? Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn cả Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có)
* Theo trình tự lập (hoặc theo bước) và trình duyệt dự án: các dự án
đầu tư được phân ra hai loại:
- Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Đây là kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi (giai đoạn sơ bộ lựa chọn dự án) Nội dung của dự án tiền khả thi còn sơ bộ chưa chi tiết Kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá lại cơ hội đầu tư để lựa chọn quyết định có nên chuyển sang giai đoạn tiếp theo là
“nghiên cứu khả thi” hay không Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không
Trang 30Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
đầu tư có thể hoặc loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn
- Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi Nghiên cứu khả thi còn được gọi là lập dự án đầu tư Nội dung của dự án khả thi chi tiết, mức độ chính xác cao Nó là căn cứ để chủ
đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là tập hợp
hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có tính hệ thống vững trắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía
cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý kinh tế - xã hội
* Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI)
Trang 31Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó
phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như Hình 1-3
Hình 1 - 3 Các chức năng quản lý dự án
- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự logic mà có thể biểu diễn được dưới dạng một sơ đồ hệ thống
- Điều phối thực hiện dự án: Đây là một quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hoá thời gian, lập trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở
đó bố trí nguồn vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp
- Giám sát, điều chỉnh: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan, thực hiện báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát công tác đánh giá dự án giữa
* Đo lường kết quả
* So sánh với mục tiêu
* Báo cáo
* Giải quyết các vấn đề
Điều phối thực hiện
* Bố trí tiến độ thời gian
* Phân phối nguồn lực
* Phối hợp các hoạt động
* Khuyến khích động viên
Trang 32Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án
Tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án và năng lực của mình, chủ đầu tư lựa chọn một trong các hình thức quản lý thực hiện dự án sau:
- Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án: Đây là hình thức quản lý dự án không do cán bộ chuyên trách quản lý dự án thuê ngoài trực tiếp tham gia điều hành dựa án Hình thức này thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, đơn giản về kỹ thuật và gần với chuyên môn của chủ
dự án, đồng thời chủ dự án có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án Để quản lý, chủ đầu tư được lập và sử dụng bộ máy có năng lực chuyên môn của mình mà không cần lập ban quản lý dự án
- Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án: là mô hình tổ chức trong đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án chuyên ngành làm chủ nhiệm
điều hành hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để điều hành dự án và
họ được đại diện toàn quyền trong mọi hoạt động thực hiện dự án Chủ nhiệm
điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý,
điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện
dự án Mọi quyết định của chủ đầu tư về dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện sẽ được triển khai thông qua chủ nhiệm điều hành dự án Hình thức này áp dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất phức tạp
- Hình thức chìa khoá trao tay: Mô hình này là hình thức tổ chức trong
đó nhà quản lý không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư – chủ dự án còn là “Chủ” của dự án
Hình thức chìa khoá trao tay được áp dụng khi chủ đầu tư được phép tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án từ khảo sát thiết kế đến, mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình
đưa vào khai thác, sử dụng
Đối với dự án sử dụng các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng
do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, khi áp
Trang 33Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
dụng hình thức chìa khoá trao tay chỉ thực hiện đối với các dự án nhóm C, các trường hợp khác phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự
án hoàn thành và đưa vào sử dụng
- Hình thức tự thực hiện dự án: Được áp dụng khi chủ đầu tư có đủ khả năng hoạt động sản xuất xây dựng (tự sản xuất, tự xây dựng) phù hợp với yêu cầu của dự án
1.4 Giám sát, đánh giá đầu tư:
Giám sát đánh giá đầu tư là hoạt động theo dõi, kiểm tra và xác định mức độ đạt được so với yêu cầu của quá trình đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư
để đảm bảo đầu tư đạt hiệu quả cao, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển trong phạm vi cả nước, từng ngành, lĩnh vực, từng vùng, địa phương và từng dự án đầu tư
Giám sát đánh giá đầu tư bao gồm:
Hình 1 - 4: các Nội dung giám sát, đánh giá đầu tư
* Giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư:
- Giám sát tổng thể đầu tư: Là việc theo dõi kiểm tra quá trình thực hiện
đầu tư ở các cấp, nhằm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời sai sót đảm bảo đầu tư
đúng quy hoạch, kế hoạch và đạt hiệu quả cao
Giám sát, đánh giá đầu tư
đầu tư)
Trang 34Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Đánh giá tổng thể đầu tư: Nhằm phản ánh tình hình, phân tích và đánh giá kết quả đầu tư của nền kinh tế, ngành, địa phương Xác định mức độ đạt
được so với kế hoạch, quy hoạch trong từng thời kỳ Phân tích nguyên nhân
ảnh hưởng Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư
* Giám sát đánh giá dự án đầu tư:
- Giám sát dự án đầu tư: Là việc theo dõi thường xuyên quá trình đầu tư của dự án nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Đảm bảo đầu tư đúng mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch và đạt hiệu quả cao
- Đánh giá dự án đầu tư: Là việc phân tích, xác định mức độ đạt được tùy theo từng chỉ tiêu cụ thể so với quyết định đầu tư hoặc tiêu chuẩn đánh giá quy định tại một thời điểm nhất định
Mục đích giám sát, đánh giá đầu tư:
- Đảm bảo hoạt động đầu tư có hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng định hướng phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu đầu tư của ngành
- Giúp cơ quan quản lý cấp trên nắm sát và đánh giá đúng: Tình hình, kết quả, tiến độ thực hiện đầu tư; những tồn tại, vướng mắc; phát hiện và ngăn chặn những sai phạm, lãng phí, thất thoát trong quá trình đầu tư
- Giúp các cơ quan hoạch định chính sách có tư liệu thực tế để nghiên cứu về cơ cấu đầu tư và chính sách thúc đẩy đầu tư cho từng thời kỳ
Yêu cầu giám sát, đánh giá đầu tư:
- Giám sát thường xuyên, đảm bảo sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp
- Phản ảnh kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan các nội dung giám sát, đánh giá đầu tư
- Đề xuất, kiến nghị phải kịp thời, cụ thể và có tính khả thi
Nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư:
- Theo dõi, kiểm tra thường xuyên quá trình đầu tư trên cơ sở: các dự liệu của cơ quan giám sát; các báo cáo thường kỳ; các hoạt động kiểm tra tại chỗ
Trang 35Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
- Đánh giá đầu tư: đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư; đánh giá việc thực hiện mục tiêu đầu tư; đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu;
đánh giá hiệu quả đầu tư
Phương thức thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư:
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Đầu tư Xây dựng cơ bản, bao gồm các yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong :
* Các yếu tố bên ngoài:
- Môi trường vĩ mô: Nhà nước XHCN thực hiện chức năng quản lý kinh
tế của mình trong đó có việc quản lý hoạt động đầu tư Vai trò quản lý của nhà
nước dựa trên nguyên tắc “thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài
hòa giữa hai mặt kinh tế và xã hội” thể hiện trong cơ chế quản lý đầu tư, cơ cấu đầu tư, các chính sách đối với người lao động hoạt động trong lĩnh vực
đầu tư, các chính sách bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thể hiện thông qua giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa quan hệ kinh tế và bảo đảm an ninh quốc phòng và giữa yêu cầu phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong đầu tư Đối với quản lý hoạt động đầu tư có thể có mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và các thành phần tham gia, vì vậy quản lý nhà nước cần có những quy chế, biện pháp để ngăn chăn tiêu cực
- Môi trường vi mô: Quản lý đầu tư của cơ sở chịu sự quản lý kinh tế và chiến lược về công nghệ của cả cơ quan chủ quản (ngành) và địa phương,
đồng thời phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường và áp lực của các đối thủ cạnh tranh
Trang 36Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Các cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm quản lý chủ yếu những vấn đề
kỹ thuật của ngành mình cũng như quản lý nhà nước về mặt kinh tế đối với các hoạt động đầu tư thuộc ngành theo sự phân công, phân cấp của nhà nước Địa phương quản lý về mặt hành chính và xã hội cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đối với các hoạt động đầu tư diễn ra ở
địa phương theo mức độ được nhà nước phân cấp
* Các yếu tố bên trong: nguồn lực của doanh nghiệp có tác động đến quản lý
đầu tư, bao gồm các yếu tố đặc điểm sản xuất kinh doanh, công tác bố trí nhân lực, khả năng về kinh tế và yếu tố quan trong nhất là khả năng quản lý của cán
bộ lãnh đạo của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trên nguyên tắc đảm bảo doanh thu, quyền lợi cho người lao động, đặc biệt là thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội (thuế, các mục tiêu chính trị, phát triển văn hóa, xã hội, môi trường,…)
Trang 37Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Tóm tắt chương 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày về những vấn đề lý luận về đầu tư
và quản lý dự án đầu tư, đây là nội dung rất quan trọng giúp cho việc nghiên cứu quản lý đầu tư và dự án đầu tư được dễ dàng hơn và được tuân theo một trình tự logic
Khi nghiên cứu công tác quản lý đầu tư, chúng ta cần nghiên cứu các giai đoạn đầu tư, các bước thực hiện dự án đầu tư và nội dung của từng giai
đoạn đó để thực hiện đầu tư và triển khai các dự án một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, cần lần lượt nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư như: tác động từ các yếu tố bên ngoài như chính sách của chính phủ, định hướng phát triển của doanh nghiệp trước áp lực của các đối thủ cạnh tranh, và các yếu tố bên trong như trình độ tổ chức, quản lý, cơ chế, chính sách … của doanh nghiệp
Trước khi đi vào nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư và triển khai các dự án đầu tư của Bưu điện TP Hà Nội, chúng ta cùng nghiên cứu chương 2 để tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, những mục tiêu, thách thức đối với Bưu điện TP Hà Nội trong giai đoạn hiện nay và phương hướng phát triển sau này Tìm hiểu tính đặc thù của các dự án
đầu tư phát triển mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng của đơn vị
và từ đó rút ra những mặt đã làm được, những vướng mắc cần phải khắc phục
và các kiến nghị cần thiết
Trang 38
Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác đầu tư phát triển
mạng điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng
của Bưu Điện TP Hà Nội 2.1 Những nét khái quát về Bưu điện TP Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu về Bưu điện TP Hà Nội
Bưu điện TP Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước, đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam) Ngành nghề kinh doanh bao gồm:
- Kinh doanh khai thác Bưu chính - Viễn thông;
- Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh vật tư, thiết bị chuyên ngành Bưu chính – Viễn thông và các vật tư thiết bị khác;
- Sửa chữa thiết bị chuyên ngành Bưu chính – Viễn thông;
- Tư vấn, lắp đặt, bảo trì mạng tin học, kinh doanh vật tư, thiết bị và phần mềm tin học;
- Tư vấn đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, xây lắp các công trình Bưu chính - Viễn thông;
- Dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hoá và kho vận
Bảng 2 - 1: Cơ cấu tổ chức của Bưu điện TP Hà Nội:
(Nguồn cung cấp từ Phòng TCCB-LĐTL _ BĐHN)
Lónh đạo Bưu điện TP Hà Nội
Giỏm đốc, UV HĐQT Tập đoàn BC - VT Việt Nam:ông Trần Mạnh Hựng
Phú Giỏm đốc:ô ng Hoàng Thanh Chung
Phú Giỏm đốc:ông Nguyễn Xuõn Quang
Phú Giỏm đốc:ô ng Hoàng Kim Thành
Đảng uỷ, Cụng đoàn, Đoàn Thanh niờn
Phú Bớ thư thường trực Đảng uỷ, Chủ tịch CĐ:ông Trần Văn Dinh
Văn phũng Đảng uỷ
Văn phũng Đoàn thể
Trang 39§µo Anh TuÊn Cao häc QTKD 2005-2007
Các đơn vị Chức năng và Sự nghiệp
Văn phòng Bưu Điện Hà Nội Phòng TCCB - LĐTL
Phòng QL Viễn Thông Phòng QL BC - PHBC
Phòng Bảo vệ Bưu điện Phòng Thanh tra
BQL các dự án công trình kiến trúc Trường bồi dưỡng KTNV BĐ
BQL dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh với
NTTV (BCC)
BQL các dự án công trình thông tin
Ban Nghiên cứu đổi mới tổ chức QL & PT
kinh doanh bưu chính
Trạm Y tế
Các đơn vị trực thuộc Bưu điện TP Hà Nội
Công ty Điện thoại Hà Nội 1 Bưu Điện Trung tâm 1
Công ty Điện thoại Hà Nội 2 Bưu Điện Trung tâm 2
Công ty Viễn thông Hà Nội Bưu Điện Trung tâm 3
Công ty Dịch vụ Vật tư Bưu Điện Trung tâm 4
Trung tâm CPN Hà Nội Bưu Điện Trung tâm 5
Trung tâm Tin học Bưu Điện Trung tâm 6
Trung tâm Dịch vụ Khách hàng Bưu Điện Huyện Sóc Sơn
Trung tâm Điều hành Thông tin Bưu Điện Huyện Từ Liêm
Bưu điện hệ 1 Bưu Điện Huyện Đông Anh
Các đơn vị Bưu điện TP Hà Nội đã cổ phần hoá
Công ty CP Xây lắp Bưu điện Hà Nội
Công ty CP Tư vấn - Đầu tư và Phát triển Bưu điện Hà Nội
Công ty CP Niên giám điện thoại và Trang vàng 1 - Việt Nam
Công ty CP Chuyển phát nhanh
Trang 40Đào Anh Tuấn Cao học QTKD 2005-2007
Nhìn chung có thể đánh giá về cơ cấu lao động của Bưu điện TP Hà Nội
ở mức độ khá và nguồn nhân lực dồi dào, tương đối thuận lợi cho nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc phân bổ hợp lý cán bộ trong từng đơn
vị và đối với từng lĩnh vực công tác là một vấn đề khó khăn, còn nhiều hạn chế
và đây cũng là một vấn đề mà người làm công tác quản lý cán bộ trong đơn vị cần xem xét và điều chỉnh một cách phù hợp hơn Ví dụ như đối với số lượng cán bộ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm đáp ứng được yêu cầu còn rất hạn chế Do vậy, việc tuyển chọn, sắp xếp cán bộ, thường xuyên đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ