1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường điện một người mua ở việt nam

267 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường điện cạnh tranh đã được hình thành và đang hoạt động ở một số nước châu Âu, châu Mỹ, Australia cho thấy đem lại được nhiều lợi ích: hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện tăn

Trang 1

-

NGUY ỄN ANH TUẤN

HÀ NỘI 2009

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng

Nguyễn Anh Tuấn

Học viên lớp cao học quản trị kinh doanh 2007 – 2009

Trường đại học Bách khoa Hà nội

Cơ quan công tác: Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia

Trang 3

M ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG ĐIỆN LỰC I Các vấn đề về cấu trúc thị trường. 10

1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo. 10

1.1 Đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. 11

1.2.Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo.11 1.3 Ưu, nhược điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. 12

1.4 Vấn đề về quản lý thị trường cạnh tranh hoàn hảo. 12

2 Thị trường cạnh tranh độc quyền. 13

2.1 Đặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền. 13

2.2.Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền.13 2.3 Ưu, nhược điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền. 14

2.4 Vấn đề về quản lý thị trường cạnh tranh độc quyền. 15

3 Thị trường độc quyền nhóm. 15

3.1 Đặc điểm của thị trường độc quyền nhóm. 15

3.2 Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm. 15

3.3 Ưu, nhược điểm của thị trường độc quyền nhóm. 18

3.4 Các vấn đề về quản lý thị trường độc quyền nhóm. 18

4 Thị trường độc quyền thuần tuý. 19

Trang 4

4.1Đặc điểm của thị trường và của doanh nghiệp độc quyền thuần tuý.19

4.2 Ưu, nhược điểm của thị trường độc quyền thuần tuý. 20

4.3 Vấn đề về quản lý thị trường độc quyền thuần tuý. 20

II Các đặc trưng kinh tế kỹ thuật của công nghiệp điện lực. 21

1 Đặc điểm của lượng cung và cầu điện năng. 22

1.1 Cung phải đáp ứng cầu vào bất cứ thời điểm nào. 22

1.2 Nhu cầu điện năng không ổn định. 24

 2 Những đặc trưng cơ bản của ngành Điện lực. 25

2.1 Độc quyền tự nhiên. 25

2.2 Cạnh tranh từng phần. 26

III Một số mô hình tổ chức thị trường điện lực. 26

1 Mô hình độc quyền liên kết dọc. 26

1.1 Đặc điểm của mô hình. 26

1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình. 28

2 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh. 29

2.1 Mô hình một người mua. 30

2.1.1 Đặc điểm của mô hình. 30

2.1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình. 32

2.1.3 Các vấn đề về quản lý thị trường điện một người mua. 33

Trang 5

2.2 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh. 37

2.2.1 Đặc điểm của mô hình. 37

2.2.2 Ưu, nhược điểm của mô hình. 39

2.2.3 Vấn đề về quản lý thị trường bán buôn cạnh tranh. 39

2.3 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh. 41

2.3.1 Đặc điểm của mô hình. 41

2.3.2 Ưu, nhược điểm của mô hình. 43

2.3.3 Các yêu cầu về quản lý trong thị trường bán lẻ cạnh tranh. 44

CHƯƠNG II- PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA Ở VIỆT NAM I Căn cứ cơ sở cho việc hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam. 46

1 Tiến trình cải cách ngành điện Việt Nam giai đoạn 1995 – 2009. 47

2 Các cơ sở cho việc hình thành thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam. 48

2.1 Nhu cầu thực tiễn của ngành điện. 48

2.2 Cơ sở pháp lý. 49

II Hiện trạng ngành điện và lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam. 50

II.1 Hiện trạng ngành điện Việt Nam. 51

1 Mô hình quản lý nhà nước đối với ngành điện. 51

Trang 6

2 Công tác điều độ vận hành hệ thống

điện. 51

3 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành điện. 53

3.1 Nguồn điện. 53

3.2 Lưới truyền tải. 55

3.3 Lưới điện phân phối. 56

3.4 Hệ thống thông tin và đo lường. 56

II.2 Lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam. 56

III Phân tích hiện trạng cơ chế quản lý thị trường điện một người mua ở Việt Nam. 58

1 Giới thiệu chung về cơ chế quản lý thị trường điện một người mua đã ban hành. 59

2 Nội dung của cơ chế quản lý thị trường điện một người mua đã ban hành. 60

3 Phân tích nội dung của cơ chế quản lý thị trường điện đã ban hành..61 3.1 Các nội dung về quyền, nghĩa vụ của Cục điều tiết điện lực, EVN và các thành viên thị trường. 61

3.2 Các nội dung quản lý vận hành thị trường điện. 69

3.3 Các nội dung quản lý về an ninh hệ thống. 75

3.4 Các nội dung quản lý liên quan đến đo đếm. 79

3.5 Các nội dung quản lý vấn đề thanh toán. 80

Trang 7

3.6 Các nội dung về xử lý tranh chấp. 83

4 Tổng hợp các kết quả phân tích cơ chế quản lý thị trường điện một người mua ở Việt Nam. 84

CHƯƠNG III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA Ở VIỆT NAM I Giải pháp 1: Đề xuất thanh toán theo giá biên. 90

1 Cơ sở đề xuất. 90

2 Nội dung đề xuất. 92

2.1 Các vấn đề cơ bản phục vụ đề xuất thanh toán theo giá biên. 92

2.1.1 Giá biên (LMP). 92

2.1.2 Hợp đồng sai khác trong thị trường điện một người mua. 95

2.2 Nội dung quản lý liên quan đến thanh toán theo giá biên. 97

3 Kết quả kỳ vọng. 101

II Giải pháp 2: Đề xuất cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến tắc nghẽn truyền tải. 102

1 Cơ sở đề xuất. 102

2 Nội dung đề xuất. 104

2.1 Tổ máy phải giảm công suất do tắc nghẽn truyền tải (constrained – off). 104

2.2 Tổ máy phải tăng công suất do tắc nghẽn truyền tải (constrained – on). 106

2.3 Ví dụ minh hoạ. 108

Trang 8

3 Kết quả kỳ vọng. 110

III Giải pháp 3: Hoàn thiện cơ chế vận hành thị trường điện ngày tới. 111

1 Cơ sở đề xuất. 111

2 Nội dung đề xuất. 112

2.1 Các nội dung quản lý vấn đề về chào giá. 113

2.2 Các nội dung quản lý việc lập lịch ngày tới và thông tin điều độ..116 2.3 Các nội dung quản lý việc lập lịch giờ tới và thông tin điều độ. 118

3 Kết quả kỳ vọng. 121

KẾT LUẬN 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 123

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU Trên tất cả các quốc gia trên thế giới, ngành điện luôn là một ngành công nghiệp then chốt giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển thì ngành điện còn luôn phải đi trước một bước Cùng với mức tăng trưởng của nền kinh tế, ngành điện luôn phải đối mặt với những thách thức rất lớn để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của phụ tải luôn có xu hướng tăng cao

Trên thế giới đã có nhiều quốc gia tiến hành xây dựng nhiều hình thức kinh doanh điện hiện đại như mô hình bán dịch vụ truyền tải, mô hình một người mua, mô hình thị trường điện cạnh tranh bán buôn, mô hình thị trường điện

cạnh tranh bán lẻ Thị trường điện cạnh tranh đã được hình thành và đang hoạt động ở một số nước châu Âu, châu Mỹ, Australia cho thấy đem lại được nhiều lợi ích: hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện tăng lên, tạo môi

trường cạnh tranh bình đẳng giữa các công ty kinh doanh điện, đầu tư vào nguồn và lưới điện tối ưu hơn, giảm giá điện, chất lượng các dịch vụ về điện

tăng lên rõ rệt, các nguồn năng lượng cho phát điện đã được sử dụng tối ưu hơn theo hướng có lợi cho khách hàng và môi trường Ngành điện Việt Nam cũng đang và sẽ phát triển không ngoài quy luật chung đó

Trang 10

Kể từ những năm 90 của thế kỷ 20, ngành điện đã đứng trước những thay đổi to lớn về cơ cấu tổ chức và cơ chế kinh doanh Tổng công ty điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 562/TTg ngày 10/10/1994 và Nghị định số 14/CP ngày 27/01/1995 của Chính phủ Mô hình tổ chức là mô hình tích hợp dọc cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối điện Cả 3 khâu này đều do Tổng công ty điện lực Việt Nam quản lý Kể từ năm 1995 đến nay, EVN đã phát huy tốt vai trò là doanh nghiệp nhà nước hàng đầu trong lĩnh

vực sản xuất kinh doanh điện, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân Nhưng cũng từ những năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng phụ tải ở VN đạt mức khá cao, điện thương phẩm tăng bình quân

là 15%/năm Theo dự báo tốc độ tăng nhu cầu sử dụng điện sẽ vẫn ở mức cao trong nhiều năm tới, đến năm 2020 sản lượng hệ thống ước tính sẽ đạt khoảng

230 tỉ kWh/năm Để đáp ứng được nhu cầu phụ tải tăng cao này sẽ đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn, trung bình khoảng 2 tỷ USD/năm Đây sẽ là một áp lực rất lớn cho ngành điện và Chính phủ nếu không cải tổ cơ cấu tổ

chức và kinh doanh điện

Theo lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện ở Việt Nam, mô hình một người mua sẽ là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hoá trong kinh doanh điện ở VN Để mô hình này hoạt động có hiệu quả cần phải từng

bước hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường điện sao cho phù hợp với hoàn

cảnh thực tế của VN Trong phạm vi đề tài luận văn này sẽ giải quyết được phần nào một vài vấn đề còn tồn tại trong mô hình thị trường điện một người mua đã vận hành ở Việt Nam!

Trang 11

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG

VÀ CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG ĐIỆN LỰC

I Các vấn đề về cấu trúc thị trường

Khái niệm thị trường theo kinh tế học vi mô là tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá

và dịch vụ Dựa vào ba thành phần cấu thành nên thị trường là người bán,

người mua và sản phẩm mà các nhà kinh tế học đã phân chia cấu trúc thị

trường theo:

− Số lượng người bán và người mua trên thị trường (nhiều hay ít)

− Đặc trưng của sản phẩm (sản phẩm đồng nhất, sản phẩm phân biệt hay sản phẩm duy nhất)

Trên cơ sở này, thị trường được phân chia thành: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, độc quyền nhóm và độc quyền thuần tuý Sự khác biệt về mặt cấu trúc của các thị trường không những chỉ ảnh hưởng đến hành vi của người mua và người bán mà còn ảnh hưởng tới giá và động thái của giá cả thị

trường cũng như khối lượng giao dịch trên thị trường

1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trang 12

1.1 Đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Một thị trường được gọi là cạnh tranh hoàn hảo khi nó có vô số người bán,

vô số người mua, sản phẩm trên thị trường là đồng nhất, không có rào cản thị trường đối với việc gia nhập hay rút lui khỏi ngành và thông tin thị trường là hoàn hảo

Do có vô số người bán và vô số người mua nên không một ai trên thị

trường có quyền quyết định giá, giá cả trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo được hình thành từ áp lực cung cầu Người bán và người mua là người chấp nhận giá

1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Đối với một doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì sản lượng mà doanh nghiệp này bán ra chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với tổng sản lượng của thị trường cho nên mỗi doanh nghiệp không thể tác động vào giá thị trường Bất kể doanh nghiệp này bán ra bao nhiêu, nó sẽ chỉ nhận được đúng giá thị trường Vì vậy doanh nghiệp có đường cầu nằm ngang co giãn hoàn toàn tại mức giá thị trường Đây là đặc điểm quan trọng của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo vì khi đó để tối đa hoá lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ bán ra thị trường mức sản lượng mà tại đó chi phí biên bằng doanh thu biên

và bằng mức giá (P = MR = MC)

Trang 13

Hình 1.1: Đường cầu của thị trường và của doanh nghiệp trong thị trường

cạnh tranh hoàn hảo

1.3 Ưu, nhược điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo

a Ưu điểm:

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là nơi mà người bán và người mua tự do trao đổi hàng hoá với mức giá do cung cầu thị trường quyết định, như vậy đứng trên quan điểm phân bổ các nguồn lực trong xã hội sẽ là tối ưu

b Nhược điểm:

Trong thị trường cạnh trạnh hoàn hảo, giá cả do thị trường quyết định vì

vậy trong nhiều trường hợp giá cả thị trường có thể gây ra thiệt hại lớn cho người bán hoặc người mua, điều này ảnh hưởng xấu đến việc phân bổ tối ưu các nguồn lực xã hội

1.4 Vấn đề về quản lý thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Khi thị trường không thể thực hiện tốt vai trò phân bổ các nguồn lực tối ưu

về mặt xã hội Đó là các vấn đề liên quan đến mức giá quá cao, sản lượng thấp hơn mức xã hội mong muốn cũng như việc đảm bảo phân phối thu nhập

Trang 14

tương đối công bằng Trong trường hợp này, Chính phủ sẽ sử dụng các chính sách để tác động đến sự phân bổ các nguồn lực để cải thiện hiệu quả kinh tế Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, Nhà nước quản lý thị trường thông qua cơ chế ấn định giá trần, giá sàn hoặc chính sách trợ giá Cơ chế can thiệp này sẽ làm bình ổn giá cả trên thị trường khi có những biến động lớn về giá

xảy ra

2 Thị trường cạnh tranh độc quyền

2.1 Đặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền

Cạnh tranh độc quyền là một cấu trúc thị trường gần giống với cạnh tranh hoàn hảo, song như tên gọi cho thấy, ở đây có một số nhân tố mang tính độc quyền Cũng như cạnh tranh hoàn hảo, trong cạnh tranh độc quyền cũng có vô

số người bán, vô số người mua và việc tự do gia nhập hay rút lui khỏi thị trường là khá dễ dàng Khác biệt chủ yếu giữa hai cơ cấu thị trường là trên thị trường cạnh tranh độc quyền, các sản phẩm của những doanh nghiệp khác nhau đều có sự khác biệt chút ít

2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền

Do tình trạng có sự khác biệt về sản phẩm, các hàng hoá do một doanh nghiệp bán ra sẽ không phải là hàng hoá thay thế hoàn hảo cho hàng hoá của các doanh nghiệp khác trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh Do đó đường cầu của doanh nghiệp sẽ không phải là một đường nằm ngang, co giãn

vô hạn như trong cạnh tranh hoàn hảo mà sẽ dốc xuống về phía bên trái

Trang 15

Hình 1.2: Đường cầu của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc

quyền

Đường cầu dốc xuống cho thấy doanh nghiệp có thể bán được số lượng lớn

hơn bằng cách hạ giá bán Bằng cách này, doanh nghiệp sẽ thu hút được thêm

những người mua mới

Ngược lại, nếu một doanh nghiệp quyết định tăng giá bán, khác với một doanh nghiệp trong cạnh tranh hoàn hảo (doanh nghiệp không thể tự tăng giá bán vì sản phẩm là đồng nhất), doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền có thể

tăng giá mà không bị mất hết khách hàng bởi nó có đôi chút sức mạnh đối với thị trường

2.3 Ưu, nhược điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền

a Ưu điểm:

Do thị trường có sự đa dạng hoá sản phẩm, người sử dụng có thể mở rộng

sự lựa chọn làm cho độ thoả mãn tiêu dùng tăng Sự gia nhập của các doanh nghiệp mới đem lại ảnh hưởng tích cực đối với người tiêu dùng

Trang 16

Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất trên đoạn dốc xuống của đường tổng chi phí bình quân, mức sản lượng sẽ nhỏ hơn mức sản lượng quy mô hiệu

quả Do đó, các doanh nghiệp trong cạnh tranh độc quyền bị coi là có dư thừa năng lực sản xuất

Như vậy sự phân bổ nguồn lực trong thị trường cạnh tranh độc quyền là không tối ưu

2.4 Vấn đề về quản lý thị trường cạnh tranh độc quyền

Chính phủ thực hiện các chính sách như kiểm soát giá (ấn định mức giá trần) cho một số mặt hàng Thực hiện chính sách thuế: Việc sử dụng chính sách thuế có thể làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền, phân phối lại thu nhập cho xã hội Tuy nhiên, chính sách này cũng cần

phải được áp dụng thận trọng và phù hợp vì gánh nặng thuế sẽ dồn vào người tiêu dùng nhiều hơn vào doanh nghiệp

3 Thị trường độc quyền nhóm

3.1 Đặc điểm của thị trường độc quyền nhóm

Một cấu trúc khác của cạnh tranh không hoàn hảo là độc quyền nhóm, thị

trường độc quyền nhóm có đặc điểm là cạnh tranh giữa một số ít những người bán, vô số người mua, sản phẩm có thể phân biệt hoặc tiêu chuẩn và việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường là khó khăn Vì có ít người bán nên các nhà độc quyền nhóm có quyền lực thị trường trong vấn đề định giá, tuy nhiên

cũng do có ít người bán nên quyền lực thị trường của họ nằm trong quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Điều này dẫn tới nhiều trạng thái của thị trường có thể tồn tại

3.2 Đặc điểm của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm

Đường cầu của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm có dạng gấp khúc Cho dù các chi phí hay cầu thay đổi, các doanh nghiệp trong thị trường

Trang 17

độc quyền nhóm không muốn thay đổi giá và giữ ở mức Po Sự thay đổi giá

của một doanh nghiệp sẽ phát sinh cuộc chiến tranh về giá Tại các mức giá cao hơn Po cầu rất co giãn vì vậy khi doanh nghiệp nâng giá cao hơn Po sẽ làm giảm doanh thu vì các hãng khác sẽ không nâng giá Nếu đặt giá thấp hơn Po thì đường cầu co giãn rất ít và doanh thu cũng giảm vì các doanh nghiệp khác

cũng giảm giá do không muốn mất thị phần Do đó đường cầu gãy khúc ở

mức giá Po

Hình 1.3: Đường cầu của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm

Một đặc điểm quan trọng nữa của các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm là các doanh nghiệp có sự phụ thuộc lẫn nhau và cùng tham gia vào hành vi có tính chất chiến lược Điều này có thể lý giải vì trong thị trường độc quyền nhóm chỉ có vài doanh nghiệp nên mỗi doanh nghiệp có một thị

phần rất lớn trên thị trường Do đó việc quyết định giá bán và sản lượng của

mỗi doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp khác Hơn nữa, khi ra quyết định giá bán và sản lượng thì doanh nghiệp cũng quan sát phản ứng của đối thủ cạnh tranh Quyết định phụ thuộc lẫn nhau và

trạng thái của thị trường độc quyền nhóm thường được nghiên cứu với sự phát triển của lý thuyết kinh tế, đặc biệt là lý thuyết trò chơi

P

Q

Po

Qo

Trang 18

Lý thuyết trò chơi được John Von Newmann xây dựng vào năm 1937 và sau đó được Von Newmann và Oskar Morgenstern phát triển vào năm 1944

Lý thuyết này được các nhà kinh tế sử dụng để phân tích hành vi có tính chiến lược, một hành vi xem xét hành vi của các thành viên khác và nhận thức

sự tương thuộc lẫn nhau thì được gọi là lý thuyết trò chơi

Tất cả mọi trò chơi đều có ba điều: Các quy tắc, chiến lược và kết quả (phần thưởng)

Lý thuyết trò chơi mang lại sự hiểu biết về độc quyền nhóm và cố gắng giải thích hành vi có tính chất chiến lược bằng cách xem xét kết quả liên quan đến các lựa chọn của các bên tham gia trò chơi Một tình huống có thể phân tích

bằng lý thuyết trò chơi, đó là hành vi của hai doanh nghiệp trong độc quyền nhóm quyết định chiến lược giá cao hay thấp

Xét ví dụ trò chơi của hai doanh nghiệp độc quyền nhóm:

Trang 19

Cấu kết (kiểm soát thị trường, cung ứng mức sản lượng thấp) sẽ là sự lựa

chọn mang lại lợi ích đồng thời cho cả hai nhà độc quyền nhóm nhưng đó là

sự lựa chọn không an toàn khi một trong hai doanh nghiệp phá cam kết Vì lý

do an toàn này mà chiến lược thống trị của cả hai doanh nghiệp vẫn là chiến lược sản lượng cao mặc dù sự lựa chọn này mang lại thiệt hại cho cả hai doanh nghiệp Thế lưỡng nan trong độc quyền nhóm là như vậy

Đây là một minh hoạ rất rõ giữa cạnh tranh và cấu kết của các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm

3.3 Ưu, nhược điểm của thị trường độc quyền nhóm

a Ưu điểm:

Lợi ích cá nhân đẩy các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm đến gần thị trường cạnh tranh hơn Như vậy sẽ dịch chuyển sự phân bổ nguồn lực gần hơn tới điểm tối ưu của xã hội

b Nhược điểm:

Trong thị trường độc quyền nhóm, hàng rào ngăn cản các doanh nghiệp

mới gia nhập ngành là lớn, quyền lực thị trường tập trung vào một nhóm doanh nghiệp nên các doanh nghiệp vẫn sản xuất ở mức sản lượng nhỏ hơn sản lượng trong thị trường cạnh tranh và giá cao hơn giá cạnh tranh Ngoài ra, hành vi của các nhà độc quyền nhóm có thể tới tình huống chiến tranh về giá, gây thiệt hại lớn cho người bán

3.4 Các vấn đề về quản lý thị trường độc quyền nhóm

Nhà nước sử dụng các chính sách để can thiệp vào thị trường độc quyền nhóm như:

Trang 20

− Khuyến khích các doanh nghiệp mới gia nhập ngành: Chính phủ thi hành các chính sách nhằm phá bỏ những rào cản để các doanh nghiệp mới dễ thâm nhập thị trường hơn

− Thực hiện chính sách thuế thận trọng và phù hợp

− Thi hành luật chống độc quyền: các đạo luật này được dùng để ngăn

chặn những vụ sát nhập dẫn đến sức mạnh quá lớn của một doanh nghiệp Ngoài ra, chúng còn được sử dụng để ngăn chặn các nhà độc quyền nhóm hợp tác làm cho thị trường của họ kém cạnh tranh hơn

4 Thị trường độc quyền thuần tuý

4.1 Đặc điểm của thị trường và của doanh nghiệp độc quyền thuần tuý

Một thị trường được gọi là độc quyền thuần tuý khi trên thị trường chỉ có

một người bán, vô số người mua hoặc một người mua, vô số người bán, sản

phẩm hoàn toàn đồng nhất, không có sản phẩm thay thế gần gũi, việc doanh nghiệp muốn gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường là khó khăn và nhà độc quyền hoàn toàn quyết định giá thị trường

Các rào cản thị trường đối với các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành có

thể là do: Quy mô kinh tế, hành động của các doanh nghiệp hay hành động

Trang 21

Hình 1.4: Đường cầu của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền thuần túy

4.2 Ưu, nhược điểm của thị trường độc quyền thuần tuý

a Ưu điểm:

Các doanh nghiệp độc quyền thường có đặc tính giảm chi phí sản xuất theo quy mô, tính liên kết và thống nhất cao trong từng khâu của quá trình sản xuất – kinh doanh Điều này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp mà hoạt động của nó có tính hệ thống cao như ngành năng lượng

b Nhược điểm:

Trong thị trường độc quyền thuần tuý, quyền lực thị trường được tập trung hoàn toàn vào nhà độc quyền, như vậy người mua không có bất cứ một sự lựa chọn nào khác là chấp nhận giá Giá bán lớn hơn chi phí cận biên, Doanh nghiệp độc quyền cung ứng mức sản lượng nhỏ hơn mức sản lượng quy mô

hiệu quả Như vậy, đứng trên quan điểm phân bổ nguồn lực xã hội sẽ là không tối ưu

4.3 Vấn đề về quản lý thị trường độc quyền thuần tuý

Một giải pháp có thể là cố gắng phá vỡ độc quyền, nhưng trong một số

trường hợp nhất định thì phá vỡ độc quyền sẽ làm ngưng trệ phát triển kinh tế

Vì vậy giải pháp thường được sử dụng là Nhà nước điều tiết độc quyền

P

Q

Trang 22

Thứ nhất, Nhà nước điều tiết và kiểm soát việc định giá sản phẩm hoặc ấn định giá trần sản phẩm của các doanh nghiệp độc quyền sao cho ở mức đó, giá cả bằng với chi phí trung bình trong sản xuất Biện pháp này sẽ làm tăng thêm sản lượng sản xuất ra đến mức giống như của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn

Thứ hai, điều tiết cho đến mức nhà doanh nghiệp độc quyền chỉ thu được

một lợi nhuận bình thường đối với khoản đầu tư của nó Điều này bắt buộc nhà độc quyền phải tăng sản lượng bán và muốn có nhiều lợi nhuận phải đổi mới cách thức tổ chức quản lý để giảm chi phí sản xuất bình quân cho một sản phẩm

Ngoài ra, Nhà nước có thể dùng quyền lực của mình để quản lý thị trường độc quyền như:

− Ban hành luật chống độc quyền: Các đạo luật này nhằm ngăn ngừa một

số hành vi dẫn đến độc quyền

− Khuyến khích cạnh tranh: Chính phủ thi hành các chính sách khuyến khích cạnh tranh bằng cách phá bỏ những rào cản để các doanh nghiệp mới dễ thâm nhập thị trường hơn hoặc khuyến khích sự hình thành của các doanh nghiệp mới

− Áp dụng các chính sách thuế thận trọng và phù hợp

Tóm lại, việc hệ thống hoá các loại cấu trúc thị trường điển hình cho phép chúng tôi có cái nhìn tổng quan trước khi nghiên cứu cấu trúc thị trường điện

lực với đặc trưng kinh tế kỹ thuật rất khác biệt

II Các đặc trưng kinh tế kỹ thuật của công nghiệp điện lực

Điện năng là một loại sản phẩm hàng hoá năng lượng đặc biệt và mang tính chất xã hội rất sâu sắc Nó là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của nhiều quá trình sản xuất, là một trong những nguồn lực then chốt thúc đẩy sự

Trang 23

phát triển kinh tế xã hội đối với một quốc gia Sản phẩm điện năng đặc biệt ở

chỗ quá trình sản xuất ra điện năng và cung cấp đến từng hộ tiêu dùng là một

sự liên kết không thể tách rời về mặt vật lý từ khâu phát điện, truyền tải điện đến phân phối điện

Khác với các hàng hoá thông thường khác, cung về điện năng phải luôn

bằng cầu về điện năng tại mọi thời điểm, điện năng không có khả năng dự trữ, không có sản phẩm dở dang và chi phí cung cấp điện vào các thời điểm khác nhau là hoàn toàn khác nhau Chính vì những lý do này mà khi nghiên cứu các mô hình tổ chức thị trường điện từ mô hình độc quyền liên kết dọc đến các mô hình thị trường điện cạnh tranh ở các cấp độ khác nhau thì các đặc điểm của sản phẩm điện năng và của ngành điện lực là không thể bỏ qua

1 Đặc điểm của lượng cung và cầu điện năng

1.1 Cung phải đáp ứng cầu vào bất cứ thời điểm nào

Trong vấn đề cung cầu điện năng, tại mỗi thời điểm, khả năng cung cấp cho hệ thống bao gồm công suất và sản lượng điện năng của tất cả các nhà máy điện hiện có trên hệ thống đang ở trạng thái vận hành hoặc dự phòng Vì điện năng không thể dự trữ được nên theo lý thuyết thì năng lực sản xuất của

hệ thống ít nhất phải đáp ứng được nhu cầu phụ tải vào thời điểm cao nhất trong năm (và phần công suất dự phòng khi có những biến động tức thời về nhu cầu phụ tải) Do đó, điều quan trọng nhất là phải nắm bắt được những đặc điểm chính của lượng cầu và đường cầu, trên cơ sở đó tiến hành quy mô hoá

hệ thống sản xuất điện Trong quá trình vận hành, thời gian cao điểm là những thời điểm vận hành khó khăn hơn nhiều so với các thời điểm khác do phụ tải tăng rất cao và rất nhanh, một số trường hợp khi lượng điện năng tiêu thụ trong năm tăng vọt quá cao, khi đó sẽ có khá nhiều các phương tiện sản xuất

phải được huy động để đối phó với những tình thế tức thời Tóm lại, một hệ

Trang 24

thống cung cấp điện cần phải được quy mô hoá theo điều kiện bắt buộc nêu trên thì mới có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong năm

Sự cân bằng giữa cung và cầu ngày càng trở nên khó giải quyết hơn về phía cung hơn là về phía cầu vì nó chịu ảnh hưởng của một yếu tố không chắc chắn trong sản xuất thường được gọi là những yếu tố bất ngờ Đó là những

bất ngờ liên quan đến lưu lượng nước về của các nhà máy thuỷ điện, ảnh

hưởng trực tiếp đến sản lượng điện cung cấp Hay những sự cố không biết

trước của các thiết bị trong hệ thống điện Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng cũng là một đại lượng rất khó dự báo chắc chắn Điều này không chỉ gây

ra những khó khăn về mặt kỹ thuật liên quan đến điều độ hệ thống mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong vận hành hệ thống điện

Nếu các phương tiện sản xuất buộc phải đáp ứng toàn bộ nhu cầu tức thời ở mọi thời điểm thì nhà cung cấp điện sẽ phải lắp đặt hệ thống trên quy mô hoá rất cao, như vậy sẽ gây nhiều tốn kém cho nhà nước và cộng đồng Tuy nhiên nếu các phương tiện không thể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu điện năng, điều này có nghĩa là nhà sản xuất phải chấp nhận một sác xuất sự cố Tình trạng sự

cố là tình trạng mà lượng cung không đáp ứng đủ nhu cầu phụ tải, sẽ dẫn đến phát sinh một số thiệt hại mà người tiêu dùng phải gánh chịu Do đó nhà sản xuất phải quyết định giữa hai vấn đề bất lợi nêu trên Nếu nhà sản xuất chỉ trang bị các thiết bị sản xuất chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu trung bình trong cả

năm thì xác suất sự cố có thể tăng khi có những biến động trong lượng cầu Ngược lại nếu muốn đảm bảo cung cấp điện gần như chắc chắn 100% tương đương với việc giảm xác suất sự cố xuống còn 1/1000, khi đó những chi phí đầu tư sẽ rất đắt vì nhà sản xuất sẽ phải trang bị cả những tổ máy mà xác suất làm việc của nó cũng chỉ 1/1000 Vì vậy cần thiết phải có những tính toán cân

nhắc cụ thể giữa một bên là những hậu quả do sự cố ngừng cung cấp điện gây

ra, với một bên là những chi phí phát sinh do việc đầu tư thêm lưới điện và

Trang 25

những những tổ máy có xác suất làm việc rất nhỏ để tránh sự cố trong cung

cấp điện

1.2 Nhu cầu điện năng không ổn định

Nhu cầu sử dụng điện ở các quốc gia trên thế giới thường dao động khá mạnh trong vòng một ngày đêm và trong vòng một năm Quan sát phụ tải điện theo từng giờ, từng ngày, từng mùa, có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng điện là không ổn định Ở các nước châu Âu thì sản lượng điện tiêu thụ mùa đông là cao nhất trong năm do mùa đông ở châu Âu thường rất lạnh nên ngoài nhu cầu sử dụng điện cho các nhu cầu thường xuyên khác, nhu cầu sử dụng điện cho sưởi ấm là rất cao Ngược lại với các nước châu Âu, ở một số vùng tại Hoa Kỳ thì mùa hè lại là thời kỳ cao điểm trong năm vì nhu cầu sử dụng điều hoà nhiệt độ

Lấy ví dụ phụ tải một ngày điển hình ở Việt Nam, có thể thấy rằng nhu cầu

sử dụng điện trong một ngày dao động khá lớn (chênh lệch khoảng 5000 MW) Để đáp ứng được nhu cầu phụ tải luôn thay đổi này, nhà cung cấp cần huy động các nhà máy điện trong hệ thống Vì nguồn năng lượng sơ cấp để phát điện là rất khác nhau (than, dầu FO, DO, khí, nước, nguyên tử) nên các nhà máy điện rất khác nhau về đặc tính vận hành, công suất, sản lượng và mức độ linh hoạt trong đáp ứng phụ tải Chính vì điều này nên chi phí sản

xuất cho 1kWh điện tại mỗi thời điểm trong hệ thống là rất khác nhau

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy rằng phụ tải hệ thống điện càng bằng phẳng bao nhiêu thì hiệu quả cung cấp điện càng tốt bấy nhiêu Hoạt động của

hệ thống điện chịu tác động rất lớn vào những thời gian cao điểm, do đó, chi phí cung ứng và khả năng đáp ứng nhu cầu vào thời điểm cao điểm đều phải

nằm trong những tính toán kinh tế hệ thống điện Trên thế giới, người ta sử

dụng hệ số điện kín phụ tải và hệ số không đồng đều để đo mức độ bằng phẳng của phụ tải

Trang 26

Hệ số điền kín đồ thị biểu đồ phụ tải Kđk (hay hệ số sử dụng công suất tác dụng Ksd) thể hiện mức độ sử dụng công suất của thiết bị điện:

Do đó, mục tiêu của tất cả các nước nhằm hướng tới hiệu quả cung ứng điện là sử dụng các biện pháp khác nhau trong quản lý nhu cầu cũng như các vấn đề về chính sách giá điện để thực hiện san bằng đồ thị phụ tải vì giá cả là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến nhu cầu

2 Những đặc trưng cơ bản của ngành Điện lực

2.1 Độc quyền tự nhiên

Với đặc trưng kinh tế kỹ thuật rất khác biệt, ngành điện là ngành độc quyền

tự nhiên bởi các lý do sau:

a Sự liên kết không thể tách rời trong hoạt động sản xuất, cung ứng điện

Từ khâu sản xuất điện, truyền tải điện đến phân phối điện luôn là một khối liên kết về mặt vật lý, các đơn vị trong hệ thống điện phải hoàn toàn kết nối từ sản xuất đến người tiêu dùng nên hoạt động phải có tính đồng bộ Ngoài ra, khi có xảy ra sự cố trên hệ thống thì hoạt động cung ứng và sử dụng điện có

thể sẽ bị gián đoạn Do vậy hoạt động điện lực thường do một Tổng công ty hay Tập đoàn đảm nhiệm

b Vốn đầu tư ban đầu lớn, rủi ro cao

Trang 27

Một hệ thống điện bao gồm: Nguồn điện: Các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện than, nhiệt điện dầu, tua bin khí, điện nguyên tử, các nhà máy điện sử

dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo Lưới điện: Bao gồm lưới truyền tải

và lưới phân phối làm nhiệm vụ đưa điện từ các nhà máy đến người tiêu dùng Chỉ tính riêng cho việc xây dựng nguồn điện: với các nhà máy thuỷ điện

suất đầu tư cho 1 MW công suất đặt vào khoảng 1,5 triệu USD, đối với nhà máy nhiệt điện suất đầu tư vào khoảng 1 triệu USD/1MW công suất đặt Như

vậy có thể thấy rằng vốn đầu tư ban đầu cho cơ sở vật chất là rất lớn Với đặc điểm này, ngành điện lực mang đặc trưng kinh tế theo quy mô

2.2 Cạnh tranh từng phần

Trên thế giới đã và đang diễn ra một làn sóng cải cách thị trường hoá ngành điện lực, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển đã hình thành thị trường điện lực cạnh tranh tức là có sự chia sẻ lợi nhuận và quyền lực trong khâu sản xuất điện và khâu phân phối điện Khâu truyền tải vẫn luôn giữ độc quyền bởi chi phí đầu tư cho xây dựng lưới truyền tải rất lớn nên việc cung cấp dịch vụ truyền tải sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều khi chỉ có một công ty cung cấp

dịch vụ, ngoài ra nếu nhiều công ty cung cấp dịch vụ truyền tải sẽ gây khó khăn rất lớn trong công tác lắp đặt thiết bị và vận hành như việc phối hợp chỉnh định bảo vệ rơle, phối hợp các thiết bị bảo vệ đặc biệt khi xảy ra sự cố

hệ thống điện sẽ không đồng bộ

Vì vậy có thể khái quát đặc trưng của ngành điện lực là độc quyền tự nhiên

và cạnh tranh từng phần

III Một số mô hình tổ chức thị trường điện lực

1 Mô hình độc quyền liên kết dọc

1.1 Đặc điểm của mô hình

Trang 28

Hình 1.5: Mô hình độc quyền liên kết dọc

Tổ chức sản xuất kinh doanh của ngành điện bao gồm ba khâu chính: phát điện, truyền tải và phân phối điện đến người tiêu dùng Cấu trúc truyền thống của ngành điện là cả ba chức năng trên được tập trung trong một công ty điện lực quản lý trong một vùng lãnh thổ nhất định gọi là công ty liên kết dọc Tại một vùng lãnh thổ, công ty điện lực liên kết dọc sẽ sở hữu toàn bộ và vận hành các nhà máy điện, lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối Công ty điện lực chịu trách nhiệm phối hợp đồng bộ, phân công sản xuất giữa tất cả các đơn vị trong cả ba khâu phát, truyền tải và phân phối nhằm đáp ứng nhu cầu của các hộ tiêu thụ điện Việc tập trung các chức năng trong một công ty

như vậy xuất phát từ đặc trưng độc quyền tự nhiên của ngành điện lực, nếu

như một công ty sở hữu và vận hành toàn bộ quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện sẽ là một khối liên kết và thống nhất cao nên việc phối hợp hoạt động một cách đồng bộ sẽ đem lại hiệu quả Với mô hình này công ty điện lực sẽ độc quyền trong việc sản xuất và cung cấp điện cho người tiêu dùng Công ty điện lực kết dọc này chủ yếu là thuộc sở hữu Nhà nước, hệ

thống điện thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất trong hoạt động kinh doanh của công ty điện lực

Phát điện Truyền tải điện Phân phối điện

Khách hàng

Trang 29

Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong mô hình độc quyền liên kết dọc sẽ không

có yếu tố cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh điện Tất cả các đơn vị trực thuộc công ty liên kết dọc đều phải thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh do công ty đề ra Về phía khách hàng cũng không có sự lựa chọn người bán Một lý do mà trước đây coi khâu phát điện cũng là độc quyền tự nhiên vì

phạm vi độ lớn của nhà máy điện so với tiêu thụ là rất lớn

1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình

a Ưu điểm:

− Thể hiện tính liên kết và thống nhất cao giữa các khâu và các bộ phận trong dây chuyền sản xuất kinh doanh điện

− Đạt được hiệu quả sản xuát kinh doanh cao nhờ tận dụng lợi thế về quy

mô lớn của doanh nghiệp và giảm thiểu được chi phí cho các giao dịch trong kinh doanh

− Việc phối hợp lập kế hoạch vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng và mở rộng quy mô hệ thống sẽ được đồng bộ

− Công ty điện lực liên kết dọc (đa số thuộc sở hữu nhà nước) không đặt

mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp Các công ty điện lực chịu trách nhiệm cung cấp cho mọi khách hàng mua điện, kể cả các hộ phụ tải độc lập, xa trung tâm

Trang 30

− Công ty điện lực liên kết dọc nếu năng lực tài chính không đủ mạnh sẽ rất khó khăn trong việc mở rộng quy mô hệ thống điện để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải điện

− Quyền tự chủ điều hành doanh nghiệp rất hạn chế, doanh nghiệp thường phải chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp từ Chính phủ dẫn đến sự thụ động trong điều hành của người lãnh đạo doanh nghiệp

2 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh

Trước đây, ở hầu hết các nước trên thế giới, ngành điện được coi là một ngành độc quyền tự nhiên, cả ba chức năng phát điện, truyền tải và phân phối đều tập trung trong một công ty điện lực quốc gia Tuy nhiên, cho đến đầu

những năm 80 của thế kỷ 20, việc đưa cạnh tranh vào khâu phát điện và phân

phối bán lẻ điện đã được nhiều nước nghiên cứu và phát triển Đó là vì những

lý do sau:

− Nhu cầu huy động vốn đầu tư: Đối với các nước đang phát triển, đặc

biệt là các nước châu Á Thái bình dương, nhu cầu vốn để xây dựng mới, đại

tu, cải tạo các công trình điện là rất lớn Vốn ngân sách của Chính phủ thường không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư các công trình điện Như vậy việc cải tổ ngành điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh là giải pháp tích cực để thu hút được đầu tư tư nhân vào ngành điện

− Ảnh hưởng của sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá: Trong một nền kinh tế cô lập, tính không hiệu quả của nền kinh tế dẫn đến chi phí cao và chi phí này đều chuyển cho khách hàng phải gánh chịu Trong một nền kinh tế mở, hầu hết các ngành kinh tế đều có thể phát triển trong môi trường cạnh tranh, các nhà đầu tư thường lựa chọn những

nơi có điều kiện đầu tư hấp dẫn nhất Như vậy sự phát triển của nền kinh tế

thị trường và vấn đề toàn cầu hoá tạo ra áp lực tăng hiệu quả kinh doanh của

Trang 31

ngành điện Nền kinh tế toàn cầu hỗ trợ cải tổ ngành điện bằng việc thúc đẩy

sự xuất hiện của các công ty điện lực quốc tế, các công ty có nguồn lực đủ

mạnh để tham gia cạnh tranh trong thị trường điện

− Thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Quy mô của các nhà máy điện

đã được thay đổi nhờ vào công nghệ phát triển có thể chế tạo được những tổ máy hoạt động có hiệu suất cao và phù hợp với cạnh tranh trong phát điện Ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống điện cũng góp phần làm thay đổi quan điểm trước đây về kinh doanh của ngành điện Công nghệ thông tin

hỗ trợ các đơn vị trong việc quản lý kỹ thuật và kinh doanh, giao dịch khách hàng

− Ảnh hưởng của việc xây dựng thị trường điện các nước trong khu vực

và trên thế giới: Thực tế cho thấy rằng việc xây dựng thành công thị trường điện ở một số nước cũng có tác động đến các nước khác Các nước đi sau có thể rút ra bài học kinh nghiệm về thành công cũng như thất bại trong quá trình xây dựng thị trường điện của các nước đi trước, tác động tích cực đưa cạnh tranh vào ngành điện để nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm gánh nặng ngân sách đầu tư, giảm giá bán điện Đây là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy các nước đi sau đặc biệt là các nước đang phát triển đẩy nhanh quá trình xây dựng thị trường điện

Tất cả những lý do trên đã thúc đẩy các nước nghiên cứu và phát triển việc

cạnh tranh hoá mạnh mẽ trong ngành điện dẫn tới sự ra đời của những mô hình thị trường điện như: cạnh tranh một người mua, thị trường bán buôn, thị trường bán lẻ

2.1 Mô hình một người mua

2.1.1 Đặc điểm của mô hình

Trang 32

Mô hình một người mua được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới

tự do hoá trong kinh doanh điện Mô hình một người mua thực chất là mô hình thị trường phát điện cạnh tranh

Hình 1.6: Mô hình thị trường điện một người mua

Mô hình này cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các nhà máy điện độc lập Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho Cơ quan mua duy nhất Như vậy cơ quan mua duy nhất sẽ độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện Các công ty phát điện sẽ phải cạnh tranh để bán điện theo các hợp đồng mua điện thoả thuận giữa nhà sản xuất và cơ quan mua duy nhất

Thực chất đây là mô hình chuyển tiếp được bắt đầu bằng việc cho phép

cạnh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiết lập các thiết chế của thị trường cạnh tranh cho đến tận khâu bán buôn và bán lẻ điện Thị trường điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc

Việc cho phép các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài đầu tư và xây dựng nguồn điện sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của

Công ty

phát điện

Công ty phân phối

Công ty

phân phối

Công ty phát điện phát Công ty điện

Cơ quan mua duy nhất

Công ty phân phối

Trang 33

Chính phủ đầu tư vào ngành điện, chia sẻ bớt các rủi ro khi xây dựng nhà máy điện Việc đa dạng hoá thành phần trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm giá thành sản xuất điện của các nhà máy điện Như vậy so sánh với mô hình truyền thống liên kết dọc, mô hình một người mua này đã đưa được cạnh tranh vào khâu phát điện Tuy nhiên, cơ quan mua duy nhất vẫn độc quyền mua điện từ các công ty phát điện và độc quyền phân

phối cho các khách hàng

Trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện cạnh tranh, có nhiều nước

đã trải qua mô hình này, chủ yếu là các nước Đông Âu thuộc Liên Xô cũ, các nước Hàn Quốc, Nam Mỹ và một số nước Đông Nam Á

2.1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình

a Ưu điểm:

− Không gây ra những thay đổi đột biến và xáo trộn lớn trong hoạt động

sản xuất kinh doanh và cơ cấu tổ chức của ngành điện hiện tại

− Cơ hội thực hiện thành công cao do có đủ thời gian để các đối tượng tham gia thị trường dần tăng cường năng lực của mình đáp ứng nhu cầu của

thị trường

− Hình thành được môi trường cạnh tranh trong khâu phát điện, chủ yếu

là cạnh tranh phát triển nguồn mới và một phần cạnh tranh trực tiếp trên thị trường ngắn hạn, ổn định được giá điện, giảm áp lực tăng giá

− Thu hút được vốn đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm gánh nặng cho ngân sách đầu tư của Chính phủ vào ngành điện, là mô hình thích hợp cho thời kỳ có nhu cầu cao về điện năng và đầu tư nguồn điện mới

− Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phân phối điện hiện tại

Trang 34

− Hệ thống quy định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp do mô hình đơn giản

− Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn

− Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực hiện các hợp đồng mua điện đã ký và đủ uy tín để thu hút các nhà đầu tư

mới

− Chưa có lựa chọn mua điện cho các khách hàng

2.1.3 Các vấn đề về quản lý thị trường điện một người mua

Để thị trường này hoạt động cần thiết phải hình thành Đơn vị mua duy nhất

và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện Vai trò của các đơn vị phát điện, đơn vị mua duy nhất, công ty truyền tải, cơ quan vận hành hệ thống và vận hành thị trường đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của thị trường Các đơn vị này cần phải được tách biệt nhau về tài chính, tốt nhất là không có

bất cứ lợi ích tài chính chung Vì thế cấu trúc thị trường cần được thiết kế để tránh những mâu thuẫn lợi ích nhằm tiến tới một thị trường cạnh tranh minh bạch, công bằng và hiệu quả Những quy định về chống phi cạnh tranh cần

phải được ban hành chặt chẽ để tránh được những hoạt động liên kết lũng đoạn thị trường

Trang 35

a Nguồn điện

Khi có sự tham gia của các công ty phát điện độc lập, mỗi công ty nên sở

hữu vài nhà máy điện, lý tưởng nhất là các công ty có thể sở hữu cả nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện để có thể hỗ trợ lẫn nhau trong quản lý và hoạt động thị trường Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện cạnh tranh, các nhà máy điện thuộc công ty liên kết

dọc sẽ tách ra khỏi công ty và hình thành từ 3 đến 5 công ty phát điện lớn Các nhà máy thuỷ điện đa mục tiêu vẫn có thể cạnh tranh một cách hiệu quả nếu có một quy định phù hợp Các nhà máy thuỷ điện bậc thang nên thuộc quyền sở hữu của một công ty phát điện, giúp cho việc quản lý và khai thác

bậc thang hiệu quả hơn, tối ưu hoá thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà máy Để tránh hiện tượng lũng đoạn thị trường, tỉ lệ công suất đặt của một đơn vị phát điện phải nhỏ hơn 25% tổng công suất đặt toàn hệ thống (theo kinh nghiệm thế giới)

b Truyền tải điện

Khâu truyền tải điện mang tính độc quyền tự nhiên như đã phân tích ở trên Đơn vị truyền tải sẽ là một đơn vị hoạt động phi lợi nhuận, cung cấp các dịch

vụ truyền tải và được hưởng phí Chức năng của đơn vị truyền tải như sau:

− Ký các hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền tải, thực hiện việc đấu nối cho các đơn vị phát điện và đơn vị phân phối Đảm bảo việc tham gia lưới truyền tải điện công bằng cho các đơn vị phát điện

− Quản lý, vận hành thiết bị truyền tải đảm bảo vận hành an toàn, tin cậy

− Đầu tư phát triển lưới truyền tải phù hợp với quy hoạch điện lực

c P hân phối điện

Cấp độ thị trường này các công ty phân phối chưa tham gia nên không có

gì thay đổi so với mô hình thị trường liên kết dọc

Trang 36

d Vận hành hệ thống và vận hành thị trường

Chức năng vận hành hệ thống điện bao gồm:

− Lập kế hoạch vận hành hệ thống điện ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

− Lập phương thức huy động nguồn và vận hành thời gian thực, thực hiện các dịch vụ phụ trợ

− Thực hiện các phối hợp sửa chữa, thí nghiệm nguồn, lưới

− Thực hiện các thao tác và xử lí sự cố trên hệ thống điện

Đơn vị điều hành giao dịch thị trường sẽ hoạt động theo Quy định thị trường do Cục điều tiết điện lực quy định Chức năng chính như sau:

− Điều hành và quản lý hoạt động mua bán điện giao ngay Quản lý việc thực hiện mua bán công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn và các hợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ trong thị trường điện lực

− Lập kế hoạch huy động công suất, điện năng của các nhà máy điện trên

cơ sở công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn, đăng ký mua bán điện giao ngay của các đơn vị tham gia mua bán điện trên thị trường và các ràng buộc kỹ thuật của hệ thống điện để giao cho đơn vị vận hành hệ thống điện Quốc Gia và các đối tượng tham gia thị trường thực hiện

− Xác định nhu cầu sử dụng các dịch vụ truyền tải điện, phân phối điện, các dịch vụ phụ trợ để ký hợp đồng với các Đơn vị truyền tải điện, phân phối điện, các đơn vị cung cấp dịch vụ phụ trợ

− Tính toán giá điện tức thời, lập hoá đơn thanh toán đối với lượng công suất, điện năng mua bán giao ngay và các phí sử dụng dịch vụ phụ trợ

e Đơn vị mua duy nhất

Trang 37

Trong thị trường phát điện cạnh tranh một người mua sẽ hình thành đơn vị mua điện duy nhất với các chức năng chính như sau:

− Dự báo phụ tải trung và dài hạn để cân đối lượng nguồn cần bổ sung

mới phù hợp với quy hoạch

− Tổ chức lựa chọn nhà đầu tư phát triển các nguồn điện mới theo nguyên tắc cạnh tranh theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu dưới sự giám sát của cơ quan điều tiết điện lực

− Thương thảo, ký và quản lý các hợp đồng mua điện với các nhà đầu tư nguồn điện, các hợp đồng song phương với các đơn vị phát điện, các hợp đồng truyền tải với công ty truyền tải, các hợp đồng dịch vụ vận hành

− Cân đối các yêu cầu mua điện trong thời kỳ ngắn hạn chuyển cho đơn

vị điều hành giao dịch thị trường điện thực hiện tổ chức mua bán giao ngay

f Điều tiết điện lực

Khi thực hiện cải tổ ngành điện theo hướng mở ra thị trường cạnh tranh cần

phải có Cơ quan điều tiết điện lực nhằm phân tách rõ chức năng hoạch định chính sách và chức năng điều tiết Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập, giám sát và tổ chức thực hiện chính sách, bảo đảm hiệu lực thi hành các luật

lệ nhằm thúc đẩy hiệu quả và tối ưu trong vận hành thị trường Để đảm bảo thành công của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể

chế điều tiết rõ ràng, minh bạch, có một cơ quan điều tiết độc lập được trao đầy đủ quyền lực để thực hiện các chức năng của mình Cơ quan điều tiết cần phải độc lập về quyền lợi với các bên tham gia thị trường

Cơ quan điều tiết có chức năng sau:

Trang 38

− Quản lý cấp phép hoạt động điện lực trong phạm vi toàn quốc Sửa đổi,

bổ sung và thu hồi giấy phép hoạt động điện lực khi đối tượng tham gia hoạt động điện lực vi phạm các quy định về cấp phép

− Xây dựng các quy định chi phối các hoạt động của thị trường điện và hướng dẫn thực hiện

− Giám sát và điều tiết quan hệ cung cầu

− Xây dựng, giám sát và phê duyệt biểu giá điện

− Giám sát thực hiện thi hành luật và các quy định, giải quyết tranh chấp,

xử phạt và cưỡng chế thi hành

− Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực điều tiết điện lực và phát triển

thị trường điện, liên kết lưới điện khu vực và thị trường điện khu vực

− Tiếp nhận và quản lý các dự án có liên quan đến việc hoàn thiện cơ chế, chính sách điều tiết điện lực

− Tổ chức đào tạo cán bộ, chuyên gia điều hành thị trường, chuyên gia quy hoạch hệ thống, tính toán giá điện

2.2 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh

2.2.1 Đặc điểm của mô hình

Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh tạo ra sự cạnh tranh trong khâu phát điện và bán buôn điện Điểm khác biệt nổi bật nhất của mô hình bán buôn cạnh tranh là các công ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực

tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào, không nhất thiết phải mua từ đơn vị mua duy nhất Tuy nhiên khâu bán lẻ điện đến các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối theo địa bàn quản lý Trong mô hình này sẽ

xuất hiện một số các công ty kinh doanh mua bán điện nhưng không sở hữu

Trang 39

lưới điện Các công ty này sẽ thực hiện các hợp đồng mua bán điện với các công ty phát điện và các công ty phân phối

Trong mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty phát điện

sẽ tự do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh Các giao dịch mua bán điện năng sẽ được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương

hoặc thông qua thị trường tức thời hoặc dưới cả hai hình thức Thị trường điện

có thể ở dạng tự nguyện hoặc bắt buộc Trong thị trường bắt buộc, tất cả điện

năng bán buôn tại lưới truyền tải đều phải bắt buộc thực hiện thông qua thị trường

Hình 1.7: Mô hình thị trường điện bán buôn cạnh tranh

Như vậy là so sánh với thị trường điện một người mua, từ một công ty độc quyền mua duy nhất đã được thay thế bằng các công ty cạnh tranh để mua điện từ các công ty phát điện và cạnh tranh để bán cho các công ty phân phối điện Như vậy mức độ cạnh tranh đã cao hơn so với thị trường điện một người mua Tuy nhiên các công ty phân phối vẫn độc quyền trong phân phối điện đến khách hàng

Công ty

phân phối phân phCông ty ối phân phCông ty ối phân phCông ty ối

Thị trường bán buôn

Trang 40

2.2.2 Ưu, nhược điểm của mô hình

a Ưu điểm:

− Đã xoá bỏ được độc quyền mua điện của Đơn vị mua duy nhất trong thị

trường phát điện cạnh tranh

− Các đơn vị phân phối có quyền cạnh tranh mua điện từ nhà cung cấp, các khách hàng tiêu thụ lớn được quyền lựa chọn nhà cung cấp

− Lượng điện mua bán qua thị trường ngắn hạn tăng lên đáng kể, tăng mức độ cạnh tranh

− Mức độ cạnh tranh cao hơn nên động lực tiết kiệm chi phí tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng lớn hơn nhiều Khả năng giảm giá điện cao

b Nhược điểm:

− Khách hàng tiêu thụ vừa và nhỏ chưa được quyền lựa chọn nhà cung

cấp, vẫn còn độc quyền trong khâu bán lẻ điện

− Hoạt động giao dịch thị trường phức tạp hơn nhiều so với thị trường phát điện cạnh tranh, đòi hỏi hệ thống quy định cho hoạt động của thị trường điện phức tạp hơn

− Đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn hơn so

với thị trường phát điện cạnh tranh

2.2.3 Vấn đề về quản lý thị trường bán buôn cạnh tranh

a Nguồn điện

Trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh, cân bằng thị trường về cung và

cầu sẽ xác định giá điện bán buôn Như vậy giá bán buôn điện sẽ không do cơ quan điều tiết quy định mà hoàn toàn quyết định bởi giá cả cạnh tranh trên thị trường Giá điện sẽ tăng cao vào những thời điểm mà lượng công suất dự

Ngày đăng: 27/02/2021, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w