Phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp là một công việc quan trọng, thông qua đó tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính nói riêng và hoạt động sản xuất kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
TRẦN VŨ LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT LỤA NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN LONG
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, là kết quả
của quá trình học tập, nghiên cứu, tiếp thu các kiến thức từ Thầy giáo hướng dẫn và
các Thầy, Cô trong Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trên cơ sở tình hình thực tế tại Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định, dựa trên những
kinh nghiệm của bản thân và những kiến thức được học, trong luận văn này, tôi đã
đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Trên đây là cam kết ràng buộc trách nhiệm của tác giả luận văn đối với các
nội dung, ý tưởng và đề xuất trong luận văn
Tác giả luận văn
Trần Vũ Linh
Trang 3Mục lục Lời cam đoan
MụC LụC
Danh mục các chữ viết tắt
DANH MụC BảNG
DANH MụC SƠ Đồ
Phần mở đầu 1
cHƯƠNG 1: cơ sở lý luận Về TàI CHíNH DOANH NGHIệP Và PHÂN TíCH TàI CHíNH DOANH NGHIệP 3
1.1 Những lý luận chung về tài chính doanh nghiệp 3
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Nội dung tài chính doanh nghiệp 4
1.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 5
1.2 Những vấn đề chung về phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Mục tiêu và chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1.1 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1.2 Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 8
1.2.2.1 Thông tin bên trong doanh nghiệp 8
1.2.2.2 Thông tin bên ngoài doanh nghiệp 11
1.3 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3.1 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3.1.1 Phân tích tổng quát tình hình tài chính của doanh nghiệp 11
1.3.1.2 Phân tích các hệ sô tài chính 12
1.3.1.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 18
1.3.2 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 18
Trang 41.3.2.1 Phương pháp so sánh 18
1.3.2.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ 19
1.3.2.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính (phương pháp phân tích DUPONT) 19
CHƯơNG 2: Phân tích TìNh hình tài chính TạI CÔNG TY Cổ PHầN DệT LụA NAM ĐịNH 21
2.1 Một số nét khái quát về Công ty cổ phân dệt lụa Nam Định 21
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dệt lụa Nam Định 21
2.1.2 Một số thông khái quát về Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định 22
2.1.2.1 Tên giao dịch và địa chỉ liên hệ 22
2.1.2.2 Vốn điều lệ của Công ty 23
2.1.2.3 Các đơn vị hạch toán phụ thuộc 23
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 23
2.1.3.1 Ngành nghề kinh doanh 23
2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty 24
2.1.3.3 Dây truyền sản xuất 25
2.1.3.4 Các yếu tố đầu vào của Công ty 26
2.1.3.5 Đầu ra của Công ty 28
2.1.4 Bộ máy quản lý của của Công ty 29
2.1.5 Tổ chức hoạt động kế toán của Công ty 32
2.1.5.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 32
2.1.5.2 Hệ thống báo cáo kế toán sử dụng 34
2.2 Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần dệt lụa nam định 34
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty 34
2.2.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty 34
2.2.1.2 Phân tích khái quát kết quả kinh doanh của Công ty 44
2.2.2 Phân tích tình tình tài chính của Công ty thông qua các chỉ tiêu tài chính 47
Trang 52.2.2.1 Hệ số khả năng thanh toán 49
2.2.2.2 Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản 51
2.2.2.3 Hệ số hiệu suất hoạt động 53
2.2.2.4 Hệ số khả năng sinh lời 55
2.2.2.5 Phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính 56
2.2.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 63
2.2.4 Đánh giá chung về tình hình tài chính của Công ty 64
Chương 3: Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty cổ phần dệt lụa nam định 66
3.1 Phương hướng, nhiệm vụ của Công ty trong thời gian tới 66
3.1.1 Mục tiêu phát triển Công ty 66
3.1.2 Những khó khăn và thuận lợi đối với Công ty 66
3.1.3 Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới 68
3.1.3.1 Phương hướng sản xuất kinh doanh 68
3.2 các giảI pháp chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài chính công ty 69
3.2.1 Các giải pháp tăng lợi nhuận cho Công ty 69
3.2.1.1 Tăng doanh thu 70
3.2.1.2 Tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm 73
3.2.1.3 Đánh giá kết quả của hai biện pháp trên Báo cáo tài chính của Công ty 75
3.2.2 Xây dựng ngân sách tiền mặt cho Công ty 78
3.2.3 Hoàn thiện công tác tài chính kế toán và nâng cao trình độ quản lý tài chính của Công ty 82
KếT LUậN 83
Tài liệu tham khảo 84
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7DANH MụC BảNG
Bảng 2.1: Bảng phân tích tình hình tài sản 35
Bảng 2.2 : Bảng phân tích tình hình nguồn vốn 39
Bảng 2.3: Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 45
Bảng 2.4: Bảng các hệ số tài chính của Công ty 47
Bảng 2.5: Bảng các hệ số tài chính của Công ty và một số Công ty khác trong năm 2012 48
Bảng 2.6: Bảng phân tích Dupont 57
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ROE 58
Bảng 2.8: Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 59
Bảng 2.9: Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 61
Bảng 3.1: Bảng cơ cấu hàng tốn kho của Công ty 70
Bảng 3.2: Bảng kê doanh thu theo khách hàng 71
Bảng 3.3: Bảng doanh thu trước và sau biện pháp 72
Bảng 3.4: Bảng cân đối kế toán trước và sau hai biện pháp 75
Bảng 3.5: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trước và sau hai biện pháp 76
Bảng 3.6: Bảng tính chỉ tiêu hiệu quả tài chính 77
Bảng 3.7: Bảng chỉ tiêu đánh giá rủi ro tài chính 77
Bảng 3.8: Bảng chỉ tiêu hệ số hiệu suất hoạt động 78
Bảng 3.9: Bảng phân bổ doanh thu và tiền mặt trong từng tháng 80
Bảng 3.10: Bảng ước tính chi phí trung bình tháng 80
Bảng 3.11: Bảng dự tính ngân sách tiền mặt sáu tháng đầu năm 2013 81
DANH MụC SƠ Đồ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ dây truyền sản xuất sản phẩm 26
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty 31
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 33
Trang 8Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thị trường hiện nay mở ra nhiều cơ hội song cũng không ít các
thách thức đối với mỗi doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải hoạt động trong môi
trường cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt là khi nước ta đang không ngừng hội nhập và
hợp tác quốc tế Vì vậy, một trong những vấn đề sống còn đối với doanh nhiệp là
phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Phân tích tình hình
tài chính tại doanh nghiệp là một công việc quan trọng, thông qua đó tìm ra các giải
pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính nói riêng và hoạt động sản xuất kinh
doanh nói chung của doanh nghiệp
Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định là một đơn vị sản xuất kinh doanh có
truyền thống lịch sử lâu đời, chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm dệt may
Qua nhiều năm hoạt động, công ty đã có những sự phát triển cả về chiều rộng và
chiều sâu, là doanh nghiệp có uy tín trên thị trường dệt may hiện nay Tuy nhiên,
cũng như nhiều doanh nghiệp khác ở Việt Nam, việc phân tích tài chính ở Công ty
chưa được quan tâm đúng mức, làm hạn chế rất nhiều hiệu quả sản xuất kinh doanh
nói chung và hiệu quả của hoạt động tài chính nói riêng của công ty Thực tế ở công
ty, tình hình tài chính hiện nay có nhiều vấn đề đáng quan tâm, rất cần được chú ý
trong thời gian tới Dựa trên thực trạng tài chính cũng như thực tế hoạt động sản xuất
kinh doanh tại công ty, em đã lựa chọn đề tài "Một số giải pháp cải thiện tình
hình tài chính tại Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định"
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa vào kết quả phân tích tình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh
doanh thực tế tại Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định đưa ra các giải pháp cải thiện
tình hình tài chính của Công ty
Đề tài tập trung vào các vấn đề chủ yếu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích
tài chính doanh nghiệp
- Phân tích tình hình tài chính của công ty trong hai năm gần đây, chỉ ra
những kết quả đạt được và những hạn chế trong tình hình tài chính của công ty
Trang 9- Đề xuất biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty
3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính của Công ty cổ phần Dệt lụa
Nam Định hai năm gần đây
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề tài chính tại công ty và tập
trung xem xét, phân tích, đánh giá các chỉ tiêu tài chính thông qua các BCTC của
công ty
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp như: Quan sát; so
sánh; phân tích tỷ lệ; thay thế liên hoàn… kết hợp với việc sử dụng các bảng biểu
để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
4 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài
Trang 10cHƯƠNG 1 cơ sở lý luận Về TàI CHíNH DOANH NGHIệP Và
PHÂN TíCH TàI CHíNH DOANH NGHIệP
1.1 Những lý luận chung về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính nói chung là được thể hiện là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở
mọi chủ thể của xã hội Nó phản ánh tổng hợp các quan hệ kinh tế nảy sinh trong
phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ
nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động sản xuất, cung ứng hàng
hoá cho người tiêu dùng nhằm mục đích sinh lời
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố đầu
vào (nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, sức lao động) để tạo ra yếu tố đầu ra là
hàng hoá và tiêu thụ chúng để thu lợi nhuận Trong đó, hoạt động tài chính doanh
nghiệp gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ cuả doanh
nghiệp, tạo ra sự vận động của các dòng tiền ra và dòng tiền vào gắn với hoạt động
đầu tư và hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Bên trong quá trình đó
là các quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ thể trong xã hội, bao gồm các
quan hệ chủ yếu:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: thể hiện chủ yếu ở việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp với Nhà nước
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã
hội khác
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Như vậy, xét về mặt hình thức thì tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong
quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và gắn liền với hoạt động doanh nghiệp Về
Trang 11bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá nảy sinh
gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp Qua đó ta có thể thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh nói
chung của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của hoạt động tài chính
1.1.2 Nội dung tài chính doanh nghiệp
Nội dung chủ yếu của tài chính doanh nghiệp bao gồm:
- Lựa chọn và quyết định đầu tư: đây là hoạt động rất quan trọng của doanh
nghiệp vì nó quyết định tới tương lai của doanh nghiệp Để đưa ra quyết định đầu tư
đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc trên nhiều phương diện, trong đó tài chính là
vấn đề rất quan trọng để xem xét tính khả thi và triển vọng của việc đầu tư Khía
cạnh tài chính được đi sâu vào việc xem xét dòng tiền ra (sử dụng vốn cho đầu tư)
và dòng tiền vào (thu nhập) của dự án đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài
chính, làm cơ sở để hoạch đinh dự toán vốn đầu tư
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu
cầu vốn cho hoạt động doanh nghiệp: đây là nhu cầu rất quan trọng vì tất cả hoạt
động của doanh nghiệp đều cần tới vốn Để lựa chọn được hình thức và phương
pháp huy động vốn thích hợp cần xem xét nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, ưu
nhược điểm của các hình thức huy động v.v
- Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và
đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp: tài chính doanh nghiệp tìm các
biện pháp để huy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp, giải phóng vốn ứ
đọng; theo dõi, kiểm soát các khoản phải thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán cho
doanh nghiệp
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh
nghiệp: tài chính doanh nghiệp cần đảm bảo lợi ích các bên trong doanh nghiệp,
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, trích lập và sử dụng
các quỹ phù hợp, góp phần phát triển doanh nghiệp
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp: định kỳ
phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Qua đó, đánh giá hiệu quả sử dụng
Trang 12vốn, điểm mạnh, yếu trong quản lý, dự báo tình hình và đề ra các biện pháp thích
hợp để điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính
- Thực hiện kế hoạch hoá tài chính: lập kế hoạch tài chính và chủ động đề ra
các giải pháp cụ thể, phù hợp để thực hiện kế hoạch trong điều kiện thị trường luôn
biến động
1.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp luôn có vai trò quan trọng trong hoạt động tài chính
của doanh nghiệp, cụ thể:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh
nghiệp diễn ra bình thường, liên tục Việc thiếu vốn sẽ gây ra trở ngại lớn trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, thậm chí không thể thực hiện được Việc đảm bảo cho
các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất
lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp được quyết định bởi
các chính sách tài trợ hay huy động vốn của doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: tài chính doanh nghiệp thể hiện vai trò này
ở nhiều khía cạnh như đánh giá tài chính là một trong những căn cứ quan trọng để
đưa ra quyết đinh đầu tư; việc huy động vốn, lựa chọn các hình thức va phương pháp
huy động phù hợp giúp giảm bớt chi phí sử dụng vốn; sử dụng đòn bẩy kinh doanh
và đòn bẩy tài chính hợp lý để gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu; sử dụng
vốn hiện có hiệu quả, tránh thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm số
vốn vay đều góp phần tăng hiệu quả kinh doanh
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình tài
chính của doanh nghiệp Thông qua tình hình tài thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình
hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính giúp doanh
nghiệp kiểm soát kịp thời, tổng thể các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát
hiện những ưu, khuyết điểm để có giải pháp điều chỉnh phù hợp điều chỉnh các hoạt
động của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp đề ra
Trang 131.2 Những vấn đề chung về phân tích tài chính doanh
nghiệp
1.2.1 Mục tiêu và chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Trên thực tế không chỉ có nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm đến tình hình
hình tài chính doanh nghiệp mà còn rất nhiều đối tượng khác muốn tìm hiểu và sử
dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng có những mục
đích khác nhau bởi vậy họ quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp theo
những góc độ khác nhau Đối với nhà đầu tư, họ quan tâm đến khả năng sinh lời,
mức độ rủi ro cả ở hiện tại và tương lai khi đầu tư vào doanh nghiệp để cân nhắc
trước khi đầu tư Đối với người cho vay, họ quan tâm đến khả năng hoàn trả những
khoản nợ vay và họ chú ý nhiều tới khả năng thanh toán, khả năng sinh lời của
doanh nghiệp Đối với công nhân viên trong doanh nghiệp, cái họ quan tâm là tiền
lương, thu nhập của họ có được đảm bảo hay không, điều này phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh cũng như các chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Còn đối
với các cơ quan Nhà nước, họ quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp để đảm
bảo các khoản thuế nộp cho ngân sách, sự tuân thủ pháp luật cũng như có thêm
những thông tin cần thiết để có những chính sách kinh tế phù hợp nhằm hiện vai trò
quản lý vĩ mô của mình Như vậy, đối với mỗi đối tượng thì phân tích tình hình tài
chính là một công việc thường xuyên và hết sức cần thiết để mang lại những thông
tin hữu ích làm cơ sở để đưa ra các quyết định phù hợp với mục đích của mình Và ở
góc độ nhà quản lý doanh nghiệp thì việc phân tích tài chính càng có ý nghĩa quan
trọng vì nó là căn cứ để đưa ra các quyết định liên quan trực tiếp đến các hoạt động
của doanh nghiệp Người quản lý doanh nghiệp cũng là người có nhiều thông tin cần
thiết cho việc phân tích và cũng là người hiểu nhất về tình hình, đặc điểm của doanh
nghiệp mình Phân tích tài chính doanh nghiệp với nhà quản lý nhằm đáp ứng các
mục tiêu cân đối tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán, mức sinh lời cao nhưng rủi
ro ở mức cho phép; phân tích tài chính phải tạo được cơ sở tin cậy cho những dự
đoán tài chính, giúp Ban giám đốc đưa ra các quyết định phù hợp tình hình thực tế
của doanh nghiệp, các chính sách về tài trợ, phân phối kết quả kinh doanh Nhà
Trang 14quản lý phải luôn quan tâm đến phân tích tài chính để nó thực sự trở thành một công
cụ kiểm soát, quản lý hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.2.1.2 Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp với vai trò là công cụ để nhận thức các vấn đề
liên quan đến tài chính doanh nghiệp, trong quá trình tiến hành, phân tích tài chính
doanh nghiệp sẽ thực hiện các chức năng: đánh giá, dự đoán và điều chỉnh tài chính
doanh nghiệp
Chức năng đánh giá: Tài chính doanh nghiệp là sự vận động của các luồng tiền
tệ diễn ra trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ hay vốn kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp Để có
thể thực hiện được chức năng đánh giá, phân tích tài chính doanh nghiệp phải làm rõ
được các vấn đề liên quan đến sự vận động của các dòng tiền mà cụ thể là sự phát
sinh, diễn biến của chúng, những yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới sự vận
động đó và tác động của các dòng tiền đến quá trình và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp; xem xét tác động đó có phù hợp với các mục tiêu, chính sách của
doanh nghiệp hay không Chức năng đánh giá là tiền đề để phân tích tài chính doanh
nghiệp thực hiện các chức năng dự đoán và điều chỉnh
Chức năng dự đoán: Các quyết định của doanh nghiệp đều hướng vào những
mục tiêu nhất định Phân tích tài chính đưa ra những dự đoán về tình hình tài chính
của doanh nghiệp trong tương lai để có những quyết định phù hợp với mục tiêu của
doanh nghiệp Đó là sự nhận định về sự dịch chuyển của các dòng tiền, những tiềm
năng hay rủi ro tài chính trong tương lai gần hoặc xa Điều này được dựa trên sự
nhận thức về năng lực hiện tại của doanh nghiệp được đặt trong những diễn biến của
tình hình kinh tế xã hội trong nước và quốc tế, ngành nghề, các doanh nghiệp cùng
loại và các yếu tố kinh tế xã hội khác có thể tác động tới doanh nghiệp trong tương
lai
Chức năng điều chỉnh: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế
dưới hình thức giá trị phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phân
tích tài chính doanh nghiệp tạo cơ sở cho doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm
có sự điều chỉnh phù hợp để có thể kết hợp hài hoà các mối quan hệ đó, giúp hoạt
Trang 15động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi, là nhân tố quan trọng để doanh
nghiệp tồn tại và phát triển
1.2.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Thông tin bên trong doanh nghiệp
Trong quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng rất nhiều
các công cụ quản quản lý khác nhau Trong đó, kế toán tài chính đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp các thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho công tác điều
hành, quản lý doanh nghiệp Và hệ thống báo cáo tài chính là nguồn tài liệu rất cần
thiết để nhận biết tình hình tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được tổng
hợp từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ
thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và hiệu
quả sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng
vốn của doanh nghiệp Đây là tài liệu quan trọng để chuyển tải thông tin kế toán tài
chính đến người ra quyết định, đó là những thông tin công khai về tài sản, kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho cả đối tượng bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp Báo cáo tài chính bao gồm các phần:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân
đối kế toán và là một báo cáo kế toán chủ yếu, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản
của của doanh nghiệp theo hai cách phân loại vôn: kết cấu vốn và nguồn hình thành
vốn hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Các đặc điểm cơ bản của Bảng cân đối kế toán đó là;
+ Các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán được biểu hiện dưới hình thái giá trị
nên có thể phản ánh tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang
tồn tại kể cả hiện vật cũng như giá trị, tài sản hữu hình cũng như vô hình
+ Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản đồng thời theo hai
cách phân loại vốn: Kết cấu vốn và nguồn hình thành Đây là hai hình thức biểu hiện
Trang 16khác nhau của cùng một lượng tài sản nên tổng giá trị tài sản theo kết cấu vốn luôn
bằng tổng giá trị tài sản theo nguồn hình thành Tính cân đối kế toán biểu diễn bằng
phương trình:
Tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
+ Bảng cân đối kế toán phản ánh các loại vốn và nguồn vốn tại một thời điểm
song thông tin trên bảng cân đối kế toán vẫn cho phép đánh giá số liệu giữa hai thời
điểm để đánh giá tổng quát sự biến động của vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp
trong kỳ
Có thể nói, bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để phân tích tổng quát
tình hình quản lý, sử dung vốn; tình hình huy động, sử dụng các nguồn vốn, tình
hình tài chính nói chung của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh khái quát tình hình và kết quả kinh doanh trong mọt kỳ kế toán của doanh
nghiệp chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh (bán hàng và cung cấp dịch
vụ; hoạt động tài chính và hoạt động khác)
Thông qua các chỉ tiêu trong báo cáo, các đối tượng sử dụng thông tin để phân
tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp về chi phí, giá vốn,
doanh thu, thu nhập và các kết quả tương ứng của từng hoạt động Qua đó có thể
nhận định xu hướng phát triển của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp khai thác tiềm
năng cũng như khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hoàn
thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ có thể lập thể lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có các tác dụng chủ yếu như:
+ Cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng để phân tích, đánh giá thời
gian cũng như mức độ chắc chắn của việc tạo các dòng tiền trong tương lai
+ Kiểm tra lại các dự đoán trước đây về luồng tiền; mối quan hệ giữa mức sinh
lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả
+ Tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình tài chính hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ
Trang 17được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng
giao dịch và hiện tượng
+ Cung cấp thông tin đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài
chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng
của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động kỳ tiếp
theo
Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách
rời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc
phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong các báo cáo tài chính
cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ
thể
Thuyết minh báo cáo tài chính có các tác dụng chủ yếu:
- Cung cấp số liệu, thông tin bổ sung cho cá khoản mục trong báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh như: Doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu; giá vốn hàng
bán; chi phí tài chính; chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD) theo yếu tố; thuế thu
nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp và lợi nhuận sau thuế để đánh giá cụ thể, chi
tiết hơn về tình hình chi phí, doanh thu, thu nhập và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp
- Thông qua thuyết minh báo cáo tài chính mà biết được đặc điểm hoạt động
của doanh nghiệp, các nguyên tắc, chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp từ đó
kiểm tra việc chấp hành các quy định, chế độ thể lệ kế toán, phương pháp kế toán
mà doanh nghiệp đã đăng ký áp dụng
- Cung cấp số liệu, thông tin bổ sung cho các khoản mục trong BCĐKT
để phân tích, đánh giá tình hình tài sản tài sản, nguồn vốn như: Tiền và các khoản
tương đương tiền; các khoản phải thu ngắn hạn, dài hạn; hàng tồn kho; tăng giảm
TSCĐ; bất động sản đầu tư theo từng loại; các khoản đầu tư tài chính; tình hình chi
tiết tăng giảm các loại vốn chủ sở hữu, các quỹ, nợ phải trả v.v Từ đó giúp cho việc
đánh giá, phân tích tính hợp lý trong việc phân bổ cơ cấu vốn, tình hình khả năng
thanh toán, khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Trang 18Như vậy, báo cáo tài chính đã cung cấp những thông tin quan trọng cho việc
phân tích, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp song để có thể có những
kết quả phân tích đầy đủ, toàn diện và đưa ra được những dự đoán tài chính thì
không thể chỉ giới hạn trong các báo cáo tài chính mà còn phải tập hợp thêm các
thông tin bên ngoài doanh nghiệp
1.2.2.2 Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày nay diễn ra trong nền kinh
tế thị trường cạnh tranh khốc liệt cũng như trong những biến động không ngừng của
các điều kiện kinh tế xã hội Những chỉ tiêu kinh tế tài chính của doanh nghiệp khi
phân tích cần đặt trong tương quan với các doanh nghiệp khác cùng ngành cũng như
các điều kiện kinh xã hội cụ thể thì mới phát huy được hết ý nghĩa của chúng Chính
vì vậy, phân tích tài chính không chỉ cần những thông tin nội bộ của doanh nghiệp
mà phải có những thông tin bên ngoài để có sự đánh giá và dự đoán chính xác Các
thông tin bên ngoài doanh nghiệp đó là các thông tin chung về tình hình kinh tế,
chính trị; các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước; môi trường pháp lý liên
quan đến hoạt động của doanh nghiệp; những thông tin từ các cuộc thăm dò thị
trường liên quan đến ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; những thông tin về
đối thủ cạnh tranh cũng như các thông tin liên quan đến các cơ hội đầu tư, kinh
doanh của doanh nghiệp Việc nắm bắt và xử lý nhanh chóng, kịp thời các thông tin
cả trong và ngoài doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng để đưa ra các quyết định
chính xác, phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan
tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.3 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh
nghiệp
1.3.1 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp rất phong phú, đa dạng Sau
đây là một số nội dung cơ bản:
1.3.1.1 Phân tích tổng quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tổng quát tình hình tài chính doanh nghiệp để có những nhìn nhận
khái quát ban đầu tình hình của doanh nghiệp Việc phân tích này thường dựa trên
Trang 19Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để
xem xét một số biến động chủ yếu giữa cuối năm và đầu năm hoăc năm nay và năm
trước:
- Sự tăng, giảm tổng tài sản
- Sự biến động của nợ phải trả
- Sự tăng trưởng của doanh thu thuần bán hàng, giá vốn hàng bán, lợi nhuận
bán hàng, lợi nhuận sau thuế
1.3.1.2 Phân tích các hệ sô tài chính
Các hệ số phản ánh đặc trưng tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
a Hệ số khả năng thanh toán
Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi thành
tiền của tài sản Vấn đề đặt ra đối với mỗi Công ty là họ có đủ tiền mặt để thanh
toỏn cho những nhà cung cấp nguyờn vật liệu hay cỏc chủ nợ khi đến hạn phải trả
hay khụng Khả năng thanh toán là vấn đề rất được quan tâm vì nếu mất khả năng
thanh toán thì Công ty sẽ lâm vào tình trạng phá sản, là điều không một Công ty nào
mong muốn Để quản lý khả năng thanh toán cần xem xét thời hạn các khoản nợ và
phải trả của Công ty với các nguồn tiền mặt hoặc các tài sản có tính thanh khoản
khác để đảm bảo khả năng thanh toán khi đến hạn Hệ số khả năng toán được dùng
để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp và thường sử dụng các chỉ tiêu
chủ yếu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay khả năng thanh toán nợ ngắn han:
Hệ số này được tính bằng cách lấy tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) chia cho số nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp:
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
=
Tổng tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp
Trang 20- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Đây là chỉ tiêu quan trọng để cụ thể hơn
khả năng thanh toán của doanh nghiệp, xác định bằng tài sản lưu động trừ đi hàng
tồn kho và chia cho số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán
Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán tức thời: dùng để đánh giá một cách chặt chẽ hơn khả
năng của doanh nghiệp, được xác định như sau:
Hệ số thanh toán
Tiền + các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán lãi vay: Cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh
nghiệp và cũng phản ánh rủi ro của doanh nghiệp đối với các chủ nợ Hệ số này được
xác định theo công thức:
Hệ số thanh toán
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Số tiền lãi vay phải trả trong kỳ
b Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Hệ số cơ cấu nguồn vốn là hệ số quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp,
các chủ nợ và nhà đầu tư Nó cho biết mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, sự độc lập
về tài chính cũng như những rủi ro về tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải
Hệ số nợ: Đây là chỉ tiêu chủ yếu của hệ số cơ cấu nguồn vốn Hệ số nợ cho
thấy việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong tổ chức nguồn vốn cũng như mức độ
sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Hệ số nợ được xác định như sau:
Tổng số nợ Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Hoặc = 1 - Hệ số vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ
Vốn chủ sở hữuTổng nguồn vốn
- Hệ số cơ cấu tài sản: Cho biết mức độ đầu tư của doanh nghiệp vào các loại
tài sản: Tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản dài hạn khác
Trang 21Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn
Tài sản ngắn hạn Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài
Tài sản dài hạn Tổng tài sản
c Hệ số hiệu suất hoạt động
Các hệ số hiệu suất hoạt động đo lường năng lực quản lý và sử dụng vốn hiện
có của doanh nghiệp Các hệ số hiệu suất hoạt động thường dùng trong việc đánh
giá mức độ sử dụng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Số hàng tồn kho bình quân trong kỳ
- Kỳ thu tiền trung bình:
Đây là một hệ số hoạt động hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh
độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng đến khi
thu được tiền bán hàng Hệ số này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và
việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp Do đó, khi xem xét kỳ thu tiền trung bình
cần xem xét trong sự liên hệ với tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp Công thức
Hệ số này được sử dụng để đánh trình độ tổ chức và sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Số vòng luân
Tổng mức luân chuyển VLĐ
VLĐ bình quân trong kỳ
Trang 22Ngoài ra, tốc độ luân chuyển vốn lưu động còn được thể hiện ở chỉ tiêu kỳ luân
chuyển vốn lưu động:
Kỳ luân chuyển
Số ngày trong kỳ
Số vòng luân chuyển VLĐ trong kỳ
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định (VCĐ) và vốn dài hạn khác:
Hệ số này dùng để đánh giá mức độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp ở
- Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn trong kỳ:
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản hay toàn bộ
số vốn hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức:
Vòng quay toàn bộ tài sản
hay toàn bộ vốn trong kỳ =
Doanh thu trong kỳ
Số tài sản hay VKD bình quân
sử dụng trong kỳ
Hệ số sinh lời
Các chỉ tiêu của hệ số sinh lời là thước đo đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, phản ánh kết quả tổng hợp của nhiều biện pháp và quyết định quản lý
của doanh nghiệp Các chỉ tiêu đó là:
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng: Hệ số này phản
ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh
nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu (hệ
số lãi ròng)
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Doanh thu trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh
lời kinh tế của tài sản (ROAE)
Trang 23Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không
tính đến ảnh hưởng của thuế TNDN và nguồn hình thành vốn
Tỷ suất sinh lời kinh tế
của tài sản (ROAE) =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Tài sản hay vốn kinh doanh bình
quân
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh (VKD)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn kinh doanh sau khi đã trả lãi
tiền vay
Tỷ suất lợi nhuận trước
Lợi nhuận trước thuế trong kỳ
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời ròng
Lợi nhuận sau thuế
Vốn kinh doanh (hay tài sản) bình quân sử dụng trong kỳ
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này đo lường mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu
trong kỳ và là chỉ tiêu được các nhà đâù tư rất quan tâm
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
Trang 24e Hệ số giá trị thị trường
- Hệ số giá trên thu nhập (hệ số P/E): là chỉ tiêu quan trọng đối với nhà đầu tư
muốn đầu tư vào cổ phiếu của Công ty, thể hiện sự đánh giá của thị trường với Công ty
Hệ số giá trên thu nhập =
Giá thị trường 1 cổ phần Thu nhập 1 cổ phần
- Hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (hệ số M/B): phản ánh mối quan
hệ giữa giá thị trường và giá trị sổ sách 1 cổ phần của Công ty, nó cho biết sự tách
rời giữa giá thị trường và giá trị sổ sách ở mức độ nào
Hệ số giá trị thị trường trên
giá trị sổ sách =
Giá thị trường 1 cổ phần Giá trị sổ sách 1 cổ phần
- Tỷ suất cổ tức: phản ánh phần cổ tức thu được nếu bỏ ra 1 đồng đầu tư vào
cổ phiếu của Công ty trên thị trường
Cổ tức 1 cổ phần
Giá thị trường 1 cổ phần Trên đây là những hệ số tài chính cơ bản giúp đánh giá khái quát tình hình tài
chính doanh nghiệp Những chỉ tiêu của các hệ số tài chính được nhìn nhận là cao
hay thấp, tôt hay không tốt phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của
Trang 25doanh nghiệp và khi phân tích phải đặt trong mối quan hệ tương quan với các doanh
nghiệp khác trong ngành và bản thân doanh nghiệp ở các kỳ trước
1.3.1.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến vốn và nguồn vốn là cơ sở quan trọng cho việc định hướng
huy động vốn và sử dụng vốn cho cho kỳ tiếp theo của doanh nghiệp Việc phân
tích này được thực hiện bằng cách xác định diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng
vốn (trong mối liên hệ với vốn bằng tiền) và tiến hành lập bảng phân tích Cụ thể:
- Xác định diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn: Đầu tiên, chuyển các
khoản mục trên Bảng CĐKT thành cột dọc Sau đó, so sánh số liệu đầu kỳ và cuối
kỳ để thấy được sự thay đổi của mỗi khoản mục Phản ánh sự thay đổi theo cách
thức:
+ Sử dụng vốn tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
+ Diễn biến nguồn vốn tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản
- Lập bảng phân tích: Sắp xếp các khoản liên quan đến việc sử dụng vốn và liên
quan đến thay đổi nguồn vốn dưới hình thức một bảng cân đối Qua đó, đánh giá
được số vốn tăng giảm trong kỳ được sử dụng vào việc gì và nguồn phát sinh tăng
giảm
Việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn giúp đánh giá tổng quát
diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong quan hệ với vốn bằng tiền trong một thời
kỳ của doanh nghiệp để từ đó có những định hướng cho việc huy động vốn và sử
dụng vốn trong tương lai
1.3.2 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình
hình tài chính, tiềm năng cũng như những rủi ro tài chính của doanh nghiệp, là cơ sở
để nhà quản trị và những đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
đưa ra những quyết định phù hợp với mục tiêu của họ Mỗi đối tượng khác nhau sẽ có
những mục tiêu cụ thể khác nhau nên họ có thể sử dụng các phương pháp cũng như
cách thức kết hợp các phương pháp phân tích khác nhau để có những kết quả phù hợp
với mục đích của mình Sau đây là một số phương pháp phân tích cơ bản:
1.3.2.1 Phương pháp so sánh
Để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính với nhau trước hết cần xác định
gốc so sánh Tuỳ theo mục đích mà gốc so sánh được chọn có thể là gốc về thời gian
Trang 26hoặc không gian, kỳ phân tích là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị được so sánh
là số tương đối hay tuyệt đối Phương pháp so sánh được thể hiện ở các mặt như sau:
- So sánh các trị số kỳ thực hiện và kỳ kế hoạch để xem xét sự hoàn thành chỉ
tiêu của doanh nghiệp
- So sánh các trị số kỳ này với kỳ trước để thấy được diễn biến tình hình tài
chính theo hướng tích cực hay tiêu cực
- So sánh các trị số của doanh nghiệp với mức trung bình của ngành để thấy
được tương quan tình hình của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong ngành
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự thay đổi về lượng tuyệt đối và
tương đối của chỉ tiêu qua các kỳ; so sánh theo chiều dọc xem xét tỷ trọng của các
thành phần trong tổng thể để đưa ra những nhận định về tình hình của doanh nghiệp
1.3.2.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp phân tích tỷ lệ đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên
cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu Phương pháp này
được sử dụng dựa trên ý nghĩa các tỷ lệ tài chính, các chuẩn mực trong quan hệ tài
chính Để có thể tiến hành phân tích tỷ lệ cần xác định các chuẩn mực để so sánh,
đánh giá Nguồn thông tin của hệ thống tài chính kế toán càng có chất lượng là cơ
sở hình thành những tỷ lệ tham chiếu có ý nghĩa để đánh giá những tỷ lệ tài chính
của doanh nghiệp Ngày nay, việc ứng dụng công nghê tin học vào phân tích cho
phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt tỷ lệ tạo điều kiện cho
người phân tích có thể khai thác hiệu quả các số liệu và phân tích có hệ thống các tỷ
lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
1.3.2.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài
chính (phương pháp phân tích DUPONT)
Phương pháp này xây dựng hệ thống các chỉ tiêu nhằm phân tích sự tác động
của mối quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm tới
mức sinh lời của doanh nghiệp
Những mối quan hệ chủ yếu được xem xét là:
- Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh
với hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận Mối quan hệ này được thể
hiện như sau:
Trang 27Lợi nhuận sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Doanh thu thuần
Tổng vốn kinh doanh Doanh thu thuần Tổng vốn kinh doanh
Hay
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên VKD
= Hệ số lãi ròng x Vòng quay toàn bộ vốn
Qua đây có thể thấy được tác động của yếu tố tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
doanh thu thuần và hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn ảnh hưởng như nào đến tỷ suất lợi
nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh để từ đó có các giải pháp thích hợp tăng tỷ suất
lợi nhuận trên vốn kinh doanh
- Các mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần x
Tổng VKD
Vốn chủ sở
hữu
Doanh thu thuần
x Mức độ sử dụng
đòn bẩy tài chính
Các công thức cho thấy các yếu tố tác động đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu Từ đó, nhà quản lý doanh nghiệp sẽ tìm ra các giải pháp để khai thác các nguồn
lực của doanh nghiệp để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Trang 28CHƯơNG 2 Phân tích TìNh hình tài chính TạI CÔNG TY Cổ PHầN DệT LụA NAM ĐịNH
2.1 Một số nét khái quát về Công ty cổ phân dệt lụa
Nam Định
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dệt lụa
Nam Định
Công ty cổ phần dệt lụa Nam Định là một đơn vị sản xuất kinh doanh có
truyền thống lịch sử lâu đời Tiền thân của công ty là nhà máy tơ Nam Định - Nhà
máy tơ duy nhất ở Bắc Kỳ nằm trong “Hội Pháp - Nam công nghiệp tơ” do tư bản
Pháp thành lập vào những năm 1900-1905 Từ năm 1954, khi miền Bắc được giải
phóng, nhà máy Tơ Nam Định trở thành phân xưởng tơ của Nhà máy Dệt Nam
Định Ngày 01 tháng tháng 07 năm 1960, theo quyết định của Bộ Công nghiệp,
phân xưởng Tơ được tách khỏi nhà máy liên hơp Dệt thành Nhà máy Tơ Nam Định
do đồng chí Hoàng Thục làm giám đốc Từ khi hoạt động độc lập, nhà máy đã có
nhiều cải thiện về năng suất lao động và chất lượng sản phẩm nâng cao, góp phần
vào thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Giai đoạn từ
năm 1965 đến năm 1975 là thời kỳ chiến tranh ác liệt, các công nhân vừa sản xuất,
vừa phải chiến đấu bảo vệ nhà máy Khi đất nước thống nhất, nhà máy được đầu tư
thiết bị mới để sản xuất đáp ứng nhu cầu vải mặc cho nhân dân
Thời kỳ đổi mới cũng đặt ra không ít những thách thức đối với nhà máy Từ
năm 1986, để tìm lối thoát bằng sự sáng tạo, tập thể nhà máy cùng sát cánh tạo mọi
điều kiện cho phát triển sản xuất, xây dựng mô hình tự hạch toán cân đối toàn phần
Do vậy, nhà máy đã thoát khỏi khó khăn, năng lực sản xuất đạt 9.300.000 mét lụa,
chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc gia, thu về hàng triệu USD mỗi năm Sau năm 1989,
tình hình kinh tế xã hội không ngừng biến động, nhà máy đã gặp không ít khó khăn
trước sự cạnh tranh trên thị trường, sự thay đổi về thị hiếu, nhu cầu của người cũng
như những tồn tại của cơ chế cũ Để khắc phục, nhà máy đã tìm những hướng đi mới
Trang 29như cải tiến và đầu tư máy móc hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm, tìm kiếm những thị trường mới, đa dạng hoá sản phẩm
Năm 1993, Nhà máy Dệt lụa Nam Định nâng quy mô lên thành Công ty Dệt
lụa Nam Định theo quyết định số 223/ BCNN -TCLĐ ngày 24 tháng 03 năm 1993
của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công nghiệp) Đăng ký kinh doanh
số 106064 do Trọng tài kinh tê Hà Nam cấp ngày 13 tháng 04 năm 1994, giấy phép
kinh doanh xuất nhập khẩu số 1.02.1.009/GP ngày 08 tháng 08 năm 1993 do Sở kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định cấp
Năm 2004, thực hiện quyết định số 32/QĐ-TCCB, ngày 06 tháng 01 năm 2004
của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc cổ phần hoá Công ty Dệt lụa Nam Định,
Công ty đã tiến hành Cổ phần hoá doanh nghiệp theo các Quyết định của cơ quan có
thẩm quyền và được chấp thuận tại Quyết định số 2744/QĐ- TCKT ngày 19 tháng
04 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc xác định giá trị công ty Dệt lụa
Nam Định
Ngày 31 tháng 12 năm 2007, Công ty chính thức chuyển sang công ty cổ phần
với tên gọi Công ty Cổ phần Dệt lụa Nam Định
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, Công ty đã không ngừng nỗ lực vượt
qua các khó khăn để tồn tại và phát triển Đứng trước những thách thức của tình hình
kinh tế thị trường hiện nay, lãnh đạo Công ty đã có những định hướng phát triển cần
thiết; chủ động, linh hoạt để thích nghi với những điều kiện mới; không ngừng sáng
tạo, đổi mới để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp tục phát huy những
truyền thống tốt đẹp trong quá khứ
2.1.2 Một số thông khái quát về Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định
2.1.2.1 Tên giao dịch và địa chỉ liên hệ
Tên công ty: CÔNG TY Cổ phần dệt lụa nam định;
Tên giao dịch quốc tế: NAMDINH SILK TEXTILE JOINT STOCK
COMPANY;
Tên viết tắt: NASILKMEX;
Địa chỉ liên hệ: Số 4 Hà Huy Tập, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
Điện thoại: (0350) 3.849.622;
Trang 30Công ty Cổ phần Dệt lụa Nam Định hoạt động kinh doanh theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0703000953 do Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Nam Định cấp
ngày 01 tháng 01 năm 2008 Ngày 28 tháng 01 năm 2008, Công ty đã đăng ký thay
đổi lần thứ nhất
Vốn điều lệ theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Cổ phần
Dệt lụa Nam Định là: 18.500.000.000 đồng, cơ cấu vốn như sau:
2.1.2.3 Các đơn vị hạch toán phụ thuộc
- Chi nhánh công ty tại Hà Nội (số 22, đường Lĩnh Nam, Q Hoàng Mai, Hà
Nội)
- Khách sạn Dệt lụa, Sầm Sơn, Thanh Hoá
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2.1.3.1 Ngành nghề kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty:
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm dệt may, máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu, hoá chất, thuốc nhuộm và các vật tư, phụ tùng ngành Dệt may;
- Kinh doanh bất động sản, siêu thị, trung tâm thương mại, cho thuê văn
phòng, nhà ở, ki- ốt;
Trang 31- Kinh doanh khách sạn và nhà nghỉ, dịch vụ ăn uống, du lịch;
- Xây dựng công trình công nghiệp, dân dụng, kinh doanh vật liệu xây dựng,
lắp đặt trang thiết bị cho công trình xây dựng;
- Dịch vụ vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ;
Trong đó, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty là: Sản xuất, kinh doanh,
xuất nhập khẩu các sản phẩm Dệt may
2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty
a Loại hình sản xuất:
Hiện nay, Công ty Cổ phần dệt lụa Nam Định đang áp dụng loại hình sản xuất
hàng loạt với khối lượng lớn và vừa Tổng sản lượng vải, sợi mà Công ty sản xuất là
4 - 5 triệu mét vuông vải và 7 - 8 trăm nghìn tấn sợi/ năm Tuy nhiên, do phụ thuộc
vào tình hình tiêu thụ của thị trường cũng như số lượng và tiến độ giao hàng cuả mỗi
đơn hàng cho nên tình hình sản xuất trên mỗi công đoạn có lúc liên tục, có lúc gián
đoạn
b Chu kỳ sản xuất
Chu kỳ sản xuất của sản phẩm ngắn với khối lượng lớn và vừa
Kết cấu chu kỳ sản xuất: Trên mỗi công đoạn được chia ra nhiều công đoạn
nhỏ
- Trên công đoạn kéo sợi được chia thành : xé cuốn bông, kéo sợi, xe sợi, đánh
ống
- Trên công đoạn dệt được chia thành công đoạn chuẩn bị: Mắc sợi, hồ sợi, lấy
go khổ hoặc kế trục và công đoạn dệt, đo khám vải
- Trên công đoạn nhuộm hoàn tất : Nấu tẩy, nhuộm mầu, sấy khô, văng định
hình, khám gấp, đóng kiện
c Các bộ phận sản xuất
Bộ phận sản xuất chính gồm có:
- Nhà máy sợi: Sợi thành phẩm là sản phẩm chính của nhà máy sợi Sản
phẩm của nhà máy có thể cung cấp cho thị trường bên ngoài cũng có thể cung cấp
trực tiếp cho nhà máy dệt
Trang 32- Nhà máy dệt: Vải là sản phẩm chính của nhà máy dệt Sản phẩm cuả nhà
maý có thể cung cấp cho thị trường, có thể cung cấp cho nhà máy nhuộm để gia
công tạo ra vải thành phẩm
- Nhà máy nhuộm: Sản phẩm cuả nhà máy là vải thành phẩm đã qua sử lý
nhuộm màu, in hoa v.v
Tuy nhiên, để sản xuất ra được sản phẩm chính cần phải có các bộ phận phụ
trợ như:
- Bộ phận cung cấp hơi nước cho nhà máy nhuộm, cho nhà máy dệt (khâu hồ
sợi dọc, hấp tơ)
- Bộ phận cung ứng: Cung cấp nguyên,nhiên liệu,vật tư phụ tùng thay thế,hoá
chất thuốc nhuộm v.v cho các nhà máy
- Bộ phận vận chuyển: Là một khâu trong quá trình sản xuất chịu trách nhiệm
vận chuyển cung cấp nguyên liệu cho các bộ phạn xản xuất chính như : Vận chuyển
bông từ kho nguyên liệu cho nhà máy sợi, vận chuyển sợi từ nhà máy sợi cung cấp
cho mhà máy dệt, vận chuyển vải từ nhà maý dệt cung cấp cho nhà máy nhuộm và
nhập kho
2.1.3.3 Dây truyền sản xuất
Để làm ra được vải thành phẩm đảm bảo đúng tiêu chuẩn (được khách hàng
chấp nhận) phải qua nhiều công đoạn:
- Bông kiện qua khâu kiểm tra chất lượng được đưa vào công đoạn xé bông
thành những lớp bông cuộn vào thùng cúi Sau đó đưa qua công đoạn ghép thô thành
cuộn sợi bông qua công đoạn ghép con bông được kéo và ghép thành sợi đơn Theo
nhu cầu sản xuất có thể xe hai hoặc nhiều sợi đơn thành sợi xe Sợi đơn hoặc xe
được đánh vào ống sợi (côn sợi) thành sợi thành phẩm cung cấp cho khách hàng
hoặc chuyển sang cho công đoạn dệt
- Sợi thành phẩm sau khi kiểm tra được đưa vào công đoạn mắc sợi thành
từng trục mắc Trên trục mắc sẽ được bố trí với đủ số sợi và tổng chiều dài tuỳ theo
thiết kế của từng mặt hàng Những trục mắc sẽ qua công đoạn dồn hoặc hồ sợi thành
trục dệt Sau khi kiểm tra chất lượng trục dệt được đưa qua công đoạn lấy go khổ
hoặc kế để dệt thành vải mộc.Trong quá trình dệt vải luôn được kiểm tra tiêu chuẩn
Trang 33kỹ thuật như chiều rộng vải, mật độ dọc ngang Khi đủ chiều dài cây vải, vải mộc
đưa qua công đoạn đo khám sau đó được chuyển cho công đoạn nhuộm hoàn tất
- Trước công đoạn nhuộm, vải mộc được kiểm tra, phân từng lô vải mộc theo
từng mặt hàng để đảm bảo độ đồng đều về màu sắc theo yêu cầu của từng mặt
hàng Vải sau khi nhuộm sẽ đưa qua công đoạn văng sấy, vải được định hình và sấy
khô Sau đó vải được kiểm tra chất lượng lần cuối cùng trước khi đóng kiện nhập
kho
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ dây truyền sản xuất sản phẩm
Nguyên liệu ( Các công đoạn chế biến) ( Thành phẩm)
2.1.3.4 Các yếu tố đầu vào của Công ty
a Yếu tố nguyên vật liệu, nhiêu liệu sản xuất
Nguyên vật liệu, năng lượng chính là một trong những yếu tố cơ bản cấu
thành nên sản phẩm Công ty dệt lụa Nam Định với ngành nghề là sản xuất kinh
doanh các mặt hàng vải sợi cho nên nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu là bông xơ, hoá
chất thuốc nhuộm, điện than được chia thành:
- Nguyên liệu chính: Bông xơ, sợi PeCo, Petex, Pevi,Phalen(Pe/wool) được
cung cấp chủ yếu từ các cơ sở sản suất trong nước và nhập khẩu từ các nước Hàn
Quốc, Trung Quốc, ấn Độ v.v
- Nguyên vật liệu phụ: Than, dầu, hoá chất thuốc nhuộm v.v được cung cấp
bởi các cơ sở trong nước và nhập khẩu
Trang 34b Yếu tố lao động
Đến cuối năm 2012, Công ty có số lượng lao động có khoảng 480 người với cơ
cấu phân loại như sau: Quản lý kinh tế 36 người, quản lý kỹ thuật 54 người, công
nhân hợp đồng ngắn hạn 79 người, công nhân hợp đồng dài hạn 311 người; trong đó,
lao động nữ chiếm tỷ lệ khoảng 2/ 3 tổng số lao động; tỷ lệ lao động trực tiếp chiếm
khoảng 90 %; tay nghề bậc thợ bình quân là 3,4 Nguồn lao động được Công ty sử
dụng là những công nhân còn lại sau khi sắp xếp lại lao động trong từng khâu sản
xuất và tuyển dụng thêm lao động tại các trung tâm, trường dạy nghề trong và ngoài
tỉnh
c Yếu tố thiết bị
Do đặc điểm sản xuất nhiều loại sản phẩm vải sợi nên Công ty phải sử dụng
nhiều loại thiết bị Trong thời gian qua công ty đã đầu tư một dây truyền thiết bị
khép kín tuy nhiên do nguồn vốn hạn chế cho nên nhiều thiết bị cũ chưa được thay
thế đã ẩnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả
sản xuất kinh doanh của công ty Hiện nay công ty đã đầu tư mới nhiêù thiết bị như
maý chải thô, ghép thô, con, máy ống ở công đoạn kéo sợi Máy dệt Picanol,
Gamma trên công đoạn dệt Máy nhuộm hoàn tất vải len, máy đốt lông trên công
đoạn nhuộm để cố thể thực hiện những đơn hàng lớn đòi hỏi cao về chất lượng cũng
như tiến độ giao hàng
d Yếu tố nhà xưởng
Tổng diện tích của công ty là 4Ha bao gồm nhà maý sợi, nhà máy dệt, nhà
máy nhuộm kho thành phẩm, khu vực văn phòng công ty kho nguyên liệu Trong đó
khu vực nhà máy sợi, văn phòng công ty, kho nguyên liệu chiếm 1,5 Ha Nhà máy
dệt với 01 phân xưởng chiếm 1,5 Ha Nhà máy nhuộm kho thành phẩm chiếm 1 Ha
Mặc dù diện tích mặt bằng công ty khá rộng nhưng do được xây dựng đã lâu,
qua nhiều lần cải tạo theo yêu cầu của sản xuất do đó nhà xưởng đã xuống cấp Các
nhà máy lại bố trí cách xa nhau cho nên trong quá trình sản xuất phải tốn rất nhiều
chi phí và thời gian để vận chuyển cũng như cần phải có nhiều mặt bằng để sắp xếp
nguyên vật liệu, lưu kho Đó cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 352.1.3.5 Đầu ra của Công ty
a Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường nội địa: Công ty xác định đây là thị trường có tiềm năng lớn và ổn
định nên trong việc tiêu thụ sản phẩm Công ty đã chủ động tìm kiếm khách hàng và
có những chính sách giá cả hợp lý trong từng giai đoạn của thị trường Bên cạnh đó,
Công ty còn có phương thức dịch vụ khách hàng hợp lý với mục tiêu đẩy nhanh tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh bằng khác biệt hóa sản phẩm, chất lượng
sản phẩm đi đôi với giá cả của sản phẩm giữ chữ tín đối với khách hàng Căn cứ vào
chiến lược mặt hàng của Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam và chiến lược sản phẩm
của Công ty thì mục tiêu của công ty là giữ vững thị trường truyền thống, cải tiến và
ổn định chất lượng phát huy thế mạnh sản xuất hàng chủ lực là vải pha len đáp ứng
nhu cầu may đồng phục cho ngành công an, quân đội, kiểm sát, giao thông và cung
cấp vải Phalen thời trang, Tơ tằm thời trang thông qua các mạng lưới tiêu thụ như
chi nhánh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, đại lý v.v
Thị trường xuất khẩu: Công ty không ngừng tổ chức tiếp thị sản phẩm của
mình ra ngoài thế giới thông qua đó để tìm hiểu thị trường quảng bá hình ảnh và sản
phẩm của Công ty Trong những năm gần đây Công ty đã xuất khẩu được một khối
lượng lớn sản phẩm của mình sang thị trường các nước như Mỹ, Ba Lan, Nhật Bản
với các sản phẩm : Tuytsilen, vải Cotton 100%, vải Pevi v.v
b Tình hình tiêu thụ sản phẩm
Trong những năm gần đây, tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty gặp rất
nhiều khó khăn do các biến động trên thị trường, cạnh tranh, giá cả Để nâng cao
khả năng tiêu thụ sản phẩm, Công ty đã đổi mới công tác tiếp cận, thâm nhập, tìm
hiểu thị trường đi đôi với không ngừng cải tiến đa dạng sản phẩm nhằm thoả mãn và
thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng Từ việc chỉ sản xuất một số mặt hàng
truyền thống như vải lụa Viscose,Tơ tằm, Gabadin Đến nay Công ty đã có đa dạng
về sản phẩm và chủng loại kể cả những sản phẩm cao cấp như vải kẻ Karo côtton,
satin tơ tằm, vải pha len thời trang đang dần chiếm lĩnh thị trường Công ty coi trọng
việc tạo mẫu thiết kế sản phẩm mới và tìm thị trường mới Đặc biệt, công ty đã thiết
kế và sản xuất thành công vải pha len thay thế hàng ngoại nhập đáp ứng nhu cầu
Trang 36may đồng phục cho các ngành như Công an, thuế, hải quan Thường xuyên tham
gia các hội chợ triển lãm, các cuộc thi, các buổi trình diễn thời trang
2.1.4 Bộ máy quản lý của của Công ty
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình Công ty cổ phần:
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty,
gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản trị Công ty, thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Mỗi
nhiệm kỳ của từng thành viên trong HĐQT tối đa là 05 năm Chủ tịch Hội đồng
quản trị do HĐQT bầu ra
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là cơ quan có chức năng hoạt động độc lập với Hội đồng quản
trị và Ban Giám đốc Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu ra và thay mặt ĐHĐCĐ giám
soát mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, báo cáo trực tiếp
ĐHĐCĐ Ban kiểm soát của Công ty có 03 thành viên
Các phòng ban chức năng
Các phòng ban chức năng là cơ quan tham mưu cho Tổng giám đốc có chức
năng và nhiệm vụ cụ thể, giúp Tổng giám đốc đề ra các quyết định, theo dõi và
hướng dẫn thực hiện các quyết định và nhiệm vụ được phân công Phối hợp chỉ đạo
sản xuất kinh doanh cũng như các mặt đời sống, các nhiệm vụ chính trị trong công
ty để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty được thường xuyên,
liên tục và hiệu quả cao Trong các phòng có trưởng , phó phòng và nhân viên phụ
trách các lĩnh vực chuyên môn của mình Bao gồm các phòng:
Phòng Tổ chức - Hành chính:
Chịu trách nhiệm tham mưu cho Đảng uỷ ban giám đốc về công tác cán bộ, lao
động tiền lương, đào tạo, chế độ chính sách, an ninh, bảo hộ lao động, đối nội, đối
ngoại, thi đua khen thưởng góp phần vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 37Phòng Kỹ thuật đầu tư
- Phụ trách toàn bộ các mặt kỹ thuật, an toàn, xây dựng và chất lựơng sản
phẩm của công ty
- Tham mưu các mặt kỹ thuật, chất lượng, đầu tư, xây dựng chiến lược phát
triển của công ty
Phòng Tài chính - Kế toán
- Cung cấp thông tin và kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty
- Đảm bảo vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Giám sát bằng tiền mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty
- Tổ chức thực hiện các quy định của Nhà Nước về tài chính kế toán
Phòng Kinh doanh
- Chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về công tác kế hoạch sản xuất, tiêu thụ
và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, marketing ngắn hạn và dài hạn
- Chịu trách nhiệm cung ứng vật tư nhập ngoại, nguyên vật liệu chính, hoá chất
thuốc nhuộm, cấp phát và bảo quản kho tàng, bốc xếp vận chuyển giao hàng theo
quy định
- Quản lý nhà nghỉ tại Sầm Sơn Thanh Hoá và tại Nam Định, nhà ăn tập thể,
các cửa hàng giới thiệu bán lẻ sản phẩm
Phòng Quản lý chất lượng (phòng QA)
- Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc về việc kiểm tra chất lượng toàn
công ty
- Quản lý chất luợng theo Hệ thống quản lý chất lượng ISO
Ban chỉ đạo tiết kiệm
Chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về công tác tiết kiệm của Công ty trên
tất cả các lĩnh vực, tiết kiệm cả lao động sống và lao động quá khứ; tiết kiệm vật tư,
nguyên liệu, hoá chất, thuốc nhuộm sử dụng vào sản xuất; tiết kiệm trong việc cân
đối bố trí sản xuất tốt ưu nhất nhằm mục đích giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Trang 38Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
Phòng kinh doanh
Trang 392.1.5 Tổ chức hoạt động kế toán của Công ty
2.1.5.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Hiện nay, Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định đang áp dụng hình thức tổ chức
kế toán tập trung Toàn bộ công tác kế toán của công ty bao gồm: kiểm tra chứng từ
ghi sổ kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp, lập báo cáo kế toán, kiểm tra kế toán đều
được thực hiện tại phòng tài chính kế toán của công ty Các nhà máy thành viên
không tổ chức bộ máy kế toán riêng, mà chỉ bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm
vụ thu nhập, kiểm tra, giám sát các chứng từ ban đầu hoặc có thể sử lý sơ bộ các
chứng từ có liên quan đến các hoạt động của bản thân đơn vị mình rồi định kỳ
chuyển những chứng từ này về phòng kế toán trung tâm
- Công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính, phương pháp kế toán
hiện nay Công ty áp dụng là phương pháp kê khai thường xuyên
- Phòng kế toán ở Công ty thực hiện toàn bộ công tác kế toán, là một đơn vị
thực hiện chức năng giám đốc đồng tiền để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động SXKD
toàn Công ty; tổ chức, thực hiện hạch toán kế toán tại đơn vị, lập báo cáo tài chính
theo đúng chế độ và thời gian quy định
Để thực hiện đầy đủ chức năng, quyền hạn cũng như chuyên môn hoá trong
hạch toán kế toán, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, công tác quản lý,
bộ máy kế toán Công ty được tổ chức như sau:
Phòng kế toán của Công ty bao gồm:
+ Một trưởng phòng kế toán
+ Một phó phòng kế toán
+ Một kế toán tổng hợp
+ Một kế toán TSCĐ + Nguyên vật liệu
+ Một kế toán tiêu thụ + Tiền lương
+ Một kế toán giá thành + Thanh toán
+ Một kế toán tiền mặt + Thủ quỹ
Trang 40
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
- Nhiệm vụ của từng bộ phận kế toán:
+ Trưởng phòng kế toán: Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung, tổ chức thực hiện
công tác tài chính kế toán Thống kê phù hợp với yêu cầu quản lý của nhà máy và cơ
chế nhà nước thực hiện đúng các khoản mục kế toán giúp Giám đốc tổ chức phân
tích hoạt động kinh tế của nhà máy
+ Phó phòng kế toán: Trợ giúp cho kế toán trưởng, tổ chức vận dụng hệ thống
kế toán doanh nghiệp do nhà nước ban hành phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
nhà máy để phản ánh kịp thời đầy đủ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà
máy
+ Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tổng hợp số liệu và lập báo cáo kế toán theo
quy định
+ Kế toán TSCĐ và nguyên vật liệu: Phân bổ khấu hao hàng tháng và vào sổ
sách các phiếu nhập, xuất kho chính xác, kịp thời
+ Kế toán tiêu thụ và tiền lương BHXH: Có nhiệm vụ lập hoá đơn chứng từ
theo dõi bán hàng, tính lương từ bảng chấm công cho cán bộ công nhân viên theo
đúng chế độ nhà máy quy định
+ Kế toán giá thành và thanh toán: Có nhiệm vụ tập hợp các chi phí sản xuất
tính ra giá thành cho một đơn vị sản phẩm và tổng giá thành cho các sản phẩm nhập
KT Giá thành + Thanh toán
KT Tiềnmặt + Thủ quỹ