1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp cải thiện khả năng thu hút đầu tư vào dự án làng văn hoá du lịch các dân tộc việt nam

106 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 914,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi phân tích, so sánh và đánh giá mô hình thu hút đầu tư của một số nước và Khu Kinh tế trong nước, thì phạm vi nghiên cứu thực tế trong luận văn này chỉ dừng ở việc nghiên cứu thực

Trang 1

CÁC DÂN T ỘC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thu Hà

Hà Nội – 2007

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hà, người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành nhất đến các Thầy, Cô đã cho tôi những kiến thức quý báu thông qua các bài giảng trong chương trình cao học Quản trị Kinh doanh tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong suốt hai năm qua

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin cảm ơn Ban Quản lý Làng Văn hóa- Du lịch các dân tộc Việt Nam đã hỗ trợ giúp tôi tiếp cận với những tài liệu, thông tin trong suốt quá trình nghiên cứu

Sau cùng tôi muốn gửi tới gia đình tôi, các bạn bè và đồng nghiệp lời cám

ơn từ đáy lòng về sự động viên, khích lệ, cảm thông và chia sẻ những khó khăn tôi gặp phải trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Trân trọng,

Nguyễn Sĩ Nông

Trang 4

Mục Lục ii

Chương 1 Cơ sở Phương pháp Luận về thu hút đầu tư 1

1.1.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1 1.1.2 Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) 6

1.5.1.3 Nhận xét chung qua mô hình thu hút đầu

1.6.2 Phát hiện và khơi nguồn các tiềm năng 28

1.6.4 Xây dựng môi trường thông thoáng 29

Trang 5

1.7 Kết luận 27 Chương 2 Phân tích thực trạng thu hút đầu tư tại Làng Văn

2.1.1 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 35 2.1.2 Thực trạng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam (FII) 37

2.2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư tại Làng Văn hóa – Du Lịch

2.2.1 Khái quát về chủ đầu tư / Ban Quản lý 41

2.2.3 Các công việc đã và đang triển khai 53

2.3 Phân tích tình hình triển khai thực hiện Dự án Làng Văn

2.3.2.2 Trong công tác xây dựng lộ trình phát triển 59

2.4 Thực trạng công tác thu hút đầu tư cho Dự án Làng Văn

2.4.2 Những thuận lợi trong việc thu hút đầu tư 58

2.4.2.1 Những chủ trương chính sách của Đảng

2.5 Những rào cản, khó khăn trong quá trình thu hút đầu tư 67

Trang 6

2.5.2 Bộ máy tổ chức cán bộ và chức năng, nhiệm vụ quyền

3.1.2 Kết quả phân tích – cơ sở quan trọng đưa ra đề xuất 73

3.2.3.6 Các đảm bảo của nhà nước đối với nhà đầu tư 83

3.2.4 Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư 83

3.2.4.1 Triển khai các chương trình xúc tiến kêu gọi

Trang 7

Kết Luận 96

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các hình thức khuyến khích về thuế chủ yếu đối với FDI 3 Bảng 1.2 Các hình thức khuyến khích tài chính chủ yếu đối với FDI 4

Bảng 2.1 Vốn đầu tư phân theo hình thức đầu tư 33

Bảng 2.3 Tình hình thực hiện kế hoạch được giao 57

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Danh sách các nước đứng đầu về thu hút đầu tư năm 2007 18 Hình 2.1 Sơ đồ làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam 42 Hình 2.2

Mô hình tổ chức của Ban quản lý Làng văn hóa du lịch các

Trang 9

MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong quá trình hội nhập, thu hút đầu tư có ý nghĩa quan trọng đến tăng trưởng kinh tế bền vững, kể cả đối với các nước đang phát triển cũng như đối với các nước phát triển Với những lợi ích thu được từ thu hút đầu tư cho cả hai phía (bên đầu tư và bên nhận), thu hút đầu tư đã mở ra các cơ hội hợp tác và hội nhập cho toàn bộ nền kinh tế, góp phần đảm bảo nguồn lực lâu dài và có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế bền vững Thu hút đầu tư giữ vai trò to lớn và khá toàn diện đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của các nước tiếp nhận đầu tư Việc tăng khả năng hay « trải thảm đỏ » đón các nhà đầu tư đang là chiến lược phát triển kinh tế chủ đạo của nhiều quốc gia

Nước ta đang trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế toàn cầu thì việc đẩy nhanh thu hút đầu tư trong và ngoài nước để bổ sung tổng vốn đầu tư phát triển

là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và là một trong những động lực cơ bản giúp nước ta đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển kinh tế Khai thác và sử dụng tốt vốn đầu tư sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra hàng hóa để xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ và cân bằng cán cân thanh toán

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, ngành Văn hóa – Du lịch đang góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động.Vì vậy mà người ta thường nói ngành du lịch là

ngành công nghiệp không khói” thu được nhiều lợi nhuận

Việt Nam chúng ta được dư luận quốc tế liên tục đánh giá là điểm đến thân thiện, an toàn và xếp hạng một trong những nền văn hóa - du lịch hấp dẫn nhất thế giới trong mười năm tới Ngành Văn hóa - Du lịch nước nhà đã và đang

Trang 10

Du lịch các dân tộc Việt Nam được ra đời trong bối cảnh đó

Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam là một quần thể dự án lớn, một tổng thể hữu cơ, được ưu tiên đầu tư Ngoài nguồn vốn Nhà nước cấp cần

có biện pháp huy động nhiều nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư cho dự án này,

kể cả các nguồn vốn hợp tác, liên doanh với nước ngoài

Tuy nhiên đầu tư vào lĩnh vực Văn hoá - Du lịch là một lĩnh vực có nhiều đặc thù, ngoài mục tiêu kinh doanh còn tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng về văn hoá, chính trị, xã hội, có ý nghĩa giáo dục nhân văn lâu dài Nhưng đây cũng là lĩnh vực khó thực hiện, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu, quá trình thực hiện phức tạp, việc kinh doanh để thu hồi vốn đầu tư có những đặc thù riêng do

đó thường không hấp dẫn các nhà đầu tư như các ngành sản xuất vật chất khác

Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp cải thiện khả năng thu hút đầu tư vào Dự án Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam”, với hy vọng những đề xuất này sẽ từng bước cải thiện được tình hình thu hút đầu tư một cách hiệu quả Có như vậy, việc xây dựng Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam sớm được hoàn thành đáp ứng được lòng mong đợi của Đảng, Nhà nước và nhân dân

MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu trong luận văn này bao gồm các mục đích sau:

- Làm rõ các hình thức đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư;

- Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư của Việt Nam nói chung và của Dự án Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam nói riêng;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào

Dự án Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những vấn đề mang tính lý luận về thu hút đầu tư như khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư

Sau khi phân tích, so sánh và đánh giá mô hình thu hút đầu tư của một số

nước và Khu Kinh tế trong nước, thì phạm vi nghiên cứu thực tế trong luận văn này chỉ dừng ở việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện khả năng thu hút đầu tư vào Dự án Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc

Việt Nam

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể khác như: điều tra xã hội học, chụp ảnh, phỏng vấn, tham khảo thực tiễn, phương pháp chuyên gia, phân tích - tổng hợp, so sánh đánh giá,

mô tả và khái quát hóa… để phục vụ cho các nghiên cứu của đề tài

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Đề tài tổng hợp được tình hình thực trạng về quá trình thu hút đầu tư của

một số nước trên thế giới, mô hình Khu Kinh tế Dung Quất và Dự án Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam Từ đó làm tiền đề cho việc đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào Dự án

BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài gồm có 5 phần chính, trong đó:

Lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,

cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn được trình bày trong Phần Mở Đầu

Trong Chương 1, các cơ sở phương pháp luận về thu hút đầu tư được trình bày một cách chi tiết nhằm tạo cơ sở cho các phân tích thực trạng của quá trình xây dựng Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam trong Chương 2

Trang 12

Du lịch các dân tộc Việt Nam đã được trình bày và phân tích dựa trên những số liệu thực tế

Cuối cùng, các kết luận về vai trò quan trọng của việc thu hút đầu tư trong quá trình hình thành và phát triển Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam

đã được trình bày dựa trên những kiến thức và kết quả thực tế đã tổng hợp được

Trang 13

Cơ sở phương pháp luận về thu hút đầu tư

Thu hút đầu tư đã trở thành chính sách ưu tiên ở nhiều nước trên thế giới, cả nước phát triển lẫn nước đang phát triển

Đối với các quốc gia, thu hút nguồn vốn đầu tư mang một ý nghĩa rất quan trọng Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thu hút đầu tư đòi hỏi phải nâng cao năng lực và vai trò quản lý của nhà nước, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Do đó, thu hút đầu tư và sự cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài luôn là vấn đề

“nóng bỏng” Chính sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp, cùng với khoa học công nghệ tiên tiến

là động lực mạnh mẽ giúp cho Việt Nam đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế một cách toàn diện và sâu sắc hơn

1.1 Các khái niệm cơ bản

Thu hút vốn đầu tư là một khái niệm hết sức quen thuộc đối với mỗi một quốc gia, mỗi doanh nghiệp hay dự án… bởi vì hoạt động kinh tế của những chủ thể trên luôn cần đến những nguồn vốn để phát triển cho dù bản thân nó vẫn tiềm tàng sức mạnh về kinh tế Vốn ở đây không chỉ đơn thuần là tài chính mà còn là nguồn nhân lực và công nghệ, do vậy việc thu hút vốn đầu

tư là một việc làm cần thiết và nó mang lại lợi thế cạnh tranh cũng như sự phát triển bền vững của từng quốc gia, doanh nghiệp

1.1.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc mà tất cả các quốc gia trên thế giới đã và đang làm Họ dùng những chính sách khuyến khích, những ưu đãi nhằm “kéo” các nguồn vốn của nước ngoài tham gia đầu tư vào các lĩnh

Trang 14

vực kinh tế trong nước Những hạn chế đối với FDI ngày càng được gỡ bỏ và nhờ vậy, các thể chế FDI ở các nước cũng ngày một trở nên tương tự nhau Đây chính là một trong những lý do khiến các chính phủ nhận thấy tầm quan trọng của các hình thức khuyến khích đầu tư như một công cụ thu hút đầu tư nước ngoài cần phải được củng cố và tăng cường hơn nữa Thật vậy, các khuyến khích và ưu đãi đầu tư với bản chất sẵn có là những biện pháp thuộc

sự kiểm soát và quản lý của chính phủ, do chính phủ ban hành, vì thế chính phủ sẽ dễ thao túng chúng hơn là các yếu tố khác có ảnh hưởng tới quyết định đầu tư

Khuyến khích đầu tư (investment incentives), trong một báo cáo gần đây của Tổ chức phát triển và Thương mại Thế giới - UNCTAD, được định nghĩa là những ưu đãi/lợi thế kinh tế có thể lượng hoá được mà chính phủ (hoặc theo chỉ đạo của chính phủ) dành cho những doanh nghiệp nhất định hoặc cho những nhóm doanh nghiệp nhất định nhằm khuyến khích họ xử sự theo một cách thức nhất định” Xử sự theo một cách thức nhất định có thể được giải thích theo nghĩa rộng, bao gồm cả quyết định đầu tư tại nước đưa ra khuyến khích đầu tư thay vì đầu tư vào nước khác

UNCTAD chia các hình thức khuyến khích đầu từ thành 3 nhóm:

- Khu yến khích về thuế:

Hình thức khuyến khích về thuế là những quy định được đề ra với mục đích làm giảm gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài Chẳng hạn, nhiều nước đang phát triển cho phép các dự án FDI mới được hưởng thời hạn miễn thuế nhất định, đôi khi thời hạn này kéo dài tới hơn 10 năm Nhóm các hình thức khuyến khích về thuế phổ biến gồm miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào trung gian, máy móc thiết bị, tài sản cố định liên quan tới quá trình sản xuất

Các hình thức khuyến khích về thuế được thể hiện ở Bảng 1.1 dưới đây

Trang 15

Bảng 1.1 Các hình thức khuyến khích về thuế chủ yếu đối với FDI

Khuyến khích liên

quan tới lợi nhuận

- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi;

- Miễn thuế;

Khuyến khích liên

quan tới đầu tư vốn

- Khấu hao nhanh;

- Ưu đãi liên quan tới đầu tư và tái đầu tư Khuyến khích liên

quan tới sử dụng lao

động

- Giảm bớt các khoản đóng góp an ninh xã hội;

- Giảm thuế đối với người nước ngoài làm việc tại

nước nhận đầu tư Khuyến khích liên

quan tới doanh thu

- Giảm hoặc khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp

- Cho khấu trừ thuế thu nhập căn cứ theo giá trị ròng thu được

Khuyến khích liên

quan tới nhập khẩu

- Miễn thuế nhập khẩu tư liệu sản xuất

Khuyến khích liên

quan tới xuất khẩu

- Khuyến khích liên quan tới thành phẩm đầu ra

- Khuyến khích liên quan tới sản phẩm đầu vào

- Khuyến khích tài chính

Khuyến khích tài chính đồng nghĩa với việc chính phủ nước nhận đầu tư

sẽ gánh chịu một số trong tổng chi phí đầu tư dưới dạng cấp tiền hoặc cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi mà không đòi hỏi phải được nắm giữ số cổ phần có giá trị tương đương Dạng phổ biến nhất là các khoản cấp tiền đầu tư của chính phủ và các khoản tín dụng do chính phủ trợ cấp Hình thức tham gia cổ phần của chính phủ cũng có thể coi là một dạng khuyến khích tài chính, nhất

là đối với các dự án đầu tư mang tính rủi ro thương mại cao

Trang 16

Bảng 1.2 Các hình thức khuyến khích tài chính chủ yếu đối với FDI

Các khoản cấp tiền của

chính phủ

- Các biện pháp “trợ cấp trực tiếp” nhằm trang trải (một phần) các chi phí về vốn, sản xuất hoặc marketing liên quan tới một dự án đầu tư

Tín dụng của chính phủ

với lãi suất ưu đãi

- Các khoản vay được trợ cấp;

- Khu yến khích khác (hoặc gián tiếp)

Các hình thức khuyến khích (gián tiếp) khác gồm một loạt các biện pháp được đưa ra nhằm tăng khả năng sinh lời của các dự án FDI theo những cách thức gián tiếp khác nhau Các hình thức khuyến khích khác được nêu trong Bảng 1.3 dưới đây

Các yêu cầu về kết quả thực hiện là những biện pháp nhằm thay đổi hành vi ứng xử trên thị trường của nhà đầu tư, doanh nghiệp để đạt những mục tiêu quốc gia nhất định Chẳng hạn như nước chủ nhà có thể yêu cầu nhà đầu

tư phải sử dụng một tỷ lệ nhất định đầu vào trong nước để sản xuất (quy định

về hàm lượng nội địa) hoặc phải xuất khẩu một tỷ lệ nhất định sản phẩm (quy định về tỷ lệ xuất khẩu), hoặc có thể quy định rằng phải cân bằng các chi phí nhập khẩu phát sinh bằng chính thu nhập từ hoạt động xuất khẩu (quy định về cân bằng thương mại) Ngoài ra, còn có quy định về tỷ lệ tham gia cổ phần bắt buộc/tối thiểu của nhà đầu tư trong nước (có thể là chính phủ nước chủ nhà hoặc các nhà đầu tư tư nhân)

Trang 17

- Tư vấn về quá trình sản xuất và các kỹ năng tiếp thị;

hỗ trợ đào tạo và tái đào tạo;

- Phương tiện kỹ thuật để phát triển kỹ năng, bí quyết hoặc cải tiến quản lý chất lượng

- Cho hưởng ưu đãi liên quan tới nhập khẩu một số sản phẩm nhất định;

- Cho phép độc quyền (Ưu đãi thị trường gồm những biện pháp khác nhau được thiết kế nhằm tăng khả năng sinh lợi nhuận của dự án FDI bằng việc đẩy cạnh tranh thị trường theo hướng có lợi cho doanh nghiệp đầu tư)

Trang 18

Ưu đãi liên quan

tới ngoại hối

- Tỷ giá chuyển đổi đặc biệt;

- Tỷ giá đặc biệt chuyển đổi nợ nước ngoài thành cổ phần;

- Ưu đãi tín dụng ngoại tệ đối với các khoản thu nhập

từ hoạt động xuất khẩu;

- Ưu đãi đặc biệt đối với việc chuyển thu nhập và vốn

về nước

1.1.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII):

Cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng là một kênh đầu tư quan trọng, nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển như vũ bão

Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) chính là khoản đầu tư được thực hiện thông qua một định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư hoặc đầu tư trực tiếp vào cổ phần của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Sự cần thiết thu hút FII

Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển Nguồn vốn này thường phân thành đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế…

Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK) Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp Vì lợi ích của hội nhập không những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng

Trang 19

hàng hóa, dòng người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu

tư FII sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các

cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…)

Tuy nhiên, dòng vốn FII cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn từ nước ngoài khác Do vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định, tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trị của nhà doanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm thích đáng

- Tiềm năng thu hút FII

Theo khảo sát của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây cho thấy, vào năm

2001 lợi nhuận từ vốn FII thế giới tăng gấp 2 lần vốn FDI Trong vòng 4 năm, đầu tư gián tiếp toàn cầu đã tăng 2 lần; nước có tỷ trọng đầu tư gián tiếp lớn nhất là Mỹ chiếm 24,5%, tiếp đó là Anh chiếm 10% Dòng vốn FII đang trỗi dậy mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997 và đang chuyển hướng đầu

tư sang các quốc gia đang phát triển có tiềm năng, nhằm hạn chế các rủi ro đầu

tư Hiện có khoảng trên 100 định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp trên thế giới đang quản lý một khối lượng tài sản khổng lồ, khoảng 300 tỷ USD Chỉ cần họ chấp nhận đầu tư vào Việt Nam 0,1% là chúng ta đã có khoảng 300 triệu USD

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất trong quá trình tái sản xuất hàng hóa, dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nơi này sang nơi khác, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi quốc gia thông qua các cam kết

mở cửa thị trường Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) là một tiềm năng rất lớn đối với thu hút đầu tư, do đó các quốc gia, cá dự án nên tranh tủ các điều kiện sẵn có để khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế giới phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 20

1.1.3 Đầu tư trong nước

Ngoài các dòng vốn đầu tư từ nuớc ngoài nguồn vốn đầu tư trong nước luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững đối với một Quốc gia Các nguồn đầu tư trong nước phải kể đến đầu tư của Chính phủ, các đơn

vị, tổ chức và cá nhân kinh doanh trong nước trong mối tương quan phát triển kinh tế nội lực Đối với mỗi quốc gia, đầu tư trong nước thường chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt là cho những ngành nghề quan trọng - “xương sống của nền kinh tế”

Để thu hút được nguồn vốn đầu tư trong nước và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó đòi hỏi nước đó phải có nhiều chính sách ưu đãi cho các thành phần kinh tế nội lực và có chiến lược cụ thể cho từng giai đoạn đầu tư phù hợp Việc tạo môi trường (cơ sở hạ tầng, thông tin, chính sách mở cửa, thông thoáng… ) để thu hút vốn đầu tư trong nước là rất quan trọng Thực tế cho thấy rằng bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển bền vững đều phải kết hợp hài hòa giữa việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tập trung nội lực trong phát triển kinh tế

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài

Có thể thấy rõ rằng thu hút vốn đầu tư nước ngoài không thể có hiệu quả nếu chỉ “kêu gọi” mà phải được thể hiện qua rất nhiều hoạt động của từng quốc gia, từng doanh nghiệp và từng cá nhân Thực tiễn cho thấy hệ thống thể chế đặc biệt là thể chế kinh tế, chính trị, văn hóa tác động rất sâu sắc tới việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

1.2.1.1 Môi trường Kinh tế

Tất cả các hoạt động thu hút vốn đầu tư nói chung đều phải tuân theo hệ thống thể chế kinh tế; bên cạnh đó là hệ thống quản lý hành chính trong đó có thể chế quản lý nhà nước về kinh tế tức là những nguyên tắc, chế độ, thủ tục hành chính mà các chủ thể đầu tư phải tuân theo Hơn thế nữa, hiện trạng phát triển kinh tế của từng quốc gia, từng doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng to lớn

Trang 21

đến việc thu hút vốn đầu tư Nếu mối trường kinh tế phát triển có định hướng

“bền vững” thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm đầu tư và họ kỳ vọng vào một tương lai thịnh vượng trong tương lai

1.2.1.2 C hính trị, xã hội

Trong thực tế, thể chế chính trị có tầm quan trọng cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của một đất nước, một chế độ xã hội, nhất là trong bước ngoặt của mỗi quốc gia Đã có nhiều ví dụ nhiều nước trên thế giới để chứng minh rằng nếu một nước có môi trường chính trị, xã hội ổn định, có nghĩa là các đường hướng chính sách, chế độ phù hợp với hiện trạng phát triển, hợp với lòng dân và theo đúng xu thế phát triển của thời đại thì có sức mạnh rất to lớn, khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực, làm nên kỳ tích; ngược lại nếu thể chế không phù hợp có thể kìm hãm sự phát triển của cả một đất nước làm cho đất nước đó lâm vào tình trạng lạc hậu, không thu hút được các nguồn vốn dẫn đến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng

1.2.1.3 Môi trường Văn hóa

Môi trường văn hóa có ảnh hưởng lớn đến mỗi người và cộng đồng, hơn thế nữa nó có tác động một cách sâu sắc, chi phối tới các hoạt động thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Nếu môi trường văn hóa lành mạnh, hấp dẫn thì sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm và ngược lại

1.2.1.4 Môi trường Luật pháp

Luật pháp là yếu tố thực sự quan trọng đối với bất kỳ chủ thể đầu tư nào khi bắt tay vào đầu tư Họ phải nắm vững và tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp của nơi mà mình sẽ đầu tư Do vậy để đảm bảo yếu tố công bằng cho môi trường đầu tư cần có một nền tảng cơ sở luật pháp đầy đủ, đồng bộ đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư cũng như tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho sự phát triển kinh tế trong nước Nếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các chính sách hỗ trợ được phát huy hiệu quả tạo môi trường tốt thì nhà đầu tư hoàn toàn yên tâm trong việc “chọn mặt gửi vàng”

Trang 22

1.2.2 Các yếu tố bên trong

1.2.2.1 Yếu tố nghành

Yếu tố ngành thực sự là mối quan tâm của các nhà đầu tư, đầu tư vào ngành nào? lĩnh vực gì? Để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Nếu ngành đó đang được sự quan tâm hay ngành đó đang là một mũi nhọn phát triển kinh tế của một đất nước thì việc đầu tư vào đó sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn Ví dụ khi đầu tư vào ngành văn hóa hẳn các nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc lựa chọn một nơi có nền văn hóa đặc sắc và phát triển những thế mạnh của nó nhằm thu hút lợi nhuận Trong giai đoạn “hội nhập kinh tế thế giới toàn cầu” thì việc đầu tư vào khai thác các thế mạnh của ngành văn hóa thực sự là một ngành kinh doanh “siêu lợi nhuận” Nếu Ngành phát triển ổn định, có định hướng chiến lược rõ ràng sẽ tạo niềm tin vững vàng cho các nhà đầu tư

1.2.2.2 Lĩnh vực kinh doanh

Lĩnh vực kinh doanh ảnh hưởng một cách trực tiếp tới việc thu hút đầu

tư nói chung Có rất nhiều lĩnh vực kinh doanh: Kinh doanh bất động sản, du lịch, nhà hàng – khách sạn, chứng khoán, ô tô, thiết bị, máy công nghiệp, các mặt hàng thiết yếu Một khi lĩnh vực kinh doanh đó đang là “tiêu điểm” thì

có thể các nhà đầu tư sẽ “đổ xô” vào nguy cơ “rủi ro” sẽ tăng cao Ngược lại, với một số lĩnh vực kinh doanh mới mẻ các nhà đầu tư sẽ “dè dặt” trong việc

bỏ vốn đầu tư, nhưng đó cũng là “cơ hội” cho những “nhà thám hiểm” trong việc tìm ra “chỗ đứng” mới của mình và khẳng định vị thế trong lĩnh vực kinh doanh mà mình đầu tư

1.2.2.3 Người lãnh đạo

Người lãnh đạo là người “chèo lái con thuyền”, họ là người cầm lái, là người quyết định đến sự thanh hay bại của bất cứ một quá trình đầu tư nào Nếu người lãnh đạo là người biết nhìn xa trông rộng, am hiểu lĩnh vực kinh doanh và có lựa chọn đúng hướng, đúng thời điểm sẽ làm tăng giá trị của vốn đầu tư Người lãnh đạo phải đưa ra quyết sách nhằm tạo môi trường thuận tiện nhằm thu hút được nguồn vốn đầu tư

Trang 23

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư

1.3.1 Kinh tế

Kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đáng giá khả năng thu hút vốn đầu tư, bởi vì nếu nền kinh tế phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nên sức hút lớn đối đối các nhà đầu tư Cụ thể được biểu hiện qua các mặt sau:

- Cạnh tranh

Cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy của sự phát triển kinh tế Cạnh tranh diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: Cạnh tranh giữa sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp, nhà nước với nhà nước Cạnh tranh ảnh hưởng trực tiếp tới việc thu hút vốn đầu tư: nền kinh tế nào mang tính cạnh tranh cao thì việc thu hút vốn đầu tư sẽ giảm Với Việt Nam nói riêng, việc áp dụng thống nhất Luật Đầu tư đối với cả đầu tư trong nước và đầu tư ngoài nước đã tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp được mở rộng, đa dạng, dễ dàng cho nhà đầu tư lựa chọn phù hợp với ý định kinh doanh của mình

- Cung cầu

Việc đảm bảo cân đối cung- cầu của nền kinh tế cũng là một trong những yếu tố làm tăng khả năng thu hút đầu tư Hiện nay, do cân đối về cung – cầu nên Việt Nam khó đạt chỉ tiêu về thu hút vốn đầu tư

Trang 24

sẽ có tác dụng thúc đẩy, kích thích tăng trưởng kinh tế và sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư

- Tỷ giá

Một trong những yếu tố đầu tiên thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

là Chính phủ nước đó có chính sách tỷ giá ổn định, có cơ chế vay trả ưu đãi Nếu tỷ giá thay đổi và có nhiều xáo trộn sẽ là nguyên nhân làm tăng “rủi ro của đầu tư”

1.3.2 Chính trị xã hội

Một quốc gia có môi trường chính trị ổn định chính là nền tảng cho sự phát triển kinh tế ổn định và là nơi mà các nhà đầu tư quan tâm và đặt quan hệ hợp tác lâu dài vì mục tiêu lợi nhuận Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư cũng như khả năng thu hút vốn đầu tư

họ sẽ yên tâm “rót vốn” Cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm cho các nhà đầu tư

“nản lòng” và đòi hỏi nhà đầu tư phải tập trung nguồn vốn nhiều hơn không chi phục vụ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh mà còn phải đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng ban đầu

Trang 25

từng Dự án nói riêng và của nền kinh tế nói chung Nếu đất nước nào có công nghệ tiến tiến áp dụng được các thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất sẽ đạt hiệu quả cao trong kinh doanh, giúp làm tăng tốc

độ phát triển của nền kinh tế

1.3.4 Môi trường

Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó, chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng, tình trạng của nó Môi trường ở đây được hiểu là môi trường sinh thái Muốn thu hút được các nhà đầu tư thì phải đảm bảo yếu tố môi trường an toàn phù hợp với từng loại hình kinh doanh đầu tư Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường đang được cả thế giới quan tâm vì thế các nhà đầu tư cần coi đây là một chỉ tiêu của việc định hướng đầu tư “bền vững”

1.3.5 Chính sách pháp luật

Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi muốn tham gia đầu tư vào một quốc gia, ngành, lĩnh vực nào đó đều phải tìm hiểu và tuân thủ những chính sách pháp luật có liên quan một cách cẩn thận ví dụ như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, chính sách tỷ giá, chính sách ưu đãi thuế nhằm tránh rủi ro cũng như đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và không vi phạm pháp luật

1.4 Đặc điểm của các dự án đầu tư về Văn hóa-Du lịch

Trước sự cạnh tranh trong lĩnh vực văn hóa - du lịch ngày càng tăng, các nước cũng như các địa phương phải sẵn sàng để duy trì và đẩy mạnh các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực này

Các nước trong khu vực đang chủ động tìm cách gia tăng thị phần trong họat động kinh doanh văn hóa - du lịch Văn hóa - du lịch không những tạo ra việc làm và thu nhập mà còn mang lại những lợi ích xã hội, tác động không nhỏ đến nền chính trị và kinh tế của một quốc gia

Việc thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực Văn hóa-Du lịch có những thuận lợi và khó khăn nhất định Đặc thù khi đầu tư vào lĩnh vực văn hóa là có tính

Trang 26

nhạy cảm, chịu định hướng của Nhà nước, độ rủi ro cao, thời gian đầu tư kéo dài nhiều năm, lợi nhuận thấp, lại đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu, quá trình thực hiện phức tạp, việc kinh doanh để thu hồi vốn đầu tư có những đặc thù riêng do đó thường không hấp dẫn các nhà đầu tư như những ngành sản xuất khác Vì vậy dự án cần có những chính sách ưu đãi, khuyến khích cao hơn mức độ thông thường để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

Quan trọng nhất đối với nhà đầu tư là lợi nhuận Khi đầu tư vào du lịch văn hóa thì cần có sự quảng bá rất rộng rãi về lợi ích của việc đầu tư Ngoài việc gìn giữ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của từng địa phương, của đất nước thì cần phải nêu ra được tính khả thi của dự án văn hóa-du lịch cụ thể như:

o Địa điểm tiến hành xây dựng dự án: thuận lợi về giao thông đi lại

o Tính khả thi của một dự án văn hóa phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu hút lượng khách du lịch sau khi hoàn thành dự án

Hiện nay xu hướng chính thiên về việc phát triển di sản, bảo tồn di tích lịch sử của các địa phương, các công trình kiến trúc, con người phong tục tập quán và các đồ vật chế tác khác, những thứ nắm bắt truyền thống của các địa phương Có rất nhiều địa phương đang tìm lại quá khứ của mình, tận dụng nơi sinh của một danh nhân, một sự kiện, một trận chiến hoặc “những kho báu được tàng ẩn” khác Các địa phương còn dựa vào những liên tưởng khác nhau

để được nhận biết, ví dụ: Mông Cổ là mảnh đất của Thành Cát Tư Hãn; Malacca là Thành phố có Thánh đường Hồi giáo lịch sử của Bangladesh

Trang 27

Một ví dụ điển hình khác: Thành phố Thanh đảo trên bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, kết hợp du lịch với thương mại và công nghệ trong Lễ hội bia Quốc tế hàng năm Xuất phát từ một ngày lễ kỷ niệm của địa phương đầu thập niên 1990, lễ hội này đã biến thành một trong những lễ hội quan trọng quốc gia, thu hút trên một triệu khách đến thăm thành phố này hàng năm Cùng với các hoạt động vui chơi giải trí và thể thao, lễ hội còn kết hợp tổ chức Hội chợ quốc tế bia và thức uống, thu hút những nhà ủ men rượu bia từ Hà Lan, Nam Phi, Mỹ, Anh, Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông Dự kiện này là

cơ hội có một không hai để Thanh Đảo trưng bày nền văn hóa Đức-Hoa độc đáo và khả năng đăng cai một sự kiện quốc tế

Các nhà đầu tư trong những dự án văn hóa - du lịch xuyên biên giới có thể xin hậu thuẫn tài chính từ các tổ chức phát triển đa phương và các định chế tài chính, như Công ty Tài chính Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á

Đầu tư cho ngành văn hóa - du lịch có nhiều cấp độ từ việc mới gia nhập thị trường với chi phí tương đối thấp dành cho lễ hội liên hoan hoặc các sự kiện cho đến chi phí nhiều triệu đô la dành cho cơ sở hạ tầng như sân vận động, hệ thống quá cảnh, sân bay, nhà bảo tàng, trung tâm hội nghị Ngày nay các nhà quy hoạch đô thị mới tìm cách xây dựng ngành văn hóa - du lịch thành trọng tâm mang sức sống mới cho thành phố

1.5 Các mô hình thu hút đầu tư tham khảo trong và ngoài nước

1.5.1 Các mô hình n ước ngoài

1.5.1.1 Mô hình của Airơlen

FDI đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Cộng hoà Airơlen FDI đã góp phần chuyển đổi một xã hội nặng về nông nghiệp trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở châu Âu, có mức GDP bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất FDI đã tạo việc làm trong những ngành mới, nâng cao đầu tư và tăng cường năng suất tổng thể và năng

Trang 28

suất bản địa Năm 1995, các công ty liên kết nước ngoài trong ngành chế tác của Airơlen đã tạo việc làm cho 47,1% tổng số lao động, tạo ra 76,9% giá trị gia tăng, 52,6% tiền lương, chiếm tới 68% chi tiêu cho R&D (năm 1993), 82,3% xuất khẩu và 77,8% nhập khẩu (OECD, 1999) Mức giá trị gia tăng bình quân đầu người ở các công ty thuộc sở hữu nước ngoài cao hơn 60% so với ở các công ty trong nước, cho thấy năng suất vượt trội của các công ty thuộc sở hữu nước ngoài

- C hính sách của Nhà nước

Phần lớn các công trình nghiên cứu gần đây nêu lên hệ quả của ảnh hưởng hiện hữu của FDI ở Airơlen đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách, cả chính sách nông nghiệp và chính sách kinh tế vĩ mô, cũng như những nhân tố khác chẳng hạn như vị trí của Airơlen trong mối quan hệ với

EU trong việc thu hút FDI Người ta cũng đã chú ý đến việc nâng cấp FDI và các mối liên kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các công ty bản địa

- Chính sách công nghi ệp

Ban đầu là một bộ phận của Bộ Công nghiệp và Thương mại, năm 1949, với quyền cung cấp các khoản trợ cấp để chi trả chi phí về đất đai và nhà xưởng, IDA đã được thiết lập như một cơ quan Nhà nước độc lập theo Đạo luật Phát triển Công nghiệp năm 1969 chịu trách nhiệm về phát triển công nghiệp quốc gia IDA đã mở rộng nhanh chóng về nguồn nhân lực (ban đầu

là 230 người) và hoạt động trên phạm vi toàn thế giới, bao gồm Nhật Bản, Đài Loan, Nam Phi và Australia IDA đã phát hiện rằng các công ty điện tử

và dược phẩm đến từ Mỹ là tạo ra những cơ hội tốt nhất cho động cơ công nghiệp hoá thông qua FDI của Airơlen Phần lớn FDI ở Airơlen tập trung trong các ngành công nghệ cao Các dịch vụ tài chính cũng có tầm quan trọng ngày càng tăng và hiện chiếm 27% số việc làm IDA cũng có khả năng dành các khoản trợ cấp cho các công ty để chi trả một phần chi phí vốn ban đầu và sau đó được gắn với việc tạo việc làm Ngày nay, các khoản trợ cấp

Trang 29

càng cao thì nền kinh tế Airơlen có thể thu được càng nhiều lợi ích Những khuyến khích tài khoá đã góp phần kích thích đầu tư trong ngành chế biến có hàm lượng xuất khẩu cao Nhờ vào chiến lược tập trung vào các mục tiêu cụ thể, IDA có khả năng phát triển các ngành có hàm lượng xuất khẩu cao (điện

tử và dược phẩm), dẫn đến những tác động lan toả và tích tụ IDA có kế hoạch đi khảo sát thực tế các công ty hiện hành như một phần trong chiến lược xúc tiến của chúng nhằm thu hút các nhà đầu tư tiềm năng

- Chính sách vĩ mô

Trong khi các chính sách công nghiệp cụ thể đã có ý nghĩa rất quan trọng

trong việc thu hút FDI, thì còn có các chính sách kinh tế vĩ mô và các nhân tố

quan trọng khác, mà nếu không có chúng thì rất khó có thể thu hút FDI Chính

phủ đã theo đuổi một cách nhất quán chính sách nâng cấp kỹ năng bằng việc cung cấp giáo dục

- Tận dụng mối quan hệ lịch sử tốt đẹp với cường quốc như Mỹ, EU

Mối quan hệ lịch sử chặt chẽ với Mỹ (thông qua sự di cư của những người quốc tịch Airơlen), điều này đã góp phần thu hút đầu tư của Mỹ, việc sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức (nước duy nhất trong khu vực đồng EURO) và gần đây hơn là sự bột phát kinh tế Mỹ và sự phát triển mạnh của ngành điện tử

Cuối cùng, vị trí địa lý sát gần với EU là lợi thế rất lớn, vì quy mô thị trường to lớn của khu vực này Tuy nhiên, riêng vị trí địa lý thuận lợi không

đủ để thu hút FDI Bồ Đào Nha và Hy Lạp cũng gần với EU, song lại ít thành công hơn trong việc thu hút FDI Khoảng cách địa lý sẽ trở nên ít quan trọng hơn khi chi phí cho giao thông vận tải giảm xuống và nền kinh tế “phi trọng lượng” (phần mềm và các ngành tương tự) có tầm quan trọng ngày càng tăng

Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường Airơlen đã có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của Airơlen như một địa điểm xuất khẩu sang EU Quá

Trang 30

trình này bao gồm cả sự xoá bỏ các rào cản thương mại (thuế quan và phi thuế quan) và tuy các công ty bản địa phải chịu thiệt hại do có sự cạnh tranh quyết liệt của hàng nhập khẩu, song quá trình mở cửa đã kích thích việc thu hút đầu

tư vào ngành chế biến có hàm lượng xuất khẩu cao

1.5.1.2 Mô hình của Trung quốc

Theo kết quả mới nhất vừa được hãng kiểm toán Ernst & Young công

bố, Trung Quốc là nước đứng đầu về thu hút đầu tư Cuộc khảo sát này dựa trên ý kiến của 809 giám đốc từ các doanh nghiệp lớn ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á vào giữa tháng 2 và tháng 3-2007, về sự lựa chọn ưu tiên

để đầu tư của họ

Hình 1.1 Danh sách các nước đứng đầu về thu hút đầu tư năm 2007

Có 48% nhà đầu tư cho biết doanh nghiệp của họ quyết định chọn Trung Quốc là một trong số 3 nơi để ưu tiên đầu tư trong năm 2007 Những nhà đầu tư này cho rằng, sức hút để đầu tư vào Trung Quốc chính là chi phí lao động ở Trung Quốc thấp với lực lượng lao động dồi dào, kèm với khả năng cạnh tranh cao Thêm nữa, cơ sở hạ tầng và các nghiên cứu khoa học của Trung Quốc ngày một phát triển, chất lượng giáo dục được chú trọng và tính chính trị ổn định Những điều trên đã giúp Trung Quốc tăng điểm dưới cái nhìn của nhà đầu tư nước ngoài

Trang 31

Khảo sát này dựa trên các tiêu chí về vấn đề môi trường, lực lượng lao động, vấn đề tài chính, hành lang pháp lý cùng với sự cạnh tranh về thị trường

ở mỗi nước

Trung Quốc thu hút được vốn đầu tư của trên 170 nước và vùng lãnh thổ Số doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với Trung Quốc thực tế còn hoạt động ở đây là trên 145.000 doanh nghiệp, tạo ra cho Trung Quốc 17,5 triệu chỗ làm việc Năm qua kim ngạch ngoại thương của các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài đạt 152,6 tỷ USD so với 137,1 tỷ USD năm 1996; kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp cũng đạt 74,9 tỷ USD, tăng 21,7% Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1997, thị phần của các

xí nghiệp liên doanh chiếm 39% Các nhà kinh tế thế giới cho rằng, Trung Quốc đạt được như vậy trước hết là nhờ cơ chế chính sách đầu tư, sau nữa

là nhờ tiềm năng tài nguyên và thị trường nội địa Trung Quốc hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

o Về tiềm năng tài nguyên, đất rộng, dân đông, thì nhiều người trong số chúng ta đã biết, cho nên ở đây chỉ đề cập đến một số biện pháp huy động vốn đầu tư nước ngoài của đất nước trên một tỷ dân này

o Về mặt tổ chức, trước hết Trung Quốc công bố các vùng và ngành khuyến khích đầu tư; các vùng và ngành được phép đầu tư; các vùng và ngành hạn chế đầu tư; các ngành và vùng cấm nhận vốn đầu tư nước ngoài Ngoài các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài ở khắp các vùng lãnh thổ được phép của nhà nước, Trung Quốc còn tổ chức các khu chế xuất với các tên khác nhau như: các vùng đặc khu kinh tế, vùng kinh tế kỹ thuật phát triển Hiện nay có 5 vùng đặc khu kinh tế, gồm Thẩm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải, Ma Cao, Hải Nam và 32 vùng kinh

tế – kỹ thuật phát triển Quy chế tổ chức, quản lý hành chính của 2 loại vùng này đều giống với quy chế chung của nhà nước

ở các vùng nội địa, chỉ khác nhau ở quy chế quản lý kinh tế thuộc thẩm quyền chính phủ địa phương Ví dụ, cả 2 loại vùng chế xuất này đều được miễn thuế nhập vật tư thiết bị làm hàng

Trang 32

xuất khẩu hay phục vụ xí nghiệp liên doanh và đều phải chịu thuế thu nhập công ty, thuế phương tiện giao thông, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bất động sản v.v

o Các doanh nghiệp Trung Quốc ở các vùng đặc khu kinh tế cũng phải chịu thuế thu nhập như các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài

o Luật pháp Trung Quốc cho phép chính quyền các vùng đặc khu kinh tế được phê duyệt các dự án đầu tư với số vốn tối đa là 30 triệu USD, cho người nước ngoài tham gia ít nhất 25% vốn pháp định của các dự án liên doanh Chính quyền địa phương cũng có quyền cấp đất cho các doanh nghiệp dùng làm vốn góp

cổ phần liên doanh với nước ngoài Trong phạm vi thẩm quyền của mình, mỗi đặc khu lại có cách khác nhau để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chẳng hạn, chính quyền đặc khu Thẩm Quyến miễn thuế sử dụng đất trong 5 năm đầu hoạt động; 5 năm tiếp theo, mỗi năm doanh nghiệp kỹ thuật cao chỉ phải nộp 1/2 số thuế đất; ở đặc khu Chu Hải, các liên doanh kỹ thuật cao hay các liên doanh đầu tư vào ngành doanh lợi thấp được miễn hẳn thuế sử dụng đất ở Hạ Môn, các Hoa kiều đầu tư về nước thì được miễn thuế đất trong thời gian doanh nghiệp hoạt động (theo dự án), còn các đối tượng khác thì được miễn thuế sử dụng đất cho 50% thời gian này ngoài ra, đối với các nhà đầu

tư về nước từ Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao thì còn được hưởng nhiều ưu đãi khác

o Những ưu đãi của địa phương như trên đã được áp dụng để thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh ở địa phương mình, vừa nhằm tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội địa phương, vừa nhằm tạo nguồn thu ngân sách

o Ngoài ưu đãi địa phương, các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc còn được hưởng quy chế ưu đãi chung của nhà nước Ví

dụ, nếu nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư từ 5 năm trở lên số lợi nhuận thu được thì họ sẽ được hoàn lại 40% thuế thu nhập trên

Trang 33

số lợi nhuận tái đầu tư này Nếu đầu tư vào các vùng, ngành doanh lợi thấp (như vào nông nghiệp, nông thôn, miền núi) thì người nước ngoài sẽ được miễn hoàn toàn hay một phần thuế trong 5 năm đầu hoạt động, trong 10 năm tiếp theo có thể được miễn giảm 15-30% thuế thu nhập tùy thuộc vào vùng, ngành cụ thể Nếu sau khi đã đầu tư trên 5 triệu USD hay đã cung cấp công nghệ tiên tiến mà lại hoạt động liên doanh với xí nghiệp quay vòng vốn chậm, thì nhà đầu tư này có thể xin miễn hoàn toàn hay một phần thuế cho hoạt động của mình

Trong thời gian qua, trên 80% vốn nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các nước Đông Nam á Cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực này nửa cuối năm qua còn

để lại âm hưởng xấu cho nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Thấy trước vấn đề này, cuối năm qua các nhà kinh tế Trung Quốc

đã vạch ra các biện pháp nhằm đảm bảo các điều kiện thuận lợi và ổn định

để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đó là:

o Bắt đầu từ ngày 1-1-1998, Trung Quốc bãi bỏ thuế quan và thuế TVA cho các vật tư thiết bị nhập phục vụ các hạng mục, công trình có vốn đầu tư nước ngoài

o Tiếp tục mở cửa thị trường và dịch vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia, kể cả lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, viễn thông,

Trang 34

của Nhật Quỹ này đã hứa sẽ cho Trung Quốc vay khoảng 5 tỷ USD (tương đương 580 tỷ yên)

Các khoản đầu tư mới sẽ được sử dụng để xây dựng quốc lộ, đường sắt, mạng lưới viễn thông, các cơ sở tưới tiêu và bảo vệ nguồn tài nguyên nước, các dự án vệ sinh môi trường, cơ sở hạ tầng đô thị, thiết lập mạng lưới tải điện nông thôn, xây dựng nhà cửa và bảo vệ môi trường v.v Vì đây là cách đầu tư hiệu quả nhất để kích thích nhu cầu trong nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chính phủ Trung Quốc rất chú trọng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc sửa đổi khắc phục những trở ngại về đầu tư một cách thực sự Trung Quốc cũng không ngừng phát triển các khu kinh tế , nhất là khu Phố Đông - được mệnh danh là "khu phố tài chính của Châu á" HIện thời có khoảng hơn 100 công ty tài chính và ngân hàng thương mại từ khắp nơi trên thế giới mở cơ sở tại Phố Đông Đây cũng là trung tâm đầu

tư và thị trường chứng khoán của Thượng Hải

1.5.1.3 Nhận xét chung qua việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở

- Có lợi thế so sánh về nguồn lao động so với các nước khác trong khu vực

- Cơ sở hạ tầng tương đối tốt

- Định hướng chính sách rõ ràng

- Có quan hệ ngoại giao tốt

- Đề cao yếu tố văn hóa - dân tộc

- Cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị ổn định

- Thiết lập được các khu kinh tế mở

Trang 35

1.5.2 Mô hình thu hút đầu tư ở Việt Nam - Khu Kinh tế Dung Quất

1.5.2.1 Về vị trí chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và bộ máy tổ chức

Khu kinh tế Dung Quất là một mô hình tổng hợp, đa ngành đa lĩnh vực Bên cạnh lĩnh vực trọng tâm là phát triển công nghệ quy mô lớn như hoa dầu, luyện thép, đóng tàu, xi măng còn có cảng biển, sân bay, hệ thống các đô thị công nghiệp, dịch vụ

Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất được thành lập năm 2005 theo quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 05 tháng 04 năm 2005 của thủ tướng Chính phủ, có vị thế tương đương Tổng cục, là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu Kinh tế Dung Quất và là đầu mối giao kế hoạch ngân sách trực thuộc Trung ương (đơn vị dự toán cấp I)

Với nhiệm vụ là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp về đầu tư xây dựng

và phát triển Khu kinh tế Dung Quất, Ban quản lý KTT Dung Quất có các quyền hạn trong lĩnh vực quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng; được cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận; được phê duyệt các báo cáo đánh giá tác động môi trường trong khu kinh tế Dung Quất; thực hiện các thẩm quyền quản

lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực đất đai và các thẩm quyền khác trong các lĩnh vực huy động vốn, quản lý việc tuyển dụng và sử dụng lao động, tổ chức

bộ máy biên chế Trong quản lý đầu tư, xây dựng đấu thầu thuộc nguồn NSNN BQL khu KT Dung Quất có quyền hạn như đối với UBND cấp tỉnh

Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất được tổ chức, triển khai giới thiệu đàm phán xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước và là đầu mối giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện các dự án đầu tư, kinh doanh tại khu vực kinh tế Dung Quất Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất có Trưởng ban do Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm và các Phó Trưởng Ban Trong mô hình tổ chức có các đơn vị vì sự nghiệp, dịch vụ hành chính công và các công ty phát triển cơ sở hạ tầng trực thuộc

Trang 36

1.5.2.2 Về chinh sách ưu đãi khuyến khích đầu tư

Về cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư Khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu lai và Khu kinh tế Nhơn Hội có những cơ chế chính sách tương tự Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế được chấp thuận theo quy định đăng ký cấp Giấy phép đầu tư Các dự án đầu tư trong nước được xem xét, phê duyệt theo quy định hiện hành với các thủ tục đơn giản nhất Tất cả dự án đầu tư vào Khu kinh tế được hưởng các ưu đãi tối

đa áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 và Luật Khuyến khích dầu tư trong nước (sửa đổi) năm 1998 và các ưu đãi khác theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Trường hợp về cùng một vấn đề mà các văn bản pháp luật quy định các mức ưu đãi khác nhau thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất

- Chính sách vốn

o Vốn ngân sách nhà nước: hỗ trợ xây dựng các công trình kết cấu

hạ tầng quan trọng cấp thiết nhất cho sự vận hành của Khu kinh

tế Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Vốn của doanh nghiệp và dân cư trong nước: thông qua các dự án đầu tư trực tiếp

và các hình thức phát hành trái phiếu công trình hoặc các đối tượng có nhu cầu sử dụng hạ tầng ứng trước một phần vốn mở rộng hình thức tín dụng đồng tài trợ

o Vốn nước ngoài: khuyến khích ơ mức cao nhất việc thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài kể cả việc áp dụng các hình thức đầu tư BOT, BT,BTO; vốn của các tổ chức tín dụng, vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu kinh tế được đưa vào Danh mục dự án kêu gọi vốn ODA Các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành

Trang 37

phần kinh tế đầu tư sản xuất, kinh doanh tại Khu kinh tế được vay vốn tín dụng của Nhà nước theo quy định hiện hành

- Ưu đãi về sử dụng đất

Miễn nộp tiền sử dụng đất trong suốt thời hạn thực hiện dự án Được miễn giảm tiền thuế đất và thuế sử dụng đất trong vòng 15 năm kể từ khi ký hợp đồng đất và được giao đất Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cho thuê lại đất được thực hiện theo cơ chế thị trường Riêng đối với khu Kinh tế Nhơn Hội, để khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc đầu tư phát triển hạ tầng, nhà đầu tư là doanh nghiệp đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại Khu kinh tế Nhơn Hội được chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất, cho thuê lại đất đã có kết cấu hạ tầng cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư, kinh doanh tại Khu kinh tế Nhơn Hội Được định giá đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, được thu tiền sử dụng

hạ tầng kỹ thuật và các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng do mình đầu tư

- Xuất nhập cảnh và lưu trú

Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tìm hiểu thị trường và chuẩn bị đầu tư, tham gia làm việc, hoạt động đầu tư và kinh doanh tại khu kinh tế Dung Quất, Chu lai, Nhơn Hội và các thành viên gia đình họ được cấp thị thực xuất nhập cảnh có giá trị nhiều với thời hạn phù hợp với thời hạn làm việc, hoạt động đầu tư tại Khu kinh tế

- Các ưu đãi khác

Trang 38

Áp dụng chính sách một giá đối với hàng hoá, dịch vụ và tiền thuê đất cho các cá nhân và doanh nghiệp, không phân biệt trong nước và nước ngoài Với những quyền hạn được giao, mô hình khu kinh tế là một mô hình quản lý với nhiều điểm đột phá, việc phân cấp uỷ quyền được thực hiện mạnh mẽ, trách nhiệm quyền hạn cũng như tính chủ động của Ban quản lý khu kinh tế được đề cao Đây là những cơ sở quan trọng để Ban quản lý khu kinh tế thu hút các nguồn vốn, đẩy mạnh tiến độ triển khai đầu tư xây dựng và phát triển

1.5.2.3 Nhận xét qua mô hình Khu Kinh tế

Làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam, về quy mô diện tích không bằng các Khu Kinh tế Dung Quất, Nhơn Hội và Khu kinh tế mở Chu lai nhưng về chức năng cũng có những điểm tương đồng:

Làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam cũng là một quần thể đa chức năng, ngoài trọng tâm là lĩnh vực văn hoá dân tộc còn có nhiều lĩnh vực khác như du lịch, dịch vụ, khách sạn, vui chơi giải trí Về quy mô, cho tới nay Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam vẫn là một dự án có quy mô lớn nhất cả nước trong lĩnh vực văn hoá, du lịch Vì vậy trong quá trình xây dựng

đề án, một số ưu điểm trong mô hình tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn và cơ chế chính sách áp dụng cho khu kinh tế Dung Quất, Nhơn Hội, Khu kinh tế mở Chu Lai cần được tham khảo, vận dụng hợp lý vào điều kiện cụ thể của Làng VHDL - các dân tộc Việt Nam

Qua phân tích, so sánh với mô hình của Khu kinh tế cho thấy Làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam là một mô hình phát triển đặc thù, có quy

mô và tầm vóc quốc gia trên lĩnh vực văn hoá Về thực chất làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam có thể coi là một "Khu kinh tế văn hoá" Đây là một khái niệm mới xuất hiện trên thế giới trong một vài năm trở lại đây Đặc điểm của mô hình này là yếu tố văn hoá được sử dụng để quảng bá giới thiệu về đất nước con người, vừa là sản phẩm để phát triển kinh tế

Làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam cũng giống như các khu kinh tế, khu công nghệ cao ở chỗ là đều được nhận một phần vốn ngân sách

Trang 39

nhà nước để xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật chung và một số khu chức năng đặc thù chuyên ngành, còn lại là huy động thu hút các nguồn vốn đầu tư các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Trong mô hình tổ chức cũng cần

có các công ty thuộc làm nhiệm vụ đầu tư xây dựng và phát triển như ở các khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghệ

Hoạt động của Làng văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc đầu tư xây dựng mà còn cả việc quản lý, kinh doanh nghiệp và nghiên cứu phát triển do cơ quan quản lý khu kinh tế văn hoá cũng cần có những chức năng, quyền hạn và tổ chức bộ máy phù hợp để thực hiện nhiệm

vụ của mình

Về cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư: đầu tư trong lĩnh vực văn hóa có đặc thù là khó thực hiện, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu, quá trình thực hiện phức tạp, việc kinh doanh để thu hồi vốn đầu tư có những đặc thù riêng

do đó thường không hấp dẫn các nhà đầu tư những ngành sản xuất vật chất khác Vì vậy cần có những chính sách ưu đãi, khuyến khích cao hơn mức độ thông thường để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

Với tính chất đặc thù của một Khu vực kinh tế văn hoá, làng Văn hoá -

Du lịch các dân tộc Việt Nam có thể coi là một mô hình thí điểm cần tập trung đầu tư xây dựng đưa vào khai thác hiệu quả để từ đó nhân rộng trên cả nước

1.6 P hương hướng để tăng cường khả năng thu hút đầu tư

1.6.1 Nhận thức về tầm quan trọng của việc thu hút đầu tư

Mỗi quốc gia, mỗi ngành mỗi dự án muốn thành công luôn phụ thuộc vào mức độ đầu tư để phù hợp với từng quy mô Đặc biệt đối với những dự án Quốc gia hoặc những dự án có quy mô lớn thì việc chuẩn bị một nguồn đầu tư đầy đủ là vô cùng quan trọng Nguyên tắc đầu tư một dự án, thông thường vốn đầu tư của chủ đầu tư dự án không bao giờ đủ trăm phần trăm mà luôn phải tìm kiếm các nguồn vốn khác, việc này xảy ra đối với cả các dự án của Nhà nước Do đó việc thu hút đầu tư đối với các dự án luôn được các chủ đầu tư

Trang 40

quan tâm, đặc biệt đối với các dự án lớn và có tính chất phức tạp… Ngày nay, khi chúng ta đang sống trong một “thế giới phẳng” thì việc các chủ doanh nghiệp, chủ dự án phải luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc thu hút đầu tư là một việc làm cần thiết

Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về vốn Vốn ở đây được hiểu là tài chính Cần phải đầu tư như thế nào và bao nhiêu là phù hợp? Việc sử dụng vốn đầu tư sao cho có hiệu quả là vấn đề mấu chốt Việc thu hút vốn đầu tư bên ngoài với một tỷ lệ hợp lý và khai thác nó bằng cách nào đó là các câu hỏi được đặt ra cho chủ đầu tư

Thứ hai, nâng cao nhận thức về con người Theo một khía cạnh nào đó thì “có tiền là có tất cả” nhưng trong thời đại ngày nay nguồn nhân lực chất lượng cao luôn được xem là tài sản của các doanh nghiệp cũng như của các tổ chức không phải là doanh nghiệp mà không dễ gì cứ có tiền là mua được Chính vì vậy song song với việc thu hút vốn các doanh nghiệp, dự án…còn phải hết sức quan tâm đến việc thu hút nhân tài để tham gia vào công việc của

họ

Thứ ba, đó là nhận thức về khoa học công nghệ, trong thời đại bùng nổ

“công nghệ thông tin” như hiện nay, nếu không biết đầu tư thích hợp cho khoa học công nghệ thì không thể nâng cao năng suất lao động cũng như tạo ra những sản phẩm có hàm lượng cao đáp ứng nhu cầu năng động và hiện đại của thị trường

1.6.2 Phát hiện và khơi nguồn các tiềm năng

- Cơ sở vật chất: Muốn thu hút đầu tư thì cần phải đảm bảo nhu cầu thiết yếu về cơ sở vật chất hiện có; cần nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện những

“tài nguyên” và coi đó là “mồi” để thu hút các nhà đầu tư

- Cơ sở hạ tầng: Đảm bảo cơ sở hạ tầng tốt và thuận tiện là một yếu tố then chốt để các nhà đầu tư quan tâm như: giải phóng mặt bằng, đường giao thông, điện nước

Ngày đăng: 27/02/2021, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w