Để thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đìn
Trang 1MỞ ĐẦU
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam điều chỉnh các quan hệ pháp luật hôn nhân
và gia đình nhằm mục đích xây dựng, củng cố và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình mới phù hợp với yêu cầu cách mạng Để thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản, kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Trong đó xác định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Khoản 1 Điều 2:
“Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Để hiểu
rõ thêm nguyên tắc trên, trong nội dung bài tập học kỳ này, em xin được tìm hiểu
và làm rõ hơn thông qua đề bài số 1 với nội dung: “Nguyên tắc hôn nhân một
vợ, một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiến thực hiện”
NỘI DUNG I.Những vấn đề chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
1.Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
a Khái niệm nguyên tắc
Theo từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bản đã định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” Dưới góc độ khoa học pháp lý, nguyên tắc của một ngành luật được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định Những tư tưởng này đòi hỏi phải được tuân thủ, chấp hành một cách tuyệt đối trong quá trình lập pháp cũng như quá trình áp dụng pháp luật
Trang 2b Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình
Với ý nghĩa là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình cũng có những nguyên tắc cơ bản riêng Nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là “những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình” Nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình định hướng sự phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình Nội dung các nguyên tắc thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, của các cá nhân và thành viên trong gia đình trong việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình Các quy phạm pháp luật Luật Hôn nhân và gia đình phải thể hiện đúng nội dung các nguyên tắc cơ bản Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vừa có sự kế thừa vừa có sự phát triển các quy định của pháp luật trước đó về bảo vệ quyền của bà mẹ và trẻ em Những nguyên tắc
cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014
c Khái niệm hôn nhân một vợ một chồng
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán… nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hôn nhân Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể tại
Khoản 1,Điều 3 Luật Hôn nhân : “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận”.
Các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm đều xuất phát từ vị trí hôn nhân là một
Trang 3Tóm lại, hôn nhân một vợ một chồng là vào thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (thời điểm đăng ký kết hôn), các bên kết hôn đang không có vợ hoặc có chồng
Có nghĩa là vào một thời điểm, một người đàn ông chỉ có một vợ, một người đàn
bà chỉ có một chồng
d Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc quan trọng gắn liền với sự phát triển của gia đình Việt Nam Đây cũng là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp Nguyên tắc này được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế đi
đa the trong hôn nhân phong kiến Vì vậy, nó đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong các văn bản luật Hôn nhân và gia đình Nguyên tắc này là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng
Về bản chất, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là tư tưởng chỉ đạo trong việc xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp trước pháp luật Nội dung của nguyên tắc này cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như một vợ một chồng với người khác và ngược lại Như vậy, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bắt buộc với cả hai chủ thể tham gia quan hệ
2.Ý nghĩa của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Thứ nhất nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là nguyên tắc cơ bản có
ý nghĩa quan trọng, thể hiện tư tưởng tiến bộ, xu thế tiến bộ chung của toàn xã hội trong việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình bền vững, hạnh phúc, đảm bảo quyền lợi ích của cả vợ-chồng trong quan hệ hôn nhân
Trang 4Thứ hai, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng góp phần xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thê đã tồn tại lâu trong xã hội phong kiến trước đây Nguyên tắc này đã xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân, như quan niệm “ trai năm thê bảy thiếp,gái chính chuyên một chồng” Qua đó đã xây dựng mô hình hôn nhân gia đình mới dân chủ, tiến bộ, hạnh phúc vững bền
Thứ ba, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là cơ sở duy trì tình yêu, bảo đảm sự bền vững, hạnh phúc của gia đình Mặc dù hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyên và tình cảm nhưng việc xác lập nguyên tắc đảm bảo sự bền vững của tình cảm của các bên tham gia trong quan hệ hôn nhân
Thứ tư, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng góp phần xóa bỏ các tệ nạn xã hội như tệ ngoại tình, nạn mại dâm, đảm bảo trật tự trị an xã hội, góp phần giữ vững trật tự trị an của xã hội Việc tuân thủ nguyên tắc này đem lại sự lành mạnh trong đời sống xã hội, gia đình, tránh được các nguy cơ do hành vi bạo lực, những nguy cơ xảy ra cho các bên vợ-chồng hoặc người thứ ba khi có vi phạm
Thứ tư, nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về nhân thân và tài sản liên quan đến lợi ích chính đáng của bên chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân hợp pháp Ngoài ra nguyên tắc cũng là
cơ sở xem xét xử lý hành vi phạm pháp luật về hôn nhân một vợ một chồng
Tóm lại, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và góp phần xây dựng gia đìn hạnh phúc.Vì vậy nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với từng cá nhân, từng gia đình và cả nhà nước- xã hội
Trang 5II Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng là một nguyên tắc hiến định và được cụ thể hóa trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Trên cơ sở
kế thừa, phát triển các quy định của các Luật HN&GĐ trước đây, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục tở thành nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Khoản 1,Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng được thể hiện cụ thể qua các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, qua việc xác định các trường hợp, hình thức
vi phạm nguyên tắc này
1 Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng trong việc kết hôn.
Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng đã được cụ thể hóa trong Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Khoản 1 Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.Từ quy định này, các điều luật đã
quy định cụ thể để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này trong việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thể hiện qua:
*Điều kiện kết hôn
Nguyên tắc hôn nhân một với một chồng chi phối điều kiện kết hôn giữa các chủ thể Khi tiến hành đăng ký kết hôn thì phải tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của các bên đương sự Trong cùng một khoảng thời gian chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp
Việc kết hôn tuân thủ điều kiện kết hôn được quy định cụ thể tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bao gồm: Độ tuổi kết hôn của các bên ; Sự tự nguyên; Không bị mất năng lực hành vi dân sự; Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn Trong đó các trường hợp cấm kết hôn tại Điểm d, khoản 1, điều 8
Trang 6của Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm quy định tại Điểm c, khoản 2, điều 5 Luật HN&GĐ năm
2014 quy định cầm: “ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Như vậy, nguyên
tắc hôn nhân một vợ một chồng cấm người đang có vợ hoặc vợ chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
Người đang có vợ, có chồng được hiểu đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp Bản chất của tình yêu là không thể sẻ chia được cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu đồi hỏi quan hệ chung thủy một vợ một chồng Nếu một trong hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác sẽ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền nhân thân, quyền tài sản của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân hợp pháp Làm ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân
*Thủ tục đăng ký kết hôn
Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Mọi thủ tục kết hôn không theo quy định của luật hôn nhân
và gia đình đều không có giá trị pháp lý Như vậy, đăng ký kết hôn là cơ sở xác lập hôn nhân Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn
Khi thưc hiện thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện kết hôn của các bên, trong đó đảm bảo tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Để xác minh các bên không vi phạm nguyên tắc thì trong hồ sơ đăng ký kết hôn phải có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của các đương sự
Trang 7Theo đó thủ tục cấp Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân, tại quy đinh tại Điều
67, Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch, thì người yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trang hôn nhân phải nộp tờ khai theo mẫu quy định Nội dung giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện người đó đã có vợ hoặc có chồng chưa Nếu người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trang hôn nhân đã có vợ, có chồng nhưng chưa ly hôn hoặc người kia đã chết thì phải ghi rõ điều đó Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên là một trong những quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
2 Các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được hiểu là hành vi trái pháp luật, do chủ thể thực hiện một cách cố ý xâm hại đến quan hệ hôn nhân một vợ một chồng hợp pháp đang tồn tại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các trường hợp vi phạm nguyên tắc
này tại điểm c, khoản 2 điều 5 cụ thể: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng
mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Theo đó,hai trường hợp cơ bản vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là: Người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác và người khác và ngược lại; Người đang có vợ, có chồng sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
*Thứ nhất, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại Luật HN&GĐ năm 2014 quy định, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Người đang có vợ, có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về HN&GĐ nhưng chưa lý hôn Kể từ thời điểm kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật chỉ thừa nhận tồn tại một quan hệ vợ
Trang 8chồng Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền thì việc kết hôn của họ bị coi
là kết hôn trái pháp luật ( Khoản 6, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014), vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
*Thứ hai, người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng Việc “chung sống như vợ chồng với người khác” được giải thích khá rõ tại Thông tư liên tịch số
01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, cụ thể “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó ”
Việc sống chung như vợ chồng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ chồng bao gồm các trường hợp sau:
-Giữa hai bên nam, nữ chung sống với nhau đều là người đang có vợ, có chồng -Giữa người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống với người chưa có chồng, chưa có vợ
Trang 9III.Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
1 Những kết quả đạt được.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được xây dựng thành nguyên tắc hiến định của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện những chế định cụ thể điều chỉnh một cách toàn diện những quan hệ hôn nhân và gia đình nảy sinh trong đời sống xã hội Thực tế phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội ở đất nước ta cũng đã chứng minh rằng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là hoàn toàn đúng đắn Cụ thể:
Mối quan hệ giữa vợ và chồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ đảm bảo cho tình yêu của họ thực sự bền vững Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được thực hiện làm rõ bản chất của tình yêu là “không thể chia sẻ được”, là sơ sở duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền vững của chính quan hệ hôn nhân
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được thi hành trong thực tiễn và đang tỏ rõ sức mạnh trong việc xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, tư tưởng lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gai đình tư sản, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình Nguyên tắc đã dần xóa bỏ tư tưởng đa thê còn xót lại
Tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã giảm đáng kể Những hành vi của người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác bị xã hội lên án, bị xử lý theo pháp luật
Tóm lại có thể thấy rằng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã gắn liền với đời sống, được người dân tôn trọng, tự nguyện thực hiện ở hầu hết các địa
Trang 10phương, Nguyên tắc này được nhà nước bảo vệ bằng công cụ hữu hiệu là pháp luật và hơn hết là được bảo vệ bằng chính ý thức của người dân
2.Những tồn tại, hạn chế.
Bên cạnh những điểm tích cực, trong thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở nước ta cũng tồn tại nhiều hạn chế, khiến nguyên tắc chưa được triển khai, tuân thủ một cách triệt để.Việc giải quyết các trường hợp
vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thực tế có nhiều vấn đề còn tồn tại Cụ thể:
*Về mặt pháp luật: trong quá trình giải quyết các hành vi vi phạm
nguyên tắc còn nhiều trường hợp các văn bản pháp luật vẫn chưa có hướng dẫn
cụ thể
Về trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 Việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều kiện hiện nay
là rất khó khăn do việc thừa nhận quan hệ chung sống như vợ chồng của nam và
nữ có giá trị pháp lý như quan hệ vợ chồng Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận
sự tồn tại của những quan hệ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ trước ngày 03/01/1987 Vậy nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng điều chỉnh cả trường hợp này Nhưng hiện nay chúng ta chưa có được một cơ chế kiểm soát những đối tượng này cho nên nhiều UBND cấp xã đã tiến hành đăng ký kết hôn cho những người đã có vợ, có chồng (do không thể biết được là họ đang có vợ,
có chồng vì việc chung sống như vợ chồng của họ không được ghi vào sổ hộ tịch) Vậy là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị vi phạm do ngay chính
cơ chế mà chúng ta tạo ra Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp phòng ngừa
*Về thực tiến thực hiện