1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng và xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa kinh tế trường đại học công nghiệp hà nội

124 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI--- LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI KHOA KINH TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

PHẠM VIỆT DŨNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI KHOA KINH TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ:

PHẠM VIỆT DŨNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ TRẦN ÁNH

Trang 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI KHOA

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo 6 1.1 Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng dịch vụ 6

1.1.2 Chất lượng dịch vụ và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ 8 1.1.3 Những khái niệm liên quan đến chất lượng GDĐH 10 1.1.3.1 Kiểm soát chất lượng (Quality Control) 10 1.1.3.2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) 11 1.1.3.3 Thanh tra chất lượng (Quality Inspection) 11 1.1.3.4 Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation) 11 1.1.3.5 Kiểm toán chất lượng (Quality Audit) 12

1.1.3.7 Chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng 12

1.1.4.1 Chất lượng được đánh giá bằng "Đầu vào" 14 1.1.4.2 Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra" 14 1.1.4.3 Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng" 15 1.1.4.4 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị gia tăng" 16 1.1.4.5 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị học thuật" 16 1.1.4.6 Chất lượng được đánh giá bằng " Kiểm toán" 17

1.3.1.1 Chương trình mục tiêu và nội dung đào tạo 26

1.3.1.4 Cơ sở vật chất- trang thiết bị kỹ thuật 30

Trang 5

1.3.2.1 Các yếu tố về cơ chế, chính sách của Nhà nước 32

1.4.1 Mục đích của việc đánh giá chất lượng đào tạo 35

1.4.3 Quy trình kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo 36

1.5.1 Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo 37

1.5.3 Đánh giá chất lượng đào tạo của người sử dụng lao động 42

Chương 2: Đánh giá chất lượng đào tạo tại khoa kinh tế trường Đại học

2.1 Khái quát chung về trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 43

2.2 0Đánh giá chất lượng đào tạo tại khoa kinh tế Trường đại học

2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 62

2.3.1 Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên 62 2.3.1.1 Phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên 62 2.3.1.2 Phân tích thực trạng trình độ chuyên môn 63

Trang 6

2.3.1.4 Về công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ của giáo

2.3.1.7 Về nội dung, chương trình kế hoạch đào tạo 70 2.3.1.8 Đánh giá công tác tuyển sinh đầu vào 73

2.3.1.10 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên 76 2.3.1.11 Học tập của sinh viên trên lớp và công tác GVCN 77

Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa kinh tế

3.1 Định hướng phát triển của nhà trường trong thời gian tới 81

3.1.3 Kế hoạch và chỉ tiêu đào tạo của khoa dự kiến đến năm 2010 83 3.1.4 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa

Kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 84

3.2.1 Giải pháp thứ nhất: Nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ giáo

3.2.7 Giải pháp thứ bảy: Giáo dục phẩm chất, nhân cách và thái độ nghề

Trang 7

TT Viết tắt Viết đầy đủ

1 KCS Kiểm tra chất lượng sản phẩm

2 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp

3 HS - SV Học sinh sinh viên

4 GVCN Giáo viên chủ nhiệm

5 VHVN Văn hoá Việt Nam

Trang 8

Stt Hình / Bảng Nội dung

Tăng thêm thiết bị văn phòng cho giáo viên

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay với sự tăng nhanh của dân số thế giới, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, tiềm lực của mỗi quốc gia không còn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, vào nguồn nhân công rẻ Sức mạnh đó giờ đây phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và chất lượng của nguồn nhân lực

mà họ sở hữu để từ đó tìm ra các nguồn năng lượng mới và các công nghệ hiện đại Hơn nữa, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang là thời cơ và cũng là thách thức lớn, mở ra cơ hội giao lưu và phát triển Các quốc gia kém phát triển có thể tranh thủ thời cơ, bằng chiến lược đi tắt đón đầu để tiếp cận, tiếp nhận khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến và học tập những kinh nghiệm quản lý, điều hành của các quốc gia phát triển Các nước phát triển mở rộng thị trường, thị phần và giảm chi phí sản xuất bằng việc sử dụng nhân công bản địa với giá rẻ, tăng dịch vụ bán và chuyển giao công nghệ, chuyên gia Trong bối cảnh đó, để trở thành cường quốc chính là đào tạo được, sở hữu được lực lượng lao động có trình độ cao, thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học công nghệ và nền kinh tế toàn cầu hướng vào thị trường

Việt Nam là một đất nước đang phát triển ở trình độ thấp Đảng và nhà nước ta ý thức được tầm quan trọng của phát triển giáo dục và khoa học công nghệ Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại

đại hội IX đã chỉ rõ: “phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là

nhiệm vụ trung tâm Con đường công nghiệp hoá của Việt Nam cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước… gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học

và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo

Trang 10

dục, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” Trong Báo cáo chính trị của BCH Trung

ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại đại hội IX còn khẳng định “Đưa nước ta

ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về căn bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”

Bước vào thế kỷ mới, do bước tiến nhảy vọt của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, thế giới đi vào nền văn minh trí tuệ với sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế vừa mở ra thời cơ vừa đặt các nước đang phát triển đứng trước những thách thức lớn của quá trình cạnh tranh mang tính toàn cầu Trong bối cảnh chung đó, các nước đều coi trọng nguồn lực con người và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, và đầu tư cho giáo dục được coi như đầu tư cho sự phát triển bền vững Với nhận thức giáo dục là cánh cửa đi vào CNH - HĐH Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã dạy rằng " Vì lợi ích mười năm ta phải trồng cây, vì lợi ích

trăm năm ta phải trồng người" là có ý nghĩa như vậy

Từ lời dạy của Bác và nhiệm vụ đặt ra ở trên cho giáo dục là một trách nhiệm nặng nề, trong đó có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, nắm vững và ứng dụng các tri thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ, thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Để làm được điều đó Bộ giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực cố gắng đưa

ra các giải pháp tích cực giúp giáo dục Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên

Trang 11

nghiệp tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, còn bản thân tại các trường Đại học, Cao đẳng phải làm gì thiết thực nhất? Phải có những giải pháp để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học của mình Là một giáo viên hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đồng thời cũng đang theo học thạc sỹ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh tôi nhận thấy chất lượng đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của trường Đại học Công Nghiệp trong thời gian tới Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của TS: Ngô Trần Ánh tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Đánh giá chất lượng và xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa Kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu

luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Đánh giá chất lượng và xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa Kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Xuất phát từ mục đích trên luận văn giải quyết các vấn đề:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ có liên quan đến chất lượng đào tạo TCCN – CĐ – ĐH

Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo hiện nay tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Xây dựng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đánh giá và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một công việc có ý nghĩa rất quan trọng hiện nay đối với các đơn vị nhà trường trong cả nước nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ,

có phẩm chất, có tư duy, có đạo đức Đó là chìa khoá để thực hiện sự nghiệp

Trang 12

CNH- HĐH trong giai đoạn hiện nay

Nâng cao chất lượng đào tạo là một đề tài rộng lớn, và phức tạp mang tính thời đại Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, luận văn này chỉ tập trung vào việc phân tích và đề ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại khoa Kinh Tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp lý luận

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phân tích tổng hợp

5 Ý nghĩa của đề tài

Đối với nhà trường và khoa có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo

Giúp cho các phòng ban chức năng, các khoa ban khác có những căn cứ

và phương pháp đánh giá nhằm xây dựng kế hoạch cho mình

Cung cấp thông tin cho những ai muốn biết về chất lượng đào tạo và định hướng phát triển trong tương lai của khoa Kinh tế trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

6 Bố cục của luận văn

Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo

Chương 2: Đánh giá chất lượng đào tạo tại khoa Kinh tế trường Đại

học Công nghiệp Hà Nội

Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường

Đại học Công nghiệp Hà Nội

Trang 13

Tôi xin cảm ơn các phòng ban trong nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế cùng toàn thể các thầy cô giáo, giáo vụ trong khoa đã cung cấp nhiều thông tin quý báu cho đề tài Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo TS: Ngô Trần Ánh đã tận tình giúp đỡ, quan tâm hướng dẫn chu đáo để em hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình học tập và nghiên cứu song do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn luận văn của em còn nhiều thiếu sót Em xinh lĩnh hội, tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô trong khoa Kinh Tế và Quảng Lý trường ĐHBK HN để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn nũa

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

1.1 Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng dịch vụ

1.1.1 Quan niệm về chất lượng và chất lượng dịch vụ

Khi nghe đến hai chữ “chất lượng” ta thường nghĩ đến sản phẩm hoặc dịch vụ hảo hạng, hay sản phẩm đạt được điều quá mong đợi của khách hàng, điều mong đợi này dựa trên mức độ sử dụng, mong muốn và giá bán Khi một sản phẩm vượt quá điều ta mong đợi thì ta coi sản phẩm này có chất lượng vì vậy chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kể một cơ sở hoạt động nào Vậy chất lượng là gì? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã có nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo từ điển tiếng Việt chất lượng là: “cái làm lên phẩm chất, giá trị

của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với

sự vật kia”.Như vậy chất lượng là: “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ

bản sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [2, tr305]

Như vậy, định nghĩa nêu trong từ điển trên chưa nói đến “khả năng thoả mãn nhu cầu”, một điều quan trọng mà các nhà quản lý rất quan tâm

Theo quan điểm triết học: Là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng [2, tr305]

Theo quan điểm kinh doanh: Chất lượng là sản phẩm được đặc trưng về các yếu tố nguyên vật liệu chế tạo, quy trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng, mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng

Trang 15

[2, tr305]

Chất lượng là: Một điều gì hơi mơ hồ dựa vào nhận thức [7, tr2]

Nếu ta cố gắng lượng hoá chất lượng thì có thể biểu hiện như sau:

Theo tổ chức kiểm tra chất lượng của Châu Âu "Chất lượng sản phẩm

người sử dụng” [6, tr21]

Theo tiêu chẩn của Pháp NF X 50-109 “Chất lượng là tiềm năng của

một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng” [4, tr257]

Theo ISO 8402(1994): “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thoả mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn” [4, tr257]

Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thường xuyên Chính vì vậy trách nhiệm về chất lượng phụ thuộc 80 - 85% vào ban lãnh đạo

Trên đây là một định nghĩa tiêu biểu về chất lượng Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và

do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh mặt yếu riêng Mặc dù vậy tổ

Q: Chất lượng P: Đặc tính sử dụng E: Độ mong đợi

Trang 16

chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra định nghĩa trong ISO 5841:1994:

“Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”.[6, tr22] là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất

hiện nay

Như vậy chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể, hay nói một cách khác nó vừa có tính chủ quan vừa có tính khách quan Quan niệm về chất lượng như trên vừa thể hiện một lập luận khoa học toàn diện về vấn đề khảo sát chất lượng thể hiện chức năng của sản phẩm trong mối quan hệ “Sản phẩm – xã hội – con người”

1.1.2 Chất lượng dich vụ và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ

Khái niệm chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng

của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ đầu ra [8, tr216]

Chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá so sánh ở đầu ra với giá trị mong đợi của khách hàng mà nó còn bao gồm hoạt động của toàn bộ hệ thống cung cấp Sự hoạt động đó hình thành nên cách phân phối Từ đó dẫn đến việc thừa nhận có sự tồn tại hai loại chất lượng dịch vụ: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng

Chất lượng kỹ thuật (Technical quality) bao gồm những giá trị mà hàng

hoá thực sự nhận được từ dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp

Chất lượng chức năng (Functional quality) bao gồm phương cách phân

phối dịch vụ tới người tiêu dùng dịch vụ đó

Trang 17

Vào năm 1985, Parasuraman, Zeithaml và Berry đã xây dựng mô hình

chất lượng dịch vụ (SERVQUAl) và làm nổi bật những yêu cầu chính để đảm

bảo chất lượng mong đợi của dịch vụ Trong mô hình này có 5 khoảng trống

(GAP) làm cho việc cung ứng dịch vụ trở nên khó khăn

Hình 1.1 Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ

Những khoảng trống đó là:

Khoảng trống giữa mong đợi của khách hàng và nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp: Không phải bao giờ ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng

nhận thức đúng đắn những gì khách hàng kỳ vọng, từ đó làm xuất hiện khoảng trống này

Khoảng trống giữa nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp và kết quả thực hiện dịch vụ: Ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể nhận thức đúng

những kỳ vọng của khách hàng nhưng không định ra tiêu chuẩn cụ thể cho

Kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng

Cảm nhận chất lượng dịch

vụ

Cung cấp dịch vụ( bao gồm các mối liên

hệ trước và sau thực hiện)

Chuyển đổi từ nhận thức vào đặc tính chăt lượng của dịch vụ

Nhận thức của ban lãnh đạo DN về kỳ vọng của khách hàng

Thông tin đối ngoại với khách hàng

Khoảng trống 5

Khoảng trống 3

Khoảng trống 2

Khoảng trống 4

Khách hàng

Trang 18

Khoảng trống giữa thực tế cung ứng dịch vụ và thông tin đối ngoại với

doanh nghiệp về dịch vụ sẽ ảnh hưởng tới sự mong đợi của khách hàng Nếu

sự mong đợi giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng thì doanh nghiệp không nên hứa hẹn nhiều bằng giao tiếp mà phải phân phối nó trên thực tế

Khoảng trống giữa dịch vụ nhận thức và dịch vụ kỳ vọng: Khoảng

trống này phát sinh khi khách hàng lượng định kết quả thực hiện của doanh nghiệp theo một cách khác và nhận thức sai chất lượng dịch vụ Vấn đề mấu chốt bảo đảm chất lượng dịch vụ là những giá trị khách hàng cảm nhận được trong hoạt động chuyển giao phải đạt được hoặc vượt quá những gì mà khách hàng chờ mong

Như vậy, sự đánh giá chất lượng dịch vụ cao hay thấp phụ thuộc vào khách hàng đã nhận được dịch vụ thực tế như thế nào và trong bối cảnh họ mong đợi những gì

1.1.3 Những khái niệm liên quan đến chất lượng GDĐH

1.1.3.1 Kiểm soát chất lượng (Quality Control)

Kiểm soát chất lượng là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử nó bao

Trang 19

gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đề ra trước đó Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong và có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Việc này thường kéo theo sự lãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu [1, tr37]

1.1.3.2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)

Đây là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên

Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai

phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chất lượng là phần lớn trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập [1, tr37]

1.1.3.3 Th anh tra chất lượng (Quality Inspection)

Thanh tra chất lượng là việc của một nhóm người do các cơ quan hữu quan cử tới xem xét một cách kỹ lưỡng quá trình đảm bảo và kiểm tra chất

lượng tại trường đó có được thực hiện một cách hợp lý và có đúng kế hoạch hay không Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục tiêu của trường đại học, hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà duy nhất chỉ quan tâm tới quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một thời điểm nhất định [1, tr38]

1.1.3.4 Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation)

Kiểm định chất lượng có thể được áp dụng cho một trường đại học,

hoặc chỉ cho chương trình đào tạo của môn học Kiểm định đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một trường đào tạo có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp, có được những điều kiện

để đạt được những mục tiêu đó và khả năng phát triển bền vững [1, tr38]

Trang 20

1.1.3.5 Kiểm toán chất lượng (Quality Audit)

Là hình thức kiểm tra mang tính độc lập và có hệ thống xác định xem các hoạt động đảm bảo chất lượng và kết quả của các hoạt động đó có tuân thủ theo đúng kế hoạch đã lập ra từ trước hay không và liệu kế hoạch này có được thực hiện đúng hiệu quả và phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra hay không

Kiểm toán chất lượng đại học không quan tâm tới giá trị của các mục tiêu của trường đại học mà quan tâm tới việc điều hành các hoạt động của trường có ảnh hưởng đến chất lượng Nó cũng không trực tiếp quan tâm đến các tiêu chuẩn đại học nhưng lại trực tiếp quan tâm đến mức độ thoả mãn của

một trường với những kết quả đạt được Bởi vậy kiểm toán chất lượng là rất khác biệt và hoàn toàn khác nhau về mục đích và cơ sở so với hoạt động thanh tra chất lượng, việc đánh giá chương trình và các hoạt động đánh giá

hoặc phê chuẩn của các cơ quan chuyên môn, cơ quan kiểm định và công

nhận [1, tr40]

1.1.3.6 Đánh giá, đo lường chất lượng

Chất lượng giáo dục là một khái niệm động, đa chiều và gắn với các yêu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người Do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá và đo lường chất lượng trong GDĐH

Trong GDĐH người ta thường dùng một thước đo bao gồm các tiêu chí

và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường đại học Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá

đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường đại học [1, tr42]

1.1.3.7 Chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng

Một trường đại học cần phải có các chủ trương rõ ràng về chất lượng Chính sách chất lượng và một tuyên ngôn về sự cam kết của mình đảm bảo sẽ

Trang 21

cung cấp một nền giáo dục đại học có chất lượng Chủ trương đó phải được

thể hiện bằng những phương châm cụ thể

Các trường đại học cam kết không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng chương trình đảm bảo chất lượng

Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng của mình để phát triển các điểm mạnh, khắc phục điểm yếu [1, tr43]

1.1.4 Chất lượng trong giáo dục đào tạo đại học

Ngày nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất

lượng đào tạo, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm, chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối

Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với định nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu

Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật Theo quan điểm này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi Từ đó nhận rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:

U

xuất đề ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”

U

của người dùng, khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”

Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là chất lượng

người học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu

Trang 22

định trước Sự phù hợp được thể hiện thông qua mục tiêu giáo dục, phù hợp

với nhu cầu người học, với gia đình cộng đồng và xã hội

Chất lượng đào tạo luôn là vấn đền quan trọng nhất của tất cả các nhà trường Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng Trong giáo dục đào tạo chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường Dưới đây là một số quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo

1.1.4.1 Chất lượng đánh giá bằng “Đầu vào”

Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là ”Con

người lao động” có thể hiểu là kết quả đầu ra của quá trình giáo dục và được

thể hiện cụ thể, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từng ngành đào tạo Một số nước phương tây có quan niệm cho rằng “Chất lượng môi trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng của môi trường đó “quan điểm này gọi là quan điểm nguồn lực có nghĩa là:

Nguồn lực = chất lượng

Nếu một trường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy

uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao

Theo quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài Sẽ khó giải thích một trường hợp có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế, hoặc một trường có nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho

sinh viên một chương trình hiệu quả [1, tr23]

1.1.4.2 Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”

Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo lại cho rằng “đầu ra”

Trang 23

của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” “Đầu ra” chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của người đó trong doanh nghiệp [1, tr24]

Với quan niệm này, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo bao gồm các tiêu chí sau: [4, tr266]

1 Phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp

2 Các chỉ số về sức khoẻ, tâm - sinh lý

3 Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn

4 Năng lực hành nghề, khả năng giao tiếp

5 Khả năng thích ứng với thị trường lao động

6 Khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc

1.1.4.3 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được “văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liện tục cải tiến chất lượng vì vậy, môi trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ công nghiệp và thương

Trang 24

mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Từ đó tạo ra một

hình ảnh cụ thể trong những khách hàng [1, tr25]

1.1.4.4 Chất lượng đánh giá bằng “giá trị gia tăng”

Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên “giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “Đầu ra” trừ đi giá trị của “Đầu vào” kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường đã mang lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường

Nếu theo quan điểm này về chất lượng trong đào tạo, hàng loạt vấn đề

về phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh Khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “Đầu vào” và “Đầu ra” để tìm ra được hiệu

số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa trong các trường

hệ thống giáo dục lại rất đa dạng không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất

cho tất cả các trường đại học [1, tr24]

1.1.4.5 Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường Điều này có ý nghĩa là trường nào có nhiều giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao

Hạn chế của quan niệm này, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh gía được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu có xu hướng chuyên ngành

hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng [1, tr25]

Trang 25

1.1.4.6 Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”

Quan điểm này về chất lượng trong đào tạo được xem trong quá trình bên trong của một trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem xét các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, qúa trình thực hiện các quyết định

về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không Quan niệm này cho rằng, nếu một

cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác,

và chất lượng giáo dục được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “đầu vào”

và “đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ

Điểm yếu của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi

một cơ sở đào tạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể

có những quyết định chưa tối ưu [1, tr25]

1.1.4.7 Một số quan niệm khác

Theo tác giả Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp- ĐHQG Hà Nội: "Chất

lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình" [4, tr259]

Theo tác giả Trần Khánh Đức- Viện nghiên cứu phát triển giáo dục:

"Chất lượng đào tạo là kết kết quả của qúa trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương xứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể " [4, tr259]

Theo tổ chức UNESCO: Chất lượng giáo dục được thể hiện trong bốn trụ cột là “Học để biết, học để làm, học để chung sống và tồn tại” [4, tr261]

Mỗi cơ sở đào tạo luôn có những nhiệm vụ cụ thể Từ những nhiệm vụ này, nhà trường sẽ xây dựng và xác định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được chất lượng bên

Trang 26

ngoài, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt được mục tiêu đó, đạt chất lượng bên trong

Nhìn một cách thực tiễn, sản phẩm cuối cùng và cũng là sản phẩm quan trọng nhất của quá trình giáo dục là nhân cách, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của người học Nhưng không phải chỉ có một loại sản phẩm đó Có sản phẩm cuối cùng thì trước đó cũng phải có các sản phẩm bộ phận, trung gian cùng nằm trong chuỗi quá trình đào tạo Nhờ chất lượng của hệ thống các sản phẩm bộ phận ấy đóng góp và tác động mà hình thành nên chất lượng của sản phẩm cuối cùng là nhân cách của người học Nói như vậy bởi khi xem xét việc đào tạo là một quá trình tổng thể thì quá trình ấy phải bao gồm rất nhiều hoạt động Mỗi hoạt động, một quá trình tạo ra một kết quả và cho ta một sản phẩm

Như vậy, khi nói đến chất lượng giáo dục của một nhà trường, ta vừa nói đến chất lượng của người học, đồng thời cũng phải tính đến chất lượng của hệ thống các sản phẩm trung gian cấu thành lên sản phẩm cuối cùng đó

Ta vẫn khẳng định chất lượng của cơ sở vật chất, của trang thiết bị, của đội ngũ những người thầy, của phương pháp dạy học, chất lượng của mỗi bài học, mỗi hoạt động giáo dục, đều tham gia cấu thành chất lượng đào tạo

Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là

“con người lao động” có thể là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên.v.v mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai.v v

1.2 Các mô hình qu ản lý chất lượng đào tạo

Trang 27

Có các mô hình quản lý chất lượng được các nhà quản lý giáo dục đại học thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi

1.2.1 Mô hình BS5750/ISO 9000

Khoảng đầu thập kỷ 90 giới quản lý giáo dục đại học quan tâm tới tiêu chuẩn Anh BS 5750 và tương đương với nó là tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000

BS 5750 lần đầu tiên được công bố với tên gọi các hệ thống chất lượng

nó có nguồn gốc từ tổ chức các quy trình đảm bảo chất lượng đồng minh của

bộ quốc phòng Anh và NATO

BS 5750 bao gồm bốn phần

Phần 1: Áp dụng cho các tổ chức lấy việc thiết kế và phát triển sản phẩm là

phần quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Phần 2: Áp dụng chủ yếu cho các tổ chức khác nhau trong đó có các cơ sở

mã quy cách các thông số kỹ thuất quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra phù hợp với mục đích

BS 5750/ISO 900 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đới với những người

sử dụng đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian, mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách nghiêm túc

BS 5750/ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục đại học Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp

Một trong những quan điểm cơ sở của BS 5750/ISO 9000 là hệ thống

Trang 28

chất lượng phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán, điều này khó có thể áp dụng trong giáo dục đại học bởi lẽ khó có thể gọi người học hay người thụ hưởng giáo dục đại học là sản phẩm, hơn nữa cho dù

có định nghĩa thế nào về sản phẩm của giáo dục đại học đi chăng nữa thì cũng khó có thể tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng như nhau Tất cả các giáo viên đều thấy rõ rằng không có hai lớp học nào hoàn toàn giống nhau bởi các cá nhân của hai lớp đó là khác nhau, các mối tác động qua lại giữa thầy và trò, giữa trò với nhau, động lực, thái độ, năng lực của họ cũng rất khác khau [1, tr47]

1.2.2 Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM-total Quality Management)

Mô hình quản lý chất lượng tổng thể một mô hình có những xuất xứ từ

thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục đại học Đặc trưng của mô hình quản lý chất lượng tổng thể là ở chỗ nó không áp đặt một hệ thống cứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào, nó tạo ra một nền văn hoá chất lượng bao trùm lên toàn bộ quá trình đào tạo Triết lý của quản lý chất lượng tổng thể là tất cả mọi người bất kỳ ở cương vị nào, vào bất

kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Đến đây cần nói đôi điều về hai khái niệm rất quan trọng có liên quan đến quản lý chất lượng tổng thể

Một là: Sản phẩm của giáo dục đại học là gì? Có quan niệm cho rằng

GDĐH cung cấp cho xã hội những sinh viên được đào tạo ở trình độ nhất định, quan niệm này xem GDĐH như một dây chuyền sản xuất và sinh viên

tốt nghiệp là khâu cuối cùng với tư cách là sản phẩm của quá trình sản xuất

Theo quan niệm này, trước khi có sản phẩm nhà sản xuất phải xác định

Trang 29

nguồn “nguyên liệu” sau đó nguyên liệu phải trải qua một hay nhiều quá trình

xử lý để có thể trở thành sản phẩm thoả mãn các thông số kỹ thuật đã định

Mô hình này tỏ ra không phù hợp với GDĐH, không thể theo một bộ tiêu chuẩn duy nhất, và lại sinh viên là những cá thể hết sức khác nhau về tính cách, năng lực, động cơ học tập, hoàn cảnh gia đình.v v

Để giải đáp vấn đề này nhiều học giả cho rằng không nên xem GDĐH

như một quá trình sản xuất, mà tốt hơn là coi giáo dục như một công nghệ cung ứng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ:

Sự khác nhau cơ bản giữa sản xuất ra sản phẩm và cung ứng dịch vụ là

ở chỗ, cung ứng dịch vụ bao gồm cả các yếu tố chủ quan Sản phẩm bị xem là

phế phẩm là do lỗi của nguyên liệu hay thiết kế sản phẩm, máy móc hư hỏng.v v Còn dịch vụ có chất lượng thấp thường do thái độ, hành vi của

người cung ứng dịch vụ Hơn nữa, cung ứng dịch vụ bao gồm giao tiếp trực

tiếp giữa người cung ứng và người thụ hưởng Vì thế chất lượng của dịch vụ được quyết định bởi mối quan hệ qua lại giữa người cung ứng và người tiếp

nhận Do vậy để phân tích khái niệm chất lượng quan điểm coi giáo dục là ngành cung ứng dịch vụ đúng đắn hơn là coi nó như một quy trình sản xuất

Hơn nữa đây là ngành cung ứng một loại dịch vụ đặc biệt, bởi lẽ ngành dịch

vụ này thường mang tính phúc lợi xã hội, phi lợi nhuận Mức độ “phúc hợp” trong ngành cung ứng loại dịch vụ đặc biệt này tuỳ thuộc và trình độ phát triển KTXH chế độ chính trị

chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học (1993) đưa ra mô hình sau:

Trang 30

Bảng 1.2: Quản lý chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học

Giáo viên, cán bộ phục vụ = Khách hàng bên trong

Điều quan trọng ở đây là phải dung hoà các nhu cầu khác nhau của các

loại khách hàng Một trong những biện pháp giải quyết mâu thuẫn, lợi ích giữa các loại khách hàng là công nhận sự tồn tại của chúng và xem xét cốt lõi các vấn đề ở các bên liên quan Trong quản lý chất lượng tổng thể điều quan

trọng là trường đại học luôn đặt nhu cầu của người học ở vị trí trung tâm trong quá trình lập kế hoạch chiến lược, không đặt vấn đề kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Song điều đó cũng không có nghĩa là những lợi ích của khách hàng khác bị xem nhẹ

Thực chất của quản lý chất lượng tổng thể là:

Thứ nhất: Cải tiến liên tục, không ngừng và có thể đạt được do quần

chúng và thông qua quần chúng Sự cải tiến liên tục này được thể hiện trong

kế hoạch chiến lược của trường đại học bằng các chu kỳ cải tiến, nâng cao dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâu dài, từ trình độ

xuất phát ở một điểm nhất định tới trình độ cao hơn

Thứ 2: Cải tiến từng bước, quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện

bằng một loạt dự án quy mô nhỏ có mức độ tăng dần Về tổng thể quản lý

chất lượng tổng thể có quy mô rộng, bao quát toàn bộ hoạt động của môi

trường đại học, song việc thực hiện nhiệm vụ đó trong thực tế lại có quy mô

hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần Sự can thiệp mạnh không phải

là phương sách tốt để tạo sự chuyển biến lớn trong quản lý chất lượng tổng

Thứ 3: Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng, chìa khoá của sự

thành công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội

Trang 31

Trong hệ thống tổ chức của nhà trường, vai trò của các cán bộ quản lý

cấp trường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo chức, sinh viên, chứ không phải là lãnh đạo kiểm tra Trong quản lý chất lượng tổng thể mô hình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảo ngược

Hình1.3 Mô hình TQM đảo ngược

Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống tổ chức quản lý của trường đại học theo mô hình quản lý chất lượng tổng thể không làm phương hại đến cấu hình quyền lực của trường đại học, cũng không làm giảm sút vai trò của cán

bộ lãnh đạo trường, khoa Trong thực tế, sự lãnh đạo của cán bộ quản lý vẫn giữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể Đảo ngược thứ bậc nhằm nhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng sinh viên như

nhân vật trung tâm [1, tr49]

Cán bộ phục vụ Cán bộ giảng dạy Cán bộ quản lý Khoa

Lãnh đạo trường

Quản lý chất lượng tổng thể trong GD ĐH

Sinh viên CBộ giảng dạy Lãnh đạo trường, Khoa

Trang 32

1.2.3 Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model)

Mô hình này đưa ra 5 yếu tố đánh giá như sau:

(1) Đầu vào: Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, quy chế, luật định, tài chính.v v

(2) Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào

(5) Kết quả: Kết quả của GDĐH và ảnh hưởng của nó đối với xã hội

Dựa vào 5 yếu tố đánh giá trên, các học giả đã đưa ra 5 khái niệm về chất lượng GD ĐH như sau:

(1) Chất lượng đầu vào: Trình độ đầu và thoả mãn các tiêu chí, mục tiêu đề

ra

(2) Chất lượng quá trình đào tạo: Mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình

dạy và học và các quá trình đào tạo khác

(3) Chất lượng đầu ra: Mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt nghiệp,

kết quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chí hoặc so

với các mục tiêu đã định sẵn

(4) Chất lượng sản phẩm: Mức độ đạt và yêu cầu công tác của các sinh viên tốt nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của các cơ quan công tác và xã hội

(5) Chất lượng giá trị gia tăng: Mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp

Trang 33

(kiến thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt hệ thống

GDĐH

Như vậy các mô hình quản lý chất lượng GDĐH nêu trên, nếu xem

“chất lượng GD ĐG là sự trùng khớp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình quản

lý chất lượng tổng thể TQM là phù hợp hơn cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của GDĐH trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển KTXH của đất nước và các chính sách lớn của chính phủ đối với GDĐH Từ đó tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng GDĐG có thể chủ động tác động tới những khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và tự đó nâng cao dần chất lượng

GDĐH theo kế hoạch đã đề ra [1, tr58]

1.2.4 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo

Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các loại hình đào tạo khác nhau Dưới đây là mô hình tổng thể của quá trình đào tạo [2, tr312]

Hình 1.4 Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo

- Quản lý và đánh giá

- Đào tạo

- Nghiên cứu

- Dịch vụ

- Phát triển chương trình và chương trình nghi ên cứu, dịch

vụ sản xuất

Kết quả đào tạo

- Kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp

- Năng lực nghề nghiệp

- Hiểu biết xã hội

- Ngoại ngữ

- Kỹ năng sử dụng máy tính

- Kỹ năng sử dụng thiết bị, công nghệ mới

Tham gia thị trường lao động

- Hiện trạng việc làm

- Thích ứng nghề nghiệp

- Thu nhập

- Cơ hội phát triển

- Tự tạo việc làm

Thông tin phản hồi

Trang 34

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

Có nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này chỉ xem xét những nhân tố cơ bản tác động và gây ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

1.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong

1.3.1.1 C hương trình mục tiêu và nội dung đào tạo

Mục tiêu đào tạo: Đó là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình

dạy học Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người học sinh tốt nghiệp với nhân cách đã được phát triển, hoàn thiện thông qua quá trình dạy học Nhân cách người học sinh hiểu theo cấu trúc đơn giản gồm có phẩm chất ( phẩm chất của người công dân, người lao động nói chung, lao động ở một lĩnh vực nhất định) và năng lực (Hệ thống kiến thức khoa học - công nghệ, kỹ năng - kỹ xảo thực hành chung và riêng)

Nội dung đào tạo: Để thực hiện được mục tiêu người học cần phải

lĩnh hội một hệ thống các nội dung đào tạo bao gồm: Chính trị - xã hội; Khoa học - kỹ thuật - công nghệ; Giáo dục thể chất và quốc phòng Nội dung đào tạo được phân chia thành các môn học cụ thể

Chương trình đào tạo là nội dung cơ bản, cần thiết và quan trọng trong quá trình đào tạo Nó là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo trong các đơn vị nhà trường

Đầu ra của quá trình đào tạo là người lao động Người lao động đó có đáp ứng được nhu cầu của thị trường không? Đó là câu trả lời rất khó Để trả lời câu hỏi này thì chỉ có người sử dụng lao động mới trả lời chính xác nhất Như vậy đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải coi chất lượng đào tạo là sự phù hợp,

ở kết quả sản phẩm đầu ra Vì thế các cơ sở đào tạo cần phải nghiên cứu nhu cầu của người sử dụng lao động Trên cơ sở đó xây dựng khung chương trình sao cho phù hợp Chương trình đào tạo phải đảm bảo mục tiêu đào tạo, phải

Trang 35

thiết kế sao cho vừa cả điều kiện chung (chương trình khung) là phần cứng do

cơ quan chủ quản cấp trên đã phê duyệt và thống nhất Bên cạnh đó các nhà trường phải xây dựng phần mềm ( bao gồm các tiết thảo luận, tham quan thực

tế, nói chuyện theo chủ đề) để tạo ra tính đa dạng, phong phú theo từng ngành nghề cụ thể, tạo bản sắc riêng cho mỗi nhà trường

Chương trình đào tạo phải tuỳ thuộc theo từng ngành nghề mà bố trí số môn học, thời gian học sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo Trong từng môn học cũng tuỳ theo từng chuyên ngành cụ thể mà bố trí số tiết giảng cho hợp lý Việc sắp xếp thứ tự các môn học trong từng học kỳ cũng hết sức quan trọng, nó phải được sắp xếp theo một trình tự logic cụ thể, hợp lý Có như vậy học sinh mới tiếp thu các môn học một cánh dễ dàng

Hình 1.5 Quan hệ giữa mục tiêu chất lương, hiệu quả đào tạo [2, tr307]

1.3.1.2 Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo của các đơn vị nhà trường Thầy là người truyền thụ kiến

Giá trị sức lao động Năng lực hành nghề Trình độ chuyên môn nghề nghiệp

Năng lực thích ứng với thị trường lao động

Năng lực phát triển nghề nghiệp

K ỹ năng Thái độ

Ng ười tốt nghiệp

Trang 36

thức, thiết kế và tổ chức các hoạt động của người học, hướng nghiệp và khơi nguồn cảm hứng, hứng thú trong quá trình học tập của học sinh Người Thầy còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kích thích khả năng sáng tạo của học sinh, giúp học sinh hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Vai trò của người thầy là rất quan trọng điều này được thể hiện ở chỗ: dạy nghề và dạy người, trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, nhân cánh, đạo đức, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất giúp cho người học có thể tự tin khi ra trường nhằm đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động Đó cũng là cơ sở để khẳng định vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong điều kiện hiện nay nếu như muốn tồn tại và phát triển

Để làm được điều này thì đội ngũ giáo viên tối thiểu phải đạt chuẩn theo qui định nghĩa là tất cả giáo viên tham gia giảng dạy phải tốt nghiệp đại học trở lên Tất cả giáo viên giảng dạy phải có chứng chỉ sư phạm do Bộ giáo dục qui định

Có thể nói chất lượng của đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Do vậy để nâng cao chất lượng đào tạo trước hết phải lưu

ý đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên không những phải

đủ về mặt số lượng mà còn phải có chất lượng Trong trường hợp này các đơn

vị nhà trường phải có kế hoạch cụ thể trong việc tuyển dụng, sử dụng và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên

Sản phẩm trong quá trình đào tạo, hay nói cách khác đầu ra trong quá trình đào tạo là người lao động Để người lao động đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động thì các yếu tố đầu vào phải tốt Trong đó chất lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết Do vậy, các

trường học sẽ có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo

Trang 37

viên trên cơ sở đó sẽ nâng cao chất lượng đầu ra

1.3.1.3 Qui mô đào tạo

Hàng năm trên cơ sở về nhu cầu của thị trường lao động thì chỉ tiêu tuyển sinh cũng sẽ tăng theo Mặt khác do nhu cầu của người học cũng sẽ tăng theo dẫn tới qui mô đào tạo sẽ gia tăng Do vậy có thể thấy qui mô đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Khi nhu cầu của người học tăng cao các trường sẽ tăng qui mô đào Mặt khác để tăng thêm thu nhập cho đội ngũ giáo viên cũng như cải thiện nguồn thu các trường cũng sẽ tăng qui

mô đào tạo Việc tăng qui mô đào tạo sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo bởi vì khi đó số lượng học sinh của mỗi lớp sẽ rất đông điều đó làm cho người giáo viên sẽ không thể bao quát hết cũng như không thể đánh giá chính xác kết quả học tập của mỗi thành viên trong lớp

1.3.1.4 Cơ sở vật chất - trang thiết bị kỹ thuật

Cơ sở vật chất - trang thiết bị giảng dạy có vai trò tích cực trong việc

hỗ trợ Thầy và trò để nâng cao chất lượng đào tạo Việc nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo ở nước

Có thể nói hiện nay cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo được rất nhiều trường quan tâm Nhiều trường đã có những khu giảng đường lớp học khang trang, hiện đại đáp ứng được nhu cầu của người học Tuy nhiên bên cạnh đó nhiều trường do kinh phí còn hạn hẹp nên không thể đầu tư xây

Trang 38

mới được khu giảng đường lớp học, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho quá trình đào tạo

Trang thiết bị kỹ thuật là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo Học phải gắn với hành kết hợp với thực hành Việc đảm bảo đủ số lượng máy móc, và các phương tiện dạy học cho học sinh thực tập là vấn đề cấp thiết hiện nay Thực tế hiện nay cho thấy chỉ cần đủ về mặt

số lượng máy móc cho học sinh thực tập đã là vấn đề khó , chứ chưa nói gì đến chất lượng của máy móc thiết bị Đa phần các máy móc phục vụ cho đào tạo hiện nay ở các trường đều đã lạc hậu so với các doanh nghiệp và trên thế giới Điều đó đã làm cản trở trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở nước ta hiện nay

Do vậy, các nhà trường muốn thu hút học sinh đến học tập thì cần phải

nỗ lực rất nhiều để nâng cấp hệ thống nhà xưởng, trang thiết bị giảng dạy, phòng chuyên môn hoá, phòng thí nghiệm, khu giảng đường, lớp học

1.3.1.5 Tài liệu giảng dạy

Giáo trình là tài liệu môn học, thông qua bài giảng kết hợp với giáo trình môn học giúp cho học sinh có thể tiếp thu bài giảng sâu hơn Hiện nay ngoài giáo trình tham khảo thì các nhà trường đều khuyến khích tất cả giáo viên tham gia giảng dạy viết tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ Có thể nói giáo trình lưu hành nội bộ là tài liệu chuẩn mực vì nó là kết quả thực tiễn của trường đó được kết tinh qua nhiều năm học Tuy nhiên để giáo trình đạt chuẩn thì đòi hỏi người biên soạn phải có kinh nghiệm, có trình độ Mặt khác trong từng năm học, tài liệu phải luôn luôn được sửa đổi, hiệu chỉnh bổ xung kịp thời để phù hợp với sự phát triển của thời đại nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo

Giáo án là kế hoạch chuẩn bị bài giảng của người Thầy Thông qua kế hoạch giáo án người Thầy sẽ truyền thụ kiến thức đến với học sinh vì vậy việc

Trang 39

chuẩn bị giáo án phải được thực hiện một cánh nghiêm túc và cẩn thận nếu như muốn nâng cao chất lượng đào tạo Thực tế cho thấy nếu như giáo án không được chuẩn bị kỹ, cũng như việc bố trí thời gian không hợp lý với những nội dung cụ thể cần truyền đạt thì chắc chắn bài giảng hôm đó sẽ không đạt yêu cầu về chất lượng Có thể nói hiện nay việc chuẩn bị giáo án của giáo viên là chưa tốt do đó ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhất là đối với những giáo viên trẻ Cho nên để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải coi trọng vấn đề này, phải luôn luôn có sự kiểm tra sát sao đối với giáo viên và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những giáo viên không chuẩn bị kỹ giáo án cũng như không có giáo án khi lên lớp

1.3.1.6 Các nguồn lực tài chính

Tài chính trong giáo dục là sử dụng chính sách tiền tệ, quản lý tiền tệ theo mục đích của giáo dục mà nhà nước có trách nhiệm Nhà trường, các cơ

sở đào tạo đều do nhà nước thống nhất quản lý nên phải tuân thủ các quy định

do nhà nước ban hành Với mục tiêu là hình thành “Nhân cách - sức lao động”

với quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu“ Đồng tiền vận động vào

hoạt động giáo dục đào tạo nó góp phần củng cố hình thái ý thức xã hội và thúc đẩy sự hình thành và phát triển sức lao động để có thể tham gia vào thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hoá

Người ta thường minh hoạ luận đề: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Qua công thức: [4, tr239]

Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nguồn lực tài chính Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Nếu không có nguồn tài chính dồi dào chắc chắn không thể đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang

Trang 40

thiết bị dạy học phục vụ cho quá trình đào tạo

Mặt khác muốn có đội ngũ giáo viên giỏi, có trình độ, có năng lực thực

sự thì nhà trường phải đưa ra mức thù lao hấp dẫn, cũng như chính sánh đãi ngộ thoả đáng

Tuy nhiên thực tế hiện nay mức thù lao cho giáo viên là rất thấp, do đó không thể thu hút được đội ngũ tri thức có trình độ chuyên môn thực sự

Hơn nữa khi không đủ nguồn lực tài chính chắc chắn vật tư, trang thiết

bị máy móc phục vụ cho quá trình đào tạo cũng thiếu Với hiện trạng này dễ hiểu vì sao chất lượng đào tạo còn chưa cao

Như vậy tăng nguồn kinh phí là điều cần thiết để tăng chất lượng đào tạo hiện nay Nhưng tăng nguồn bằng cánh nào thì không hề đơn giản Tăng mức học phí là khả thi để tăng nguồn thu nhưng mức học phí là cố định, được

Bộ tài chính qui định nên xem ra giải pháp này không thể thực hiện được

Để đa dạng các nguồn lực tài chính các trường chỉ còn cách liên doanh liên kết trong đào tạo, vay mượn từ các tổ chức Trong tương lai gần có thể tiến hành việc cổ phần hoá các đơn vị trường học Có như vậy mới tăng được nguồn thu để bổ xung vào việc mua sắm trang thiết bị, vật tư phục vụ cho quá trình đào tạo

1.3.1.7 Chất lượng tuyển sinh đầu vào

Các đối tượng này phần lớn ở lứa tuổi từ 18, do đó họ có những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên mới lớn, đa phần ý thức học tập là chưa cao, cuộc sống tự lập còn hạn chế Do vậy khi rời gia đình để đi học các em rất cần đến sự quan tâm của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Các ảnh hưởng tiêu cực cũng tác động mạnh đến lứa tuổi này Việc tổ chức quản lý giáo dục học sinh là rất cần thiết giúp các em có thái độ đúng đắn trong quá trình học tập và rèn luyện

Mặt khác, việc xét tuyển hoặc thi đầu vào đối với hệ trung học chuyên

Ngày đăng: 27/02/2021, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w