Trong kinh tế thị trường để đạt được hiệu qủa của hoạt động chúng ta phải thay đổi nhận thức, cách thức tiếp cận, thay đổi các căn cứ của các quyết định, phải năng động, linh hoạt ...Để
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM
QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
TRẦN VĂN LỢI
HÀ NỘI - 2006
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM
QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
TRẦN VĂN LỢI
Ng ười hướng dẫn khoa học: GS, TS ĐỖ VĂN PHỨC
HÀ NỘI - 2006
Trang 3LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHỤ LỤC
MỘT Sè GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Ph ụ lục 1 Thống kê kết quả SXKD và thực trạng đội ngũ cán bộ
qu ản lý của EVN
Ph ụ lục 2 Chính sách cán bộ quản lý và tiêu chuẩn các chức danh
của đội ngũ cán bộ quản lý của EVN
Ph ụ lục 3 Chiến lược phát triển của EVN từ năm 2006- 2010 có
Trang 4PH Ụ LỤC I
TH ỐNG KÊ KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Trang 5PH Ụ LỤC II CHÍNH SÁCH CÁN B Ộ QUẢN LÝ VÀ TIÊU CHUẨN CÁC CHỨC DANH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Trang 6PH Ụ LỤC III:
CHI ẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰCVIỆT NAM TỪ NĂM 2006 – 2010 CÓ XÉT ĐẾN NĂM 2020
Trang 7PH Ụ LỤC IV:
PHI ẾU XIN Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN B Ộ QUẢN LÝTỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Trang 8QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 05
1.1 Bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong kinh
tế thị trường 05
1.2 Bản chất, nội dung và vai trò của quản lý doanh nghiệp 08
1.3 Bản chất và phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý doanh nghiệp 29
1.4 Các nhân tố và phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ quản lý doanh nghiệp 47
Phần 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUẢN LÝ Ở TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 53
2.1 Đặc điểm sản phẩm - khách hàng, đặc điểm công nghệ và tình
hình hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 53
2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL của Tập đoàn Điện lực 69
2.3 Các nhân tố và mức độ tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý ở Tâp đoàn Điện lực Việt Nam 85
Phần 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ Ở EVN 91
3.1 Những sức ép, yêu cầu mới về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 91
3.2 Đổi mới chính sách thu hút và đào tạo bổ sung 105
3.3 Đổi mới tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm và đào
tạo nâng cao trình độ 107
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu Đề tài:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới của Đất nước ta diễn ra ngày một đổi khác, nền văn minh công nghiệp đã phát triển lên đến đỉnh cao với nền văn minh tin học của kỷ nguyên kinh tế dịch
vụ, kỷ nguyên máy vi tính … Sự thay đổi này, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng nắm bắt thời cơ, sáng suốt, vận dụng những thành tựu khoa học để phát triển kinh tế đất nước giàu mạnh, xây dựng xã hội công bằng và văn minh
Trong kinh tế thị trường để đạt được hiệu qủa của hoạt động chúng ta phải thay đổi nhận thức, cách thức tiếp cận, thay đổi các căn cứ của các quyết định, phải năng động, linh hoạt Để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung, hoạt động kinh doanh nói riêng có sự tham gia của nhiều người trong khung giới hạn về các điều kiện nhân - tài- vật lực, thời gian, không gian và có cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ các nhà quản lý không còn cách nào khác là phải đích thực hóa mọi vấn đề; thiết thực hóa, hiện đại hóa các yếu tố đầu vào; trật tự hóa, hợp lý hóa, đồng bộ hóa các hoạt động bộ phận, tức là phải đặc biệt coi trọng việc học tập nâng cao trình độ quản lý hoạt động nói chung, trình độ quản lý hoạt động kinh doanh nói riêng Bất kỳ một
tổ chức kinh doanh nào dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật lực phong phú, hệ thống máy móc với kỹ thuật công nghệ hiện đại, những công thức khoa học thần kỳ cũng chỉ trở nên vô ích nếu không biết quản lý nguồn tài nguyên quí giá của mình đó là nguồn nhân lực Bởi vì nguồn nhân lực là tài sản quí giá và quan trọng nhất trong mỗi doanh nghiệp, yếu tố con người luôn giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 10Làm thế nào để quản lý nguồn lực có hiệu quả là vấn đề khó khăn nhưng luôn đòi hỏi đối với các doanh nghiệp nói chung và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (sau đây gọi tắt là EVN) nói riêng trong nền kinh tế chuyển đổi như
ở nước ta hiện nay Sự biến động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, của áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, làm thế nào để đáp ứng ngày càng cao của người lao động trong nền kinh tế thị trường đã đang đặt ra cho những nhà quản lý ở các cấp độ khác nhau, phải có các quan điểm mới, những phương pháp và những kỹ năng mới về quản lý một cách khoa học
Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam mục tiêu tổng quát là Đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, sản xuất kinh doanh có lãi, tự chủ về tài chính, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao là đảm bảo cung cấp đủ điện với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế quốc dân và sinh hoạt của nhân dân
Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, Lãnh đạo EVN đã đề ra Chiến lược tổng quát trong quá trình phát triển Tổng Công ty Điện lực Việt nam
thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ nay đến 2020 là: “phát triển mạnh mẽ
cả về chiều rộng và chiều sâu, chuyển Tổng Công ty sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con trong đó Công ty mẹ đầu tư vốn vào các Công ty con, mở rộng kinh doanh đa ngành nghề trong đó ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ đạo là sản xuất kinh doanh điện, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào các khâu sản xuất, phân phối điện
và các ngành hàng kinh doanh khác của Tập đoàn Điện lực Việt Nam"
Nhằm góp phần tham gia nghiên cứu nhiệm vụ quản lý, trong đó giải quyết mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng của đội ngũ cán bộ, quản lý với
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên đề tài “Phân tích và đề
Trang 11xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý ở Tập đoàn Điện lực Việt nam” được tôi chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế là
yêu cầu thực tế và có ý nghĩa thiết thực
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lê nin, còn sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu và các tài liệu khoa học, sách, báo về quản trị nguồn nhân lực
5 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá và hoàn thiện một số vấn đề về lý luận có liên quan đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của các doanh nghiệp
Trang 12- Giới thiệu kinh nghiệm cải cách ngành điện của các nước trong khu vực
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, có luận cứ khoa học về thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của EVN Hoạch định những vấn đề cần giải quyết từ
đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng được mục tiêu sản xuất - kinh doanh của Tập đoàn Điện lực Việt Nam khi Nhà nước chủ trương phát triển thị trường Điện lực cạnh tranh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu:
Ph ần I: Cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
Ph ần II: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý ở EVN
Ph ần III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của
Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Trang 13PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành một loạt hoạt động,
trong đó hoạt động kinh tế (hoạt động kinh doanh) là hoạt động trọng tâm
Hoạt động đầu tư, tổ chức chi nhằm vào việc thỏa mãn nhu cầu của
người khác để có thu thỏa mãn nhu cầu của chính mình được gọi là hoạt động
kinh tế, là hoạt động kinh doanh Trong kinh tế thị trường hoạt động của
doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ
phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt
hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành
một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế Doanh nghiệp
có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ
Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng
các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những
lợi ích mà doanh nghiệp cần và có thể tranh giành Mục đích hoạt động của
doanh nghiệp là đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất, bền lâu nhất có thể
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh
những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp với phần các nguồn
lực (chi phí) cho việc có được các lợi ích đó Hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết
Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh Để tính
toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được
toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích Do lợi ích thu được từ
Trang 14hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình ( tiền tăng thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn -việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trương sinh thái, môi trường chính trị - xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tương đối chính xác
Theo GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức mỗi khi phải tính toán, so sánh các
phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại
A, B, C mức độ tác động, ảnh hưởng đến tình hình chính trị- xã hội và môi trường sinh thái như sau :
Bảng các hệ số xét tính lợi ích xã hội - chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp Việt Nam *
Trang 15Sau khi đã quy tính, hàng năm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu : Lãi (Lỗ), Lãi / tổng tài sản, Lãi/ Toàn bộ chi phí sinh lãi, Lãi ròng/ Vốn chủ sở hữu
Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh Vị thế cạnh tranh (lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức
ép mới Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với
Δ1 < Δ2 , là vị thế cạnh tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động đạt hiệu quả thấp hơn, xuất hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn
Trang 16Hình 1.1 Vị thế cạnh tranh () quyết định hiệu quả
Thực tế của Việt nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới luôn chỉ ra rằng : Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định
1.2 BẢN CHẤT, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Hoạt động kinh doanh có một số điểm tương tự như các hoạt động khác của con người, xong nó có cái khác về mục đích, phương pháp tiến hành Hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra hàng hóa và đem bán nó với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, đảm bảo sự bền lâu và người ta đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề đó là: Khía cạnh kinh tế (quan hệ lợi ích) và khía cạnh tâm
lý của các giải pháp, biện pháp, thường thì có sự quan tâm và liên quan đến lợi ích của nhiều người, diến ra trong một không gian, một khoảng thời gian
và điều kiện nhân - tài - vật lực có giới hạn và sự cạnh tranh quyết liệt Từ trước tới nay, con người luôn luôn tìm cách đổi mới cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao và bền lâu Chúng ta khẳng định rằng kinh doanh lớn trong bối cảnh hội nhập - cạnh tranh quốc tế chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được hoạch định, được đảm bảo về tổ chức, được điều phối, được kiểm tra, tức là được quản lý một cách nghiêm túc, khoa học hay nói cách khác là phải có trình độ lao động quản lý cao
Quản lý nền kinh tế quốc dân cũng như quản lý một doanh nghiệp có thể được xem như một hệ thống gồm có hai phân hệ: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng quản lý) Trong hệ thống, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ qua lại, được gọi là quan hệ quản lý Quan hệ quản lý trong lĩnh vực kinh tế bao giờ cũng là quan hệ giữa người với người Không nên nghĩ rằng, quan hệ quản lý chỉ đơn thuần là tác động một chiều
Trang 17giữa chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ tác động qua lại và gắn bó với nhau một cách hữu cơ trong hệ thống
Như vậy, quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý là những người lao động để tổ chức và phối hợp hoạt động của
họ trong qúa trình sản xuất xã hội nhằm đạt mục tiêu đã định
Hiện nay, có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Có ý kiến cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị, ý kiến khác lại cho rằng: Quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Các quan điểm này không có gì khác nhau về bản chất mà chỉ khác nhau ở chỗ dùng thuật ngữ
Quản lý được hiểu theo hai góc độ: Một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị - xã hội; hai là góc độ mang tính hành động thiết thực Cả hai góc độ này đều có cơ sở khoa học và thực tế
Theo góc độ chính trị, xã hội: Quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và
lao động Lịch sử xã hội loài người từ thời kỳ cổ đại đến thời đại văn minh cho thấy trong sự phát triển đó có 3 yếu tố nổi lên rõ nét, đó là: Tri thức, lao động và quản lý Trong 3 yếu tố này, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động, nếu kết hợp tốt thì xã hội phát triển tốt đẹp, nếu kết hợp không tốt thì sự phát triển sẽ chậm lại Sự kết hợp đó được biểu hiện trước hết ở cơ chế quản
lý, ở chế độ, chính sách, biện pháp quản lý và ở nhiều khía cạnh tâm lý xã hội, nhưng tựu chung lại là quản lý phải biết tác động bằng cách nào đó để người
bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ của mình
để sáng tạo ra lợi ích cho mình và cho xã hội
Theo góc độ hành động: Quản lý là điều khiển, theo quan niệm này
quản lý có 3 loại, các loại này đều có xuất phát điểm giống nhau là do con người điều khiển nhưng khác nhau về đối tượng
Trang 18- Loại thứ nhất là con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều khiển, loại này được gọi là quản lý sinh học, thiên nhiên, môi trường … Ví dụ như các nhà khoa học làm công tác lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi
- Loại thứ hai là con người điều khiển vật vô tri, vô giác để bắt chúng phát triển theo ý chí của người điều khiển, loại này được gọi là quản lý kỹ thuật Ví dụ điều khiển điều độ hệ thống điện, máy tính, vận hành thiết bị
- Loại thứ ba là việc con người điều khiển con người (quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá …) Là quản lý xã hội, được Các-Mác coi là chức năng đặc biệt sinh ra từ tính chất xã hội hoá của lao động
Từ những vấn đề trên, ta có thể khái quát: Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể là đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với định nghĩa này, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có một chủ thể quản lý tạo ra các tác động và phải có một đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là nhiều lần liên tục;
- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động;
- Chủ thể phải thực hành việc tác động lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý Chủ thể có thể là một người hay tập thể, còn đối tượng quản lý có thể là người (một hay nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin …) hoặc giới sinh vật (cây trồng, vật nuôi…)
Trang 19Khi nói đến quản lý là nói đến sự tác động hướng đích Tác động này nhằm vào một đối tượng nhất định để đạt được mục tiêu đề ra Hoạt động quản lý là một hoạt động chủ quan có ý thức, có tính năng động, sáng tạo, linh hoạt của một con người, một tập thể người quản lý
Trong các loại quản lý có quản lý doanh nghiệp: Quản lý doanh nghiệp
là quá trìn h tác động một cách có hệ thống, có tổ chức, có hướng đích của bộ máy quản trị doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, nhằm sử dụng mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội
Bộ máy quản lý với tư cách là cơ quan điều khiển hoạt động của toàn
bộ doanh nghiệp bao gồm cả khâu sản xuất kinh doanh trực tiếp cũng như khâu phụ trợ, phục vụ, cả hoạt động sản xuất tại doanh nghiệp cũng như hoạt động tiếp thị ngoài dây chuyền sản xuất, cả hệ thống tổ chức quản lý cũng như hệ thống các phương thức quản lý của doanh nghiệp
Bộ máy quản lý là lực lượng vật chất để chuyển những ý đồ, mục đích, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thành hiện thực, biến những nỗ lực chủ quan của mỗi thành viên trong doanh nghiệp thành hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bộ máy quản lý thường được xem xét trên 3 mặt:
- Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy;
- Cơ cấu tổ chức bộ máy;
- Lực lượng lao động quản lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy
Tổ chức bộ máy quản lý là dựa trên những chức năng, nhiệm vụ đã xác định của bộ máy để sắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng mô hình và làm cho toàn bộ hệ thống quản lý của doanh nghiệp hoạt động như một chỉnh
Trang 20thể có hiệu lực nhất Tổ chức bộ máy quản lý cũng đồng thời là việc tổ chức các khâu, các bộ phận quản lý, phân công nhiệm vụ quyền hạn và chỉ rõ vị trí của từng quản trị viên các cấp trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp Nó là công việc đầu tiên đối với một doanh nghiệp mới và là công việc thường xuyên đối với một doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh
Trên thực tế, khó có thể phân biệt 2 khái niệm bộ máy quản lý và tổ chức bộ máy quản lý Khi hình thành bộ máy quản lý cũng đồng thời là quá trình tổ chức các lực lượng quản lý và phân chia chức trách theo ý đồ của bộ tham mưu doanh nghiệp Tổ chức bộ máy quản lý là xét về trạng thái động, là
sự vận động của cả hệ thống quản lý trong không gian và thời gian, hướng vào những mục tiêu quản lý đã vạch ra Tổ chức bộ máy quản lý chính là bắt đầu sự vận hành bộ máy quản lý, không tách rời mục tiêu và nhiệm vụ của sản xuất kinh doanh
Con người quản lý là con người “tư duy - hành động” Điểm xuất phát
là “tư duy” và điểm đến là “hành động” và hành động đem đến những tư duy mới Cứ như thế phong cách và năng lực lãnh đạo được khẳng định và thăng hoa theo thời gian và hoàn cảnh Phong cách và năng lực lãnh đạo chính là tận dụng những phẩm chất của con người để đưa tập thể mình lãnh đạo vượt qua các thử thách để đạt mục tiêu đã định
Cán bộ quản lý doanh nghiệp (quản trị viên) là những người trong bộ máy điều hành doanh nghiệp, là lao động gián tiếp, lao động quản lý, là cán
bộ lao động quản trị ở các doanh nghiệp hay ở đơn vị kinh tế cơ sở
Cán bộ quản lý doanh nghiệp có 3 loại:
* Quản trị viên hàng đầu (quản trị viên cấp cao):
Bao gồm: Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc phụ trách từng phần việc; Giám đốc, các Phó Giám đốc phụ trách từng phần việc; phụ trách
Trang 21về đường lối, chiến lược, các công tác tổ chức hành chính của doanh nghiệp
Có thể nêu lên những nhóm công tác chính sau:
- Xác định mục tiêu của doanh nghiệp ở từng thời kỳ; phương hướng và các biện pháp lớn;
- Tạo dựng bộ máy quản trị doanh nghiệp: Phê duyệt về cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động, các vấn đề về nhân sự: tuyển dụng, lựa chọn quản trị viên cấp dưới, giao trách nhiệm, uỷ quyền, thăng cấp, quyết định mức lương…
- Phối hợp hoạt động của các bên liên quan;
- Xác định nguồn lực và đầu tư kinh phí cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
- Quyết định các biện pháp kiểm tra, kiểm soát như: chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra, đánh giá, khắc phục hậu quả;
- Chịu trách nhiệm hoàn toàn về mỗi quyết định ảnh hưởng tốt, xấu đến doanh nghiệp;
- Báo cáo trước Hội đồng quản trị và Đại hội công nhân viên chức
* Quản trị viên trung gian: bao gồm: Quản đốc phân xưởng, trưởng phòng
ban chức năng
Đó là đội ngũ những quản trị viên trung gian có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, đường lối của quản trị viên hàng đầu đã phê duyệt cho ngành mình, bộ phận chuyên môn của mình Như vậy, quản trị viên trung gian là người đứng đầu một ngành hoặc một bộ phận, là người chịu trách nhiệm trước quản trị viên hàng đầu
Nhiệm vụ của quản trị viên trung gian:
Trang 22- Nghiên cứu nắm vững những quyết định của quản trị viên hàng đầu về nhiệm vụ của ngành, của bộ phận mình trong từng thời kỳ, mục đích, yêu cầu, phạm vi quan hệ với các bộ phận, với các ngành khác;
- Đề nghị những chương trình, kế hoạch hoạt động, đưa ra mô hình tổ chức thích hợp, lựa chọn, đề bạt những người có khả năng vào những công việc phù hợp, chọn nhân viên kiểm tra, kiểm soát;
- Giao việc cụ thể cho từng nhân viên, tránh bố trí một người đảm nhận nhiều công việc không liên quan gì đến nhau;
- Dự trù kinh phí trình cấp trên phê duyệt và chịu trách nhiệm về việc sử dụng nguồn kinh phí ấy;
- Thường xuyên rà soát kết quả và hiệu quả của từng công việc;
- Báo cáo kịp thời với quản trị viên hàng đầu về kết quả vướng mắc theo dự
uỷ quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi công việc cuả đơn vị và việc làm của nhân viên cấp dưới;
Điều chú ý đối với quản trị viên trung gian:
- Phải nắm vững mục đích, ý định của cấp trên Báo cáo kịp thời cho cấp trên biết về các hoạt động của đơn vị mình;
- Tìm hiểu, xác định mối liên hệ của đơn vị mình với đơn vị khác và tìm cách phối hợp hoạt động nhiệt tình, chặt chẽ với các đơn vị có liên quan;
- Phải nắm vững lý lịch từng người trong đơn vị hướng dẫn công việc cho mọi người và đánh giá đúng mức kết quả của từng người, động viên khích
lệ họ làm việc
* Quản trị viên cơ sở: Bao gồm những quản trị viên thực thi những công việc
rất cụ thể
Trang 23Quản trị viên cơ sở có nhiệm vụ sau:
- Hiểu rõ công việc mình phụ trách, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch, lịch trình, tiêu chuẩn quy định về số lượng và chất lượng;
- Luôn cải tiến phương pháp làm việc, rèn luyện tinh thần kỷ luật lao động,
tự giác để trở thành thành viên đáng tin cậy của đơn vị, giữ gìn nơi làm việc gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ;
- Rèn luyện thói quen lao động theo tác phong công nghiệp;
- Báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng đơn vị, có tinh thần đồng đội
Theo GS, TS Đỗ Văn Phức, về mặt tổng thể, quản lý doanh nghiệp là
thực hiện những công việc có vai trò định hướng, điều tiết, phối hợp hoạt động của toàn bộ và của các thành tố hệ thống doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể Và quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp là tìm cách, biết cách tác động đến những con
thời hạn của sản phẩm, thuận tiện cho khách hàng
Quản lý doanh nghiệp là thực hiện nội dung (các loại công việc) sau đây:
- Lập kế hoạch kinh doanh;
- Đảm bảo tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ cho hoạt động của doanh nghiệp;
- Điều phối (Điều hành; Tổ chức thực hiện) hoạt động kinh doanh có quy mô lớn;
- Kiểm tra chất lượng của mọi sản phẩm, tiến độ thực hiện mọi công việc, mọi khoản chi, mọi nguồn thu; kiểm định chất lượng các sản phẩm quản
lý trước khi quyết định triển khai…
a Lập kế hoạch hoạt động kinh doanh
Trang 24Đó là quá trình lựa chọn trước hoạt động, các yếu tố cho hoạt động và phương thức tiến hành hoạt động sản xuất Kết quả của quá trình lập kế hoạch
là bản kế hoạch, nó bao gồm các nội dung như: Mục đích và mục tiêu hoạt động, nội dung quy mô, phương pháp thực hiện, địa điểm thời gian hoạt động, lãnh đạo, kinh phí,…
Nếu tiến hành kinh doanh theo một kế hoạch sai lầm chúng ta không chỉ thu được ít kết quả, lợi ích, tổn phí nhiều mà còn làm giảm sút lòng tin, làm cho con người uể oải, chán chường, tổ chức bị rối loạn Lập kế hoạch kinh doanh với mục đích là có được bản kế hoạch làm cơ sở cho việc chuẩn bị trước mọi thứ cần thiết cho sản xuất Bản kế hoạch chỉ được sử dụng khi nó đảm bảo chất lượng, chất lượng của nó phản ánh trình độ lập kế hoạch - trình
độ tìm hiểu, lựa chọn sản phẩm, các yếu tố cho hoạt động và phương pháp, cách thức tiến hành sản xuất trong tương lai
Phân tích, lựa chọn kế hoạch sản xuất - kinh doanh:
* Phân tích môi trường vĩ mô của doanh nghiệp
Môi trường kinh tế: Các yếu tố kinh tế chủ yếu gây ảnh hưởng đến
doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai là: Sự ổn định của nền kinh tế trong nước và khu vực, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, mức tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất thị trường, các chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp, chính sách thuế quan, chính sách kiểm soát lương bổng/giá cả, cán cân thanh toán,
sự tài trợ, những tác động vào nền kinh tế nước ta của quá trình toàn cầu hoá
Môi trường khoa học công nghệ: Sự phát triển khoa học công nghệ luôn
là vấn đề phải dè chừng trong sản xuất kinh doanh bởi chỉ trong một thời gian ngắn công nghệ doanh nghiệp đang có đã có thể trở nên lạc hậu, sự phát triển của nó không chỉ dừng lại ở một quốc gia hay khu vực nào Một công nghệ không chỉ được áp dụng cho môt ngành mà nó được ứng dụng trong nhiều
Trang 25ngành Bởi vậy khi áp dụng một công nghệ doanh nghiệp cần phải chú trọng đến việc phân tích dự báo khả năng biến động của công nghệ này dọc theo đường công nghệ, giới hạn tiềm năng của công nghệ đó và thời điểm “nhảy”
từ đường cong công nghệ này sang đường cong công nghệ khác hiện đại hơn
Môi trường văn hoá - xã hội: Các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi
các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến doanh nghiệp như: quan điểm về mức sống, phong cách sống, lao động nữ, ước vọng về nghề nghiệp, tính tích cực tiêu dùng…
Môi trường dân cư: Tỷ lệ tăng dân số, dịch chuyển dân số, tỷ lệ sinh đẻ Môi trường chính phủ, chính trị và pháp luật: Các quy định về chống
độc quyền, các luật về bảo vệ môi trường, các sắc luật về thuế, các chế độ đãi ngộ đặc biệt, các quy định trong lĩnh vực ngoại thương, các quy định về thuê mướn và khuyến mãi, mức độ ổn định của chính phủ, chính sách của chính phủ, các quy định về giao dịch hợp đồng kinh doanh, môi trường pháp luật nói chung, các điều luật về thành lập doanh nghiệp, luật lao động, luật chống độc quyền, luật giá cả, luật thuế
Môi trường tự nhiên: Sự ô nhiễm môi trường, sự thiếu hụt năng lượng,
sự lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngày nay các vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu hụt năng lượng, lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn nhân lực có hạn khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động liên quan
Môi trường toàn cầu: Toàn cầu hoá nền kinh tế…
* Phân tích môi trường vi mô
Trang 26- Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp:
Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp tác động rất lớn và mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp, được hình thành bởi 5 thế lực:
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại (cường độ cạnh tranh hiện tại của các đối thủ này): Doanh nghiệp cần tìm hiểu những thông tin và phân tích
những nỗi dung sau: số lượng các đối thủ cạnh tranh và các đối thủ ngang sức, tốc độ tăng trưởng của ngành, các doanh nghiệp có chi phí cố định và dự trữ lớn, sự phân hoá khách hàng, sự khác biệt giữa các đối thủ, những cản trở rút lui, đối thủ nào là cạnh tranh trực tiếp, khả năng tác động của các đối thủ
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Doanh nghiệp cần xem xét đánh
giá khả năng thâm nhập vào thị trường của các đối thủ mới từ đó xây dựng các rào cản khó khăn cho các đối thủ này bằng cách: tăng sản lượng sản phẩm
để làm giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, phân hoá sản phẩm làm các đối thủ mới ra nhập phải tốn kém về thời gian và tiền bạc mới có thể vượt qua được trở ngại này, ràng buộc các nhà cung cấp cũng như các khách hàng, sử dụng các lợi thế mà các doanh nghiệp khác không có được, liên kết với doanh nghiệp đang có để bảo vệ thị trường
Áp lực của nhà cung ứng: Bên cạnh việc doanh nghiệp có thể tạo
ra biện pháp ràng buộc với nhà cung ứng vật tư thì ngược lại nhà cung cấp vật tư cũng là nhà sản xuất họ cũng muốn được lợi nên thường tìm cách gây sức ép đối với doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây: họ độc quyền cung cấp vật tư cho doanh nghiệp, họ cung cấp những loại vật tư không có khả năng thay thế, khi doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của họ
Áp lực của khách hàng: Trong quan hệ giữa khách hàng và
doanh nghiệp thì ai là người mạnh hơn người đó sẽ có nhiều lợi thế, do đó một mặt doanh nghiệp phải tạo lập quan hệ khách hàng, mặt khác khách hàng
Trang 27có sức ép đối với doanh nghiệp Trên thực tế khách hàng gây sức ép với doanh nghiệp trong nhiều tình huống Khi họ là khách hàng chủ yếu, khi họ là khách hàng mua nhiều hay mua thường xuyên, khi họ có thể chi phí trong mua hàng của người khác để sử dụng, khi họ có thu nhập thấp, khi họ có đủ thông tin về nhu cầu giá cả trên thị trường và sản phẩm của doanh nghiệp
Sản phẩm thay thế: Đó là sản phẩm của những thị trường khác
nhưng có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường như sản phẩm chính chẳng hạn như khí đốt có thể thay thế cho dầu lửa, Email có thể thay thế cho phong cách gửi thư thông thường do vậy doanh nghiệp cần có sự đầu tư nghiên cứu tạo
ra những đặc tính phụ của sản phẩm để tránh bị tụt hậu hoặc bị khách hàng loại bỏ sang sử dụng hàng hoá thay thế
- Nội bộ doanh nghiệp:
Nguồn lực: Phân tích khả năng về nhân sự phân tích dự báo và
dự báo ở cả 3 cấp Ban giám đốc (thông qua trả lời câu hỏi sau các thành viên của ban giám đốc đã làm được gì đem lại cho doanh nghiệp, kinh nghiệm, trình độ, khả năng đánh giá và mối quan hệ với bên ngoài ra sao, các thành viên đã làm việc được bao lâu), cán bộ quản lý (quan tâm đến yếu tố sau kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và sự hiểu biết về kinh doanh như thế nào), đốc công và công nhân (trả lời những câu hỏi doanh nghiệp có chương trình kế hoạch toàn diện về nguồn nhân lực, doanh nghiệp quan tâm đến chương trình đào tạo và phát triển như thế nào, doanh nghiệp đã nhấn mạnh vào việc đánh giá quá trình thực hiện như thế nào
Khả năng huy động vốn ngắn hạn, dài hạn: nguồn vốn Công ty ;
chi phí so với toàn ngành và các đối thủ cạnh tranh; các vấn đề về thuế; quan
Trang 28hệ với những người chủ sở hữu người đầu tư và cổ đông; tình hình vay lãi thế chấp; vốn lưu động; quy mô tài chính; hệ thống kế toán
Nguồn thông tin: Khả năng thu thập thông tin
Triết lý kinh doanh: Nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch chiến lược,
chính sách… trong từng kỳ
Cơ cấu tổ chức: cho phép chúng ta tổ chức và sử dụng hợp lý các
nguồn lực Nó cũng cho phép chúng ta xác định rõ mối tương quan giữa các hoạt động cụ thể và những trách nhiệm quyền hạn gắn liền với những cá nhân, phân hệ của cơ cấu Nó trợ giúp cho việc ra quyết định bởi các luồng thông tin rõ ràng Nó giúp xác định cơ cấu quyền lực cho tổ chức
Nếu cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp thích nghi với môi trường thì sẽ tồn tại và thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả Ngược lại, thiếu một cơ cấu hợp lý sẽ gây ra nhiều vấn đề khó khăn phức tạp cho công tác quản trị Người ta tính rằng, khoảng 75% đến 80% các vấn đề khó khăn gây ra trong công tác quản trị phải giải quyết bắt nguồn từ những nhược điểm của công tác tổ chức Những phí phạm đáng lo ngại nhất làm cho người ta phải lo ngại là những phí phạm về tinh thần làm việc và năng lực sáng tạo của nhân viên do tổ chức kém cỏi gây nên, phần lớn những khuyết điểm mắc phải trong một tổ chức là do người ta coi thường các nguyên tắc của tổ chức
Văn hoá tổ chức: phát triển môi trường văn hoá phù hợp với yêu
cầu, mục đích tôn chỉ của doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt
là trong nền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta Nhiều thập kỷ áp dụng cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tạo nên tính ỷ lại, trong chờ vào cấp trên, vào Nhà nước…đã làm giảm đi tính chủ động, năng động và sáng tạo của các người lao động Quản trị nguồn nhân lực cần phải phát huy các giá trị truyền
Trang 29thống tốt đẹp sẵn có trong doanh nghiệp, chủ động thúc đẩy việc hình thành các giá trị văn hoá tốt đẹp mới, góp phần tích cực vào việc thực hiện các chiến lược và kế hoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời góp phần phát triển các giá trị đạo đức, văn hoá trong xã hội
Ngoài ra còn các yếu tố khác: Yếu tố nghiên cứu phát triển, yếu tố Marketing…
Như vậy, để đưa ra được kế hoạch phù hợp sát với yêu cầu của Doanh nghiệp thì đội ngũ cán bộ tham gia lập kế hoạch phải là những người có kinh nghiệm về thị trường, về đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là về sản phẩm của Doanh nghiệp Kết quả của kế hoạch là bản kế hoạch, chất lượng hiệu quả của bản kế hoạch chỉ được thể hiện sau một thời gian nhất định, có thể là tháng, quý, năm, tuỳ theo mức độ chi tiết của bản kế hoạch đó Chính vì vậy, trong mọi khâu của lập kế hoạch đều đòi hỏi sự chính xác tối đa đến mức có thể, trước hết là sự theo dõi sát sao tình hình biến động về kinh tế, chính trị, xã hội, các chính sách của quốc gia để nhận ra cơ hội kinh doanh là công việc rất cần thiết và đòi hỏi một tầm nhìn, khả năng tư duy chiến lược để cạnh tranh được với đối thủ, giành giật những điều kiện có lợi cho bản thân Doanh nghiệp điều này đương nhiên chỉ có thể đem lại hiệu quả khi những cơ hội, lợi thế, được nhận diện một cách đúng đắn và chân thực bởi đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự Bởi vì những thông tin tổng hợp được sẽ được đệ trình lên giám đốc- nhà quản trị tối cao, tất yếu là Giám đốc sẽ phải dựa vào những thông tin đó để xem xét các vấn đề khác phục vụ cho Doanh nghiệp Như vậy, trong khâu đầu tiên của quá trình quản trị, đã phản ánh được phần nào chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý ở khía cạnh xác định đúng hướng đi trong tương lai của Doanh nghiệp, một nhận định đúng sẽ làm nên hướng đi đúng - điều này tạo một thế chủ động và một thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp
Trang 30b Tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp
Đảm bảo tổ chức cho doanh nghiệp là thiết lập, không ngừng hoàn thiện
cơ cấu tổ chức quản lý và xác định, không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực , không có hệ thống tổ chức thì không thể điều hành, kiểm soát được hoạt động quy mô phức tạp lớn
Cơ cấu tổ chức bao gồm các cấp, các bộ phận, các đối tượng quản lý và các quan hệ trực thuộc, phối hợp giữa chúng Có nhiều kiểu tổ chức quản lý, tuy nhiên với bất kỳ mô hình nào khi áp dụng thì cũng phải đảm bảo được các yếu tố về tính hiệu quả, tính hợp lý, tính thống nhất trong từng bộ phận và trong toàn bộ hệ thống
Như vậy, cán bộ quản trị phải làm nhiệm vụ là xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí làm việc dù là lao động chân tay hay là vị trí quản lý Không thể đạt hiệu quả hoạt động cao khi mà đưa một người chỉ có chuyên môn về quản lý đi làm công việc sản xuất trực tiếp hay ngược lại Công tác này đòi hỏi cán bộ quản lý phải có chuyên môn sâu về mức độ am hiểu công việc, am hiểu con người lao động,…
c Điều phối (điều hành) hoạt động của doanh nghiệp
Là hoạt động điều hành, phối hợp tất cả các hoạt động bộ phận trong Doanh nghiệp đã được thiết lập nhằm thực hiện những gì đã hoạch định Như vậy, đây chính là khâu cụ thể hoá công việc bằng cách lập kế hoạch tác nghiệp, chuẩn bị các yếu tố sản xuất và phân công nhiệm vụ cụ thể cho người lao động sao cho đảm bảo được sự hài hoà giữa các khâu, các bộ phận về mặt công viêc, môi trường lao động, quyền lợi cá nhân và tập thể Trong công tác điều phối, với công việc là chuẩn bị mọi điều kiện về vật chất kỹ thuật, đôn đốc thực hiện nhằm đạt được các yêu cầu về mục tiêu sản xuất, giảm thiểu sai
Trang 31phạm, tạo điều kiện cho tái sản xuất, thì cán bộ quản lý phải hiểu biết nhu cầu, động cơ hoạt động và tính cách của từng loại người, từng con người cụ thể Trong hoạt động tập thể con người không làm tốt việc gì thường do một hoặc
cả hai nguyên nhân là: không biết cách làm, không được tạo động cơ Như vậy, một trong những thách thức lớn nhất đối với cán bộ quản lý là tìm cách kích thích hay tạo được động cơ đúng và mạnh cho người lao động Việc này đòi hỏi nhà quản lý phải biết được nhu cầu cấp thiết nhất sau đó tạo ra các hoạt động có khả năng thoả mãn được các nhu cầu đó Tuy nhiên, cũng phải nhận thức đúng trình độ của người lao động để lựa chọn quyết định phân công sao cho vừa thoả mãn nhu cầu và đạt được lợi ích tối đa cho Doanh nghiệp
d Kiểm tra trong quản lý của doanh nghiệp
Kiểm tra là quá trình xem xét, phát hiện những sai lệch so với những gì
đã hoạch định, đã thiết kế để kịp thời xử lý, điều chỉnh Trong sản xuất kinh doanh, kiểm tra là khâu rất quan trọng, nếu không thì chắc chắn hiệu lực quản
lý sẽ thấp Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra là phải cung cấp cho chủ thể quản lý kết quả tương đối khách quan, chính xác và kịp thời Để đáp ứng yêu cầu kiểm tra đó, thì công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách khoa học
và phải có lực lượng kiểm tra mạnh, hiện đại
Trong khâu kiểm tra, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động kiểm tra là phải cung cấp cho chủ thể quản lý kết quả tương đối khách quan, chính xác và kịp thời Đây là yêu cầu quan trọng nhất và cũng là yêu cầu khó đáp ứng nhất Vì cán bộ quản lý thực hiện kiểm tra phải dựa vào các tài liệu, số liệu do con người lưu lại và phản ánh Tuy nhiên, mỗi con người đều có những quan điểm riêng của bản thân về hiện tượng sự vật nên kết quả phản ánh có thể không đồng nhất giữa các cá nhân vì vậy, phải có một lực lượng kiểm tra mạnh và hiện đại, cũng như phải tiến hành kiểm tra một cách khoa học hợp lý
Trang 32Trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp phải được nhận biết, đánh giá trên cơ sở chất lượng thực hiện bốn loại công việc nêu ở trên
Hình 1 2 Hệ thống quản lý
Hình 1.3 Các nhân tố nội bộ của hiệu quả kinh doanh
đường lối, chiến lược, kế hoạch
Tích cực sáng tạo trong lao động
Trang 33Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm đầu ra, hiệu quả hoạt động, phát triển của doanh nghiệp
Theo giai đoạn của quá trình hoạt động của doanh nghiệp được tách lập phân định thành: Loại nghiên cứu đưa ra các ý tưởng, thiết kế và thi công Khả năng lao động của doanh nghiệp theo cách phân loại này phải có lượng chất đáp ứng, phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại, tương lai Ba loại người
Trình độ
và động
c ơ làm việc của
ng ười lao động
Trình
độ khoa học công nghệ
Chất
l ượng sản phẩm
Giá thành sản phẩ m
Khả
n ăng cạnh tranh củasản phẩm
Hiệu quả kinh doanh
Trang 34này phải có quan hệ tỷ lệ (cơ cấu) hợp lý, có sức mạnh hợp thành lớn nhất và trong đó loại người nghiên cứu đưa ra các ý tưởng đóng vai trò hết sức quan trọng Một ý tưởng đúng sẽ giúp cho doanh nghiệp đi đúng hướng và sẽ tồn tại và phát triển bền vững, ngược lại một ý tưởng không đúng đắn doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn thậm chí dẫn đến phá sản
Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần đặc biệt quan tâm đầu tư (chính sách thu hút và sử dụng hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh) để có bộ
ba nhân lực mạnh đồng bộ: Đội ngũ cán bộ quản lý chiến lược, điều hành; chuyên gia công nghệ và thợ lành nghề Đội ngũ cán bộ quản lý là lực lượng
có trình độ cao, là trụ cột của doanh nghiệp và khi tạo được động cơ làm việc đúng đắn họ sẽ tạo ra nhiều sản phẩm sáng tạo ở cả ba khâu và làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp tăng nhanh, mạnh và bền vững
Ở Doanh nghiệp người chủ (Hội đồng quản trị, giám đốc) phải giải quyết các vấn đề như:
1 Lựa chọn chiến lược, phương án kinh doanh
2 Mua, bán, chuyển nhượng và thanh lý tài sản trị giá lớn
Trang 35chọn hoạt động nên phải có hiệu quả cả ở dạng tuyệt đối và tương đối, tức là phải lấy kết quả (lợi ích) trừ đi chi phí và lấy kết quả (lợi ích) chia cho chi phí
Thực tế luôn chỉ rõ rằng, chất lượng của cả đội ngũ cán bộ quản lý (sức mạnh quyết định các loại khả năng lao động khác) đến đâu hoạt động của doanh nghiệp trúng đến đó, trôi chảy đến đó: chất lượng, chi phí của các yếu tốt đầu vào khác cao thấp đến đó: chất lượng sản phẩm trung gian, năng lực cạnh tranh của sản phẩm đầu ra đến đó, hiệu quả cao đến đó… Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp cao hay thấp quyết định cơ bản đến
năng lực cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp đó
Trình độ quản lý kinh doanh được nhận biết, đánh giá thông qua hiệu lực quản lý Hiệu lực quản lý được nhận biết, đánh giá thông qua chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý Chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các cơ sở, căn cứ Chất
lượng của các cơ sở, căn cứ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tiến bộ của
phương pháp, mức độ đầu tư cho quá trình nghiên cứu tạo ra chúng
Hiệu lực quản lý là tập hợp những diễn biến, thay đổi ở đối tượng quản
lý khi có tác động của chủ thể quản lý Hiệu lực quản lý cao khi có nhiều diễn biến, thay đổi tích cực ở đối tượng quản lý do tác động của chủ thể quản lý Thay đổi, diễn biến tích cực là thay đổi, diễn biến theo hướng đem lại lợi ích cho con người, phù hợp với mục đích của quản lý; Chất lượng của quyết định, giải pháp, biện pháp quản lý, chất lượng sản phẩm của từng loại công việc quản lý được đánh giá trên cơ sở xem chúng được xét tính đầy đủ đến đâu các mặt, các yếu tố ảnh hưởng và trên cơ sở xem xét chất lượng (độ tin cậy) của các số liệu, thông tin (căn cứ) sử dụng
Trang 36Như vậy, khi các quyết định, giải pháp, biện pháp quản lý kinh doanh
có đầy đủ, chính xác, căn cứ khoa học là khi chúng có chất lượng đảm bảo Với quyết định chất lượng; các yếu tố cho tiến hành có mức độ tiến bộ phù hợp, người lao động trong doanh nghiệp tích cực, sáng tạo, doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cao, không ngừng phát triển
Hình 1.5 Quan hệ trình độ quản lý doanh nghiệp với hiệu quả kinh doanh
Thực tế khẳng định rằng: lãnh đạo, quản lý yếu kém là nguyên nhân sâu xa, quan trọng nhất của tình trạng:
• Thiếu việc làm; Thiếu vốn, tiền chi cho hoạt động kinh doanh;
• Công nghệ, thiết bị lạc hậu;
• Trình độ và động cơ làm việc của đông đảo người lao động thấp;
• Chất lượng sản phẩm không đáp ứng yêu cầu của người sử dụng;
• Lãng phí nhiều, chi phí cao, giá thành đơn vị sản phẩm cao, giá chào bán không có sức cạnh tranh;
0
Hiệu quả kinh doanh
Trình độ quản lý doanh nghiệp
a +
-
Trang 371.3 BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1.3.1 Cán bộ quản lý doanh nghiệp:
Thực tế hoạt động của các doanh nghiệp luôn chứng minh rằng, chất lượng thực hiện các loại công việc quản lý doanh nghiệp cao đến đâu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cao đến đó Chất lượng thực hiện các loại công việc quản lý doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý quyết định Cán bộ quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp
hoặc tham gia đảm nhiệm cả bốn loại (chức năng) quản lý ở doanh nghiệp Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp là tất cả những người có quyết định bổ nhiệm và phụ cấp trách nhiệm quản lý của doanh nghiệp đó
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp là kết tinh từ chất lượng của cán bộ quản lý của doanh nghiệp đó Chất lượng cán bộ quản lý doanh
nghiệp phải được thể hiện, nhận biết, đánh giá bởi mức độ sáng suốt trong các tình huống phức tạp, căng thẳng và mức độ dũng cảm
Không sáng suốt không thể giải quyết tốt các vấn đề quản lý Các vấn
đề, các tình huống nảy sinh trong quá trình quản lý rất nhiều, phức tạp và
căng thẳng, liên quan đến con người, lợi ích của họ Do vậy, để giải quyết, xử
lý được và nhất là tốt các vấn đề, tình huống quản lý người cán bộ quản lý phải có khả năng sáng suốt Khoa học đã chứng minh rằng, người hiểu, biết sâu, rộng và có bản chất tâm lý tốt (nhanh trí và nhạy cảm gọi tắt là nhanh nhạy) là người có khả năng sáng suốt trong tình huống phức tạp, căng thẳng
Cán bộ quản lý SXCN phải là người hiểu biết nhất định về thị trường, về hàng hoá, về công nghệ, hiểu biết sâu sắc trước hết về bản chất kinh tế của các quá trình diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp, hiểu biết sâu sắc về
Trang 38con ng ười và về phương pháp, cách thức (công nghệ) tác động đến con
ng ười Cán bộ quản lý phải là người có khả năng tư duy biện chứng, tư duy hệ thống, tư duy kiểu nhân - quả liên hoàn, nhạy cảm và hiểu được những gì mới, tiến bộ, dũng cảm áp dụng những gì mới, tiến bộ vào thực tế
Quản lý theo khoa học là thường xuyên thay đổi cung cách quản lý theo hướng tiến bộ, là làm các cuộc cách mạng về cách thức tiến hành hoạt động nhằm thu được hiệu quả ngày càng cao Mỗi cung cách lãnh đạo, quản lý mà cốt lõi của nó là định hướng chiến lược, chính sách, chế độ, chuẩn mực đánh giá, cách thức phân chia thành quả là sản phẩm hoạt động và là nơi gửi gắm lợi ích của cả một thế lực đồ sộ Do vậy, làm quản lý mà không dũng cảm thì khó thành công
Bảng 1.1 Tỷ trọng đảm nhiệm các chức năng của các cấp cán bộ quản lý
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (%)
Lập kế hoạch
Đảm bảo tổ chức bộ máy và
(Nguồn: Theo sách Quản lý doanh nghiệp – GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức)
Trang 39Giám đốc (Quản đốc) doanh nghiệp sản xuất công nghiệp là người phải quyết định lựa chọn trước hoạt động kinh doanh cụ thể có triển vọng sinh lợi nhất, các yếu tố phục vụ cho việc tiến hành hoạt động kinh doanh, phương pháp (công nghệ) hoạt động phù hợp, tiến bộ nhất có thể; phân công, bố trí lao động sao cho đúng người, đúng việc, đảm bảo các điều kiện làm việc, phối hợp các hoạt động thành phần một cách nhịp nhàng, đúng tiến độ; lo quyết định các phương án phân chia thành quả sao cho công bằng (hài hoà lợi ích), thu phục người tài, điều hoà các quan hệ
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn giám đốc, quản đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam 2005
Tiêu chuẩn Giám DN SXCN đốc Quản đốc DN SXCN
3 Đào tạo về quản lý kinh doanh Đại học Cao đẳng
4 Kinh nghiệm quản lý thành công Từ 5 năm Từ 3 năm
5 Có n ăng lực dùng người, tổ chức quản lý + +
6 Có khả năng quyết đoán, khách quan,
7 Có trách nhiệm cao đối với quyết định + +
Trang 40Bảng 1.3 Tiêu chuẩn giám đốc, quản đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam 2010
Tiêu chuẩn Giám DN SXCN đốc Quản đốc DN SXCN
3 Đào tạo về quản lý kinh doanh Đại học Cao đẳng
4 Kinh nghiệm quản lý thành công Từ 5 năm Từ 3 năm
5 Có n ăng lực dùng người, tổ chức quản lý + +
6 Có khả năng quyết đoán, khách quan,
7 Có trách nhiệm cao đối với quyết định + +
(Nguồn: Theo sách Quản lý doanh nghiệp – GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức)
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn giám đốc, quản đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam 2015
Tiêu chuẩn Giám DN SXCN đốc Quản đốc DN SXCN
3 Đào tạo về quản lý kinh doanh Cao học Đại học
4 Kinh nghiệm quản lý thành công Từ 5 năm Từ 3 năm