Chiến lược phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam từ nay đến năm 2015 tiến hành đổi mới tổ chức, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học bách khoa hà nội
-
Nguyễn Cao Tuấn
Một số giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
của Công ty điện thoại Hà nội 1
Luận văn thạc sĩ
Hà Nội - Năm 2007
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học bách khoa hà nội
-
Nguyễn Cao Tuấn
Một số giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
của Công ty điện thoại Hà nội 1
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Luận văn thạc sĩ
Người hướng dẫn khoa học:
GS-TS Đỗ văn phức
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu 3
Phần I: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 7
1.1 Bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 7
1.2 Bản chất, nội dung và vai trò của Quản lý doanh nghiệp 9
1.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp 15
1.4 Các nhân tố và hướng giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp 25
Phần 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý ở Công ty Điện thoại Hà nội 1 29
2.1 Đặc điểm sản phẩm - khách hàng, đặc điểm công nghệ và tình hình hiệu quả hoạt động của Công ty một số năm gần đây 29
2.1.1 Đặc điểm sản phẩm - khách hàng 33
2.1.2 Đặc điểm công nghệ 36
2.1.3 Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh 37
2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 38
2.2.1 Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu về mặt toàn bộ và cơ cấu các loại cán bộ quản lý trong Công ty 38
2.2.2 Đánh giá về cơ cấu giới tính 39
2.2.3 Đánh giá về cơ cấu khoảng tuổi 40
2.2.4 Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu về mặt ngành nghề, về trình độ chuyên môn được đào tạo theo thống kê 41
2.2.5 Đánh giá mức độ đáp ứng về năng lực, phẩm chất của cán bộ quản lý theo các kết quả khảo sát 48
Trang 42.2.6 Đánh giá chất lượng công tác quản lý theo kết quả khảo sát 52 2.2.7 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Công ty 53 2.2.8 Đánh giá tổng hợp chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý của Công
ty qua các nội dung đáp ứng 54 2.3 Những yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của
Công ty Điện thoại Hà nội 1 trong thời gian qua 55 2.3.1 Về mức độ sát đúng của kết quả xác định nhu cầu, quy hoạch cán
bộ quản lý 55 2.3.2 Về mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút chuyên gia quản lý và
hợp lý hóa của tổ chức đào tạo bổ sung 56 2.3.3 Về mức độ hợp lý của tiêu chuẩn, quy trình xem xét bổ nhiệm cán bộ
quản lý 57 2.3.4 Về mức độ hợp lý của phương pháp đánh giá thành tích và mức độ
hấp dẫn của chế độ đãi ngộ cho các loại cán bộ quản lý 64 2.3.5 Về mức độ hấp dẫn của chính sách và mức độ hợp lý của tổ chức
đào tạo nâng cao trình độ cho các loại cán bộ quản lý 71
Phần 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 75
3.1 Những thách thức, yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ quản lý của
Công ty Điện thoại Hà nội 1 75 3.2 Đổi mới tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm cán bộ quản lý 77 3.3 Đổi mới chính sách thu hút và sử dụng cán bộ quản lý giỏi 81 3.4 Đổi mới chính sách và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho
từng loại cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 89
Tài liệu tham khảo 104
Trang 5Mở đầu
Sự cần thiết của đề tài
Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật thuộc cơ sở hạ tầng thông tin xã hội Sự phát triển của ngành có tác động tích cực đến tốc độ phát triển các ngành kinh tế quốc dân khác Trong thời gian qua nhờ đạt được những thành tựu khoa học
kỹ thuật to lớn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các công nghệ Viễn thông liên tục đổi mới và cho ra đời hàng loạt các dịch vụ mới Hầu hết các dịch vụ mới này
đều có khả năng thay thế các dịch vụ cũ bởi chúng đưa ra nhiều tính năng mới, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của khách hàng Bên cạnh đó, khách hàng cũng có xu hướng tiếp cận nhanh chóng các dịch vụ mới Như vậy, đặc thù của lĩnh vực viễn thông là công nghệ phát triển nhanh chóng, các dịch vụ mới liên tục được cung cấp trên thị trường có khả năng thay thế các dịch vụ thông tin trước đây Điều đó làm cho số lượng và cơ cấu khách hàng sử dụng các dịch vụ Viễn thông thường xuyên thay đổi
Chuẩn bị cho kế hoạch tham gia nền kinh tế mở cạnh tranh với các hãng viễn thông mạnh trên thế giới, khi gia nhập vào nền kinh tế thế giới WTO, được sự quan tâm của Chính phủ lấy nghành Bưu chính Viễn thông làm thí điểm thành lập một tập đoàn kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh bước vào nền kinh tế hội nhập Ngày
26 tháng 3 năm 2006 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam đã ra mắt đánh dấu một giai đoạn đổi mới cả về chất và lượng, để làm thay đổi cả về chất và lượng của một doanh nghiệp lớn là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với các nhà lãnh đạo Chiến lược phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam từ nay đến năm 2015 tiến hành đổi mới tổ chức, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ… Việc đổi mới được thực hiện đồng bộ từ cấp trên xuống các đơn vị sản xuất theo mô hình Tập đoàn Bưu chính Viễn thông mới:
Công ty Điện thoại Hà nội 1 là thành viên trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam, là đơn vị trực tiếp sản xuất, quản lý và phát triển hệ thống mạng viễn thông điện thoại cố định và các hệ thống mạng dịch vụ viễn thông mới
Trang 6trên địa bàn Thủ đô Hà nội, là một đơn vị tạo ra các sản phẩm cung cấp trực tiếp cho khách hàng Để cung cấp và phục vụ một cách tốt nhất cho khách hàng trên địa bàn thủ đô Công ty Điện thoại Hà nội 1 đồng thời có một đội ngũ cán bộ quản lý,
đội ngũ công nhân với bề dày kinh nghiệm quản lý và phát triển đã xây dựng và phát triển hệ thống mạng viễn thông với dung lượng từ 20.000 số điện thoại vào những năm 90 đến nay đạt con số trên 800.000 số điện thoại và các hệ thống mạng Inter Net băng rộng, Mạng truyền số liệu đa dịch vụ hiện đại, đáp ứng nhu cầu về thông tin trên địa bàn thủ đô và phục vụ công tác chỉ đạo của các cơ quan Đảng, chính quyền trung ương xuống các địa phương
Tuy vậy, ngày nay khi cạnh tranh ngày càng quyết liệt: từ chỗ có một nhà cung cấp trước đây nay đã và sẽ có nhiều nhà cung cấp lớn khác, với công nghệ ngày càng phát triển mạnh cả về thiết bị dịch vụ lẫn công nghệ quản lý, đồng thời trước xu thế hội nhập quốc tế, trải qua một thời kỳ dài của cơ chế bao cấp, cơ chế
độc quyền trước đây, đến nay với đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại
Hà nội 1 nói riêng đã bộc lộ không ít những yếu kém, bất cập, trì trệ trong công tấc quản lý, trong đội ngũ cán bộ quản lý, phương pháp quản lý v v
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Vận dụng các nguyên lý, phương pháp khoa học để đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý hiện nay của Công ty Điện thoại Hà nội 1 và tìm ra các nguyên nhân, hạn chế cần bổ sung để :
Đưa ra một số giải pháp chiến lược thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 trong giai đoạn cạnh tranh mới
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tiêu chuẩn hiện trạng của đội ngũ cán bộ để từ đó đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm đổi mới các tiêu chuẩn cán
bộ, đổi mới một số chính sách nhằm thu hút đội ngũ cán bộ có trình độ cao, quy trình bổ nhiệm, trên cơ sở đó đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ không ngừng
Trang 7nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Công ty Điện thoại Hà nội 1 nói riêng và của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam nói chung, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ trước tình hình mới
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn này chủ yếu nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý từ các phòng ban chức năng đến các đội ngũ cán
bộ quản lý của các đài đội đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty Điện thoại Hà nội 1
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sử dụng các phương pháp so sánh thống kê, khảo sát phân tích, phương pháp chuyên gia
Kết quả của đề tài
Sau khi nghiên cứu, thực hiện đề tài tác giả thu được các kết quả đáng kể sau :
Lần đầu tiên có được bài bản đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp ;
Lần đầu tiên đánh giá một cách toàn diện, đúng đắn thực trạng chất lượng
đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 năm 2006
Lần đầu tiên đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1 một cách đồng bộ, mạnh mẽ
Kết cấu của đề tài
Luận văn với đề tài: "Một số giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1", ngoài phần mở
đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 phần chính như sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp
Phần 2: Đánh giá, phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản
Trang 8lý ở Công ty Điện thoại Hà nội 1
Phần 3: Một số giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1
Trong quá trình hoàn thiện đề tài này, Tác giả xin trân thành cảm ơn thày: GS,TS Đỗ Văn Phức đã giúp đỡ nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình biên soạn, cũng như những tài liệu khoa học của thày là cơ sở nghiên cứu là thước đo để làm cơ sở cho việc đánh giá và sự thành công của đề tài này
Trang 9Phần I: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
1.1 Bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
Nhu cầu trao đổi hàng hóa và vật chất, con người phải tiến hành một loạt hoạt động, trong đó hoạt động kinh tế (hoạt động kinh doanh) là hoạt động trọng tâm các tổ chức hoạt động kinh doanh nhằm vào việc thoả mãn nhu cầu của người khác và để có thu thoả mãn nhu cầu của chính mình được gọi là hoạt động kinh tế, hay nói cách khác là hoạt động kinh doanh Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, lợi nhuận, tạo lập hoặc củng cố vị thế của mình với kỳ vọng đạt hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế Doanh nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ…
Khi cạnh tranh ngày càng sòng phẳng, quyết liệt chúng ta càng phải hiểu
đúng và nghiêm túc xuất phát từ bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp
để giải quyết tất cả các vấn đề, tình huống có liên quan
Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao bền lâu nhất có thể Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được
từ hoạt động của doanh nghiệp quy tính thành tiền (mức độ đạt được mục tiêu) với tất cả các chi phí (mức giá phải trả) cho việc có được các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để có cơ sở xem xét, so sánh đi đến quyết định lựa chọn mỗi khi cần Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích Do lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp
cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình ( tiền tăng
Trang 10thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn - việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trương sinh thái, môi trường chính trị - xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tương đối chính xác
Theo đề tài nghiên cứu khoa học do GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức làm chủ trì
đề tài [12,tr 16 và 17], mỗi khi phải tính toán, so sánh các phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ảnh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội và môi trường sinh thái như sau :
Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh Vị thế cạnh tranh (lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức
Trang 11độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức ép mới Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong cạnh tranh Δ1 < Δ2, là vị thế cạnh tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động đạt hiệu quả thấp hơn, xuất hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn
Hình 1.1 Vị thế cạnh tranh () quyết định hiệu quả
Thực tế của Việt nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới
luôn chỉ ra rằng : Vi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định
1.2 Bản chất, nội dung và vai trò của Quản lý doanh nghiệp
Quản lý doanh nghiệp là thực hiện những công việc có vai trò định hướng,
điều tiết, phối hợp hoạt động của toàn bộ và của các thành tố thuộc hệ thống doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao bền lâu nhất có thể Và quản lý điều hành hoạt
1 < 2 Ta
T1 T2
Thời gian
Đối thủ cạnh tranh
Trang 12động của doanh nghiệp là tìm cách, biết cách tác động đến những con người, nhóm người để họ tạo ra và luôn duy trì ưu thế về chất lượng, giá cả, vòng đời của sản phẩm, thuận tiện cho khách hàng
Quản lý doanh nghiệp là thực hiện các nội dung (các loại công việc) sau
đây:
Hình 1.2 Các nhân tố nội bộ của hiệu quả kinh doanh
- Lập kế hoạch kinh doanh;
- Đảm bảo tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ cho hoạt động của doanh nghiệp;
- Điều phối (Điều hành) hoạt động của doanh nghiệp;
- Kiểm tra chất lượng của mọi sản phẩm, tiến độ thực hiện mọi công việc, mọi khoản chi, mọi nguồn thu; kiểm định chất lượng các sản phẩm quản lý trước khi quyết định triển khai…
a) Lập kế hoạch hoạt động kinh doanh
Đó là quá trình lựa chọn trước hoạt động, các yếu tố cho hoạt động và phương thức tiến hành hoạt động sản xuất Kết qủa của quá trình lập kế hoạch là bản kế hoạch, nó bao gồm các nội dung như: Mục đích và mục tiêu hoạt động, nội dung
đường lối, chiến lược, kế hoạch
Tích cực sáng tạo trong lao động
H I ệ u q u ả k I n h d o a n h
Trang 13phí,…
Nếu tiến hành kinh doanh theo một kế hoạch sai lầm chúng ta không chỉ thu
được ít kết quả, lợi ích, tổn phí nhiều mà còn làm giảm sút lòng tin, làm cho con người uể oải, chán chường, tổ chức bị rối loạn Lập kế hoạch kinh doanh với mục
đích là có được bản kế hoạch làm cơ sở cho việc chuẩn bị trước mọi thứ cần thiết cho sản xuất Bản kế hoạch chỉ được sử dụng khi nó đảm bảo chất lượng, chất lượng của nó phản ánh trình độ lập kế hoạch - trình độ tìm hiểu, lựa chọn sản phẩm, các yếu tố cho hoạt động và phương pháp, cách thức tiến hành sản xuất trong tương lai
b) Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Đảm bảo tổ chức cho doanh nghiệp là thiết lập, không ngừng hoàn thiện cơ cấu
tổ chức quản lý và xác định, không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực, không có hệ thống tổ chức thì không thể điều hành, kiểm soát… được hoạt
bộ quản lý phải có chuyên môn sâu về mức độ am hiểu công việc, am hiểu về con người lao động,…
c) Điều phối (điều hành) hoạt động của doanh nghiệp
Điều phối là cho vận hành và phối hợp hoạt động của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp đã được thiết lập nhằm thực hiện những gì đã hoạch định Như vậy,
đây chính là khâu cụ thế hoá công việc bằng cách lập kế hoạch tác nghiệp, chuẩn
Trang 14bị các yếu tố sản xuất và phân công nhiệm vụ cụ thể cho người lao động sao cho
đảm bảo được sự hài hoà giữa các khâu và tập thể Trong công tác điều phối, với công việc là chuẩn bị mọi điều kiện vật chất kỹ thuật, đôn đốc thực hiện nhằm đạt
được các yêu cầu về mục tiêu sản xuất, giảm thiểu sai phạm, tạo điều kiện cho tái sản xuất, thì cán bộ quản lý phải hiểu biết nhu cầu, động cơ hoạt động và tính cách của từng loại người, từng con người cụ thể Trong hoạt động tập thể con người không làm tốt việc gì thường do một hoặc cả hai nguyên nhân là: không biết cách làm, không được tạo động cơ Như vậy, một trong những thách thức lớn nhất đối với cán bộ quản lý là tìm cách kích thích hay tạo được động cơ đúng và mạnh cho người lao động Việc này đòi hỏi nhà quản lý phải biết được nhu cầu cấp thiết nhất sau đó tạo ra các hoạt động có khả năng thoả mãn được các nhu cầu đó Tuy nhiên, cũng phải nhận thức đúng trình độ của người lao động để lựa chọn quyết định phân công sao cho vừa thoả mãn nhu cầu và đạt được lợi ích tối đa cho doanh nghiệp
d) Kiểm tra trong quản lý doanh nghiệp
Kiểm tra là quá trình xem xét, phát hiện những sai lệch so với những gì đã hoạch định, đã thiết kế để kịp thời xử lý, điều chỉnh Trong SXKD, kiểm tra là khâu rất quan trọng, nếu không thì chắc chắn hiệu lực quản lý sẽ thấp Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra là phải cung cấp cho chủ thể quản lý kết quả tương đối khách quan, chính xác và kịp thời Để đáp ứng yêu cầu kiểm tra đó, thì công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách khoa học và phải có lực lượng kiểm tra mạnh, hiện đại
Trong khâu kiểm tra, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động kiểm tra là phải cung cấp cho chủ thể quản lý kết quả tương đối khách quan, chính xác và kịp thời Đây
là yêu cầu quan trọng nhất và cũng là yêu cầu khó đáp ứng nhất Vì cán bộ quản lý thực hiện kiểm tra phải dựa vào các tài liệu, số liệu do con người lưu lại và phản
ánh Tuy nhiên, mỗi con người đều có những quan điểm riêng của bản thân về hiện tượng sự vật, nên kết quả phản ánh có thể không đồng nhất giữa các cá nhân vì vậy, phải có một lực lượng kiểm tra mạnh và hiện đại, cũng như phải tiến hành kiểm tra một cách khoa học hợp lý
Trang 15con người đóng một trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến chất lượng, năng suất, hiệu quả của một doanh nghiệp
Hình 1.3 Quá trình tác động của trình độ lãnh đạo, quản lý điều hành đến hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp
Trong đội ngũ lực lượng lao động đó phải nói đến trước hết đó là đội ngũ máy cái “ đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp “ Quá trình hoạt động đó có vận hành trơn chu hay không , có năng suất hay không, hiệu quả hay không người
ta chỉ cần xem xét trình độ, chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp đó
Trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp phải được nhận biết,
đánh giá trên cơ sở chất lượng thực hiện bốn loại công việc nêu ở trên
Trình độ quản lý doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá thông qua hiệu lực quản lý Hiệu lực quản lý được nhận biết, đánh giá thông qua chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý Chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các cơ sở, căn cứ Chất lượng của các cơ sở, căn cứ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ tiến bộ của phương pháp, mức độ đầu tư cho quá trình nghiên cứu tạo ra chúng
Hiệu lực quản lý là tập hợp những diễn biến, thay đổi ở đối tượng quản lý khi có tác động của chủ thể quản lý Hiệu lực quản lý cao khi có nhiều diễn biến,
Trình độ khoa học công nghệ
Giá
thành sảnphẩm
Hiệu quả
kinh doanh
Trình độ
và động cơ
làm việc của người lao động
Chất lượng sản phẩm
Trang 16thay đổi tích cực ở đối tượng quản lý do tác động của chủ thể quản lý Thay đổi, diễn biến tích cực là thay đổi, diễn biến theo hướng đem lại lợi ích cho con người, phù hợp với mục đích của quản lý; Chất lượng của quyết định, giải pháp, biện pháp quản lý, chất lượng sản phẩm của từng loại công việc quản lý được đánh giá trên cơ
sở xem chúng được xét tính đầy đủ đến đâu các mặt, các yếu tố ảnh hưởng và trên cơ sở xem xét chất lượng (độ tin cậy) của các số liệu, thông tin (căn cứ) sử dụng
Như vậy, khi các quyết định, giải pháp, biện pháp quản lý kinh doanh có đầy
đủ, chính xác, căn cứ khoa học là khi chúng có chất lượng đảm bảo Với quyết
định chất lượng; các yếu tố cho tiến hành có mức độ tiến bộ phù hợp, người lao
động trong doanh nghiệp tích cực, sáng tạo, doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cao, không ngừng phát triển
Hình 1.4 Quan hệ giữa trình độ quản lý với hiệu quả hoạt động của doanh
Trình độ và động cơ làm việc của đông đảo người lao động thấp;
Chất lượng sản phẩm không đáp ứng yêu cầu của người sử dụng;
0
Hiệu quả kinh doanh
Trình độ quản lý doanh nghiệp
a
+
-
Trang 17Lãng phí nhiều, chi phí cao, giá thành đơn vị sản phẩm cao, giá chào bán không có sức cạnh tranh;
Để đánh giá được chất lượng của đội ngũ cán bộ có trình độ , năng lực và chất lượng đến đâu chúng ta cùng nghiên cứu và xem xét phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp theo đề tài nghiên cứu khoa học của GS - TS Đỗ Văn Phức được trình bày dưới đây
1.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
Thực tế hoạt động của các doanh nghiệp luôn chứng minh rằng, chất lượng thực hiện các loại công việc quản lý doanh nghiệp cao đến đâu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cao đến đó Chất lượng thực hiện các loại công việc quản lý doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý quyết định Theo GS, TS Đỗ Văn Phức [12, tr 269], cán bộ quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp hoặc tham gia, đảm nhiệm cả bốn loại (chức năng) quản lý ở doanh nghiệp Đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người có quyết
định bổ nhiệm và hưởng lương chức vụ hoặc phụ cấp trách nhiệm của doanh nghiệp đó
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp là kết tinh từ chất lượng của các cán bộ quản lý của doanh nghiệp đó Chất lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp phải được thể hiện, nhận biết, đánh giá bởi mức độ sáng suốt trong các tình huống phức tạp, căng thẳng và mức độ dũng cảm
Không sáng suốt không thể giải quyết tốt các vấn đề quản lý Các vấn đề, các tình huống nảy sinh trong quá trình quản lý rất nhiều, phức tạp và căng thẳng, liên quan đến con người, lợi ích của họ Do vậy, để giải quyết, xử lý được và nhất
là tốt các vấn đề, tình huống quản lý người cán bộ quản lý phải có khả năng sáng suốt Khoa học đã chứng minh rằng, người hiểu, biết sâu, rộng và có bản chất tâm
lý tốt (nhanh trí và nhạy cảm gọi tắt là nhanh nhạy) là người có khả năng sáng suốt trong tình huống phức tạp, căng thẳng Cán bộ quản lý SXCN phải là người hiểu biết nhất định về thị trường, về hàng hoá, về công nghệ, hiểu biết sâu sắc trước hết
Trang 18về bản chất kinh tế của các quá trình diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp, hiểu biết sâu sắc về con người và về phương pháp, cách thức (công nghệ) tác động
đến con người Cán bộ quản lý phải là người có khả năng tư duy biện chứng, tư duy
hệ thống, tư duy kiểu nhân - quả liên hoàn, nhạy cảm và hiểu được những gì mới, tiến bộ, dũng cảm áp dụng những gì mới, tiến bộ vào thực tế
Quản lý theo khoa học là thường xuyên thay đổi cung cách quản lý theo hướng tiến bộ, là làm các cuộc cách mạng về cách thức tiến hành hoạt động nhằm thu được hiệu quả ngày càng cao Mỗi cung cách lãnh đạo, quản lý mà cốt lõi của nó là định hướng chiến lược, chính sách, chế độ, chuẩn mực đánh giá, cách thức phân chia thành quả là sản phẩm hoạt động và là nơi gửi gắm lợi ích của cả một thế lực đồ sộ Do vậy, làm quản lý mà không dũng cảm thì khó thành công
Bảng 1.2 Tỷ trọng đảm nhiệm các chức năng của các cấp cán bộ quản lý
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp (%)
công ty
Giám đốc xí nghiệp
Quản đốc phân xưởng
1 Lập kế hoạch
2 Đảm bảo tổ chức bộ máy
Giám đốc (Quản đốc) doanh nghiệp sản xuất công nghiệp là người phải quyết định lựa chọn trước hoạt động kinh doanh cụ thể có triển vọng sinh lợi nhất, các yếu tố phục vụ cho việc tiến hành hoạt động kinh doanh, phương pháp (công nghệ) hoạt động phù hợp, tiến bộ nhất có thể; phân công, bố trí lao động sao cho
đúng người, đúng việc, đảm bảo các điều kiện làm việc, phối hợp các hoạt động thành phần một cách nhịp nhàng, đúng tiến độ; lo quyết định các phương án phân chia thành quả sao cho công bằng (hài hoà lợi ích), thu phục người tài, điều hoà
Trang 19các quan hệ Để đảm nhiệm, hoàn thành tốt những công việc nêu ở trên giám đốc (quản đốc) phải là người có những tố chất đặc thù: tháo vát, nhanh nhậy; dũng cảm, dám mạo hiểm nhưng nhiều khi phải biết kìm chế; hiểu, biết sâu và rộng
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn giám đốc, quản đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
2 Đào tạo về công nghệ ngành Đại học Trung cấp
3 Đào tạo về quản lý kinh doanh Đại học Cao đẳng
4 Kinh nghiệm quản lý thành công Từ 5 năm Từ 3 năm
Kiến thức quản lý là kiến thức được lĩnh hội từ các môn như: Quản lý đại cương, Khoa học quản lý, Quản lý chiến lược, Quản lý sản xuất, Quản lý nhân lực, Quản lý tài chính, Quản lý dự án, Tâm lý trong quản lý kinh doanh
Kiến thức công nghệ là kiến thức về kỹ thuật, công nghệ là kiến thức được lĩnh hội từ các môn như: Vật liệu công nghiệp; Công nghệ, kỹ thuật cơ khí; Công nghệ, kỹ thuật năng lượng; Công nghệ, kỹ thuật hoá
Trang 20Bảng 1.4 Tiêu chuẩn giám đốc, quản đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
2 Đào tạo về công nghệ ngành Đại học Cao đẳng
3 Đào tạo về quản lý kinh doanh Đại học Cao đẳng
4 Kinh nghiệm quản lý thành công Từ 5 năm Từ 3 năm
Bảng 1.5 Cơ cấu ba loại kiến thức quan trọng đối với cán bộ quản lý DNSX
công nghiệp Việt Nam (%)
ty SXCN (doanh
nghiệp độc lập)
Kiến thức công nghệ 55 45 35 25 Kiến thức kinh tế 20 25 30 35 Kiến thức quản lý 25 30 35 40
2 Giám đốc xí
nghiệp thành viên
Kiến thức công nghệ 70 65 60 50 Kiến thức kinh tế 15 17 19 24 Kiến thức quản lý 15 18 21 26
3 Quản đốc phân
xưởng SXCN
Kiến thức công nghệ 78 72 68 65 Kiến thức kinh tế 10 12 13 15 Kiến thức quản lý 12 16 18 20
Trang 21Không dừng ở việc có kiến thức, theo Robert Katz cán bộ quản lý kinh doanh SXCN cần rèn luyện để có được các kỹ năng sau đây:
Kỹ năng tư duy (Conceptua Skills)
Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với cán bộ quản lý nói chung, đặc biệt là các cán bộ quản lý kinh doanh Họ cần có những tư duy chiến lược tốt để đề
ra đường lối, chính sách đúng: hoạch định chiến lược và đối phó với những bất trắc, những gì đe doạ sự tồn tại, kìm hãm sự phát triển của tổ chức Cán bộ quản lý phải
có khả năng tư duy hệ thống, nhân quả liên hoàn có quả cuối cùng và có nhân sâu
xa, phân biệt được những gì đương nhiên (tất yếu) và những gì là không đương nhiên (không tất yếu)
Kỹ năng kỹ thuật hoặc chuyên môn nghiệp vụ (Technical Skills)
Đó là những khả năng cần thiết của cán bộ quản lý kinh doanh để thực hiện một công việc cụ thể Nếu là doanh nghiệp quản lý kỹ thuật người lãnh đạo phải có trình độ, kỹ năng về kỹ thuật mà mình quản lý, và phải có kỹ năng cơ bản về kỹ thuật như : Ví dụ: sử dụng các thiết bị văn phòng, thiết kế kỹ thuật, soạn thảo chương trình điện toán; soạn thảo các hợp đồng kinh tế; soạn thảo các câu hỏi điều tra nghiên cứu khách hàng v.v
Kỹ năng nhân sự (Human Skills)
Kỹ năng nhân sự liên quan đến khả năng tổ chức động viên và điều động nhân sự Cán bộ quản lý kinh doanh cần hiểu biết tâm lý con người, biết tuyển chọn, đặt đúng chỗ, sử dụng đúng khả năng nhân viên của mình Nhà quản trị phải biết cách thông đạt hữu hiệu, luôn quan tâm đến nhân viên, biết xây dựng không khí thân ái, hợp tác lao động, biết hướng dẫn nhân viên hướng đến mục tiêu chung
Kỹ năng nhân sự là đòi hỏi bắt buộc đối với quản trị viên ở mọi cấp quản trị
Các cán bộ quản lý kinh doanh đều cần có cả ba loại kỹ năng đã nêu ở trên, tuy nhiên tầm quan trọng của mỗi loại kỹ năng thì thay đổi theo cấp quản lý Kỹ năng kỹ thuật giảm dần sự quan trọng khi lên cao dần hệ thống cấp bậc của các cán
Trang 22bộ quản lý kinh doanh ở cấp càng cao các cán bộ quản lý kinh doanh càng cần phải có kỹ năng tư duy chiến lược nhiều hơn Họ cần có những chiến lược quyết
định có liên quan đến nhiều cấp, nhiều bộ phận Họ cần có khả năng tổng hợp lớn trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của nhiều nhân tố đến các vấn đề phải giải quyết trong thực tiễn quản trị Kỹ năng nhân sự là cần thiết đối với cán bộ quản lý kinh doanh ở mọi cấp bởi vì cán bộ quản lý kinh doanh nào cũng phải làm việc với con người
Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp do những người cán bộ quản lý hợp thành Chất lượng (Sức mạnh) của đội ngũ đó không phải là kết quả của phép cộng sức mạnh của những cán bộ trong đội ngũ Theo GS, TS Đỗ Văn Phức [12,tr 277], chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu về mặt toàn bộ và về mặt đồng bộ (cơ cấu) các loại Nhu cầu cán bộ quản lý doanh nghiệp về mặt toàn bộ là lượng cán bộ quản lý đủ để thực hiện, giải quyết kịp thời,
đảm bảo chất lượng các loại công việc, các vấn đề quản lý phát sinh Các loại cán
bộ quản lý doanh nghiệp được hình thành theo cách phân loại công việc quản lý doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp được tách lập tương đối thành quản lý chiến lược (lãnh đạo) và quản lý điều hành; Quản lý doanh nghiệp được tách lập tương
đối thành: hoạch định, tổ chức, điều phối và kiểm tra; Quản lý doanh nghiệp sản xuất công nghiệp được phân cấp thành: Cấp Công ty, cấp xí nghiệp, cấp phân xưởng…Theo một cách phân loại có một cơ cấu các loại hoạt động (cán bộ) quản
lý doanh nghiệp
Theo ý kiến của các nhà khoa học, chất lượng của cả đội ngũ CBQL doanh nghiệp chỉ nhận biết, đánh giá trên cơ sở sử dụng phối hợp kết quả đánh giá theo số liệu thông kê với số liệu điều tra, khảo sát; phối hợp các kết quả đánh giá về mặt chất lượng được đào tạo chuyên môn, kết quả khảo sát đánh giá chất lượng công tác và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Sau đây là cách tính toán các tiêu chí phản ánh tình hình, so sánh đánh giá từng mặt, từng nội dung:
1 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp về mặt toàn bộ
Số lượng thực tế - Số lượng nhu cầu
Trang 232 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp trên cơ sở kết quả khảo sát mức độ đáp ứng tiêu chuẩn
Bảng 1.6 Bảng đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ theo kết quả khảo sát
3 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp theo cơ cấu giới tính:
số lượng và % của nam và nữ thực có; so sánh với cơ cấu (%) theo chuyên gia tư vấn để đánh giá chất lượng
Bảng 1.7 Bảng đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ theo cơ cấu giới tính
Theo giới
tính
Số lượng năm 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu (%) theo chuyên gia tư vấn
tư vấn để đánh giá chất lượng
Bảng 1.8 Bảng đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ theo cơ cấu khoảng tuổi
Theo khoảng
tuổi
Số lượng 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu (%) theo chuyên gia tư vấn
Lấy số liệu từ bảng tổng hợp tình hình đào tạo CBQL của công ty tính số
lượng và % thực có theo trình độ ngành nghề; so sánh với cơ cấu (%) theo chuyên gia tư vấn để đánh giá chất lượng
Trang 24Bảng 1.9 Bảng đánh giá chất lượng đào tạo chuyên môn của đội ngũ cán
bộ quản lý doanh nghiệp
Được đào tạo
Số lượng 200…
Cơ cấu (%)
Cơ cấu (%) theo tư vấn
5 Đại học chính quy kỹ thuật
chuyên ngành sau đó KS2 hoặc cao
học QTKD
Bảng 1.10 Thay đổi cần thiết về cơ cấu đội ngũ CBQL DNSXCN VN về mặt đào
tạo chuyên môn
1 Số tốt nghiệp trung cấp sau đó
cao đẳng hoặc đại học tại chức 15 2 1 1
2 Số tốt nghiệp đại học chính quy
3 Số tốt nghiệp đại học chính quy
4 Số tốt nghiệp đại học kỹ thuật
tại chức sau đó KS2 hoặc cao học
QTKD
5 Số tốt nghiệp đại học chính quy
kỹ thuật chuyên ngành sau đó KS2
hoặc cao học QTKD
Khi đất nước hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL về mặt chất lượng đào tạo chuyên môn, đảm bảo chuyển đổi cơ cấu trình độ ngành nghề như ở bảng 1.10
Trang 25Đánh giá chất lượng công tác của đội ngũ CBQL doanh nghiệp
Xác định các tiêu chí phản ánh chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ quản
lý doanh nghiệp Lập phiếu xin ý kiến, chọn mẫu (đối tượng xin ý kiến và quy mô); Tổng hợp, xử lý, tính toán, sử dụng kết quả khảo sát Hoạt động lãnh đạo, quản lý cần được nhận biết, đánh giá chất lượng trên cơ sở khảo sát, tính toán, so sánh,
đánh giá về mức độ biểu hiện: bất lực trước các tình huống nảy sinh, mức độ chậm trễ, mức độ đúng đắn xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề Như vậy, cần khảo sát thực tế, so sánh kết quả với mức trung bình thực tế của các doanh nghiệp cùng ngành, mức độ theo các chuyên gia (mức độ chấp nhận được) và mức độ của doanh nghiệp cùng loại thành đạt để đánh giá
Bảng 1.11 Tỷ lệ (%) yếu kém trong công tác chấp nhận được của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp Việt Nam
Biểu hiện về chất lượng công
Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh cao, bền lâu là mục tiêu cuối cùng, là mục đích hoạt
động của doanh nghiệp Mọi nổ lực, chất lượng của tất cả các yếu tố, của tất cả các
Trang 26hoạt động thành phần phải góp phần, phải chịu phần trách nhiệm của mình, phải gắn với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Cần tính được các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, so sánh và đánh giá được mức độ đạt hiệu quả trong từng thời kỳ Sau đây là phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp:
Bảng 1.12 Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2 Lợi nhuận/ Tổng tái sản x 100% (ROA) 5 - 20
3 Lãi/Toàn bộ chi phí sinh lãi x 100% 5 - 30
4 Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu x 100% (ROE) 5 - 30
Hiệu quả cao: 75 – 100 điểm
Hiệu quả trung bình: 46 – 74 điểm
Hiệu quả thấp: 20 – 45 điểm
Cuối cùng cần định lượng kết quả đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp bằng điểm Theo đề tài NCKH cấp bộ B2005 – 28 – 182 do GS,
TS Đỗ Văn Phức làm chủ nhiệm ta có ba rem tính điểm sau đây:
Bảng 1.13 Đánh giá các mặt chất lượng đội ngũ CBQL của doanh nghiệp
4 Mức độ đáp ứng nhu cầu về cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn
Trang 27Sau khi cho điểm các mặt và cộng lại nếu
Đạt từ 75 đến 100 điểm: xếp loại A
Đạt từ 50 đến 74 điểm: xếp loại B
Đạt dưới 50 điểm: xếp loại C
1.4 Các nhân tố và hướng giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp
Theo GS, TS Đỗ Văn Phức [12, tr283], chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp do nhiều yếu tố tạo nên, ảnh hưởng Sau đây là những nhân tố chủ yếu và cũng là phương hướng nâng cao:
1 Mức độ sát đúng của kết quả xác định nhu cầu, quy hoạch cán bộ quản lý doanh nghiệp cụ thể;
2 Mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút chuyên gia quản lý và mức độ hợp lý của tổ chức đào tạo bổ sung cho cán bộ quản lý mới được bổ nhiệm;
3 Mức độ hợp lý của tiêu chuẩn và quy trình xem xét bổ nhiệm cán bộ quản lý của doanh nghiệp cụ thể;
4 Mức độ hợp lý của phương pháp đánh giá thành tích và mức độ hấp dẫn của chính sách đãi ngộ cho các loại cán bộ quản lý doanh nghiệp cụ thể;
5 Mức độ hấp dẫn của chính sách và mức độ hợp lý của tổ chức đào tạo nâng cao cho từng loại cán bộ quản lý doanh nghiệp cụ thể;
- Về mức độ sát đúng của kết quả xác định nhu cầu và quy hoạch cán bộ quản
lý doanh nghiệp cụ thể
Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và cơ cấu các loại Như vậy, chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ chính xác của kết quả xác định nhu cầu Mức độ chính xác của kết quả xác định nhu cầu và quy hoạch cán bộ quản lý doanh nghiệp chỉ cao khi các cơ sở, căn cứ đầy đủ và tương đối chính xác Các cơ sở, căn cứ xác định nhu cầu cán bộ quản lý doanh nghiệp là: các mục tiêu
Trang 28và chủ trương phát triển kinh doanh trong chiến lược; các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh; hệ thống các mức lao động và tình hình, xu hướng phát triển của các cá nhân trong doanh nghiệp
- Về mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút chuyên gia quản lý và hợp lý của việc tổ chức đào tạo bổ sung cho cán bộ quản lý doanh nghiệp mới
Chuyên gia quản lý doanh nghiệp là người giỏi cả về lý thuyết lẫn thực tế Khi chuyển sang kinh tế thị trường, khi đất nước hội nhập sâu vào kinh tế khu vực
và thế giới, doanh nghiệp Việt Nam nào cũng thiếu chuyên gia quản lý Cuộc tranh giành chuyên gia quản lý ngày càng trở nên quyết liệt Doanh nghiệp chỉ thu hút
được chuyên gia quản lý khi có chính sách hấp dẫn và cách thức thích hợp Mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút chuyên gia quản lý là mức độ đáp ứng, phù hợp cả
về mặt giá trị, cả về mặt cách thức của những cam kết trong chính sách thu hút với những nhu cầu ưu tiên thoả mãn của ứng viên mục tiêu Các mặt đó của chính sách thu hút phải hấp dẫn hơn của các đối thủ cạnh tranh trong cùng một tương lai nên
có trường hợp các mặt đó hơn nhiều so với thực trạng của công ty Mức độ đáp ứng, phù hợp càng cao tức là mức độ hấp dẫn càng cao Tổ chức đào tạo bổ sung là hoàn toàn cần thiết vì mục tiêu, các điều kiện của các doanh nghiệp khác nhau thường khác nhau Đào tạo bổ sung cần có mục tiêu cụ thể, rõ ràng và tuân thủ nghiêm ngặt theo bài bản Thu hút được nhiều chuyên gia quản lý và đào tạo bổ sung hợp lý góp phần đáng kể làm tăng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
- Về mức độ hợp lý của tiêu chuẩn và quy trình xem xét bổ nhiệm cán bộ quản lý ở doanh nghiệp cụ thể
Trong kinh tế thị trường tiêu chuẩn cán bộ quản lý doanh nghiệp khác rất nhiều so với trước đây Phải từ nội dung, tính chất, các yêu cầu thực hiện, hoàn thành các loại công việc quản lý doanh nghiệp trong kinh tế thị trường để đưa ra các tiêu chuẩn đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp Tiếp theo cần có quy trình tìm hiểu, phát hiện, đàm phán đi đến quyết định bổ nhiệm từng cán bộ quản lý doanh nghiệp Giám đốc doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt nam phải là người tốt
Trang 29nghiệp đại học công nghệ chuyên ngành, đại học hoặc cao học QTKD, đại học hành chính và chính trị Như vậy, tiêu chuẩn càng sát hợp, quy trình xem xét càng hợp lý càng bổ nhiệm được người đảm bảo chất lượng Và như thế sẽ góp phần
đáng kể vào việc đảm bảo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
- Về mức độ hợp lý của phương pháp đánh giá thành tích và mức độ hấp dẫn của chính sách đãi ngộ cán bộ quản lý doanh nghiệp cụ thể
Đánh giá chất lượng công tác quản lý, đánh giá thành tích của cán bộ quản
lý là công việc rất quan trọng và vô cùng phức tạp đòi hỏi trí tuệ bậc cao Chính sách, giải pháp, biện pháp quản lý thường có tác động tích cực hoặc tiêu cực sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi khá dài Khi chúng ta không nghiên cứu nghiêm túc, công phu để đưa ra phương pháp đánh giá hợp lý sẽ dẫn đến kết luận chính sách, giải pháp, biện pháp và chủ của nó là cán bộ quản lý đúng hay sai một cách áp đặt chủ quan Đối với người lao động trí óc mức độ hợp lý của phương pháp đánh giá công lao, thành tích đóng góp có ý nghĩa vô cùng to lớn khi phương pháp đánh giá hợp lý người cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ làm việc say mê sáng tạo và tự đầu tư không ngừng nâng cao trình độ nhất là khi kết quả đánh giá đó
được sử dụng để phân biệt đãi ngộ Đổi mới chính sách đãi ngộ cho cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi phải được thể hiện về các mặt: thay đổi về thu nhập bình quân; thay đổi cơ cấu thu nhập: lương – thưởng bằng tiền – các loại khác như cổ phiếu, suất đi tu nghiệp, du lịch ở nước ngoài ; thay đổi về quan hệ thu nhập bình quân của đội ngũ CBQL, của đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ, của đội ngũ thực hành Khi thiết kế và thực thi phương án đổi mới chính sách đãi ngộ hợp lý hơn trước và hấp dẫn hơn của các đổi thủ cạnh tranh trong cùng một thời gian chất lượng của
đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty cụ thể dần dần được nâng cao
- Về mức độ hấp dẫn của chính sách và hợp lý của việc tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cho các loại cán bộ quản lý của doanh nghiệp cụ thể
Trong giai đoạn đầu chuyển sang kinh tế thị trường doanh nghiệp, nhà nước cần hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ cho từng loại cán bộ quản lý Suất chi cho đào
Trang 30tạo lại phải đủ lớn thì mức độ hấp dẫn mới cao Đào tạo lại phải được tổ chức quy
cũ, khoa học Đào tạo nâng cao cho các loại cán bộ quản lý của doanh nghiệp là nhu cầu, đòi hỏi thường xuyên Khi chính sách đào tạo nâng cao trình độ của doanh nghiệp hướng theo tất cả các loại cán bộ quản lý doanh nghiệp, mỗi loại có
số lượng hợp lý, suất chi toàn bộ đủ lớn cho bất kỳ hình thức đào tạo nào trong hoặc ngoài nước là chính sách có mức độ hấp dẫn cao Đổi mới chính sách hỗ trợ
đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi phải được thể hiện
về các mặt: số lượng người được hỗ trợ đào tạo; %, suất hỗ trợ; tổng tiền và nguồn tiền hỗ trợ .Khi đó người cán bộ quản lý của doanh nghiệp sẽ thực sự hứng khởi,
có động cơ học tập đúng đắn và đủ mạnh, tìm cách học khoa học nhất để thực sự nâng cao trình độ
Như vậy, chỉ khi doanh nghiệp nhận thức được vị trí, vai trò của lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp; quan tâm, hoạch định và tổ chức thực hiện tốt các chính sách về thu hút chuyên gia quản lý; đào tạo nâng cao, thăng tiến, đánh giá và đãi ngộ cho từng loại cán bộ quản lý doanh nghiệp thì chất lượng đội ngũ mới cao, chất lượng các công việc quản lý, các quyết định quản lý mới đảm bảo; hoạt động của doanh nghiệp mới đúng hướng, được vận hành ít trục trặc và phối hợp nhịp nhàng; khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, vị thế của doanh nghiệp mới được cải thiện; hiệu quả kinh doanh được nâng cao dần
Trang 31Phần 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý ở Công ty Điện thoại Hà nội 1
2.1 Đặc điểm sản phẩm - khách hàng, đặc điểm công nghệ và tình hình hiệu quả hoạt động của Công ty một số năm gần đây
Công ty Điện thoại Hà nội 1 là một doanh nghiệp Nhà nước - đơn vị kinh tế trực thuộc, hạch toán phụ thuộc Bưu điện TP Hà nội hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, tin học, được thành lập dựa trên cơ sở tách Công ty Điện thoại Hà nội và sáp nhập với phần viễn thông của các Bưu điện huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn Công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2003 và kế thừa toàn bộ cả về khách hàng, tài sản, bộ máy, nhân lực… của các đơn vị nêu trên với chức năng sản xuất kinh doanh và phục vụ trên các lĩnh vực:
- Chủ quản kinh doanh dịch vụ điện thoại và các dịch vụ viễn thông khác trên mạng điện thoại cố định do Công ty cung cấp trên các địa bàn các quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Long Biên; các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn và một phần các quận Ba Đình, Thanh Xuân, Tây Hồ, Đống Đa;
- Quản lý, vận hành, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa và khai thác mạng viễn thông trên địa bàn các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Long Biên; các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn và một phần các quận Ba Đình, Thanh Xuân, Tây Hồ, Đống Đa;
- Tổ chức phục vụ thông tin đột xuất theo yêu cầu của cấp uỷ Đảng, Chính quyền
địa phương và cấp trên;
- Kinh doanh vật tư, thiết bị viễn thông liên quan đến dịch vụ do đơn vị cung cấp;
- Kinh doanh các ngành nghề khác khi được Tổng Công ty cho phép
a) Về địa bàn kinh doanh:
Hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông, tin học của Công ty Điện thoại Hà nội 1 diễn ra chủ yếu trên phần địa bàn Đông-Bắc Thủ đô Hà nội, trực tiếp tổ chức mạng lưới viễn thông, tin học rộng khắp trên toàn địa bàn để đáp ứng,
Trang 32thoả mãn các nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ viễn thông, tin học Với năng lực mạng lưới hơn 80 tổng đài điện thoại và hệ thống mạng ngoại vi phủ kín bố trí rộng khắp trên địa bàn các quận Hoàng Mai, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Long Biên, Đống Đa, Thanh Xuân, Tây Hồ, Ba Đình, các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn của Thủ đô Hà nội và đội ngũ lao động hơn 1300 cán bộ công nhân viên (CBCNV), Công ty Điện thoại Hà nội 1 đã, đang và sẽ luôn là doanh nghiệp chủ
đạo trong việc cung cấp các dịch vụ viễn thông, tin học cho khách hàng trên địa bàn
Tuy nhiên do nhu cầu của khách hàng phân bố không đồng đều trên địa bàn
và luôn biến động, do đó đòi hỏi Công ty phải luôn quan tâm, nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu của thị trường để phát triển, mở rộng mạng lưới kinh doanh, tổ chức lao
động khoa học, hợp lý và đặc biệt là phát triển đội ngũ nhân sự đủ về số lượng và chất lượng, nâng cao kỹ năng, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tương xứng với công nghệ sử dụng, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Thủ đô
Hà nội cả trong hiện tại và tương lai
b) Về đặc thù hoạt động kinh doanh chuyên ngành viễn thông, tin học:
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty Điện thoại Hà nội 1 là vừa hoạt
động kinh doanh lại vừa hoạt động công ích phục vụ sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước Điều này được thể hiện như sau:
- Chức năng kinh doanh:
Công ty Điện thoại Hà nội 1 được Bưu điện Thành phố Hà nội trực tiếp và Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt nam gián tiếp giao quyền quản lý vốn và tài sản, đồng thời phải có trách nhiệm phát triển và bảo toàn vốn Tổ chức quản lý, khai thác, điều hành, phát triển mạng lưới và kinh doanh dịch vụ viễn thông, tin học theo phân cấp;
- Chức năng hoạt động công ích:
Ngoài chức năng kinh doanh ra, Công ty Điện thoại Hà nội 1 còn có chức năng đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính quyền các cấp, phục vụ an ninh, quốc phòng Công ty Điện thoại Hà
Trang 33nội 1 có nhiệm vụ phục vụ thông tin viễn thông, tin học cả ở những khu vực, những dịch vụ mà nhu cầu của khách hàng không có nhiều như các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa có tổng doanh thu không đủ bù đắp chi phí Đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của Công ty Điện thoại Hà nội 1, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước là xã hội hoá thông tin
Mặt khác, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh chuyên ngành viễn thông, tin học là phải đảm bảo thông tin thông suốt 24 giờ/24giờ/ngày, 365 ngày/năm, theo quy luật không đều, khối lượng các sản phẩm thông tin biến động theo từng giờ trong ngày, trong tuần, trong tháng, nhiều, ít chủ yếu do khách hàng
sử dụng thông tin, dịch vụ quyết định, nhưng khi có yêu cầu sử dụng thông tin thì chất lượng dịch vụ đòi hỏi phải nhanh chóng, chính xác, an toàn, do đó thời gian sản xuất bao gồm thời gian thực tế làm việc và thời gian thường trực
Công ty Điện thoại Hà nội 1 thực hiện mô hình cơ cấu trực tuyến chức năng Giám đốc Công ty trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị cấp dưới và của cả Công ty
Các Phó Giám đốc giúp Giám đốc quản lý, điều hành một số lĩnh vực được Giám đốc phân công; Các phòng chức năng tham mưu, giúp việc Giám đốc trong các lĩnh việc chuyên môn cụ thể
Công ty Điện thoại Hà nội 1 gồm 2 khối, 8 đơn vị chức năng tham mưu, giúp việc Giám đốc Công ty và 12 đơn vị trực thuộc hoạt động trên các địa bàn khác nhau phù hợp với đặc điểm địa lý và lĩnh vực chuyên môn
- Các phòng chức năng: Thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho lãnh
đạo Công ty theo từng lĩnh vực được phân công cụ thể, gồm có: Phòng Tổ
Trang 34chức-Lao động tiền lương, Phòng Kinh doanh-Tiếp thị, Phòng Quản lý Kỹ thuật-Nghiệp
vụ, Phòng Đầu tư-Xây dựng cơ bản, Phòng Kế toàn-Tài chính, Phòng Hành Quản trị; Ban quản lý dự án; Tổ Thanh kiểm tra mạng lưới
chính-Khối các đơn vị trực tiếp sản xuất
- Các Đài điện thoại:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành, bảo dưỡng, khai thác và phát triển mạng lưới và phát triển thuê bao trên địa bàn theo từng khu vực phù hợp với danh giới địa lý các quận, huyện và các khu vực do Công ty quy định
- Đài Khai thác chuyển mạch-Truyền dẫn:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành, bảo dưỡng và khai thác hệ thống thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn để phối hợp và hỗ trợ các Đài Điện thoại và các
đơn vị khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của Công ty là đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng
- Đài ứng dụng Tin học:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành, bảo dưỡng và khai thác hệ thống thiết bị tin học, công nghệ thông tin để phục vụ các quá trình ứng dụng tin học, công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành và khai thác thiết bị của Công ty và phục vụ khách hàng
- Đội Cơ điện-Điều hoà:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, vận hành, bảo dưỡng và khai thác hệ thống thiết bị nguồn điện, điều hoà không khí để phục vụ các hoạt động của trang thiết bị trên mạng lưới
- Đội Điện thoại công cộng:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác, phát triển hệ thống điện thoại dùng thẻ, hệ thống tổng đài thuê bao (PABX), hệ thống mạng truyền số liệu trên toàn bộ mạng lưới của Công ty nhằm bảo đảm và đưa lại cho khác hàng thêm một số lựa chọn khi sử dụng dịch vụ viễn thông, tin học của Công ty
Trang 352.1.1 Đặc điểm sản phẩm - khách hàng
Chức năng của Công ty là cung cấp các dịch vụ viễn thông, tin học cho người tiêu dùng các dịch vụ truyền đưa tin tức khác nhau: Điện thoại nội hạt, điện thoại liên tỉnh, điện thoại quốc tế, truyền số liệu, tổng đài thuê bao, thuê kênh riêng, Internet… cũng như các ngành sản xuất vật chất khác, sản phẩm viễn thông cũng có giá trị và giá trị sử dụng Bản chất kinh tế của sản phẩm viễn thông thể hiện ở tính đặc thù của một sản phẩm chuyên ngành, đó là:
Sản phẩm viễn thông trước hết là loại sản phẩm vô hình, là tin tức được truyền thông qua hình thức dịch vụ
Đặc điểm này một phần được thể hiện trong cơ cấu giá thành của dịch vụ viễn thông, trong đó chi phí vật chất chiếm tỷ trọng không đáng kể, phần chí phí chủ yếu tập trung ở trả lương cho người lao động
Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ viễn thông không tách rời nhau
Đặc điểm này thể hiện càng rõ nét trong dịch vụ điện thoại, nơi mà quá trình truyền đưa tín hiệu thoại - là quá trình sản xuất - được thực hiện với sự tham gia của người nói, tức là quá trình sản xuất xảy ra đồng thời với quá trình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Đặc điểm này gây nên sự ảnh hưởng không đồng đều theo thời gian của yêu cầu phục vụ (theo giờ, ngày, tháng…) đến việc tổ chức quá trình sản xuất của Ngành Bưu điện nói chung và của Công ty Điện thoại Hà nội 1 nói riêng
Trong quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ viễn thông thì thông tin là
đối tượng lao động, chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian
Mọi sự thay đổi thông tin, đều có ý nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất cho người tiêu dùng
Quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin
Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi
Trang 36hỏi phải hình thành mạng lưới có độ tin cậy cao, rộng khắp Đặc điểm này của sản phẩm, dịch vụ viễn thông chi phối, tác động và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, chất lượng nhân sự trong Ngành nói chung và trong Công ty Điện thoại Hà nội 1 nói riêng
Với các đặc điểm kể trên, có thể thấy rằng sản phẩm, dịch vụ của Công ty
Điện thoại Hà nội 1 là kết quả của một chuỗi các hoạt động đồng bộ, thống nhất trong toàn bộ dây chuyền sản xuất sản phẩm tạo ra, là sản phẩm của tập thể, không những là của tập thể người lao động trong nội bộ Công ty Điện thoại Hà nội 1 mà còn có sự tham gia của các doanh nghiệp viễn thông, tin học khác Điều này cần thiết phải có hệ thống hạch toán các dịch vụ thống nhất giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm đảm bảo nhu cầu hạch toán trong điều kiện kinh tế thị trường, đặc biệt
là đối với các doanh nghiệp cùng trong Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt nam
a) Các dịch vụ hiện nay do Công ty cung cấp
- Dịch vụ Điện thoại cố định (nội hạt, liên tỉnh và quốc tế) và các dịch vụ gia tăng của điện thoại cố định
- Dịch vụ Điện thoại công cộng (điện thoại cabin)
- Dịch vụ Internet tốc độ cao (xDSL)
- Dịch vụ Truyền số liệu
- Dịch vụ Thuê kênh riêng
- Dịch vụ Tổng đài thuê bao (PABX)
Phối hợp và hỗ trợ các đơn vị khác trực thuộc Bưu điện TP Hà nội để cung cấp các dịch vụ viễn thông, tin học khác theo nhu cầu của khách hàng
b) Đối tượng khách hàng
Đối tượng khách hàng của Công ty là các tổ chức cơ quan hành chính, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các khách hàng là người nước ngoài, các khách hàng tư nhân, cá nhân …đóng trên địa bàn do đơn vị quản lý có nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông tin học Tính đến cuối năm 2004, số lượng
Trang 37Hà nội 1 quản lý (khách hàng của Công ty) là trên 230.000 khách hàng (mã thuê bao)/ với trên 420.000 máy điện thoại Trong đó:
- Khách hàng là các cơ quan Hành chính sự nghiệp: khoảng 3.510 khách hàng, chiếm 2,29%
- Khách hàng là người nước ngoài, Công ty liên doanh với nước ngoài: khoảng 3.490 khách hàng, chiếm 2,28%;
- Khách hàng là doanh nghiệp SXKD: khoảng 25.123 khách hàng, chiếm 16,42%;
điện Thành phố Hà nội (gồm Công ty Điện thoại Hà nội 1 và 2), Saigon PT, Vietel, FPT, Công ty Viễn thông Điện lực (EVN) và Hà nội telecom Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các đối thủ cung cấp dịch vụ viễn thông, tin học khác trên địa bàn, đòi hỏi Công ty Điện thoại Hà nội 1 không chỉ thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của khách hàng về mặt số lượng một cách nhanh nhất mà còn đòi hỏi các dịch vụ đưa ra kinh doanh phải có chất lượng cao nhất
Để thu hút khách hàng và kinh doanh có hiệu quả, Công ty Điện thoại Hà nội 1 phải tập trung mọi nguồn lực nhằm phát triển mạng lưới viễn thông, tin học hiện đại và rộng khắp, không chỉ tập trung phát triển các khu vực trong nội thành, khu vực đông dân cư mà phải phát triển tới cả các khu vực trên địa bàn các huyện – nơi mà tốc độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí còn thấp so với khu vực thị trấn huyện, các quận nội thành của Thủ đô Hà nội
Trang 38Có thể nói rằng với địa bàn Thủ đô Hà nội – trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước, nên đối tượng khách hàng chủ yếu của Công ty Điện thoại Hà nội 1 là các doanh nghiệp (thuộc mọi thành phần kinh tế), tư nhân, các cơ quan Hành chính
sự nghiệp và người nước ngoài với khả năng thanh toán, yêu cầu về chất lượng dịch
vụ cũng rất khác nhau Do vậy để hội nhập và cạnh tranh thắng lợi thì ngoài việc tổ chức phát triển mạng lưới đồng bộ và rộng khắp, phát triển và đưa nhanh vào kinh doanh các dịch vụ mới, Công ty Điện thoại Hà nội 1 cần phải đặc biệt quan tâm
đến việc phát triển nguồn lực nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý của mình không những đủ về số lượng và cơ cấu mà đội ngũ cán bộ còn phải có trình độ quản lý chuyên môn, nghiệp vụ, kinh doanh tốt, ngoại ngữ tốt, phẩm chất chính trị vững vàng
2.1.2 Đặc điểm công nghệ
Với chủ trương của Lãnh đạo Ngành cũng như xác định được yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ do đó trong thời gian qua và trong những năm tới trang thiết bị cũng như các công nghệ mới sẽ được đưa vào khai thác trên mạng lưới của Công ty như:
Các công nghệ hiện đại như thiết bị chuyển mạch thế hệ 3G, các hệ thống thiết bị truyền dẫn tốc độ cao, các hệ thống mạng tích hợp, các ứng dụng của công nghệ mới, tiên tiến cũng được tập trung khai thác, ứng dụng triệt để nhằm mục
đích đưa đến khách hàng các dịch vụ hoàn hảo nhất và tiện dụng nhất
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam được xác định là một tập đoàn kinh tế mạnh chủ lực, với kỹ thuật và dịch vụ quan trọng thuộc kết cấu cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, việc áp dụng và đưa vào khai thác các công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới để tạo ra các loại hình dịch vụ viễn thông đa dạng với chất lượng cao nhất giúp cho khách hàng thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch
vụ, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển kinh tế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam nói chung và của Bưu điện TP Hà nội, Công ty Điện thoại Hà nội 1 nói riêng
Trang 39tố đầu vào như vật liệu, năng lượng, tiền vốn thành các yếu tố đầu ra như sản phẩm
và dịch vụ Việc áp dụng các công nghệ thông tin tiên tiến vào thực tiễn sản xuất luôn là một lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông, tin học nói chung
và Công ty Điện thoại Hà nội 1 nói riêng vì: công nghệ thông tin tiên tiến cho phép nâng cao được chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp, đưa ra được các dịch vụ mới thoả mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tạo ra năng suất lao động cao hơn, chi phí quản lý, bảo dưỡng, vận hành và khai thác hệ thống thấp hơn
Các dạng công nghệ đã và đang được áp dụng tại Công ty Điện thoại Hà nội
1 hiện nay chủ yếu là các công nghệ thông tin được nhập khẩu từ nước ngoài và thuộc loại tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như: Công nghệ kỹ thuật số (digital technology), công nghệ ADSL (asymmetric digital subscriber line), công nghệ V5.2, công nghệ IP (internet protocol), chuyển mạch kênh, chuyển mạch gói; SDH, PDH, vòng nội hạt (local loop)…
Công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức bộ máy, cũng như tổ chức lao
động và phát triển tài nguyên nhân sự trong các doanh nghiệp Bài học kinh nghiệm về việc áp dụng công nghệ mới được rút ra sau hơn 15 năm đổi mới là: công nghệ mới chỉ đạt được hiệu quả kinh tế cao khi doanh nghiệp biết lựa chọn công nghệ mới phù hợp với thị trường, khách hàng và khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp tương xứng với công nghệ được lựa chọn
2.1.3 Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 2.1 Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
TT Chỉ tiêu đánh giá Đơn vị tính Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Trang 40quả đáng kể (xem bảng trên đây) Căn cứ vào tình hình tổng hợp kết quả SXKD trên
Với chỉ tiêu chi phí có sự tăng đáng kể trong giai đoạn 2003-2005, sở dĩ có
sự tăng nhiều này là do từ tháng 4/2003 Công ty Điện thoại Hà nội 1 chính thức
được tổ chức và thành lập lại trên cơ sở tách một phần của Công ty Điện thoại Hà nội 1 và sáp nhập bộ phận viễn thông của các Bưu điện huyện, với giai đoạn đầu mới hình thành nên việc phải đầu tư trang thiết bị và cơ sở vật chất đã chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí hàng năm của Công ty
Bên cạnh những khó khăn nói chung của giai đoạn đầu ổn định tổ chức nhưng Công ty cũng đã đảm bảo được mức thu nhập bình quân cho người lao động với tiêu chí năm sau cao hơn năm trước, trong những năm qua đều đạt mức tăng thu nhập bình quân tương ứng là 10% và 16%/năm
Tốc độ phát triển thuê bao cũng có sự tăng đáng kể, với mức tăng trưởng hàng năm vào khoảng hơn 10% tạo thị trường vững vàng và ổn định Trong điều kiện có nhiều đối thủ cạnh tranh (kể cả trên phương diện giá cả và phương diện dịch vụ) thì đây là điều khá tốt đối với Công ty và khẳng định được độ tin cậy của khách hàng đối với các dịch vụ do Công ty cung cấp
2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý của Công ty Điện thoại Hà nội 1
2.2.1 Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu về mặt toàn bộ và cơ cấu các loại
cán bộ quản lý trong Công ty
Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cán bộ quản lý của Công ty