--- LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI CÔNG NGHỆ CAO - ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI NGÀNH QUẢN T
Trang 1-
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI
CÔNG NGHỆ CAO - ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:
NGUYỄN HỮU XUYÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG VŨ TÙNG
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận về Chuyển giao công nghệ 112
1.1 1Khái quát về Công nghệ 112
1.2 Khái quát về Chuyển giao công nghệ 22
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến Chuyển giao công nghệ 27
1.2.4 Những chỉ tiêu đánh giá Chuyển giao công nghệ 32
Chương 2: Kinh nghiệm Chuyển giao công nghệ trong khu
vực
40
2.1 Chuyển giao công nghệ ở một số nước Châu Á 40
Trang 32.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 43
2.2 Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam 50
2.2.1 Thực trạng Chuyển giao công nghệ trong thời gian qua 50
2.2.3 Phương hướng nhằm hoàn thiện Chuyển giao công nghệ 60
Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động Chuyển giao công
nghệ của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao - Đại học Bách khoa Hà Nội
2
62
3.1 2Giới thiệu sơ lược về Trung tâm 262
3.1.1 2Quá trình hình thành và lĩnh vực hoạt động 262
3.2 2Thực trạng hoạt động Chuyển giao công nghệ của
Trung tâm
2
66
3.2.1 3Các thành quả đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu và
Chuyển giao công nghệ
3
66
3.2.2 Hiệu quả kinh tế của hoạt động Chuyển giao công nghệ 371 3.2.3 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ CGCN 374
3.2.5 3Thực trạng quá trình CGCN của Trung tâm 378
Trang 4Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động Chuyển giao công nghệ của Trung tâm nghiên cứu triển
khai Công nghệ cao - Đại học Bách khoa Hà Nội
4
93
4.1 4Mục tiêu phát triển của Trung tâm 493
4.1.2 4Mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2015 593
4.2 Phương hướng nhằm hoàn thiện hoạt động Chuyển
giao công nghệ của Trung tâm
94
4.3 Các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Chuyển
giao công nghệ của Trung tâm
95
4.3.1 Nhóm các biện pháp gắn với qui trình CGCN 95
4.3.2 Nhóm các biện pháp nhằm hoàn thiện năng lực cán bộ
trong Trung tâm
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Hữu Xuyên, học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh khoá 2006 – 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, tôi không sao chép công trình nghiên cứu của cá nhân khác dưới bất kỳ hình thức nào Các thông tin, số liệu đưa ra trong luận văn có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của rất nhiều người, qua đây cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới họ
Trước hết, xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Đặng Vũ
Tùng về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu trong suốt quá trình làm luận văn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế
và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và những ý kiến góp ý để luận văn được hoàn thành tốt hơn
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới một số cán bộ thuộc Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ về mặt thủ tục, cách thức trình bày luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao, tác giả của các bài báo, tạp chí đã giúp tôi có những thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và hoàn thiện luận văn
8
Người thực hiện Nguyễn Hữu Xuyên
Trang 7Chương 1: Cơ sở lý luận về Chuyển giao công nghệ 112
1.1 1Khái quát về Công nghệ 112
1.2 Khái quát về Chuyển giao công nghệ 22
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến Chuyển giao công nghệ 27
1.2.4 Những chỉ tiêu đánh giá Chuyển giao công nghệ 32
Chương 2: Kinh nghiệm Chuyển giao công nghệ trong khu vực 40
2.1 Chuyển giao công nghệ ở một số nước Châu Á 40
2.1.1 Ảnh huởng của toàn cầu hóa đến Chuyển giao công nghệ 40
Trang 82.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 43
2.2 Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam 50
2.2.1 Thực trạng Chuyển giao công nghệ trong thời gian qua 50
2.2.3 Phương hướng nhằm hoàn thiện Chuyển giao công nghệ 60
Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động Chuyển giao công
nghệ của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao - Đại
3.2 2Thực trạng hoạt động Chuyển giao công nghệ của
Trung tâm
3
66
3.2.1 3Các thành quả đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu và
Chuyển giao công nghệ
3
66
3.2.2 Hiệu quả kinh tế của hoạt động Chuyển giao công nghệ 371 3.2.3 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ CGCN 374
3.2.5 3Thực trạng quá trình CGCN của Trung tâm 378
3.3 3Đánh giá hoạt động Chuyển giao công nghệ của Trung
Trang 9Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động Chuyển giao công nghệ của Trung tâm nghiên cứu triển
kha i Công nghệ cao - Đại học Bách khoa Hà Nội
4
93
4.1 4Mục tiêu phát triển của Trung tâm 493
4.1.2 5Mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2015 593
4.2 Phương hướng nhằm hoàn thiện hoạt động Chuyển
giao công nghệ của Trung tâm
94
4.3 Các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Chuyển giao
công nghệ của Trung tâm
95
4.3.1 Nhóm các biện pháp gắn với qui trình CGCN 95
4.3.2 Nhóm các biện pháp nhằm hoàn thiện năng lực cán bộ
trong Trung tâm
Trang 11Hình 2-1: Tính đồng bộ của dây truyền sản xuất công nghệ trong
các doanh nghiệp SXCN ở Việt Nam
51
Hình 3-2: Doanh thu của Trung tâm trong giai đoạn 2004 – 2007 71 Hình 3-3: Doanh thu từ hoạt động CGCN năm 2007 72 Hình 3-4: Quá trình thực hiện CGCN của Trung tâm 78 Hình 3-5: Trình tự hoạt động chuyển giao các công nghệ do Trung
tâm nghiên cứu, chế tạo
79
Hình 3-6: Qui trình xem xét, giải quyết yêu cầu của đối tác tiến tới
đàm phán và soạn thảo ký hợp đồng
82
Hình 3-7: Doanh số từ hoạt động chuyển giao các công nghệ do
Trung tâm nghiên cứu, chế tạo
84
Hình 3-8: Trình tự hoạt động môi giới công nghệ 85 Hình 3-9: Doanh thu từ hoạt động môi giới công nghệ 88 Hình 4-1: Trình tự giải quyết yêu cầu của đối tác sau chuyển giao 98
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỀU
Trang Bảng 1-1: Sự cần thiết tiến hành ĐMCN trong doanh nghiệp 29 Bảng 2-1: Chỉ số xếp hạng về công nghệ của Việt Nam năm 2004 51 Bảng 2-2: Xếp hạng về tình trạng PTCN của Việt Nam năm 2004 51 Bảng 2-3: Mức độ cần thiết tiến hành các hoạt động đầu tư, ĐMCN
tại các doanh nghiệp SXCN Việt Nam
53
Bảng 3-1 Số lượng lao động của Trung tâm từ năm 2004 đến 2007 75 Bảng 3-2: Cơ cấu lao động của Trung tâm hiện nay 76
Trang 13technology transfer at HiTech has been improve To perfect this activity and benefit the centre, the thesis concentrates on the contents following:
- Study basic concepts on technology components and technology transfer, technology transfer models influence factors and valuations of technology transfer
- Study the experience of technology transfer in some Asian countries and in VietNam to increase HiTech’s awareness of technology transfer
- Analyze the situation of technology transfer at HiTech to find out strengths and weaknesses of HiTech in technology transfer
- Propose solutions to improve technology transfer in HiTech
The author hopes that this thesis will contribute to the development of technology transfer at HiTech in the future
Trang 14hoạt động CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao cũng không ngừng cải thiện nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường KHCN trong nước và Quốc tế Để hoàn thiện hoạt động CGCN và coi hoạt động CGCN là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận và nâng cao thương hiệu của Trung tâm, luận văn đã tập trung phân tích các nội dung chính như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về công nghệ và CGCN Trong đó, tập trung phân tích các thành phần của công nghệ, chu trình sống của công nghệ, mô hình CGCN, các yếu tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá hoạt động CGCN
- Nghiên cứu hoạt động CGCN của một số quốc gia trong khu vực Châu Á và ở Việt Nam Từ đó nâng cao nhận thức về CGCN, học hỏi kinh nghiệm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, áp dụng phù hợp với điều kiện phát triển chung hiện nay của Việt Nam
- Phân tích thực trạng hoạt động CGCN của Trung tâm, mục tiêu phấn đấu, định hướng phát triển từ đó rút ra những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong hoạt động CGCN của Trung tâm
- Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm CGCN của một số nước trong khu vực Châu Á, thực trạng ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động CGCN phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay của Trung tâm
Với những nội dung được trình bày trong luận văn, tác giải mong muốn được đóng góp ý kiến nhỏ bé của mình trong việc phát triển hoạt động CGCN của Trung tâm trong thời gian tới
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Vào giữa những năm 60, ở các quồc gia đang phát triển nói chung đã không đặt nhiều quan tâm vào khoa học và công nghệ mới Họ cho rằng, do tồn tại một khoảng cách lớn về công nghệ giữa các nước đang phát triển và các nước đã phát triển nên những nước có thu nhập thấp dường như sẽ mãi mãi phụ thuộc vào thành quả của khoa học và công nghệ phát triển ở các nước giàu có và các nước tiên tiến Hơn nữa, cả những người ra chính sách ở cấp quốc gia và các khu vực có thể đều chấp nhận rằng, khoa học và công nghệ, cũng được định nghĩa như là “know-how” (bí quyết) đã được lưu truyền tự do trong mối quan tâm của các nhà sản xuất và người tiêu dùng
Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các nhà làm kinh tế, khoa học và công nghệ phải đối mặt với việc mua công nghệ và khi
đó rất nhiều vấn đề nảy sinh như làm thế nào để tìm kiếm công nghệ phù hợp, đánh giá, định giá công nghệ đó như thế nào, hợp đồng CGCN ra sao, vv Cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó thì thì hoạt động CGCN là một trong những hoạt động cần thiết không thể thiếu đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những sản phẩm có giá trị về tài chính và hàm lượng chất xám cao Vì vậy để phát triển đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận với các tri thức khoa học công nghệ, hoạt động sản xuất kinh doanh của các nước phát triển, các tổ chức khoa học công nghệ trên thế giới và Việt Nam cũng như hoạt động CGCN nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp khoa học công nghệ
Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao Đại học Bách khoa Hà Nội là một doanh nghiệp khoa học công nghệ có con dấu và tài khoản riêng
Trang 16hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam Trung tâm luôn phấn đấu trở thành một doanh nghiệp khoa học công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Công nghệ cao đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng và trở thành một chỗ dựa vững chắc về khoa học, công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế Vì thế, việc nghiên cứu hoạt động CGCN là cần thiết góp phần cải tiến, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh Trên cơ sở phân tích trên, tôi đã
chọn đề tài: "Một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động CGCN của
Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao - Đại học Bách khoa Hà Nội" làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Nghiên cứu phương pháp luận, các chỉ tiêu đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động CGCN
Ứng dụng các chỉ tiêu đó để đánh giá hoạt động CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao
Trên cơ sở phân tích thực trạng trên đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động CGCN của Trung tâm
3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Phân tích thực trạng hoạt động CGCN của trung tâm, từ đó đề xuất phương hướng, kế hoạch nhằm hoàn thiện hoạt động CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề có tính chất cụ thể ở tầm vi mô Công nghệ chuyển giao ở đây chủ yếu là công nghệ sản xuất
và gắn liền với việc nâng cấp, cải tiến, ĐMCN ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Trang 174 Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, kế thừa, thu thập thông tin qua các bài báo, tạp chí, internet, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích kinh tế, xã hội, điều tra tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia
5 Những đóng góp của luận văn:
Luận văn hệ thống hoá những kiến thức về hoạt động CGCN và phương pháp đánh giá hoạt động CGCN
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao
Đề xuất một số giải pháp cụ thể, sát thực và phù hợp nhằm hoàn thiện hoạt động CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao để nâng cao sức cạnh tranh của Trung tâm
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận văn được chia làm 4 chương:
Chương thứ nhất: Cơ sở lý luận về CGCN
Chương thứ hai: Kinh nghiệm CGCN trong khu vực
Chương thứ ba: Phân tích thực trạng hoạt động CGCN của Trung tâm
nghiên cứu triển khai Công nghệ cao
Chương thứ tư: Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
CGCN của Trung tâm nghiên cứu triển khai Công nghệ cao
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1.1 Khái quát chung về công nghệ
1.1.1 Các quan niệm về công nghệ
Quan niệm cũ về công nghệ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi tính chất, hình dạng, trạng thái, của nguyên vật liệu và bán thành phẩm để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh như công nghệ chế tạo máy điện, công nghệ sản xuất linh kiện điện tử, vv Như vây theo quan điểm này, công nghệ chỉ liên quan tới sản xuất vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy được và cảm nhận được, nó bao gồm hai thành phần, đó là máy móc và con người vận hành máy móc đó
Quan niệm của Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết
bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ như công nghệ du lịch, công nghệ giáo dục, vv Như vậy, công nghệ dùng chỉ mọi hoạt động trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội có sử dụng kiến thức khoa học nhờ đó mà công việc có hiệu quả hơn Như vậy, theo quan điểm này, công nghệ được nhìn nhận theo bốn khía cạnh sau:
- Thứ nhất, công nghệ là “Máy biến đổi”: Đề cập tới khả năng làm ra
sản phẩm đáp ứng và thoả mãn được yêu cầu về kinh tế, đây là khác biệt giữa khoa học và công nghệ: Công nghệ không tồn tại mãi mãi vì một công nghệ muốn xuất hiện thì phải hiệu quả hơn công nghệ cũ, còn khoa học là những phát minh, khám phá mang tính bền vững Khía cạnh này đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực
Trang 19tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ
- Thứ hai, công nghệ là “Một công cụ”: Đề cập tới công nghệ là sản
phẩm của con người vì thế mà con người có thể làm chủ được nó
- Thứ ba, công nghệ là “Kiến thức”: Đề cập tới công nghệ không nhất
thiết phải nhìn thấy được và nhấn mạnh rằng các công nghệ giống nhau thì chưa chắc đã cho kết quả như nhau Vì thế muốn sử dụng công nghệ có hiệu quả thì nhất thiết con người phải được đào tạo về kỹ năng, kiến thức và được cập nhật thông tin thường xuyên liên tục
- Thứ tư, công nghệ là “Hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”:
Đề cập tới công nghệ dù là kiến thức những vẫn được mua, bán Đó là công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo ra nó, nó bao gồm 4 thành phần: Kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức
Quan niệm công nghệ của ESCAP được nhiều người thừa nhận nhất vì
nó đề cập tới hai bản chất của công nghệ, đó là: Đề cập đến công nghệ là đề cập tới việc áp dụng kiến thức khoa học và đề cập đến khoa học là đề cập tới tính hiệu quả Quan niệm này có ưu điểm là tạo điều kiện cho rất nhiều hoạt động trở thành công nghệ như công nghệ văn phòng, công nghệ ngân hàng, công nghệ tiệc cưới, vv Bên cạnh đó nhược điểm của quan điểm này là lạm dụng thuật ngữ công nghệ và làm tăng thêm tính bất bình đẳng giữa lý luận và thực hành
Trên thực tế, tuỳ theo mục đích mà chúng ta sử dụng các quan điểm về công nghệ khác nhau: Trong lý thuyết tổ chức, người ta coi “Công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ”; Trong Luật khoa học và công nghệ Việt Nam, quan niệm: “Công nghệ là tập
Trang 20hợp các phương pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng
để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Như vậy, theo quan điểm về công nghệ của ESCAP thì bất kỳ công
nghệ nào cũng bao gồm 4 thành phần: Phần kỹ thuật, phần con người, phần thông tin và phần tổ chức
- Phần kỹ thuật (Technoware, ký hiệu là T): Công nghệ hàm chứa trong các vật thể như máy móc, thiết bị, phương tiện và cấu trúc hạ tầng Trong công nghệ sản xuất các vật thể này làm thành một dây truyền để thực hiện một quá trình biến đổi, ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ
- Phần con người (Humanware, ký hiệu là H): Công nghệ hàm chứa trong các kỹ năng của con người, bao gồm: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó được coi là các tố chất của con người trong đó tính sáng tạo được coi là quan trọng nhất
- Phần thông tin (Inforware, ký hiệu là I): Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá sử dụng trong công nghệ, nó bao gồm các các
lý thuyết, các phương pháp, các công thức, các thông số và các bí quyết công nghệ
- Phần tổ chức (Orgaware, ký hiệu là O): Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức, những qui định về quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ giữa các bộ phận trong công nghệ
Bốn thành phần công nghệ (T, H, I, và O) có quan hệ hữu cơ với nhau,
bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất kỳ thành phần nào Nếu không hiểu rõ mối tương hỗ này thì có thể dẫn đến lãng phí trong việc đầu tư trang thiết bị
do các thành phần công nghệ không đồng bộ khiến trang thiết bị hoạt động không phát huy hết các tính năng của nó
Trang 21- Phần kỹ thuật (T): Là cốt lõi của công nghệ, nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện mà con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ nhưng để một dây truyền công nghệ hoạt động được, cần có sự liên kết giữa phần kỹ thuật phần con người và phần thông tin, do có mối quan hệ này nên khi phần
kỹ thuật được nâng cấp thì phần con người và phần thông tin cũng phải nâng cấp tương ứng
- Phần con người (H: Đóng vai trò chủ động trong công nghệ, mở rộng các tính năng của công nghệ đồng thời quyết định mức độ hiệu quả của phần
kỹ thuật, điều này lại liên quan tới thông tin mà con người được trang bị và thái độ của họ dưới sự điều hành của tổ chức
- Phần thông tin (I): Nó được coi là sức mạnh của một công nghệ và được biểu hiện dưới dạng các tri thức được tích luỹ trong công nghệ, nhờ đó
mà các sản phẩm tạo ra có các đặc trưng mà các sản phẩm cùng loại của các công nghệ khác làm ra không thể có được Tuy nhiên sức mạnh của công nghệ lại phụ thuộc vào con người vì trong quá trình vận hành con người sẽ bổ sung, cập nhật thông tin của công nghệ đáp ứng được sự tiến bộ không ngừng của khoa học
- Phần tổ chức (O): Nó được coi là động lực của công nghệ đồng thời đóng vai trò điều hoà, phối hợp giữa ba thàh phần công nghệ trên để thực hiện hoạt động biến đổi hiệu quả được biểu hiện trong việc lập kế hoạch, tổ chức
bộ máy, bố trí nhận sự, động viên thúc đẩy và kiểm soát mọi hoạt động trong công nghệ
Mối quan hệ này được thể hiện bằng công thức sau:
τ = Tβt Hβh Iβi Oβo Trong đó:
Trang 22- τ là hàm lượng chất xám hay hệ số đóng góp của các thành phần công
Gía trị đóng góp của công nghệ vào giá trị gia tăng của một cơ sở (Ký hiệu là GVA), được xác định bằng công thức sau:
GVA = τ VA Trong đó: VA là giá trị gia tăng của cơ sở
Như vậy, qua phân tích ở trên ta nhận thấy:
- Phân kỹ thuật có thể thay đổi được nhưng rất ít
- Phần con người có thể thay đổi được nhưng chậm
- Phần thông tin có thể thay đổi dễ dàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công nghệ
- Phần tổ chức thì luôn thay đổi sao cho phù hợp với từng loại công việc
cụ thể nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả làm việc của công nghệ
1.1.2 Phân loại công nghệ
Theo tính chất công nghệ: Công nghệ sản xuất, dịch vụ, thông tin và
công nghệ giáo dục – đào tạo Theo Iso 8004.2 thì công nghệ dịch vụ có 4 loại: Công nghệ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn; Công nghệ du lịch,
Trang 23giao thông vận tải; Công nghệ cung cấp thông tin, tư liệu; Công nghệ huấn luyện và đào tạo
Theo ngành nghề kinh tế: Công nghệ công nghiệp, nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, quốc phòng, tiêu dung, vv
Theo sản phẩm: Mỗi loại sản phẩm lại có một loại tương ứng như công
nghệ sản xuất thép, ô tô, ximăng, cà phê, chè, vv
Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, hàng loạt và liên tục Theo t rình độ công nghê: Công nghệ truyền thống, tiên tiến và công
Theo đặc thù công nghệ: Công nghệ phần cứng và công nghệ phần
mềm Công nghệ phần cứng là công nghệ mà phần kỹ thuật là chủ yếu như công nghệ sản xuất điện năng, công nghệ phần mềm là công nghệ mà phần
mà phần kỹ thuật là thứ yếu như công nghệ du lịch, giáo dục, vv
Theo đầu ra của công nghệ: Công nghệ sản phẩm và công nghệ quá
Trang 24và dịch vụ bán hàng, còn công nghệ quá trình chỉ gồm quá trình chế tạo sản phẩm
Cuối cùng, một loại công nghệ mới xuất hiện làm đảo lộn căn bản cách phân loại công nghệ truyền thống đó là công nghệ cao Công nghệ cao có khả năng mở rộng phạm vi, có các đặc điểm như chứa đựng hàm lượng chất xám cao về nghiên cứu - triển khai, có giá trị chiến lược đối với Quốc gia, đầu tư lớn cùng độ rủi ro cao, thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác Quốc tế đồng thời sản xuất và tìm kiếm thị trường trên qui mô toàn quốc
1.1.3 Chu trình sống của công nghệ
Chúng ta phải nghiên cứu chu trình sống của công nghệ vì các lý do sau:
- Nắm được sự thay đổi biến động của công nghệ để có tác động điều chỉnh kịp thời và có kế hoạch tiếp tục khai thác có hiệu quả công nghệ đó
- Nắm được thời điểm cần phải đầu tư ĐMCN, nếu đổi mới sớm quá thì dẫn đến lãng phí Còn nếu thay đổi muộn quá thì rất khó thay thế, lãng phí sức người sức của
- Nắm vững chu trình sống của công nghệ để rút ra được chiến lược về sản phẩm, đặc biệt là chiến lược về chất lượng sản phẩm
- Nắm vững chu trình sống của công nghệ để đưa ra chiến lược về kế hoạch sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chiến lược về cải tổ bộ máy sản xuất và điều hành
Để hiểu rõ chu trình sống của công nghệ cần đề cập đến hai đặc trưng của nó, đó là giới hạn tiến bộ công nghệ và chu trình sống của sản phẩm
1.1.3.1 Giới hạn của tiến bộ công nghệ
- Bất kỳ một công nghệ đều có các tham số hoạt động, nếu biếu hiện các tham số này trên hệ trục toạ độ thì nó là một đường cong hình chữ S Vì
Trang 25thế, giới hạn của tiến bộ công nghệ là sự nâng cao về tham số hoạt động của công nghệ đó theo qui luật đường cong S (Hình 1-1):
Hình 1- 1: Giới hạn của tiến bộ công nghệ
- Đường cong chữ S có thể chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn phôi thai, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn bão hoà
+ Giai đoạn phôi thai là giai đoạn khởi đầu khi mới xuất hiện công nghệ, giai đoạn này công nghệ có nhiều khiếm khuyết
+ Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn công nghệ dần được hoàn thiện nhờ sự đóng góp của các ngành khoa học khác
+ Giai đoạn bão hoà là giai đoạn công nghệ đạt đến mức giới hạn của
nó như các giới hạn vật lý Ví dụ: Đối với đèn điện tử chân không thì giới hạn
là kích thước ống và công suất sợi đốt
- Ý nghĩa của đặc trưng chữ S là cho biết khi một công nghệ đạt tới giới hạn tự nhiên thì sẽ trở thành công nghệ bão hoà và chúng có khả năng bị thay thế hay loại bỏ
Tham số kỹ
thuật
Giai đoạn Giai đoạn
bão hoà Giới hạn vật lý
Thời gian
tăng trưởng
Giai đoạn phôi thai
Trang 26Khối
lượng
bán
Thời gian bán sản phẩm
+ Giai đoạn F là giai đoạn khối sản phẩm bán rất chậm và chúng dần bị thay thế bởi sản phẩm cùng loại khác và cuối cùng sẽ bị loại bỏ trên thị trường,
Trang 271.1.3.3 Quan hệ giữa chu trình sống của công nghệ với thị trường
- Mối quan hệ giữa chu trình sống của công nghệ và thị trường tiêu thụ
nó được thể hiện theo 6 giai đoạn sau (Hình 1-3):
Hình 1- 3: Mối quan hệ giữa chu trình sống của công nghệ và thị trường tiêu
+ Giai đoạn C là giai đoạn số người sử dụng công nghệ tăng nhanh do
sự hoàn thiện của công nghệ và đã khẳng định được các tính năng ưu việt của
Trang 281.1.3.4 Ý nghĩa của chu trình sống công nghệ
- Công nghệ xuất hiện trên thị trường luôn thay đổi và số lượng người
sử dụng cũng thay đổi do tiến bộ công nghệ và nhu cầu của thị trường
- Khi sử dụng công nghệ để sản xuất và kinh doanh thì muốn tồn tại phải thực hiện chu trình công nghệ bằng cách quan sát trên thị trường Quốc
tế để tìm kiếm các công nghệ mới Sau khi tìm kiếm được công nghệ mới cần thích nghi chúng, làm chủ, nâng cấp và chọn thời điểm thích hợp để loại bỏ chúng
- Sử dụng chu trình sống của công nghệ để dự báo, lựa chọn thời điểm đầu tư hợp lý đồng thời xây dựng được chính sách và chiến lược sản phẩm nhằm tăng hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh trên thị trường
1.2 Khái quát về CGCN
1.2.1 K hái niệm về CGCN
Khái niệm tổng quát: CGCN là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi ranh
giới nơi sản sinh ra nó
Theo quan điểm quản lý công nghệ: CGCN là tập hợp các hoạt động
thương mại và pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào mục đích đã định
Theo luật CGCN: Là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một
phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ Còn hoạt động CGCN gồm CGCN và dịch vụ CGCN Dịch vụ CGCN
là hoạt động hỗ trợ, tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao
1.2.1.1 Bên giao và bên nhận công nghệ
Việc CGCN có thể được thực hiện ở các cấp khác nhau giữa bên nhận và bên giao: Giữa cá nhân và cá nhân, giữa một tổ chức và một tổ chức khác;
Trang 29giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa cá nhân và tổ chức, giữa tổ chức và quốc gia (Hình 1-4):
Hình 1- 4: Mô hình chuyển giao công nghệ 1.2.1.2 C ơ chế CGCN
Cơ chế CGCN là những hình thức mà nhờ đó, công nghệ được chuyển tới bên nhận Những cơ chế chuyển giao đựoc phân loại thành cơ chế gián tiếp và trực tiếp hay theo hợp đồng và không theo hợp đồng hay cơ chế thị
trường và phi thị trường Trong khuôn khổ luận văn này, các cơ chế CGCN sẽ được phân thành 2 loại, đó là các cơ chế thị trường và phi thị trường
- Khái niệm “thị trường” dùng để chỉ những cơ chế mà động cơ thúc đẩy ban đầu cho việc CGCN chính là lợi nhuận Lợi nhuận được coi như yếu tố cơ bản và quan trọng để xác định sự tăng trưởng, ưu thế cạnh tranh và khả năng sinh lợi của cả bên giao và bên nhận
- Ngược lại, khái niệm “phi thị trường” được dùng để chỉ những cơ chế
mà các đại lượng thị trường và lợi nhuận không phải lúc nào cũng là động cơ của chuyển giao
Cơ chế thị trường: Chuyển giao trang thiết bị; Đầu tư nước ngoài trực
tiếp; Hợp tác công nghệ; Thỏa thuận cung cấp dịch vụ công nghệ; Hợp đồng
chìa khóa trao tay; Dịch vụ chuyên gia; Hợp đồng quản lý, vv
Bên giao công nghệ
Bên nhận công nghệ
CÔNG NGHỆ
Môi trường bên giao Môi trường bên nhận
Cơ chế chuyển giao
Trang 30Các cơ chế phi thị trường: Chuyển giao sách, tạp chí chuyên môn; Dịch
vụ thông tin công nghệ; Hội trợ triển lãm; Dự các hội thảo,chuyên đề; Những
mối liên hệ cá nhân; Hợp tác đào tạo, vv
1.2.1.3 Môi tr ường của bên giao công nghệ
Môi trường bên giao bao gồm những điều kiện, qui ước mà bên nhận phải tuân theo như tình trạng kinh tế, tình trạng công nghệ, xu thế hướng nội hay hướng ngoại, tình hình ổn định, thái độ và những thỏa ước về các hoạt động CGCN, vv Tuy nhiên, nếu bên chuyển giao muốn thực hiện một CGCN thì trước tiên bên nhận chuyển giao và môi trường bên nhận phải sẵn sàng
1.2.1.4 Môi tr ường của bên nhận công nghệ
Môi trường của bên nhận được xác định chủ yếu bởi khả năng tiếp thu công nghệ của bên nhận công nghệ như cơ sở hạ tầng về vật chất và tổ chức, những kỹ năng sẵn có, thái độ và những qui định đối riêng, tình trạng kinh tế, tình trạng công nghệ và mức độ ổn định
1.2.1.5 Môi tr ường CGCN
Môi trường CGCN chung bao quanh môi trường của bên giao và bên nhận, nó phụ thuộc vào cấp độ của bên giao và bên nhận Thậm chí nếu phía bên giao và phía bên nhận đã sẵn sàng thì việc chuyển giao này chỉ được thực hiện khi nào điều kiện môi trường chung cho phép
Trang 31- Sở hữu công nghiệp được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền cấp nếu chủ sơ hữu nộp đơn yêu cầu
Bí quyết, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng các phương án, giải pháp kỹ thuật, qui trình công nghệ, phầm mềm, tài liệu thiết kế, vv có hoặc không kèm theo máy móc thiết bị
Các giải pháp hợp lý hoá sản xuất và ĐMCN
Các hình thức dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ CGCN như: Hỗ trợ lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử nghiệm; Tư vấn quản lý, hướng dẫn thực hiện qui trình chuyển giao; Đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý để nắm vững công nghệ được chuyển giao
Máy, thiết bị, phương tiện kỹ thuật kèm theo các đối tượng nêu trên
1.2.1.7 Phân loại CGCN
Căn cứ vào chủ thể tham gia chuyên giao: CGCN nội bộ; CGCN trong
nước; CGCN nước ngoài
Căn cứ theo loại hình công nghệ chuyển giao: CGCN sản phẩm;
CGCN quá trình
Căn cứ theo hình thái công nghệ được chuyển giao: CGCN theo chiều
dọc; Chuyển giao theo chiều ngang
- CGCN theo chiều dọc bao gồm: Công nghệ chưa có trên thị trường: Công nghệ chưa được triển khai, bên nhận có được công nghệ hoàn toàn mới nếu triển khai thành công; Công nghệ đã có trên thị trường: Chuyển giao từ việc nghiên cứu, triển khai, sử dụng và đã có trên thị trường Bên nhận dễ dàng làm chủ được công nghệ
- Chuyển giao theo chiều ngang: Công nghệ chuyển giao đã có trên thị
Trang 32Trên thực tế, chuyển giao theo chiều dọc chiếm 5% tổng số CGCN trên toàn thế giới Bên nhận cần có năng lực triển khai đối với công nghệ chưa có trên thị trường và chi phí chuyển giao cao đối với trường hợp công nghệ đã có trên thị trường
1.2.2 Vai trò của CGCN
Cùng với sự phát triển kinh tế thì CGCN có một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần vào việc tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp trong nước Hoạt động CGCN thể hiện rõ nét ở những mặt sau:
- Nâng cao trình độ công nghệ trong nước, đặc biệt là đối với một số ngành mới phát triển trong những năm gần đây như công nghiệp, xây dựng, viễn thông, vv đã có khả năng tiếp cận đối với những công nghệ tiên tiến trên thế giới
- Nâng cấp, đổi mới dây truyền SXCN Đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài hầu hết các dây chuyền sản xuất có tính đồng bộ, trình độ tự động hoá cao, thuộc loại tiên tiến như các ngành điện tử, sản xuất máy tính, công nghiệp ô tô, công nghiệp giấy, vv
- Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, tạo ra những sản phẩm
có chất lượng, mẫu mã tốt, góp phần thay thế hàng nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu như các ngành dệt may, hàng nông thủy sản, vv
- Nâng cao trình độ, năng lực quản lý sản xuất, kinh doanh theo hướng tiếp cận được với phương thức quản lý mới trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của CGCN có ý nghĩa như vậy, tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân, một số công nghệ và thiết bị lạc hậu đã được chuyển giao vào Việt Nam và đã
có những hậu quả xấu đến kinh tế, xã hội và môi trường Nhiều doanh nghiệp
Trang 33trong nước còn thiếu hiểu biết về pháp luật CGCN, năng lực và kiến thức nghiệp vụ về thương thảo, lập Hợp đồng CGCN Do vậy đã có nhiều hợp đồng CGCN có nhiều thiếu sót, gây khó khăn khi triển khai Có nhiều doanh nghiệp không lập, ký kết, phê duyệt, đăng ký Hợp đồng CGCN Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ CGCN chưa được quan tâm đúng mức, doanh nghiệp chưa có nhiều thông tin và tư vấn về công nghệ
Thực tế đó đã đặt ra những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới về
tăng cường công tác quản lý nhà nước về quản lý, kiểm soát hoạt động CGCN Trước yêu cầu bức xúc đó, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông qua Luật CGCN trong đó ban hành nhiều quy định mới khuyến khích CGCN Đây
là một mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động quản lý CGCN, khẳng định sự quan tâm của Chính phủ, các cấp, các ngành đối với lĩnh vực CGCN; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, khuyến khích ĐMCN, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của nước ta
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến CGCN
Trong những năm vừa qua, hoạt động CGCN trên thị trường công nghệ thế giới và trong nước đã diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ, những yếu tạo thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động CGCN có thể tóm tắt như sau:
1.2.3.1 Những yếu tố thúc đẩy hoạt động CGCN
Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá: Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, doanh nghiệp có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức công nghệ, các nguồn lực
và kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường năng lực hoạt động CGCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội
Trang 34Tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra những công cụ tiên tiến giúp CGCN dễ dàng: Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học & công nghệ hiện đại, doanh nghiệp có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình nghiên cứu và khoảng cách về công nghệ so với các doanh nghiệp nước ngoài
Thực tiễn đã chứng minh rằng hoạt động CGCN đã mang lại lợi ích cho
cả hai bên tham gia: Bên nhận công nghệ nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ còn bên giao công nghệ có điều kiện để đổi mới, cải tiến công nghệ, ngoài ra có còn đem lại các lợi ích kinh tế khác cho cả hai bên tham gia
Nhu cầu về công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng tăng: Quá trình CGCN giữa các doanh nghiệp gắn liền với việc ĐMCN Ngày nay hầu hết các doanh nghiệp đã nhận thực được vai trò của công nghệ trong việc nâng cao năng suất, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành
hạ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Đầu tư cho nghiên cứu triển khai đã được nhiều các doanh nghiệp chú
ý, kể cả các doanh nghiệp tư nhân Theo báo cáo kết quả khảo sát về ĐMCN tại các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam năm 2006 của CIEM kết hợp với UNDP thì mức độ đầu tư tài chính cho việc ĐMCN của các doanh nghiệp đã tăng lên, chiếm khoảng 3% doanh thu hằng năm, tuy nhiên mức độ đầu tư tài chính rất khác nhau giữa các doanh nghiệp Theo loại hình sở hữu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang có ưu thế cao hơn về trình độ công nghệ do có khả năng về vốn và cơ hội CGCN, tiếp cận công nghệ tiên tiến của nước ngoài, hầu hết các doanh nghiệp vốn nhà nước, tư nhân nhiều công nghệ, máy móc thiết bị cũ, thủ công nhưng vẫn được sử dụng tương đối phổ biến (Bảng 1-1)
Trang 35Bảng 1-1:Sự cần thiết tiến hành ĐMCN trong doanh nghiệp:
Các hoạt động
Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá Kết quả
đánh giá Không
cần thiết
Cần thiết
Rất cần thiết Cải tiến dây truyền
công nghệ hiện tại
Đầu tư mới dây truyền
công nghệ hiện tại
Nguồn CIEM & UNDP, (2006)
Chú giải: + Mức độ đánh giá là 1 ứng với không cần thiết
+ Mức độ đánh giá là 2 ứng với cần thiết
+ Mức độ đánh giá là 3 ứng với rất cần thiết
Hầu hết các doanh nghiệp được hỏi đều cho rằng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì các doanh nghiệp cần thiết phải ĐMCN để nâng cao sức cạnh tranh
1.2.3.2 Những yếu tố kìm hãm hoạt động CGCN
* Yếu tố khách quan:
Trang 36- Bản thân công nghệ vốn phức tạp nên các công nghệ được coi là CGCN thường có trình độ cao hơn trình độ của bên nhận nên bên nhận thường khó khăn trong việc vận hành và làm chủ công nghệ
- Công nghệ là kiến thức có hệ thống, do đó CGCN mang tính chất ẩn, kết quả chuyển giao mang tính bất định vì công nghệ không chỉ nằm trong máy móc, tài liệu kỹ thuật mà còn ở con người, tổ chức thực hiện vì thế bên giao công nghệ khó có thể truyền đạt tất cả những gì họ có trong một thời gian ngắn
- Sự khác biệt về trình độ dẫn tới những khó khăn trong việc truyền đạt và hoà hợp
* Về phía bên giao công nghệ:
- Động cơ của bên giao công nghệ thường khó xác định như phụ thuộc vào chiến lược, định hướng phát triển, các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, vv Mục tiêu duy nhất và cao nhất của họ thường là thu được lợi nhuận nhiều, để
có lợi nhuận cao hơn họ thường giảm chi phí đào tạo, hướng dẫn vận hành làm cho bên nhận chuyển giao gặp khó khăn trong việc làm chủ công nghệ
- Trong quá trình chuyển giao thường lo lắng về vấn đề sở hữu bản quyền công nghệ, lo ngại về khả năng thu hồi vốn đầu tư do
- Bên CGCN lo ngại về việc bên nhận công nghệ trở thành đối thủ cạnh tranh gây lên hiệu ứng Boomerang- gậy ông đập lưng ông Do đó bên CGCN thường cố ý trì hoãn hoặc chỉ giao thông tin đủ để vận hành
* Về phía bên nhận công nghệ:
- Cơ sở hạ tầng kinh tế chưa phù hợp như hệ thống điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, cùng hệ thống hỗ trợ, vv làm cho quá trình chuyển giao, sử dụng công nghệ không đủ điều kiện kỹ thuật đòi hỏi theo yêu cầu của bên giao công nghệ
Trang 37- Cơ sở hạ tầng công nghệ chưa đủ như nhân lực chuyên môn, tổ chức thực hiện, đặc biệt năng lực nghiên cứu và triển khai nội bộ, dẫn tới khó có khả năng đồng hoá, tiến tới làm chủ công nghệ
- Theo báo cáo kết quả khảo sát thực trạng đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ tại 124 doanh nghiệp do Chương trình kinh tế kỹ thuật về tự động hoá phối hợp với Tạp chí tự động hóa tiến hành năm 2005 cho thấy: Phía doanh nghiệp chưa có tầm nhìn dài hạn mang tính chiến lược, do đó rất ngại đổi mới, nhận CGCN hiện đại đưa vào sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp (chỉ có 68/124 doanh nghiệp sử dụng công nghệ có điều khiển bán tự động, còn lại phần lớn là điều khiển hoàn toàn bằng tay)
- Bên cạnh đó một nguyên nhân từ chính nội bộ bên trong doanh nghiệp như thiếu vốn, thiếu thông tin về công nghệ và thị trường, thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn cao hay do chính sách khuyến khích đầu tư, qui định pháp luật về CGCN chưa thoả đáng
+ Thiếu vốn: Đây là nhân tố có tác động cản trở lớn nhất đối với quá trình ĐMCN của doanh nghiệp, các doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn về vốn và huy động vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư ĐMCN, trong khi đó thị trường vốn trung và dài hạn của nước ta chưa phát triển mạnh mẽ Một số qui định hiện hành cho việc vay vốn lại bất cập hay đòi hỏi lãi suất vay quá cao nên không khả thi đối với doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp tư nhân
+ Thiếu thông tin về công nghệ và thị trường: Hạn chế này một phần
do doanh nghiệp; Thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn và nhân lực cần thiết; Thiếu cơ hội tiếp xúc, nắm bắt công nghệ mới; Qui trình xin hỗ trợ cho ĐMCN phức tạp và kéo dài; Sợ các rủi ro khi đầu tư, vv
Trang 38- Trong quá trình tiến hành các hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp mối quan hệ giữa các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nước với các doanh nghiệp chưa được thể hiện rõ ràng, còn mờ nhạt Đây cũng là tình trạng phổ biến của nhiều nước đang phát triển và đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi khi nhà nước đóng vai trò chủ yếu cung cấp tài chính cho hoạt động nghiên cứu triển khai
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động CGCN
Hoạt động CGCN là một dạng hoạt động tương đối khác biệt, vì vậy, việc đo lường hoạt động CGCN nhằm đưa ra những chỉ tiêu định lượng cũng khá đặc thù Nói chung, người ta cho rằng có hai tập hợp số liệu được tập trung nghiên cứu về phương diện lý thuyết để đo lường hoạt động CGCN Hai tập hợp các chỉ tiêu đó là: Những chỉ tiêu thống kê đầu vào (Input Indicator) cho CGCN và Những chỉ tiêu thống kê đầu ra (Output Indicator) của hoạt động CGCN
Số liệu thống kê đầu vào cho CGCN là nhóm chỉ tiêu thống kê rất quan trọng Chúng cho biết nỗ lực, cố gắng, mức độ đầu tư cả về nhân lực và tài chính của khu vực, quốc gia, doanh nghiệp dành cho hoạt động CGCN Những chỉ tiêu này bao quát các chỉ tiêu về nhân lực CGCN, kinh phí cho hoạt động CGCN Thống kê đầu vào cho CGCN còn được mở rộng cho các hoạt động khác như dịch vụ CGCN Việc thống kê những đầu vào này cũng cung cấp những chỉ tiêu có giá trị về mức độ đầu tư cho CGCN, thông qua đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, có trình độ cao hoặc cho việc đảm bảo các dịch vụ phụ vụ cho CGCN
Trên thực tế, khó có thể kể hết những dạng đầu ra của hoạt động CGCN,
vì ngoài những đầu ra nhìn thấy được như số lượng và chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh sản phẩn trên thị trường còn có những dạng đầu ra không
Trang 39thể nhìn thấy hoặc chỉ cảm thấy (định tính) như nâng cao trình độ dân trí, nâng cao tri thức, nâng cao năng lực của nguồn nhân lực KHCN, vv
Ngày nay, không quốc gia hay doanh nghiệp nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để làm ra tất cả các công nghệ cần thiết một cách kinh tế, do
đó để có một công nghệ họ thường cân nhắc về phương diện kinh tế giữa mua và làm
1.2.4.1 Đối với bên nhận công nghệ
- Có được chi phí thấp hơn hay những hoạt động hợp lý, đáng giá từ việc học hỏi kinh nghiệm của bên giao
- Tránh chi phí nghiên cứu & triển khai và thông qua việc sao chép, nhờ
đó nguồn tài nguyên hạn hẹp sẵn có sẽ được sử dụng tốt hơn khi tập trung cho việc hấp thụ và cải tiến nâng cao công nghệ nhận được
- Sản xuất được những sản phẩm phù hợp thông qua công nghệ nhận được Sản phẩm này sẽ đáp ứng sát với nhu cầu của khách hàng hơn bằng cách học hỏi kinh nghiệm từ phía bên giao
- Tạo ra công ăn việc làm và những cơ hội đầu tư trong các lĩnh vực mà phía nhận công nghệ không thể hoạt động do thiếu công nghệ phù hợp
- Đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh của xuất khẩu trong thị trường quốc tế bằng cách tiếp nhận công nghệ mà nó có thể giúp cho bên nhận sản xuất những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường quốc tế
- Đáp ứng yêu cầu bảo vệ đất nước và các yêu cầu khác về chính trị Bắt kịp với những PTCN gần nhất vì lý do chính trị và kinh tế xã hội, thông qua các bước nhảy bậc trong năng lực công nghệ nhờ vào CGCN tiên tiến
- Đối với các doanh nghiệp KHCN cần thống kê các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra khi quyết định nhận CGCN như nhân lực KHCN cần có, cơ
Trang 40sở vật chất hạ tầng , mức độ đầu tư, các dịch vụ, chi phí phát sinh kèm theo,
số lượng, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường, vv
1.2.4.2 Đối với bên giao công nghệ
- Thu nhập từ việc bán công nghệ: Đây là những lợi ích rõ ràng nhất của bên giao công nghệ và tạo thu nhập tiềm năng như cung cấp các thiết bị thay thế các dịch vụ kỹ thuật khác sau khi hết bảo hành
- Tạo ra tài sản vô hình (goodwill): Những lợi ích trực tiếp từ việc chuyển giao mà sản phẩm của công nghệ đó vẫn mang tên nhà cung cấp và mọi sự thành công của sản phẩm sẽ là sự quảng bá cho nhà cung cấp hay nó tạo ra danh tiếng và tạo điều kiện cho việc phát triển sản phẩm của nhà cung cấp công nghệ sau này
- Thâm nhập thị trường với chi phí sản xuất thấp hơn: Đối với nhà cung
cấp công nghệ, CGCN thường là một cách để hạ thấp chi phí sản xuất Bởi vì lao động có tay nghề ở nước đang phát triển là rẻ hơn ở nước của nhà cung cấp Một chi phí sản xuất thấp sẽ cho nhà cung cấp một lợi thế cạnh tranh rõ ràng trên thị trường Hầu hết các nước đang phát triển rất có ý thức về chi phí lao động ở nước họ
- Tạo ra những thị trường mới với rủi ro và chi phí thấp: Những doanh nghiệp nhỏ và vừa của các nước phát triển gặp phải một số vấn đề rắc rối khi bán những sản phẩm của họ ra quốc tế Để tạo ra một thị trường mới, họ cần tới những chuyên gia của đối tác địa phương Việc CGCN cho một doanh nghiệp tại nước đang phát triển đôi khi là một chiến lược tiếp thị thông minh cho nhà cung cấp Hơn nữa, nhà cung cấp cũng cần tạo ra một mối liên hệ có lợi với những khu vực mới, việc này có thể sẽ dẫn đến khả năng tăng lợi nhuận Tuy nhiên cũng có những rủi ro cho các nhà cung cấp công nghệ