1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạch định chiến lược phát triển cấp nước vùng nông thôn tỉnh bà rịa vũng tàu đến năm 2020

114 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phát triển năng động, là một trong các tỉnh có tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất trong cả nước trong đó có vùng nông

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hoạch định chiến lược phát triển Cấp nước vùng nông thôn

tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020

VŨ THỊ LOAN

Người hướng dẫn khoa học: Nguyễn Đại Thắng

HÀ NỘI 2007

Trang 2

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 3

biểu của Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, ông John Hendra, tại lễ công bố Báo cáo HDR năm nay ở Hà Nội "Hơn hai phần ba dân số

Việt Nam bị nhiễm những căn bệnh liên quan tới nước không sạch và tình trạng kém vệ sinh", theo lời Tiến sỹ Hans Troedsson, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế

Thế giới tại Việt Nam “Đạt được an ninh về nước cho tất cả mọi người sẽ có nghĩa là mỗi người được tiếp cận nước sạch ở mức giá có thể chi trả được để họ

có một cuộc sống mạnh khoẻ, đàng hoàng và có năng suất”

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2000-

2005 đã đem lại những tiến bộ lớn: hiện nay 60% người dân nông thôn đã có tiếp

cận nước sạch (gần 40 triệu người), 50% hộ nông thôn có tiếp cận nhà vệ sinh đạt chuẩn, càng ngày càng có thêm các tiện ích xử lý nước thải cho các trang trại gia súc và làng nghề

“Việt Nam đã có tiến bộ to lớn, đã đạt được chỉ tiêu về nước như Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đề ra, và theo dự kiến 85% hộ nông thôn sẽ có tiếp

cận nước sạch tính tới thời điểm vào năm cuối Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội 2010”, Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc, ông John Hendra cho biết

“Nhưng vẫn tồn tại một số thách thức Phải tăng đầu tư cơ sở hạ tầng để cấp nước sạch và vệ sinh cho các đô thị mới đang tăng trưởng rất nhanh chóng của Việt Nam”

Trang 3

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 4

Bà Rịa – Vũng Tàu là Tỉnh dành nhiều sự quan tâm cho cấp nước

sạch và vệ sinh nông thôn, mặc dù là tỉnh được đánh giá là địa phương khan hiếm tài nguyên nước, nhưng tình trạng đói nghèo về nước cơ bản đã được giải quyết, 98% dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 30% đã dùng nước máy đã thể hiện sự nhất quán trong nhận thức và hành động, thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Tỉnh và lãnh đạo Sở Nông nghiệp trong lĩnh vực này

Tuy nhiên, trong thời gian qua nhiều sự kiện trong nước và quốc tế đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước Cùng với cả nước, Tỉnh

Bà Rịa Vũng Tàu nói chung và cấp nước nông thôn nói riêng cũng đã và đang

tiến hành những biện pháp cải cách tích cực, chủ động, đúng hướng, có thứ tự theo đúng tiêu chuẩn để hòa nhập vào quỹ đạo quốc tế, tận dụng đầy đủ tư cách thành viên của WTO để dành lợi ích kinh tế lớn nhất Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phát triển năng động, là một trong các tỉnh có tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất trong cả nước trong đó có vùng nông thôn, việc gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nông thôn là nhu cầu cấp thiết

và không thể thiếu các công trình cấp nước có quy mô công nghiệp, hiện đại, cung cấp nước có chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn ngày càng cao, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ

Bên cạnh vận hội phát triển còn có những thách thức đối với nền kinh tế nói chung và Cấp nước nông thôn Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng; theo cam kết về lộ trình cắt giảm thuế và từ bỏ sự bảo hộ của Chính phủ nên nguồn tài chính sẽ giảm mạnh, nguy cơ thiếu vốn để đầu tư các công trình cấp nước trên địa bàn tỉnh Bà

Rịa Vũng Tàu đã hình thành Do vậy cấp nước nông thôn phải có hướng đi mới mang tính bứt phá và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Hoạch định chiến lược

làm luận văn tốt nghiệp

1 M ục đích của luận văn:

- Nghiên cứu các lý luận có liên quan đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội

- Phân tích môi trường hoạt động của Trung tâm nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, qua phân tích tìm ra các cơ hội, thách thức cũng như điểm mạnh, điểm yếu của Cấp nước nông thôn Bà

Rịa-Vũng Tàu

Trang 4

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 5

- Xây dựng chiến lược và đề xuất các giải pháp để đạt được mục tiêu phát triển

cấp nước nông thôn Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020

2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn thực hiện với các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích thống kê, phân tích kinh tế, mô phỏng, so sánh tổng hợp

Dữ liệu được thu thập trên cơ sở các báo cáo của Sở Kế hoạch-Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Báo cáo chính trị và báo cáo kinh tế xã hội tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu lần thứ IV Ngoài ra dữ

liệu được thu thập trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, khảo sát của các đơn vị địa chất thủy văn, trên Internet… và tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý có kinh nghiệm để trình bày luận văn

Thông tin thứ cấp có từ:

- Nguồn tài liệu nội bộ của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh: các hồ sơ, tài liệu thống kê, lưu trữ, báo cáo tổng kết tháng, quý, năm…

- Nguồn tài liệu bên ngoài thông qua báo, đài, tạp chí, tập san định kỳ; các tài liệu thống kê; các báo cáo tổng kết của các Trung tâm Nước khác…

Thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp nhằm:

- Lấy ý kiến của ban lãnh đạo và chuyên gia của Cấp nước nông thôn tỉnh

- Lấy ý kiến khách hàng thông qua hệ thống phân phối

Phương pháp xử lý thông tin:

Vận dụng các kỹ thuật, các công cụ quản trị chiến lược để thực hiện:

- Phân tích môi trường để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội, nguy cơ của Cấp nước nông thôn Bà Rịa Vũng Tàu

- Vận dụng ma trận SWOT kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ nguy cơ nhằm đề ra các kế hoạch phát triển Cấp nước nông thôn

3 Ph ạm vi nghiên cứu:

Luận văn này tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động đầu tư của Cấp nước nông thôn tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Các nội dung nghiên cứu, từ việc phân tích thực trạng môi trường hoạt động đều

Trang 5

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 6

được đề cập trong phạm vi tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Qua nghiên cứu phân tích, đề xuất các giải pháp để phát triển Cấp nước nông thôn Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020 mang tính chiến lược

4 K ết cấu của luận văn:

- Phần mở đầu

- Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược và quản lý chiến lược

- Chương II: Phân tích cơ sở hoạch định chiến lược phát triển Cấp nước vùng nông thôn Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020

- Chương III: Hoạch định chiến lược phát triển Cấp nước vùng nông thôn

Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020

- Kết luận

- Tài liệu tham khảo

- Danh mục các phụ lục

Trang 6

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 7

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ

1.1 T ỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC:

1.1.1 Khái ni ệm:

Khái niệm "chiến lược" được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau đó, trong lĩnh vực chính trị Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, khái niệm chiến lược được sử dụng sang lĩnh vực kinh tế, xã hội "Chiến lược" thường được hiểu là hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong

thời gian dài Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cho

rằng: "Thông thường, một chiến lược phát triển có thể mô tả như bản phác thảo quá trình phát triển nhằm đạt những mục tiêu đã định cho một thời kỳ từ 10 - 20 năm; nó hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực Như vậy, có thể nói chiến lược cung cấp một "tầm nhìn" của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán trong các biện pháp tiến hành Chiến lược có thể là cơ sở cho các kế hoạch phát triển toàn diện ngắn hạn và trung

hạn, hoặc là một nhận thức tổng quát không bị ràng buộc của những người trong cuộc trong thời kỳ đó về những triển vọng, những thách thức và những đáp ứng mong muốn"

Trong kinh tế thương trường là chiến trường, chiến lược phải xuất hiện khi có cạnh tranh gay gắt hoặc do môi trường kinh tế xã hội có biến động

+ Do khoa học kỹ thuật phát triển nhanh được áp dụng ngày càng nhiều trong sản xuất và trong quản lý, làm cho vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn Sự xuất hiện

của công nghệ thông tin làm cho phương pháp quản lý được liên tục đổi mới

+ Sự phát triển nhanh của xã hội tiêu dùng, hướng tiêu dùng biến đổi nhanh, người tiêu dùng ngày càng biết nhiều thông tin về sản phẩm nên ngày càng đòi hỏi nhiều hơn từ phía các nhà sản xuất

Trang 7

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 8

+ Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới làm cho quan hệ trao đổi kinh tế quốc tế ngày càng phát triển cả trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa đến việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

+ Nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn dần và khan hiếm, các nhà hoạch định chiến lược phải tìm cách sản xuất ra nhiều sản phẩm mà không sử dụng nhiều nguyên liệu

Trong quản trị, khái niệm chiến lược được thể hiện qua các quan niệm sau:

- Chiến lược như những quyết định, những hành động hoặc những kế hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và thực hiện những mục tiêu của một tổ chức

- Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến các mục tiêu đảm bảo sao cho năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ

hội và thách thức từ bên ngoài

- Theo Fred R David thì chiến lược là những phương tiện đạt đến mục tiêu dài hạn

- Theo Alfred Chadler đại học Harvard thì chiến lược là sự xác định các mục tiêu

cơ bản và lâu dài của một doanh nghiệp, và là sự vạch ra một quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó

- Nói chung các khái niệm, định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng luôn bao hàm các nội dung:

+ Xác định các mục tiêu ngắn và dài hạn của doanh nghiệp

+ Đưa ra và lựa chọn các phương án

+ Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó

1.1.2 M ột số yêu cầu và ý nghĩa của chiến lược

Để chiến lược đạt được mục đích phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Chiến lược phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong từng thời kỳ và phải được quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

Trang 8

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 9

- Chiến lược phải đảm bảo huy động tối đa và kết hợp một cách tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm phát huy các lợi

thế và nắm bắt được các cơ hội kinh doanh để dành ưu thế cạnh tranh

- Chiến lược được phản ánh như quá trình liên tục từ việc xây dựng chiến lược đến việc thực hiện, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược

- Chiến lược được lập ra cho một khoảng thời gian tương đối dài thường là 3 năm, 5 năm hay 10 năm Chiến lược không đồng nghĩa với các giải pháp tình

thế nhằm ứng phó với các khó khăn doanh nghiệp đang gặp phải Các chiến lược định rõ các lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, cho phép doanh nghiệp năng động hơn, chủ động tạo ra những thay đổi (chứ không chỉ là phản ứng lại) để cải thiện vị trí của mình trong tương lai

Đối với một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt sẽ mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng như:

- Cải thiện hình ảnh của công ty đối với khách hàng, môi trường

- Cải thiện môi trường kinh doanh

- Chiếm lĩnh ưu thế cạnh tranh,Tăng năng suất

- Tăng lợi ích kinh tế, cải thiện các chỉ tiêu kinh tế và nhiều lợi ích khác như nâng cao được thu nhập và mức sống của người lao động

1.1.3 Các tính ch ất của chiến lược

1 Chiến lược kinh doanh là sự tương hợp của 3 yếu tố đặc trưng: 3 E

- E1: Enterprise (doanh nghiệp) Là những điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ

cạnh tranh trên cơ sở phân tích 3 cấp độ: Ưu thế cạnh tranh dài hạn về nguồn lực; về sản phẩm, thị trường và vị thế cạnh tranh trên thị trường mục tiêu

- E2: Environment (môi trường) Là những cơ hội và đe dọa của môi trường đối với sự phát triển của doanh nghiệp

- E3: Entrepreneur (chủ doanh nghiệp) Là sự mong muốn, giá trị, niềm tin tạo nên văn hóa doanh nghiệp Thể hiện qua giá trị văn hóa, các nghi thức, thể thức, các mối quan hệ trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, những phong tục, tập quán, niềm tin và cả những điều cấm kị Ngoài ra còn có mối

Trang 9

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 10

quan hệ với các bên hữu quan, những tác nhân có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp và đồng thời lợi ích của họ cũng bị chi phối bởi chiến lược phát triển của doanh nghiệp như chính quyền địa phương; ban lãnh đạo doanh nghiệp, giới tài chính, cổ đông, người lao động, nhà cung cấp và các đối tác liên doanh

2 “5 P”của chiến lược là:

Kế hoạch: Plan Mưu lược: Ploy Khuôn mẫu: Pattern

Vị thế: Position Triển vọng: Perspective

Từ 5P trên ta có thể thấy:

- Chiến lược có tính kế hoạch vì chiến lược là những dự định, những toan tính

mà doanh nghiệp sẽ thực hiện trong tương lai

- Chiến lược có tính mưu lược vì chiến lược mang tính sáng tạo, nghệ thuật, linh

hoạt, khôn ngoan, mềm dẻo và thủ đoạn

- Chiến lược mang tính khuôn mẫu vì mặc dù mang tính sáng tạo nhưng đôi khi cũng có khuôn mẫu nhất định trong bối cảnh như nhau thì chiến lược như nhau

- Chiến lược thể hiện vị thế: Chiến lược của doanh nghiệp là việc xây dựng vị trí

của doanh nghiệp trong tương lai và trong môi trường kinh doanh

nghiệp

E 2 - Môi trường

E 3 - Lãnh đạo

Chi ến lược là giao điểm

gi ữa 3E, hội

t ụ đủ sự tương hợp 3

y ếu tố.

Trang 10

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 11

- Chiến lược kinh doanh nói lên triển vọng của doanh nghiệp vì chiến lược vẽ ra viễn cảnh, tiêu điểm nhằm hướng sự hoạt động của các doanh nghiệp và các bộ

- Vấn đề quản lý: Là việc hình thành cơ cấu, bộ máy quản lý sao cho phù hợp

với chiến lược

4 Chiến lược là sự thống nhất 6 chiến lược chức năng

- Chiến lược marketing: Thể hiện qua 4P – Product, Price, Place, Promotion

- Chiến lược tài chính: Nhằm xây dựng cơ cấu nguồn vốn, các chính sách tài chính hợp lý trước sự biến đổi của thị trường tài chính

- Chiến lược sản xuất: Nhằm xác lập cơ cấu mặt hàng, sản phẩm đối với từng loại thị trường để làm cơ sở cho việc lập các kế hoạch sản xuất sau này

- Chiến lược hậu cần: Nhằm thiết lập mạng cung cấp các yếu tố sản xuất, nguyên vật liệu, năng lượng…phân bố hệ thống kho và tổ chức công tác vận chuyển, cung cấp sản phẩm cho khách hàng

- Chiến lược công nghệ: Nhằm nghiên cứu vòng đời công nghệ, sự tiến bộ của khoa học công nghệ để đưa ra chính sách đổi mới hoặc lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp

- Chiến lược con người: Nhằm xác định nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho

sản xuất kinh doanh trong tương lai, từ đó đưa ra các chính sách đào tạo, tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực, các chính sách đãi ngộ, các cơ hội thăng tiến…

5 Chiến lược phải đảm bảo tính thống nhất theo quá trình

Trang 11

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 12

Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo sự thống nhất giữa các giai đoạn của quá trình quản lý chiến lược, các giai đoạn phải thống nhất và phải liên tục được cải

tiến

1.1.4 Phân lo ại chiến lược:

1.1.4.1 Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội:

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Do chính phủ lập và được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội được thiết lập trên cơ sở bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước; qua phân tích những cơ hội và thánh thức đối với quá trình phát triển của đất nước

để xác định quan điểm, định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển

Trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các ngành xây dựng chiến lược phát triển ngành, các địa phương xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội vùng, lãnh thổ

Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, bao gồm:

- Ngành giao thông vận tải

- Ngành bưu chính viễn thông

- Hệ thống thủy lợi và cấp, thoát nước

- Ngành điện

Chiến lược

Chính sách

Lập kế hoạch Thực

hiện

Kiểm tra, khắc phục

Xem xét, điều chỉnh

Trang 12

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 13

Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng xã hội, bao gồm:

- Ngành giáo dục - đào tạo

- Bảo vệ môi trường

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng: bao gồm nhiều tỉnh và các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trên cơ sở chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, các ngành thuộc tỉnh xây dựng chiến lược phát triển của ngành trong phạm vi tỉnh trình UBND tỉnh phê duyệt

1.1.4.2 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược:

Được chia làm 2 loại:

Trang 13

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 14

- Chiến lược tổng quát: Chiến lược tổng quát thường đề cập tới những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài Chiến lược tổng quát quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp

- Chiến lược bộ phận: Đây là chiến lược cấp hai Chiến lược bộ phận được phân thành các cấp : Chiến lược Tổng công ty, Chiến lược công ty và chiến lược các công ty thành viên; Thông thường trong doanh nghiệp, chức năng quản lý của chiến lược bộ phận này gồm: chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống thông tin, chiến lược nghiên cứu phát triển

Chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của một doanh nghiệp

1.1.4.3 Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược:

Được chia làm 4 loại:

- Loại thứ nhất: Chiến lược tập trung vào nhân tố then chốt Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là không dàn trải các nguồn lực mà cần tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Loại thứ hai: Chiến lược dựa trên xu thế tương đối, bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh, thông qua sự phân tích đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho chiến lược

- Loại thứ ba: Chiến lược sáng tạo tấn công Trong loại chiến lược này, chiến lược được xây dựng bằng cách nhìn thẳng vào những vấn đề phổ biến, tưởng như khó làm khác được, đặt câu hỏi tại sao lại phải làm như vậy? Xét lại những vấn đề trước đây để tìm ra những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược của doanh nghiệp mình

- Loại thứ tư: Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng Cách xây dựng chiến lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng

Trang 14

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 15

tiềm tàng các nhân tố thuận lợi, đặc biệt là tiềm năng sử dụng nguồn lực dư thừa, nguồn lực hỗ trợ của các lĩnh vực trọng yếu

tế - kỹ thuật là chiến lược dẫn xuất từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

1.1.5 Căn cứ xây dựng chiến lược:

Đặc điểm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội ngành:

- Định hướng phát triển phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội

- Mục tiêu mang tính chất xã hội không vì mục đích sinh lợi

- Nguồn vốn hoạt động được Ngân sách bảo đảm

- Các giải pháp chiến lược được các ngành liên quan cùng thực hiện

Khi xây dựng các chiến lược phải căn cứ vào:

- Những định hướng phát triển kinh tế-xã hội

- Chế độ, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước

- Kết quả điều tra, nghiên cứu dự báo nhu cầu của xã hội

- Kết quả phân tích, tính toán, dự báo về nguồn lực có thể khai thác

Chiến lược luôn được hoàn thiện và sửa đổi khi có những biến động lớn về chủ trương và sự thay đổi lớn của tình hình thị trường

1.2 QU ẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC:

1.2.1 Khái ni ệm:

Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của các doanh nghiệp đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai

Mục đích của chiến lược kinh doanh là nhằm tìm kiếm những cơ hội hay là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh Một chiến lược kinh doanh được hoạch định với hai nhiệm vụ quan trọng, có quan hệ mật thiết với

Trang 15

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 16

nhau là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược Hai nhiệm vụ này được cụ thể hoá qua 3 giai đoạn tạo thành một chu trình khép kín, đó là:

- Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược kinh doanh: là quá trình phân tích

hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp

- Giai đoạn triển khai chiến lược: là quá trình triển khai những mục tiêu chiến l

1.2.2 Vai trò c ủa quản trị chiến lược:

Quá trình quản trị chiến lược giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình, khiến các nhà quản trị phải xem xét và xác định xem doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí đó Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công Như vậy sẽ khuyến khích

cả hai nhóm đối tượng nói trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn phúc lợi lâu dài của doanh nghiệp

Hình thành, phân tích, chọn lựa chiến lược

Triển khai chiến lược

Kiểm tra và thích nghi chiến lược

Các giai đoạn của quản trị chiến lược

Trang 16

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 17

Điều kiện môi trường mà các doanh nghiệp gặp phải luôn biến đổi, tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ, quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai Trong quá trình quản trị chiến lược đòi hỏi người lãnh đạo phân tích và dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai gần cũng như tương lai xa Vì vậy họ sẽ nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội, giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh

Nhờ có quá trình quản lý chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan Do sự biến động và tính phức tạp của môi trường ngày càng tăng, các doanh nghiệp cần phải cố gắng chiếm được vị thế chủ động tấn công hoặc phòng thủ Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi các điều kiện sao cho doanh nghiệp đạt mục tiêu đề ra Quyết định chủ động phòng thủ là dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối

ưu hoá vị thế của doanh nghiệp bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và chuẩn bị tốt hơn để thực hiện bằng được cơ hội tiềm tàng Các doanh nghiệp không vận dụng quản lý chiến lược thường đưa ra các quyết định phản ứng thụ động, sau khi môi trường thay đổi mới đưa ra hành động Tuy các quyết định phản ứng thụ động nhiều khi cũng mang lại hiệu quả, nhưng quản trị chiến lược sẽ giúp các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi của môi trường

và làm chủ được diễn biến tình hình

Mặc dù các ưu điểm là rất quan trọng, quản trị chiến lược vẫn có một số nhược điểm là:

- Nhược điểm chủ yếu là để thiết lập quá trình quản trị chiến lược cần nhiều thời gian và nỗ lực Tuy nhiên khi doanh nghiệp đã có kinh nghiệm thì vấn

đề về thời gian sẽ giảm bớt, dần dần đi đến tiết kiệm được thời gian

- Các kế hoạch chiến lược có thể bị coi tựa như chúng được lập ra một cách cứng nhắc khi đã được ấn định thành văn bản Kế hoạch chiến lược phải năng động và phát triển vì rằng điều kiện môi trường biến đổi và doanh nghiệp có thể quyết định đi theo các mục tiêu mới hoặc mục tiêu sửa đổi

Trang 17

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 18

- Giới hạn sự sai sót trong việc dự báo môi trường dài hạn đôi khi có thể rất lớn Khó khăn này không làm giảm sự cần thiết phải dự báo trước

- Một số doanh nghiệp dường như vẫn ở giai đoạn kế hoạch hoá và chú ý quá

ít đến vấn đề thực hiện Hiện tượng này khiến một số nhà quản trị nghi ngờ

về tính hữu ích của quá trình quản trị chiến lược Thế nhưng, vấn đề không phải tại quản trị chiến lược mà là tại người vận dụng nó Các doanh nghiệp phải "đề ra kế hoạch để mà thực hiện" nếu bất kỳ dạng kế hoạch hoá nào có

khả năng mang lại hiệu quả

Theo Fred R David mô hình quản trị chiến lược toàn diện thể hiện ở hình 1.2 sau:

Nghiên cứu môi trường bên ngoài, xác định các cơ hội

và nguy c ơ

Xác lập

m ục tiêu ngắn

h ạn

Xây

d ựng các chiến

k ết quả

Phân phối các ngu ồn tài nguyên

Đề ra các chính sách

Ho ạch định chiến lược Tri ển khai chiến lược Đánh giá chiến lược

Th ực

hi ện điều

ch ỉnh chi ến lược

Trang 18

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 19

Trong mô hình quản trị chiến lược nội dung của luận văn chỉ tập trung giải quyết

phần Hoạch định chiến lược

1.2.3 Ho ạch định chiến lược:

Một tổ chức chỉ có thể tồn tại và phát triển khi đồng thời thích nghi với sự thay đổi và duy trì được sự ổn định cần thiết Do đó trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày nay thay đổi rất nhanh chóng, hoạch định chiến lược đem lại cho tổ chức 3 lợi ích quan trọng sau:

- Nhận diện được cơ hội kinh doanh trong tương lai

- Dự kiến trước và tránh khỏi những nguy cơ, khó khăn

- Triển khai kịp thời các chương trình hành động

Khi những lợi ích cơ bản này được tận dụng, tổ chức sẽ có cơ hội tốt hơn để đạt được các mục tiêu đã định

- Xác định tầm nhìn chiến lược: Là khát vọng mong muốn cao nhất của các nhà lãnh đạo về tổ chức của mình trong tương lai Mong muốn của Nhà lãnh đạo là điểm tựa đầu tiên cho tầm nhìn chiến lược

- Chẩn đoán chiến lược: Là quá trình phân tích đánh giá toàn diện các yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức trong tương lai xa để nhận dạng 4 điểm chính (SWOT)

- Xác định mục tiêu chiến lược: Là kết quả sẽ đạt được của tổ chức trong tương lai, tương ứng với khoảng thời gian cụ thể, thường được xây dựng

bằng chỉ tiêu lượng hóa

- Các giải pháp chiến lược: Chính là việc xác định các lĩnh vực kinh doanh

cần thực hiện trong tương lai, các chiến lược cạnh tranh trong từng lĩnh vực,

hệ thống các chiến lược chức năng: Tài chính, marketing, hậu cần…

Để thực hiện được 4 nội dung cơ bản này ta có quá trình hoạch định chiến lược

Ti ến trình hoạch định chiến lược, bao gồm 6 bước

Trang 19

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 20

Bước 1: Phân tích môi trường của tổ chức:

Bước 1:Phân tích

môi trường của tổ

chức.

Bước 2: Xác định sứ mệnh và các mục tiêu của tổ chức.

Bước 6: Lập và thông qua các tài liệu chiến lượcBước 5: Đánh giá hiệu quả của chiến lược, tính khả thi của chiến lược

Bước 4: Xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lượcBước 3: Xây dựng các chiến lược để lựa chọn

Môi trường quốc tế

Trang 20

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 21

Phân tích môi trường nhằm tìm ra những cơ hội, đe doạ, điểm mạnh, điểm

yếu của tổ chức Môi trường của tổ chức gồm có môi trường vĩ mô và môi trường

vi mô, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, Việt nam đã gia nhập WTO môi trường quốc tế cũng có tác động mạnh mẽ đến các tổ chức Môi trường

vi mô là những lực lượng có quan hệ trực tiếp với bản thân công ty và những khả năng phục vụ khách hàng của nó, tức là những người cung ứng, các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh và hàng hóa, dịch vụ thay thế Môi trường vĩ mô là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, có ảnh hưởng đến môi trường vi mô, như các yếu tố nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, chính trị và văn hóa

Môi trường quốc tế tác động đến doanh nghiệp trên 2 phương diện: Cơ hội và thách thức, buộc doanh nghiệp phải đẩy nhanh hội nhập và xác định bước đi phù hợp Thực tế cho thấy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với tình trạng sản xuất kinh doanh yếu kém, chậm phát triển nay

phải đối diện với một thế giới phát triển cao hơn và đang biến đổi với tốc độ nhanh hơn

Để phát triển, doanh nghiệp Việt nam bắt buộc phải thực hiện 2 nhiệm vụ:

- Thoát khỏi nền sản xuất kinh doanh yếu kém

- Chuyển nhanh sang kinh doanh thị trường toàn cầu

Trong tình thế đó các doanh nghiệp phải có thái độ triệt để về thị trường và hội nhập, phải xây dựng chiến lược phát triển, các chính sách kinh doanh phải thực

sự xuất phát từ mục tiêu vì khách hàng và vì hiệu quả kinh tế - xã hội

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến chiến lược của doanh nghiệp:

tế, các tổ chức này có quan hệ chặt chẽ với nhau thành một công cụ thao túng nền kinh tế thế giới, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt nam phải đưa ra các chiến lược linh hoạt để thu hút đầu tư, mặt khác phải giảm sự lệ thuộc, đòi hỏi các doanh nghiệp phải đẩy nhanh chuyển gia công nghệ, hiện đại hóa sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh thị trường trong và ngoài nước

Thị trường cho vay vốn đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và phân

bổ nguồn tài chính giữa các nước, đảm bảo di chuyển vốn cho vay tới các nước thiếu hụt vốn đầu tư, như vậy các doanh nghiệp Việt nam phải có chiến lược phát triển phù hợp với thông lệ quốc tế, cần nhanh chóng cải thiện môi trường

Trang 21

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 22

đầu tư để tranh thủ các nguồn vốn đầu nước ngoài (ODA, FDI…) đồng thời

phải có chính sách uyển chuyển để phòng ngừa những biến động bất lợi của hệ thống tài chính tín dụng thế giới tác động đến kinh doanh

Hai là, Trong hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng hình thành kinh tế khu vực hóa

trên thế giới, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN APEC và các doanh nghiệp phải tiếp cận với nhiều đối tác kinh doanh, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn,

phải tuân theo luật chơi chung Trong điều kiện như vậy, cần phải xây dựng được một bản chiến lược vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài vừa phát huy được triệt để nguồn lực bên trong, tạo ra thế lực cạnh tranh trên thị trường khu

vực và thế giới, ngăn chặn được tác động được tác động tiêu cực bên ngoài thì doanh nghiệp mới định vị được trên thị trường trong và ngoài nước

Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp tổ chức trả lời câu hỏi: Tổ chức đang trực diện với những gì?

Các doanh nghiệp, những người cung ứng, khách hàng, các đối thủ cạnh tranh đều hoạt động trong một môi trường vĩ mô rộng lớn có xu hướng tạo ra những

cơ hội đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa Những lực lượng này là

những lực lượng "không thể khống chế được" mà công ty phải theo dõi và đối phó bao gồm sáu lực lượng chủ yếu, cụ thể là các lực lượng kinh tế, nhân khẩu,

tự nhiên, công nghệ, chính trị và văn hóa

- Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh Yếu tố kinh tế của doanh nghiệp được xác định bởi tiềm lực của nền kinh tế đất nước, bao gồm: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tiền tệ, mức độ thất nghiệp, thu nhập quốc dân Thị trường cần có sức mua và công chúng Sức mua hiện có trong một nền kinh tế phụ thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, lượng tiền tiết kiệm, nợ

nần và khả năng có thể vay tiền Hoạch định chiến lược phải nghiên cứu

những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và các kiểu chi tiêu của người tiêu dùng Mỗi yếu tố trên đều có thể là cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp cũng có thể là mối đe dọa đối với sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp

Việc phân tích yếu tố kinh tế giúp các nhà quản trị tiến hành các dự báo và đưa

Trang 22

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 23

ra những kết luận về những xu thế chính của sự biến đổi môi trường tương lai,

là cơ sở cho các dự báo ngành và dự báo thương mại

Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phát huy những tác dụng tích cực của nó Cơ bản Việt Nam đã thoát khỏi cuộc

khủng hoảng kinh tế, lạm phát giảm, tổng thu nhập quốc nội (GDP) hàng năm tăng trên 8%, đời sống nhân dân tăng lên đáng kể và được Liên Hiệp Quốc đưa

ra khỏi danh sách các nước kém phát triển nhất Đây là cơ hội đáng mừng và tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta với tiếp tục các chính sách

mở cửa, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam phát triển, Việt Nam đã gia nhập WTO và đất nước ta có nhiều cơ hội mới để phát triển, đồng thời cũng có mối

đe doạ mới là sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn

- Yếu tố chính trị và pháp lý: Các chính sách điều hành và kiểm soát nền kinh

tế của Chính phủ bao gồm chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả; chính sách về lương bổng mà các tổ chức phải áp dụng Các chính sách quản lý nền kinh tế gồm chính sách kiềm chế lạm phát, mức nợ nước ngoài, tỷ lệ thâm hụt ngân sách và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, thông tin, y tế, dịch vụ ngân hàng…

Những chính sách này làm cho mức độ rủi ro tăng hoặc giảm tùy theo mức độ

nhất quán và cởi mở của chúng Những chính sách này thể chế hóa thành những đạo luật và chúng có hiệu quả pháp lý đối với các hoạt động kinh doanh Mặt khác, mức độ ổn định về chính trị, tính bền vững của Chính phủ đều là

những môi trường có thể tạo ra cơ hội hay nguy cơ đối với kinh doanh và nhiều khi quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức Nhìn chung, các tổ chức

hoạt động được là vì điều kiện xã hội cho phép Chừng nào xã hội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhất định thì xã hội sẽ rút lại sự cho phép đó bằng cách đòi hỏi Chính phủ can thiệp bằng chế độ chính sách

hoặc thông qua hệ thống pháp luật

- Yếu tố xã hội: Mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một môi trường

xã hội nhất định và giữ tổ chức và môi trường có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp cần và tiêu thụ các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra Các giá trị chung của xã

Trang 23

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 24

hội, các tập tục truyền thống, lối sống của nhân dân, cơ cấu dân số, thu nhập

của dân chúng đều có tác động đến hoạt động của tổ chức doanh nghiệp

Các số liệu về nhân khẩu học của dân cư trong vùng chiến lược bao gồm: Tổng

số nhân khẩu, độ tuổi giới tính, mật độ và phân bố dân cư Những dữ liệu này

rất cần thiết để hoạch định chiến lược, định vị nhà máy sản xuất hay phân phối sản phẩm và làm cơ sở quan trọng để các nhà quản trị quyết định có nên đầu tư, thâm nhập vào thị trường đó hay không

khu vực dân cư có thu nhập cao, sức mua sẽ lớn hơn vùng dân cư có thu nhập thấp, mặt khác người dân có trình độ dân trí cao thì cách thức tiêu dùng, động thái mua hàng và nhu cầu hàng hóa của người dân sẽ khác những vùng người dân có trình độ dân trí thấp Độ tuổi, giới tính cũng là những dữ liệu mà bất cứ

tổ chức nào cũng phải nắm vững vì nó là cơ sở cho việc xác định nhu cầu người tiêu dùng

- Yếu tố tự nhiên: Yếu tố tự nhiên luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với đời sống của con người, mà còn là yếu tố đầu vào quan trọng của các ngành kinh tế Yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, sông biển, tài nguyên khoáng sản trên bề mặt và trong lòng đất như dầu mỏ, than, nguồn nước, rừng tự nhiên và môi trường sinh thái Những nguồn tài nguyên này ngày càng trở nên khan hiếm mặc dù ngày nay, với những công nghệ hiện đại con người đã dùng nguyên liệu tiết kiệm hơn trước đây Nhận biết được các yếu tố tự nhiên giúp các doanh nghiệp phát huy thế mạnh của nó, bảo vệ môi trường và có các quyết định cùng các biện pháp thực hiện quyết định đúng đắn

- Yếu tố công nghệ: Trong thời gian gần đây, khoa học công nghệ đã có sự phát triển biến đổi nhanh chóng Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những áp

dụng tiến bộ đó vào lĩnh vực sản xuất và quản lý đang là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kinh doanh của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải nhận biết và khai thác những công nghệ phù hợp để tạo lợi thế kinh doanh trên thị trường Để hạn

chế nguy cơ tụt hậu về công nghệ và chớp cơ hội trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá hiệu quả công nghệ đang sử dụng, theo dõi sát sao diễn biến sự phát triển công nghệ và thị trường công nghệ, tập trung ngày càng nhiều cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời phải cảnh giác với công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm của mình bị lạc hậu trực

tiếp hoặc gián tiếp

Trang 24

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 25

Từ đó đòi hỏi các nhà quản trị chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi cũng như đầu tư cho tiến bộ công nghệ, đặc biệt doanh nghiệp quan tâm đúng mức việc ứng dụng công nghệ thông tin mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

- Các yếu tố bên ngoài tổ chức:

Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đến hoạt động của tổ chức, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế Mối quan hệ các yếu tố này được thể hiện trên hình 1.3

Nhiệm vụ của các nhà chiến lược là nhận dạng và phân tích các yếu tố của môi trường đó xem chúng tác động đến chiến lược phát triển của tổ chức như thế nào? Từ đó nhận định các cơ hội và những nguy cơ tiềm ẩn đối với tổ chức + Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Đối thủ cạnh tranh là các công ty đang hoạt động cùng ngành kinh doanh với doanh nghiệp đang tìm cách tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp Hai yếu tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự cạnh tranh trong một ngành là số lượng doanh nghiệp và tỷ suất lợi nhuận của ngành đó

Hình 1.3: Sơ đồ tổng quát môi trường vi mô

Trang 25

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 26

+ Nhà cung cấp: Các nhà cung cấp đầu tư vào cho doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, vật tư, phụ tùng thay thế, dịch vụ tư vấn thiết kế, dịch vụ vận chuyển Thực chất mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp cùng là mối tương quan thế lực nếu vật tư, thiết bị khan hiếm chúng ta phải tìm họ và ngược lại họ

phải phụ thuộc chúng ta, do đó doanh nghiệp phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ

và lâu dài với các nhà cung cấp vật tư, dịch vụ Doanh nghiệp cần tạo thế cạnh tranh trong quá trình cung cấp, liên minh chiến lược, hợp đồng cung ứng là những giải pháp giảm bớt sức ép của yếu tố môi trường này

+ Khách hàng: Là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp, là nhân tố quan

trọng của hoạt động kinh doanh, là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Kinh doanh phải đảm bảo lợi ích cho khách hàng và tìm mọi biện pháp để thoả mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên trong khi mua hàng, khách hàng cũng thường sử dụng quyền lực của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho người bán về giá mua, về điều kiện thanh toán, chất lượng sản phẩm tạo ra sức

ép làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Như vậy, khách hàng và nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Tìm hiểu kỹ lưỡng khách hàng về các mặt là yêu cầu cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Quyền thương thuyết của khách hàng thường được đề cao trong các trường hợp sau:

 Có ít khách hàng mua một lượng hàng hóa lớn từ một người bán

 Những hàng hóa mà khách hàng mua thuộc loại mức độ chuyên nghiệp hóa thấp

 Khách hàng có thể dễ dàng chuyển sang mua của những nhà cung cấp khác

+ Đối thủ mới tiềm ẩn: Trong kinh tế thị trường cạnh tranh sẽ thúc đẩy xã hội phát triển và có lợi cho người tiêu dùng, cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém không thích ứng được với môi trường, đồng thời làm tăng khả năng của các doanh nghiệp khác thích ứng được để tham gia vào thị trường Nguy cơ đe doạ của đối thủ mới này là có khả năng chiếm thị phần của các nhà sản xuất hiện tại, làm

giảm lợi nhuận trung bình của ngành trong tương lai, điều đó buộc các doanh nghiệp phải phán đoán và ứng phó Những khó khăn trở ngại quan trọng nhất mà các doanh nghiệp mới phải đối mặt khi gia nhập một ngành là quy mô sản xuất và nhu cầu vốn cần thiết

Trang 26

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 27

+ Sản phẩm, dịch vụ thay thế: Đó chính là sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh hay của một ngành công nghiệp khác có thể đáp ứng những nhu cầu của người tiêu dùng thay cho những sản phẩm mà doanh nghiệp đang cung cấp Về cơ bản sản phẩm thay thế thường có ưu thế hơn bởi những đặc trưng riêng biệt Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế rất đa dạng và phức tạp tạo thành nguy cơ cạnh tranh về giá rất mạnh đối với sản phẩm cũ, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhân tố thúc đẩy mạnh nhất sự xuất hiện sản phẩm thay thế là sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, do vậy doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, theo dõi và đầu tư thích đáng vào R&D.Tuy nghiên đối với những hàng hóa thiết yếu, không

thể thay thế bằng bất cứ hàng hóa nào khác thì nhà sản xuất không bị đe dọa bởi yếu tố này

- Môi trường nội bộ:

Môi trường nội bộ của tổ chức bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của

tổ chức, phải cố gắng phân tích kỹ lưỡng các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ các ưu điểm và nhược điểm của ngành Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm các lĩnh vực chức năng như: nguồn nhân lực, nguồn vật

chất, nguồn lực vô hình

+ Nguồn nhân lực: bao gồm nhà quản trị các cấp và nhân viên thừa hành

Nhà quản trị các cấp là nguồn nhân lực quan trọng, có vai trò lãnh đạo doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích nhà quản trị các cấp là xác định khả năng hiện tại và tiềm năng của từng nhà quản trị, nhằm xem xét và đánh giá đạo đức nghề nghiệp, các kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nhân sự, kỹ năng tư duy và những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị, những

lợi ích mà nhà quản trị mang lại cho doanh nghiệp

Đối với nhân viên thừa hành, việc phân tích do nhà quản trị thực hiện nhằm đánh giá tay nghề, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kết quả đạt được trong từng thời kỳ liên quan đến nghề nghiệp và các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể trong các kế hoạch tác nghiệp, từ đó hoạch định các kế hoạch đào tạo, đào tạo lại,

huấn luyện để nâng cao chất lượng

Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh, điểm yếu của các thành viên trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện việc đào tạo, đào tạo lại cả tài lẫn đức cho các thành

Trang 27

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 28

viên trong doanh nghiệp, từ nhà quản trị đến nhân viên thừa hành, bảo đảm thực

hiện chiến lược thành công lâu dài và luôn thích nghi với những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong nền kinh tế tri thức

+ Nguồn lực vật chất: bao gồm những yếu tố như nguồn vốn hoạt động, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, thông tin môi trường kinh doanh

− Nguồn vốn: vốn hoạt động của doanh nghiệp gồm vốn bằng tiền và vốn bằng hiện vật, thể hiện tính chủ động, tính hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được sẽ đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về nguồn vốn kinh doanh

− Nhà xưởng, máy móc, thiết bị: là yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích, đánh giá về quy mô, chất lượng và trình độ công nghệ hiện tại, so với những đối thủ cạnh tranh

chủ yếu trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa lý

− Nguồn thông tin: Thông tin môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp thu thập dưới nhiều hình thức khác nhau, được sử dụng làm cơ sở ra quyết định Việc thu thập thông tin thường xuyên, đầy đủ sẽ làm cho doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh

+ Nguồn lực vô hình: Những nguồn lực vô hình là kết quả lao động chung của các thành viên trong doanh nghiệp hoặc của một cá nhân cụ thể ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động Các nguồn lực vô hình chủ yếu là:

− Tư tưởng chỉ đạo trong triết lý kinh doanh

− Chiến lược và chính sách kinh doanh thích nghi với môi trường

− Cơ cấu tổ chức hữu hiệu

− Uy tín trong lãnh đạo của nhà quản trị các cấp

− Uy tín của doanh nghiệp trong quá trình phát triển

− Uy tín của thị phần nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường

− Ý tưởng sáng tạo của nhân viên

− Văn hoá tổ chức bền vững

Tuỳ theo tiềm lực sẵn có, quy mô và giá trị của nguồn lực này của mỗi doanh nghiệp mà có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian Đánh giá không đúng

mức các nguồn lực vô hình, nhà quản trị các doanh nghiệp để đánh mất các lợi thế

sẵn có của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 28

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 29

Tóm lại: Trong công tác quản trị chiến lược doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý

tới việc phân tích các điều kiện môi trường hoạt động của mình Những kiến giải

về môi trường bao trùm mọi lĩnh vực và ảnh hưởng đến tất cả các phương diện của quá trình quản lý chiến lược Mục đích của phân tích môi trường kinh doanh là để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe doạ, trên cơ sở đó để đưa ra các quyết định quản trị hợp lý

Các bộ phận của môi trường vĩ mô, vi mô được thể hiện qua bảng 1.4:

Hình 1.4: Các bộ phận của môi trường vĩ mô và vi mô

Môi trường vi mô

- Nhà xưởng, máy móc, thiết bị

- Ngu ồn thông tin

Môi trường nội bộ Môi trường vĩ mô

Môi trường vi mô

Trang 29

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 30

Bước 2: Xác định sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức:

Sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức được trả lời thông qua việc trả lời câu hỏi:

“Chúng ta là ai?”; “Chúng ta muốn trở thành tổ chức như thế nào?”; “ các mục tiêu định hướng của chúng ta là gì?” Những mục tiêu chung này tạo ra những phương hướng cho việc ra quyết định và không thay đổi trong nhiều năm Mọi mục tiêu đề ra cần phải cụ thể, linh hoạt, định lượng được, có tính khả thi, hợp

lý Doanh nghiệp phải thường xuyên xem xét các mục tiêu chiến lược để đánh giá sự phù hợp đối với môi trường từng thời kỳ và đề ra sự điều chỉnh mục tiêu thích hợp Quá trình xác định sứ mệnh và mục tiêu không tiến hành một cách

biệt lập mà được phát triển trong suốt quá trình phân tích những đe dọa và cơ hội đối với tổ chức cũng như quá trình đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức (bước 1)

Bước 3: Xây dựng các chiến lược để lựa chọn:

Sau khi tiến hành đánh giá tổ chức trên mọi phương diện, nhà quản trị cần vạch ra các chiến lược dự thảo để lựa chọn chiến lược thích hợp nhất đối với tổ chức Quá trình đánh giá và lựa chọn chiến lược này được xem xét trong điều kiện môi trường và những điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, các chiến lược phổ

biến:

− Chiến lược tăng trưởng tập trung: là nhóm chiến lược chủ yếu cải thiện những sản phẩm thông thường hay những thị trường mà không thay đổi yếu tố nào

Có 3 phương án chiến lược tăng trưởng tập trung là:

+ Chiến lược xâm nhập thị trường: là tìm giải pháp nhằm tìm kiếm cơ hội phát triển trong các thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động với những mặt hàng hay dịch vụ hiện có Một doanh nghiệp có thể tăng thị phần bằng cách kích thích sức mua đối với sản phẩm, thu hút khách hàng từ những đối thủ cạnh tranh bằng cách giảm giá bán, tăng cường quảng cáo… Cũng có thể thâm nhập

thị trường bằng cách làm gia tăng quy mô của toàn thị trường thông qua việc biến khách hàng tiềm năng thành khách hàng hiện tại

+ Phát triển thị trường: là giải pháp nhằm tăng trưởng sản phẩm hiện tại để bán trong thị trường mới Có 3 phương pháp cơ bản để thực hiện chiến lược này: Tìm khu vực thị trường mới

Tìm thị trường mục tiêu mới

Trang 30

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 31

Tìm những người tiêu dùng mới

+ Phát triển sản phẩm: là giải pháp nhằm tăng trưởng doanh nghiệp bằng cách phát triển những sản phẩm mới hay cải tiến những sản phẩm hiện có bằng cách cải tiến về chất lượng tăng thêm tính năng sử dụng, thay đổi bao bì, quy cách,

mẫu mã

− Chiến lược phát triển hội nhập: là nhóm chiến lược thích hợp cho những doanh nghiệp tăng trưởng cao nữa nếu liên kết hay hội nhập với các ngành phù hợp với mục tiêu và chiến lược dài hạn đang thực hiện

Có các phương án chiến lược phát triển hội nhập cơ bản sau:

+ Chiến lược hội nhập về phía sau: là giải pháp nhằm tăng trưởng bằng cách đạt được sự sở hữu hay quyền kiểm soát gia tăng những nguồn cung cấp Chiến lược này sẽ thích hợp khi các nhà cung cấp đang phát triển nhanh, có tiềm năng

và lợi nhuận lớn hay khi doanh nghiệp đang gặp khó khăn tìm, lựa chọn nhà cung cấp cho các yếu tố đầu vào của mình

+ Chiến lược hội nhập về phía trước: là tìm giải pháp tăng trưởng bằng cách tham gia vào ngành tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất Những nhà sản xuất nguyên liệu thường hội nhập phía trước vì có lợi là tránh sự cạnh tranh giá cả, tăng lợi nhuận, tăng cơ hội cho sự phân biệt sản phẩm

+ Chiến lược hội nhập hàng ngang: là tìm giải pháp tăng trưởng bằng cách tham gia các doanh nghiệp cùng ngành, tận dụng thế mạnh của nhau để cùng phát triển, mới có thể đáp ứng nhu cầu lớn của thị trường hay cạnh tranh với các đối thủ lớn mạnh

− Chiến lược tăng trưởng đa dạng: là nhóm giải pháp tăng trưởng bằng cách tham gia vào các ngành đang hoạt động hoặc ngành khác Thích hợp cho những doanh nghiệp không thể hoàn thành những mục tiêu tăng trưởng của nó do thị trường sản phẩm ở giai đoạn tiến tới bão hoà, suy thoái; doanh nghiệp dư thừa vốn kinh doanh, giảm chi phí quản lý chung, tăng khả năng thâm nhập thị trường quốc tế; tìm kiếm nhanh công nghệ mới

Chiến lược tăng trưởng đa dạng có các phương án cơ bản sau: Đa dạng hoá đồng tâm; Đa dạng hoá hàng ngang; Đa dạng hoá kết hợp

− Chiến lược suy giảm: Sau một thời gian phát triển nhanh, khi trong thời kỳ bất

trắc, những cơ hội khác hấp dẫn hơn những cơ hội đang trao đổi thì doanh

Trang 31

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 32

nghiệp chủ động giảm tốc độ tăng trưởng, tập hợp lại để củng cố cơ cấu tổ chức ngành nhằm cải thiện hiệu suất

− Chiến lược hợp nhất: Hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng đồng ý hợp lại thành

một doanh nghiệp mới, thực hiện cơ cấu tổ chức mới, phát hành chứng khoán mới, nhiệm vụ mục tiêu có những đổi mới

− Chiến lược thu nhận: Xảy ra khi mua một doanh nghiệp khác để thu hút, bổ sung thêm các lĩnh vực hoạt động mà doanh nghiệp đang tiến hành Tuy nhiên doanh nghiệp bị mua lại có thể giữ lại danh hiệu riêng của nó, nếu nó là chiến lược quan trọng Chiến lược thu nhận thường được các doanh nghiệp có thế

mạnh về tài chính, các tập đoàn kinh tế thực hiện nhằm thâm nhập thị trường mới

− Chiến lược liên doanh: khi một doanh nghiệp đơn lẻ không thể thực hiện mục tiêu nào đó, cần sự hợp sức của nhiều doanh nghiệp với nhau Có thể là liên doanh quốc tế, liên doanh nhằm thực hiện một chiến lược có lợi cả hai bên và liên doanh để kết hợp các nguồn lực mạnh của nhau để đạt mục tiêu chung

− Chiến lược thu hút lao động giỏi, thu hút nhân tài: Chiến lược này nhằm có được lực lượng giỏi, có đạo đức nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp

Thực hiện bằng chính sách tuyển mộ, đãi ngộ các mặt Đây là sức mạnh của doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh

Sau khi đã phân tích, đánh giá, so sánh các phương án chiến lược, nhà quản trị

sẽ quyết định lựa chọn các chiến lược Việc lựa chọn chiến lược có tầm quan

trọng lớn vì là yếu tố quyết định sự thành công của kế hoạch tác nghiệp được triển khai

Nhà quản trị khi chọn lựa chiến lược doanh nghiệp cần xem xét nhiều yếu tố

chủ quan lẫn khách quan, cần phải vận dụng cả khoa học lẫn nghệ thuật trong quản trị Những yếu tố như sức mạnh của sản xuất kinh doanh, sức mạnh của doanh nghiệp; mục tiêu; thái độ của nhân viên; nguồn tài chính; những khả năng của doanh nghiệp; mức độ phụ thuộc bên ngoài; định thời gian có ảnh hưởng then chốt đối với chiến lược doanh nghiệp lựa chọn

Bước 4: Xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược:

Sau khi phân tích và lựa chọn các chiến lược thích hợp, doanh nghiệp cần phải xây dựng các biện pháp thực hiện chiến lược đó, phải thiết lập các mục tiêu

Trang 32

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 33

ngắn hạn, phải đưa ra các chính sách và phân bổ các nguồn lực, phải chỉ rõ

những hoạt động sẽ được tiến hành để đạt được những mục tiêu đã đề ra, đồng thời cũng phải dự kiến loại công nghệ, biện pháp Marketing, nguồn tài chính, nhân lực sẽ được sử dụng và các loại thiết bị, cơ cấu tổ chức, kỹ năng quản trị

sẽ được áp dụng.,

Bước 5: Đánh giá hiệu quả của chiến lược, tính khả thi của chiến lược:

Các hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả và tính khả thi của chiến lược phải được tiến hành đồng thời với quá trình hoạch định chiến lược để đảm bảo các

kế hoạch, biện pháp được thực hiện và các kết quả thực hiện được đánh giá

Nếu các kế hoạch, biện pháp có khả năng không đem lại kết quả mong muốn, thì những người tham gia hoạch định cần phải xem xét lại phải thay đổi nhiệm

vụ, xác định lại các mục tiêu, lựa chọn lại các chiến lược, hoặc xây dụng lại biện pháp thực hiện

Sự đánh giá toàn diện đối với các kết quả đã hoạch định sẽ khám phá những khuyết điểm và có thể lặp lại quá trình hoạch định với những điều chỉnh cần thiết

Bước 6: Lập và thông qua các tài liệu chiến lược:

Tài liệu chiến lược bao gồm: Nhiệm vụ chiến lược; nhiệm vụ các công ty và nhiệm vụ các đơn vị kinh doanh Bố cục của tập tài liệu chiến lược phụ thuộc vào đặc điểm của công ty, có thể phân thành 6 nhóm:

- Một nhóm sản phẩm trên một ngành công nghiệp trên một thị trường

- Nhiều nhóm sản phẩm trên một ngành công nghiệp trên một thị trường

- Một số nhóm sản phẩm trên một số ngành công nghiệp trên một thị trường

- Một nhóm sản phẩm trên một ngành công nghiệp trên một số thị trường

- Một số nhóm sản phẩm trên một ngành công nghiệp trên một số thị trường

- Một số nhóm sản phẩm trên một số ngành công nghiệp trên một số thị trường

1.2.3.4 Công cụ để hoạch định chiến lược, sử dụng ma trận SWOT

Phương pháp này là phân tích những mặt mạnh (S-Strengths), những mặt yếu (W-Weaknesses), các cơ hội (O-Opportunities) và các nguy cơ (T-Threats),

Trang 33

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 34

phối hợp các mặt đó để xác định, lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp

- Để lập một ma trận SWOT cần thực hiện qua 8 bước sau:

+ Liệt kê các cơ hội bên ngoài chính

+ Liệt kê các mối đe doạ chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp

+ Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu

+ Liệt kê các điểm yếu chủ yếu

+ Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược SO thích hợp Chiến lược này phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ

hội

+ Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối nguy cơ bên ngoài và đề xuất phương

án chiến lược ST thích hợp Chiến lược này lợi dụng thế mạnh của mình để đối phó với nguy cơ đe doạ từ bên ngoài

+ Kết hợp các điểm yếu bên trong với những cơ hội bên ngoài và đề xuất phương án chiến lược WO thích hợp Chiến lược này khắc phục điểm yếu của doanh nghiệp bằng cách tận dụng cơ hội

+ Kết hợp các điểm yếu bên trong với mối đe doạ bên ngoài và đề xuất phương

án chiến lược WT Chiến lược này nhằm tối thiểu tác dụng của điểm yếu và phòng thủ trước các mối đe doạ từ bên ngoài

Quá trình này tạo 4 cặp chiến lược phối hợp:

- Phối hợp SO - Chiến lược maxi-maxi: sử dụng những điểm mạnh bên trong của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội bên ngoài để bành trướng rộng và phát triển đa dạng hoá

- Phối hợp ST - Chiến lược maxi-mini: sử dụng các điểm mạnh của doanh nghiệp để tránh hiểm hoạ, giảm tác động của những nguy cơ đe doạ, tình huống này thể hiện nhiều cản trở từ các điều kiện bên ngoài

- Phối hợp WO - Chiến lược mini-maxi: nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng các cơ hội bên ngoài

Trang 34

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 35

- Phối hợp WT - Chiến lược mini-mini: phối hợp giữa các mặt yếu và nguy cơ

của doanh nghiệp Cần thiết phải giảm thiểu các mặt yếu của mình và tránh đe dọa bằng cách đưa ra các kế hoạch phòng thủ

Thực chất của phân tích SWOT là để soạn thảo chiến lược, cần chú ý đến dự báo thay đổi của ngoại cảnh và thay đổi bên trong của doanh nghiệp

Mô hình ma trận SWOT và những phối hợp có hệ thống các cặp tương ứng với các nhân tố nói trên tạo ra các cặp phối hợp logic như mô tả trong hình 1.5:

SWOT

Nh ững cơ hội (O)

O1 O2 Li ệt kê những O3 cơ hội

Nh ững nguy cơ (T)

T1 T2 Li ệt kê những T3 nguy cơ

một điều hết sức quan trọng và cần thiết Mục đích của việc hoạch định chiến lược kinh doanh là "dự kiến tương lai trong hiện tại" Dựa vào chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý có thể lập các kế hoạch cho những năm tiếp theo Tuy nhiên, quá

Trang 35

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 36

trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi Một chiến lược vững mạnh, luôn cần đến khả năng, điều hành linh hoạt, sử dụng được các nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng

K ẾT LUẬN CHƯƠNG I:

Qua một số lý luận khoa học cơ bản trên đã hệ thống hóa các khái niệm về chiến lược và quản lý chiến lược Từ đó đã đưa ra các cách phân loại chiến lược; Các căn cứ xây dựng và vai trò chiến lược; Nội dung và trình tự xây dựng chiến lược để làm cơ sở cho việc phân tích và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp

Việc phân tích có hệ thống trên cơ sở khoa học các lý luận cơ bản về chiến lược và quản lý chiến lược sẽ là cơ sở cho việc phân tích chiến lược của Cấp nước nông thôn Bà Rịa-Vũng Tàu trong các năm qua Mặt khác, qua phân tích môi trường kinh doanh sẽ chỉ ra những mặt mạnh, yếu, những cơ hội cũng như khó khăn, thách thức trong thời gian tới Từ đó sẽ đề ra một số giải pháp mang tính chiến lược kinh doanh nhằm đưa Cấp nước Nông thôn Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển, đáp ứng được các mục tiêu của thiên niên kỷ

Trang 36

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 37

- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Thuận và Đồng Nai

- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh

- Phía Đông và Đông nam giáp biển Đông

Ở vị trí lãnh thổ này, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thực sự là một cửa ngõ quan trọng của vùng kinh tế nam bộ hướng ra biển Đông, là một trong ba trung tâm của tam giác kinh tế phát triển mạnh TP.Hồ Chí Minh - Biên hòa - Vũng Tàu Nằm trong vùng kinh tế phát triển mạnh nên nguy cơ về ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề thường trực thách thức quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

b Đặc điểm của từng dạng địa hình:

- Miền đồi núi thấp: có độ cao từ 100m đến 300m là bộ phận cuối cùng của miền núi và cao nguyên đất đỏ miền Đông Nam bộ từ Đồng Nai chạy xuống, tập trung ở huyện Châu Đức, Xuyên Mộc

Trang 37

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 38

- Bậc thềm phù sa cổ: có độ cao từ 50m đến 100m nằm ở phía nam miền đồi núi thấp, chạy dài từ phía tây Tân Thành đến phía đông Xuyên Mộc

- Đồng bằng ven biển: có độ cao dưới 50m, chạy dọc theo bờ biển phía nam, thành tạo do phù sa sông và biển kết hợp, đang được phát triển

2.1.1.3 Khí hậu – thời tiết:

- Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chịu ảnh hưởng của đại dương, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa (tháng 5 -11) và mùa khô (tháng 12 - 4)

- Nhiệt độ trung bình là 27,9°C, cao nhất là 29,1°C, thấp nhất là 25,2°C

- Độ ẩm trung bình : 83 – 85%

- Lượng mưa trung bình năm thấp: 1.600mm, tháng 6,7 có lượng mưa nhiều nhất Tổng

số giờ nắng trong năm: 2.370 – 2.850 giờ

- Khí hậu ở Bà Rịa – Vũng Tàu quanh năm dễ chịu, ấm áp, ít

có thiên tai và thời tiết bất thường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch của tỉnh

- Lượng mưa trung bình nhiều năm 2.330,4mm, lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 786,43mm Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi có số ngày trong mùa mưa ít hơn

số ngày trong mùa khô và lượng mưa tập trung trong mùa chiếm đến 82-87% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài với nhiệt độ cao, bức xạ nhiều kết hợp với gió gây bốc hơi nước cao làm ảnh hưởng lớn đến lượng nước mặt, nước ngầm – điều này cần hết sức lưu ý khi thiết kế công trình cấp nước

2.1.1.4 Thủy văn, hải văn:

Trang 38

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 39

- Hệ thống sông Thị Vải do 3 suối lớn: suối Cả, suối Thái Phiên, suối Phú Mỹ hợp lại với diện tích lưu vực 650km2

- Hệ thống sông Dinh có diện tích lưu vực 310km2 đổ ra vịnh Gành Rái Mực nước (mặt) mùa khô tại Vũng Tàu giao động từ -12 đến 9cm; Mực nước mùa mưa giao động từ -2 đến -35cm

- Trên địa bàn tỉnh có 16 hồ chứa nước với tổng lượng nước khai thác hàng năm xấp xỉ (≈) 45 triệu m3 phục vụ cho tưới cây và sinh hoạt

2.1.1.5 Địa chất thủy văn:

- Theo tài liệu báo cáo nghiên cứu địa chất thủy văn 1: 25.000 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1999 do Đoàn 707 thuộc Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Trung cho thấy trên toàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 11 đơn vị chứa nước khác nhau

- Với mục tiêu phục vụ cho việc phân tích; luận văn chỉ nêu tóm tắt các đơn vị chứa nước chủ yếu có tác động lớn đến việc cấp nước sinh hoạt phục vụ cho dân sinh và mô tả theo thứ tự từ trên xuống như dưới đây:

a Tầng chứa nước trầm tích sông – biển (am QIV1-2)

- Tầng này phân bố rộng, tạo thành đồng bằng thấp dọc quốc lộ 51A

- Tầng này nghèo nước bởi chiều dày nhỏ, lại lộ ra trên mặt đất nên dễ bị nhiễm bẩn, vì vậy chúng không có khả năng cung cấp nước cho công nghiệp mà chỉ đạt yêu cầu cấp nước sinh hoạt quy mô hộ gia đình

b Tầng chứa nước hệ tầng Củ Chi (a QIII cc)

- Tầng này phân bố thành dải kéo dài từ Mỹ Xuân chạy theo phía Nam - Đông Nam qua Phú Mỹ-Phước Hòa-Hội Bài đến Long Hương

- Tầng chứa nước này phân bố hẹp và thuộc loại nghèo đến chứa nước trung bình, nên nó không có ý nghĩa cấp nước sinh hoạt cho dân cư

c Tầng chứa nước hệ tầng Thủ Đức (a QII –III tđ)

Trang 39

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 40

- Phân bố ở Hắc Dịch, Châu Pha, bắc Phước Bửu, bắc xã Xuyên Mộc, bắc Bưng Riềng, Bình Châu…Diện tích khoảng 230m2

- Tầng này có diện phân bố không lớn, bề dày tầng nhỏ có mức độ chứa nước trung bình và chỉ có ý nghĩa cấp nước công nghiệp cục bộ với nhu cầu vài chục m3/ngày hoặc cấp nước dân dụng bằng các giếng đào – Trong chiến lược không sử dụng nguồn nước từ tầng chứa nước này

d Tầng chứa nước bazan Xuân Lộc (βQIIxl)

- Phân bố cả huyện Châu Đức, phía bắc huyện Long Đất và phía bắc huyện Xuyên Mộc Diện tích khoảng 822km2 Ngoài ra còn nằm rải rác ở Phước Bửu, T.T Xuyên Mộc, Bưng Riềng, Bình Châu

- Nước trong bazan có chất lượng tốt, là tầng chứa nước chủ yếu đối với nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Tuy nhiên nhược điểm của Bazan là chứa nước không đồng đều

e Tầng chứa nước hệ tầng Bà Miêu (N2 bm)

- Tầng chứa nước này không lộ ra trên mặt địa hình nhưng phân bố rất rộng rãi trong vùng Ranh giới phía Bắc có thể gọi tên theo các xã từ thị xã Bà Rịa - Hòa Long, Long Phước, huyện Long Đất -Long Tân, Đất Đỏ Tầng này giàu nước, nó đã và đang là nguồn cấp nước ổn định cả về lượng và chất cho các thị trấn thị tứ và cả đô thị của tỉnh

- Nước tầng này thuộc loại siêu nhạt đến nhạt Các giếng khoan khai thác trong khu vực hiện nay có các thông số cơ bản ổn định đặt biệt là lưu lượng khai thác giếng Sự biến đổi thành phần giữa hai mùa khô và mưa không lớn

- Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho tầng là nước từ các tầng trên thấm xuống Loại hình hóa học phổ biến của nước là Bicácbonat- natri-canxi hoặc Clorua-bicácbonat-natri

2.1.1.6 Tài nguyên nước

2.1.1.6.1 Nước mưa:

- Khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là khí hậu nhiệt đới gió mùa với chế độ nhiệt

ổn định, quanh năm cao, không có mùa đông, biên độ nhiệt hàng năm từ 60

-120c Mùa mưa từ tháng 5 đến cuối tháng 10 chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Tây Nam từ ấn Độ Dương với đặc tính nóng ẩm gây mưa lớn ở Nam Bộ, đem đến cho tỉnh một lượng mưa khá lớn từ 930 đến 1.500mm, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm

Trang 40

Vũ Thị Loan - Cao học QTKD 2005-2007 - Đại học Bách Khoa Hà Nội Page 41

- Việc sử dụng nước mưa cho nhu cầu sinh hoạt ở nông thôn là phổ biến do tiên lợi nhưng chất lượng nước mưa phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm mái lợp; bể chứa, thời gian lưu trữ Mặc dù chất lượng nước mưa nguyên thủy khá tốt nhưng do biện pháp thu hứng chưa khoa học, bể chứa không có nắp đậy, dự trữ trong thời gian dài nên thường bị ô nhiễm vi sinh, ngoài ra có thể còn nhiễm amiang nếu sử dụng nước hứng từ mái lợp bằng fibrocimen

2.1.1.6.2 Nước mặt:

a) Hệ thống sông:

- Sông Thị Vải - Là phần hạ lưu sông Đồng Nai chạy song song với quốc lộ 51

và đổ trực tiếp ra biển Đoạn sông Thị Vải chạy qua tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dài 30 km bề rộng từ 200-400 m, sâu 5-20m và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông nên nước bị mặn gần như quanh năm (vào tháng 3,4 trị số mặn 17-20g/l) Nguồn nước Sông Thị Vải không thể sử dụng phục vụ sinh hoạt

- Sông Dinh Nằm trọn trong địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên Sông Dinh thuận lợi cho việc quản lý nguồn nước nhưng do sông ngắn lại nằm dưới thềm chân núi cao bên sườn đón gió Tây nam nên về mùa mưa nếu gặp những trận mưa lớn lũ lên nhanh bất lợi cho phòng chống lũ Trên Sông Dinh có nhiều đập dâng, hồ chứa- Đập Sông xoài, đập Sông Dinh I, Đập Sông Dinh II, hồ chứa Kim Long, hồ chứa Gia Hoét nước tích lại sau mùa mưa phục vụ tưới cây trồng và cung cấp cho sinh hoạt

- Sông Ray: Tổng chiều dài 120km phần lớn khu vực thượng lưu của sông thuộc tỉnh Đồng Nai; diện tích lưu vực cửa sông 1.300 km2; đoạn trung và hạ lưu thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dài 40km diện tích lưu vực 770km2 Cửa sông đổ ra biển tại địa phận xã Phước Thuận huyện Long Đất + Kết quả phân tích chất lượng nước sông Ray ổn định; nước sông nhìn chung thuộc loại trung tính và mềm, độ Ph dao động từ 7,1-7,6 và trung bình ở mức 7,2 đơn vị Nước ngọt, hàm lượng clorua thấp- trung bình vào khoảng 20-30 mg/l Hàm lượng chất rắn lơ lửng trên sông rất thấp chỉ từ 3-7 mg/l Đây là đặc điểm thuận lợi cho việc xử lý nước sông Ray phục vụ cho sinh hoạt

+ Một đặc điểm rất thuận lợi cho việc sử dụng nguồn nước sông Ray phục vụ cho sinh hoạt là do cửa sông hẹp, lưu lượng lớn và khá ổn định nên ranh mặn

bị đẩy ra xa

Ngày đăng: 27/02/2021, 15:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w