LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
********
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
******************
NGUYỄN KHOA ANH THƯ
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN, NHÂN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 8340101
Bà Rịa Vũng Tàu, tháng 12 năm 2020
Bà Rịa Vũng Tàu, ă
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu đầu tay của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS
Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn nghiên cứu của mình./
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 26 tháng 12 năm 2020
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Khoa Anh Thư
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để kết thúc chương trình cao học và hoàn thành luận văn thạc sĩ, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô và rất nhiều ý kiến đóng góp quý báu của anh, chị, em đồng nghiệp đang công tác tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả tri ân và xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn - TS Lê Sĩ Trí
đã rất tâm huyết và dành nhiều thời gian hướng dẫn nghiên cứu và giúp tác giả hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, xin được trân trọng cảm ơn gia đình đã luôn đồng hành, động viên, hỗ trợ tích cực về thời gian, tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập vừa qua./
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 26 tháng 12 năm 2020
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Khoa Anh Thư
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DAN H MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ x
TÓM TẮT LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.1 Xuất phát từ thực tiễn 1
1.1.2 Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 5
1.7 Kết cấu của luận văn 6
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Khái niệm về động lực lao động 8
2.2 Các học thuyết về tạo động lực làm việc cho người lao động 9
2.2.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow 9
2.2.2 Học thuyết thúc đẩy của McClelland 11
2.2.3 Học thuyết về hệ thống hai yếu tố của Frederick Herzberg 12
2.2.4 Lý thuyết kỳ vọng của Victor Vroom 14
2.3 Đặc điểm của ngành sư phạm 17
2.4 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động 18
2.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 18
Trang 62.4.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 21
2.5 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 24
2.5.1 Giả thuyết nghiên cứu 25
2.5.1.1 Mối quan hệ giữa Lãnh đạo với Động lực làm việc 25
2.5.1.2 Mối quan hệ giữa Thu nhập với Động lực làm việc 25
2.5.1.3 Mối quan hệ giữa Đồng nghiệp với Động lực làm việc 25
2.5.1.4 Mối quan hệ giữa Đào tạo và thăng tiến với Động lực làm việc 26
2.5.1.5 Mối quan hệ giữa Đánh giá thành tích với Động lực làm việc 26
2.5.1.6 Mối quan hệ giữa Môi trường làm việc với Động lực làm việc 27
2.5.2 Mô hình nghiên cứu 27
2.5.2.1 Các mô hình nghiên cứu liên quan 27
2.5.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 29
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1 Nghiên cứu định tính 31
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 31
3.3 Xây dựng thang đo các biến nghiên cứu 32
3.3.1 Thang đo Lãnh đạo 34
3.3.2 Thang đo Thu nhập 35
3.3.3 Thang đo Đồng nghiệp 35
3.3.4 Thang đo Đào tạo và thăng tiến 35
3.3.5 Thang đo Đánh giá thành tích 35
3.3.6 Thang đo Môi trường làm việc 35
3.3.7 Thang đo về động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên 36
3.4 Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu 36
3.4.1 Kích thước mẫu 36
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu 37
3 5 Các phương pháp phân tích dữ liệu 37
3.5.1 Phân tích thống kê mô tả 37
3.5.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 38
Trang 73.5.3 Phân tích nhân tố khám phá 38
3.5.4 Phân tích tương quan 39
3.5.5 Phân tíc h hồi quy tuyến tính đa biến 40
3.6 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 41
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 43
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Giới thiệu về Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu 44
4.1.1 Lịch s hình thành và phát triển 44
4.1.2 Cơ cấu tổ chức 46
4.2 Thống kê mô tả dữ liệu 48
4.2.1 Kết quả khảo sát về giới tính 48
4.2.2 Kết quả khảo sát về nhóm tuổi 49
4.2.3 Kết quả khảo sát về thu nhập 50
4.2.4 Kết quả khảo sát về trình độ học vấn 51
4.2.5 Kết quả khảo sát về thâm niên công tác 51
4.3 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 52
4.3.1 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Lãnh đạo 53
4.3.2 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Thu nhập 54
4.3.3 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Đồng nghiệp 54
4.3.4 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Đào tạo và thăng tiến 54
4.3.5 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Đánh giá thành tích 54
4.3.6 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Môi trường làm việc 54
4.3.7 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo Động lực làm việc 54
4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 55
4.4.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập 56
4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 58
4.5 Phân tích tương quan (kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính) 60
4.6 Phân tích hồi quy tuyến tính (kiểm định mô hình đa nhóm) 62
4.6.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 62
4.6.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 63
4.6.3 Kiểm định phân phối chuẩn 63
4.6.4 Kiểm định quan hệ tuyến tính 65
Trang 84.6.5 Kiểm định đa cộng tuyến 65
4.6.6 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 66
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 72
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Đề xuất hàm ý quản trị 75
5.2.1 Yếu tố “Đồng nghiệp” 75
5.2.2 Yếu tố “Đào tạo và thăng tiến” 76
5.2.3 Yếu tố “Môi trường làm việc” 77
5.2.4 Yếu tố “Lãnh đạo” 78
5.2.5 Yếu tố “Đánh giá thành tích” 79
5.2.6 Yếu tố “Thu nhập” 80
5.3 Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 81
5.3.1 Nh ững hạn chế của nghiên cứu 81
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÓM T ẮT CHƯƠNG 5 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ANOVA Phân tích phương sai Analysis of Variance
2 BR-VT Bà Rịa - Vũng Tàu
3 BVU Trường Đại học Bà Rịa -
4 CB, GV, NV Cán bộ, giảng viên, nhân
viên
5 DW Kiểm định tự tương quan Durbin - Watson
6 EFA Phân tích nhân tố khám phá Exploratory Factor Analysis
8 Sig Mức ý nghĩa quan sát Observed significance level
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
3 Bảng 3.1 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc 33
4 Bảng 3.2 Thang đo về động lực làm việc của cán bộ, giảng viên,
7 Bảng 4.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy của các thang đo 52
8 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
9 Bảng 4.4 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett của các biến độc lập 56
10 Bảng 4.5 Bảng tổng phương sai trích biến độc lập 57
11 Bảng 4.6 Ma trận nhân tố xoay các biến độc lập 58
12 Bảng 4.7 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett của biến phụ thuộc 59
13 Bảng 4.8 Bảng tổng phương sai trích biến phụ thuộc 59
14 Bảng 4.9 Ma trận xoay nhân tố các biến phụ thuộc 59
16 Bảng 4.11 Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập và
Trang 11STT TÊN BẢNG BIỂU TRANG
20 Bảng 4.15 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 68
21 Bảng 5.1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố 74
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 2.1 So sánh sự phân cấp nhu cầu của Maslow và thuyết hai
3 Hình 2.3 Mô hình động cơ thúc đẩy của Porter và Lawler 16
5 Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Abby M Brooks 19
6 Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed 19
7 Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của ShaemiBarzoki và các cộng sự 21
13 Hình 4.4 Mô tả mẫu theo trình độ học vấn 51
14 Hình 4.5 Mô tả mẫu theo thâm niên công tác 52
16 Hình 4.7 Biểu đồ phân phối tích lũy P-P Plot 64
Trang 13TÓM TẮT LUẬN VĂN
Yếu tố quyết định đến sự thành - bại của một tổ chức chính là nguồn nhân lực
Vì vậy, trong quá trình hoạt động của mình, các đơn vị luôn tìm cách khai thác, sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả thông qua việc nâng cao động lực, thúc đẩy tính tích cực của người lao động, nhằm động viên họ hăng say, tự nguyện làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức và người lao động một cách hiệu quả nhất
Việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ chuyên môn cao là yếu tố cần thiết nhằm nâng cao nội lực đảm bảo cho Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu phát triển bền vững Để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi nhà trường phải có những chính sách quản trị nhân sự hợp lý, một trong những tiền đề
để hoạch định chính sách nhân sự phù hợp là phải hiểu được động lực làm việc của người lao động tại đơn vị mình Do đó, đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu” được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến động lực làm việc của cán
bộ, giảng viên, nhân viên nhà trường và là cơ sở đề ra các chính sách quản trị nhân sự phù hợp với định hướng phát triển của Trường
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua phần mềm SPSS với dữ liệu phân tích thu được trên đối tượng khảo sát là 180 cán bộ, giảng viên, nhân viên Kết quả nghiên cứu đã xác định được 6 yếu tố ảnh hưởng, trong đó: Đồng nghiệp là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất; tiếp đến là yếu tố Đào tạo và thăng tiến; yếu tố Môi trường làm việc, yếu
tố Lãnh đạo, yếu tố Đánh giá thành tích, và cuối cùng là yếu tố Thu nhập có ảnh
hưởng yếu nhất đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan cũng được đề xuất nhằm mục đích nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, giảng viên, nhân viên
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Xuất phát từ thực tiễn
Trong thời đại bùng nổ của nền kinh tế tri thức, việc duy trì nguồn nhân lực là vấn đề cấp thiết đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm, một trong những yếu tố cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức là phải gây dựng được đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao Để thành công, hầu hết các cơ quan, tổ chức đều mong muốn người lao động của mình đạt hiệu quả cao trong công việc Tuy nhiên, trên thực
tế, bên cạnh những người lao động làm việc hăng say, nhiệt tình, đem lại kết quả cao trong công việc, luôn có những người lao động làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu hứng thú, không có trách nhiệm với công việc, làm cho kết quả thực hiện công việc thấp Vấn đề cơ bản là động lực làm việc của mỗi người Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nguồn nhân lực trong các cơ quan, doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc để nâng cao năng suất lao động
Ngày nay, giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của đất nước, nhất là giáo dục đại học, sự cạnh tranh giữa các trường đại học trong và ngoài nước ngày càng cao, trong đó sự cạnh tranh về nguồn nhân lực là một trong những yếu
tố quyết định đến sự sống còn của một trường đại học Vì vậy, nâng cao trình độ, tạo
sự gắn bó, nhiệt tình trong công việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên là mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của nhiều trường đại học cần quan tâm, chú trọng Một trường đại học với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, chính sách thu hút sinh viên tốt, học phí hợp lý nhưng nếu thiếu lực lượng lao động trí thức nhiệt tình, làm việc có hiệu quả thì
trường khó có thể tồn tại lâu dài hoặc mong muốn đạt chất lượng dịch vụ, chất lượng giảng dạy tốt Để quản lý có hiệu quả nguồn lực trí thức trong các trường đại học, các nhà lãnh đạo phải hiểu rõ về con người, nhất là đội ngũ cán bộ giảng viên, xem họ là yếu tố trung tâm của sự phát triển, đồng thời tạo điều kiện để phát huy khả năng trong mỗi con người nhằm tạo động lực thúc đẩy hoàn thiện cá nhân và phát triển tổ chức
1.1.2 Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu trước đây về động lực làm việc của người lao động tại các công ty, doanh nghiệp như: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc đối với nhân viên văn phòng tại công ty phần mềm FPT Đà Nẵng”
Trang 15của Giao Hà Quỳnh Uyên (2015), Phạm Duy Khanh (2020) nghiên cứu “các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên y tế bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”…, tại các trường đại học cũng có những nghiên cứu riêng về động lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên như Nguyễn Thế Hùng (2017) nghiên cứu các yếu tố tạo động lực cho giảng viên tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh hay Trương Đức Thao (2018) nghiên cứu về động lực làm việc của giảng viên trong các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam và gần hơn nữa là Phan Ánh Trúc (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực giảng dạy của giảng viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Mặc dù vậy, chưa có các nghiên cứu về động lực làm việc của người lao động tại trường đại học tư thục như Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, chính vì thế, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu là một nét mới, đây là một vấn đề phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố Bởi lẽ tác giả nhận thấy sự hài lòng trong công việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên là một trong những động lực làm việc quan trọng của đội ngũ trí thức tại trường nhằm đánh giá chất lượng của một trường đại học
Động lực làm việc của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đặc điểm công việc, môi trường làm việc, sự công bằng về thu nhập, sự ghi nhận đóng góp, cơ hội đào tạo và thăng tiến, mối quan hệ với đồng nghiệp và cấp trên, đánh giá của sinh viên, đánh giá của xã hội… Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thái độ và động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu có phần giảm sút (số lượng nhân sự nghỉ việc tăng đều theo thời gian, cán bộ, giảng viên, nhân viên thờ ơ với các hoạt động tập thể, làm việc
uể oải, chậm tiến độ, chất lượng công việc không cao) Là một nhân viên đang công tác tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, tác giả luôn mong muốn tìm ra đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của đội ngũ này, để từ đó đề xuất một
số giải pháp về chế độ, chính sách giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên thỏa mãn với công việc nhằm nâng cao động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian tới Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu đóng vai trò rất quan trọng và sẽ có tính ứng dụng trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài sẽ cung cấp thông tin chính xác cho Ban lãnh đạo trường xác định được yếu tố nào có tác động mạnh đến động lực làm việc của cán bộ,
Trang 16giảng viên, nhân viên, từ đó đề ra các chính sách quản trị phù hợp, kích thích cán bộ, giảng viên, nhân viên hăng say làm việc nhằm tăng hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn nội dung: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học
Bà Rịa - Vũng Tàu” để làm đề tài cho luận văn cao học của mình Đề tài luận văn của tác giả sẽ được kế thừa các lý luận và thực tiễn về tạo động lực lao động để phát triển
cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho cán bộ, giảng viên, nhân viên tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Qua đó, đề xuất một số hàm ý quản trị hoàn thiện các chế độ, chính sách giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên thỏa mãn với công việc nhằm nâng cao động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên đây, đề tài nghiên cứu của tác giả sẽ trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Yếu tố nào tác động đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu?
Trang 17Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu như thế nào?
Câu hỏi 3: Nên làm thế nào để nâng cao động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các tiền tố của động lực làm việc và động lực làm việc của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Đối tượng khảo sát: cán bộ, giảng viên, nhân viên đang làm việc tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu có hợp đồng lao động từ 01 năm trở lên
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: 03 cơ sở làm việc của Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Phạm vi về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2017 đến năm
2019, dữ liệu sơ cấp tiến hành khảo sát và nhận kết quả trong tháng 05 và tháng 06 năm 2020
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu đó là định tính và định lượng
Phương pháp định tính:
Tác giả thu thập thông tin, cơ sở lý thuyết, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước có liên quan và sử dụng các tài liệu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, đồng thời mô tả và phân tích dữ liệu thứ cấp như các quy định quy chế về lao động, tiền lương, khen thưởng, ứng xử văn hóa… của Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, để tổng hợp các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó thiết kế xây dựng mô hình nghiên cứu và lập bảng khảo sát tập trung vào nhóm đối tượng nghiên cứu là cán bộ giảng viên chuẩn bị cho nghiên cứu sơ bộ
Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong phương pháp định tính: Nghiên cứu tiến hành thảo luận nhóm 10 cán bộ, giảng viên, nhân viên của BVU Mục tiêu của phương pháp thảo luận nhóm nhằm bổ sung, điều chỉnh các biến quan sát từ thang đo gốc của các nghiên cứu trước đó Kết quả của thảo luận nhóm là bảng câu hỏi được hoàn thiện để tiến hành khảo sát cho nghiên cứu định lượng sơ bộ và chính thức
Trang 18Phương pháp định lượng:
Các bước nghiên cứu định lượng được thực hiện như sau:
Bước 1: Nghiên cứu các mô hình lý thuyết, từ đó điều chỉnh mô hình cho phù hợp với thực tế tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Bước 2: Xây dựng thang đo và lập bảng câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
Bước 3: Phát phiếu khảo sát và thu thập kết quả trên phiếu
Bước 4: Nghiên cứu định lượng sơ bộ: dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành khảo sát sơ bộ (50) đối tượng là cán bộ, giảng viên, nhân viên làm việc tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS 20, để kiểm tra độ tin cậy của thang đo và loại đi những biến có tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha < 0.3 và các hệ số Cronbach’s Alpha > 0.3 sẽ được giữ lại bảng khảo sát để phân tích nhân tố khám phá và tiến hành nghiên cứu chính thức
Bước 5: Nghiên cứu định lượng chính thức: Từ kết quả nghiên cứu định lượng
sơ bộ, tác giả tiến hành khảo sát chính thức (n = 180) đối tượng là cán bộ, giảng viên, nhân viên đang làm việc tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Dữ liệu thu thập sẽ được xử lý và kiểm định trong nghiên cứu định lượng chính thức bao gồm: thống kê
mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và phân tích mô hình hồi quy để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến động lực làm việc
Bước 6: Dựa trên kết quả phân tích để đưa ra một số đề xuất nhằm tạo động lực làm việc cho cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
Trang 19Từ kết quả phân tích, Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ biết được yếu tố nào trong mô hình ảnh hưởng mạnh đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên, từ đó đưa ra khuyến nghị để tạo động lực nhằm giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường làm việc hiệu quả hơn
1.7 Kết cấu của luận văn
Luận văn này được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1 Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương này trình bày lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu về đề tài và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nêu ý nghĩa của đề tài và mô tả bố cục của nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Từ các lý thuyết về động lực làm việc, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3 Thiết kế nghiên cứu
Chương này trình bày quy trình nghiên cứu của đề tài, mô tả phương pháp nghiên cứu (bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng), xây dựng thang
đo các thành phần trong mô hình nghiên cứu, hoàn thiện bảng hỏi để thu thập dữ liệu nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày kết quả phân tích dữ liệu, nghiên cứu, đánh giá các kết quả có được dựa trên việc xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS
Chương 5 Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị
Chương này trình bày các các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu Đồng thời đưa
ra được những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra được hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 20TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả trình bày tổng quan về các nội dung của đề tài đang nghiên cứu, từ những nội dung này sẽ đưa đến cái nhìn tổng thể về quá trình hình thành đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Thông qua cái nhìn tổng quan về nội dung nghiên cứu, đề tài được thiết lập, từ
đó tạo cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn dựa trên các lý thuyết liên quan được đề cập trong chương 2
Trang 21CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 của luận văn trình bày các khái niệm và các nghiên cứu có liên quan đến động lực làm việc của người lao động trong tổ chức Các lý thuyết này sẽ làm cơ
sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu động lực làm việc của cán bộ, giảng viên,
2.1 Khái niệm về động lực lao động
Khái niệm về động lực lao động hay động lực làm việc đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, mỗi khái niệm có một quan điểm riêng nhưng đều làm rõ bản chất của động lực lao động Cụ thể:
Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc (Stee và Porter, 1983)
Theo Giáo trình Quản trị Nhân lực: Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người Do đó, hành
vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như thực hiện các chính sách đó Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị… (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2007, tr 128)
Theo Giáo trình Hành vi tổ chức: Động lực của người lao động là những nhân
tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động (Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương, 2009, tr 85)
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực lao động nhưng có thể hiểu động lực là tất cả những gì tác động vào nhu cầu cá nhân nhằm thúc đẩy, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu Có thể thấyrằng: động lực trong lao động chính là sự nỗ lực, cố gắng từ bản thân mỗi người lao động tạo nên,
Trang 22động lực luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức và môi trường làm việc cụ thể, nên động lực lao động có thể thay đổi theo các yếu tố khách quan, do đó, mục tiêu của các nhà quản lý là tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức, đây là một trong những giải pháp để nâng cao năng suất
và hiệu quả lao động
2.2 Các học thuyết về tạo động lực làm việc cho người lao động
2.2.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được xem là một trong những người đầu tiên theo trường phái Tâm lý học nhân văn Năm 1943, Maslow đưa ra lý thuyết về thang bậc nhu cầu 5 cấp bậc được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt được ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự, marketing và đào tạo
Theo Maslow, nhu cầu của con người được phân chia thành những cấp bậc khác nhau theo trình tự từ thấp đến cao, gồm nhu cầu cơ bản và các nhu cầu bậc cao, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đưa ra các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc, gồm: nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được coi trọng và nhu cầu tự mãn nguyện
Nhu cầu vật chất: là nhu cầu cơ bản nhất xuất hiện trong mỗi con người, nhằm đảm bảo cho con người tồn tại như ăn uống, ngủ nghỉ, nhà ở, đi lại, các nhu cầu làm cho con người thoải mái… Maslow cho rằng khi những điều cơ bản trên chưa được thỏa mãn đến mức cần thiết để con người duy trì cuộc sống thì họ sẽ không quan tâm đến những nhu cầu khác; đây là nhu cầu tối thiểu cần thiết nên được xếp vào bậc thấp nhất
Nhu cầu an toàn: được xem là bước phát triển cao hơn của những nhu cầu thiết yếu căn bản, gồm những mong muốn được bảo vệ an toàn, tránh được sự nguy hiểm
về thể chất và tinh thần, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình Ở mức nhu cầu này, con người muốn được làm việc trong những điều kiện an toàn, sợ phải làm việc trong những điều kiện nguy hiểm và sẽ có những phản ứng lại với những dấu hiệu có nguy cơ đe doạ bản thân và gia đình họ
Trang 23Nhu cầu xã hội: là nhu cầu thiên về yếu tố tình cảm, tinh thần, gồm những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, có bạn bè Con người sẽ cố gắng tìm hiểu mọi người xung quanh vì họ cảm thấy trống vắng khi thiếu đi gia đình, bạn bè, người thân Vì con người là một thành viên của xã hội nên họ cần được tham gia vào xã hội và được những người khác chấp nhận; cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển
Nhu cầu được coi trọng: Theo Maslow, một khi con người bắt đầu được thỏa mãn nhu cầu của bản thân, họ được chấp nhận là thành viên trong xã hội, thì họ có xu thế tự trọng và muốn nhận được sự quan tâm, tôn trọng từ những người xung quanh Đây là nhu cầu mang lại sự thỏa mãn như có quyền lực, địa vị, tạo được uy tín và lòng tin đối với người khác
Nhu cầu tự mãn nguyện: là mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ, con người muốn phát huy tiềm năng đến mức tối đa và hoàn thành một mục tiêu nào đó một cách mãn nguyện nhất Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong hệ thống cấp bậc nhu cầu của ông
Theo thuyết thứ bậc về nhu cầu của Maslow, khi con người được thoả mãn ở nhu cầu hiện tại đến một mức độ nhất định, thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Nhu cầu vật chất, an toàn được xem là nhu cầu thấp nhất, và các nhu cầu còn lại được xem là nhu cầu bậc cao, các nhu cầu thấp hơn phải được thoả mãn trước khi phát sinh các nhu cầu ở bậc cao hơn Khi một nhu cầu được thỏa mãn nhiều, sẽ không còn mang tính thúc đẩy nữa, nhu cầu kế tiếp trở nên quan trọng hơn Hệ thống cấp bậc nhu cầu
do Maslow đưa ra là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất để nghiên cứu về động lực Nhu cầu của cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng được nhu cầu đó cũng rất phức tạp, tại từng thời điểm những người khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau Vì vậy, nếu muốn động viên một ai đó, phải xem họ đang ở đâu trên hệ nhu cầu, và tập trung thỏa mãn nhu cầu mà họ đang hướng đến Để làm được điều này, các nhà quản lý ở các doanh nghiệp phải hiểu được nhân viên của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, mới đưa ra được cách giải quyết hợp lý, từ đó làm cơ sở để
đề ra các biện pháp có thể thỏa mãn chính xác và kịp thời nhu cầu của người lao động nhằm tạo động lực thúc đẩy nhân viên làm việc hăng say, nâng cao động lực của nhân viên cũng là nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị
Trang 242.2.2 Học thuyết thúc đẩy của McClelland
Năm 1961, David McClelland đã tạo ra học thuyết tương tự với học thuyết về
nhu cầu của Abraham Maslow trong chính tác phẩm “The Achieving Society”
McClelland đã xác định 03 động lực mà ông tin rằng tất cả mọi người đều có, đó là: nhu cầu về thành tích, nhu cầu liên kết và nhu cầu về quyền lực, tùy thuộc vào nhu cầu tại từng thời điểm mà mỗi người sẽ có những đặc điểm khác nhau McClelland cho rằng bất kể giới tính, văn hóa hay tuổi tác, tất cả mọi người đều có ba động lực thúc đẩy, và một trong số đó sẽ là động lực chính chi phối chúng ta Động lực chính này phụ thuộc phần lớn vào văn hóa và kinh nghiệm sống
Những động lực đó mang các đặc điểm sau:
Bảng 2.1 Thuyết 3 nhu cầu của McClelland
Mong muốn làm việc nhóm
Muốn được yêu thích, và thường sẽ đi tới cùng mục đích
Ưu tiên hợp tác trong cạnh tranh
Không thích rủi ro cao hoặc không chắc chắn
Quyền lực
Muốn kiểm soát và tác động đến người khác
Thích tranh luận để giành chiến thắng
Tận hưởng sự cạnh tranh và chiến thắng
Tận hưởng địa vị và sự công nhận
(Nguồn:Phạm Thống Nhất, Lý thuyết tạo động lực cho nhân sự của McClelland)
Học thuyết của McClelland giúp các nhà quản lý xác định được các động lực chính của từng thành viên Sau đó, tác động đến cách đặt mục tiêu và cung cấp phản hồi, cũng như cách thúc đẩy, và khen thưởng cho các thành viên trong nhóm
Học thuyết nhu cầu của McClelland không phải là học thuyết duy nhất về động
lực Học thuyết ba yếu tố của Sirota cũng trình bày ba yếu tố thúc đẩy rằng nhân viên
cần duy trì động lực và sự phấn khích về những gì họ đang làm: công bằng, thành tích
và tình bạn thân thiết
Trang 25Học thuyết của Sirota nói rằng tất cả chúng ta đều bắt đầu một công việc mới với rất nhiều sự nhiệt tình và động lực Nhưng theo thời gian, do chính sách của công
ty và điều kiện làm việc kém, nhiều người trong chúng ta mất đi động cơ và sự phấn khích vốn có
Điều này khác với học thuyết của McClelland, trong đó nói rằng tất cả chúng ta đều có một động lực chi phối giúp tiến lên phía trước, và động lực này dựa trên văn hóa và kinh nghiệm sống của chúng ta
Nếu hiểu được các học thuyết động lực sẽ giúp cho các nhà quản lý quyết định phương pháp tốt nhất cho từng tình huống Nếu các nhà quản lý hiểu được tâm tư tình cảm của từng nhân viên, họ sẽ có các đối sách khiến nhân viên cuồng nhiệt cống hiến cho tổ chức để đạt được mọi mục tiêu đề ra của tổ chức
2.2.3 Học thuyết về hệ thống hai yếu tố của Frederick Herzberg
Frederick Herzberg (1923-2000), nhà tâm lý học lâm sàng là người đầu tiên đưa
ra lý thuyết quản lý và động lực Học thuyết của Herzberg dựa trên cơ sở quan điểm tạo động lực là kết quả của sự tác động từ nhiều yếu tố, gồm các yếu tố tạo nên sự thoả mãn và không thoả mãn trong công việc Herzberg cho rằng một số yếu tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc, được gọi là các yếu tố động viên và các yếu tố liên quan đến sự bất mãn được gọi là các yếu tố duy trì, hai yếu tố này hoàn toàn khác biệt nhau
+ Các yếu tố động viên: được phát sinh từ chính các yếu tố nội tại của công việc, gắn liền với động lực làm việc của người lao động Khi người lao động tham gia làm việc, nếu được thoả mãn trong công việc như được trao quyền, được công nhận thành tích, có cơ hội thăng tiến… thì yếu tố này có tác dụng tạo động lực, nếu không được động viên, người lao động vẫn sẽ làm việc bình thường
+ Các yếu tố duy trì: thuộc về môi trường làm việc của người lao động như chế
độ chính sách, tiền lương, các mối quan quan hệ đồng nghiệp, cấp trên, điều kiện làm việc… Khi các yếu tố này không được đáp ứng, sẽ mang đến sự không hài lòng của người lao động, ngược lại khi được đáp ứng tốt, nó có tác dụng ngăn ngừa sự bất mãn
của người lao động đối với công việc
Có thể thấy: nếu giải quyết tốt các yếu tố động viên sẽ tạo ra sự thỏa mãn đối với người lao động, khuyến khích họ tích cực làm việc, tuy nhiên nếu yếu tố này không được giải quyết tốt sẽ mang lại sự không thỏa mãn của người lao động, chứ
Trang 26chưa chắc người lao động sẽ bất mãn Trong khi đó đối với các yếu tố duy trì, nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nhưng nếu giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc đã có tình trạng thỏa mãn Vì vậy, các nhà quản trị không thể mong đợi sự thỏa mãn của người lao động bằng cách đơn giản là xóa bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn, mà phải giải quyết thỏa đáng, đồng thời cả hai nhóm yếu tố duy trì và động viên, không nên chú trọng vào một nhóm
Từ những lập luận trên, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa Học thuyết nhu cầu, động cơ của Maslow và Học thuyết hai yếu tố của Herzberg như sau:
Động cơ nhu cầu
HÀNH VI Mục tiêu kích thích
Theo Maslow, con người luôn có nhu cầu và nhu cầu đó được chia thành 5 cấp bậc từ thấp đến cao Còn Herzberg lại đề cao 2 yếu tố là: thúc đẩy và duy trì
Hình 2.1 So sánh sự phân cấp nhu cầu của Maslow và thuyết hai yếu tố Herzberg
Một khi con người đã thoả mãn nhu cầu này, thì nhu cầu khác cao hơn trong họ
sẽ được nảy sinh Mặc dù vậy, để tiếp tục thoả mãn được nhu cầu cao thì nhu cầu trước đó vẫn phải được duy trì Lúc này, mục tiêu đặt ra là phải thoả mãn nhu cầu cao hơn Hành vi của họ được xuất phát từ nhu cầu và động cơ, kết hợp với mục tiêu mà
họ đặt ra Chính vì vậy, nếu chế độ chính sách của tổ chức, đảm bảo tốt cho người lao động sẽ kích thích họ hăng hái làm việc, đem lại hiệu quả công việc tốt Có thể thấy
NHU CẦU TỰ THÂN VẬN ĐỘNG
NHU CẦU VỀ SỰ TÔN TRỌNG
NHU CẦU LIÊN KẾT
Sự tiến bộ Địa vị
Lý Thuyết Thang Nhu Cầu
Các yếu tố Động viên
Các yếu tố Duy trì
Trang 27hành vi của họ sẽ tác động tích cực đến quá trình hoạt động của tổ chức đó Ngược lại, nếu chế độ chính sách của một tổ chức không làm thoả mãn được nhu cầu cho người lao động thì sẽ không thể kích thích được họ hăng say làm việc, không thể đem đến hiệu quả công việc như tổ chức mong đợi.
2.2.4 Lý thuyết kỳ vọng của Victor Vroom
Để bổ sung cho học thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow, năm 1964, Victor Vroom đưa ra lý thuyết kỳ vọng, đây là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết quản trị nhân sự nhằm giải thích động cơ thúc đẩy lao động, Vroom không tập trung nhiều vào nhu cầu, mà chủ yếu tập trung vào kết quả Vroom cho rằng hành vi
và động cơ làm việc của con người sẽ được quyết định bằng nhận thức của con người
từ những kỳ vọng của họ trong tương lai Theo lý thuyết này, động lực là chức năng của sự kỳ vọng cá nhân, một sự nỗ lực nhất định sẽ đem lại một thành quả mong muốn nếu cá nhân tin rằng việc làm của họ sẽ dẫn tới kết quả tốt hoặc những phần thưởng đối với họ có giá trị cao Mỗi người sẽ tự quyết định chọn cho mình một mức nỗ lực
để đạt mục tiêu của tổ chức tùy vào mức độ kì vọng và sức hấp dẫn của phần thưởng trong tương lai đối với họ Như vậy, sự nỗ lực của một cá nhân trong công việc phụ thuộc vào việc người đó tin rằng họ có thể đạt được những thành tích tốt mà họ cố gắng và sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng, phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ
Lý thuyết về Motivation (động lực) xoay quanh ba mối quan hệ: Expectancy (sự kỳ vọng), Instrumentality (công cụ) và Valence (giá trị về mặt tâm lý) Vroom cho rằng người lao động chỉ được động viên khi họ nhận thức tích cực về cả ba mối quan
hệ trên Do đó, Vroom đưa ra một phương trình:
ĐỘNG LỰC = kỳ vọng thực hiện (E) x kỳ vọng kết quả (I) x mối quan tâm (V)
Kỳ vọng về thực hiện (Expectancy) là niềm tin của một người vào việc “nếu làm việc chăm chỉ họ sẽ đạt được kết quả cao”
Kỳ vọng về kết quả (Instrumentality) là niềm tin của một người vào việc “nếu
Trang 28quản trị có đưa ra biện pháp khích lệ bằng phần thưởng cao đến đâu cũng trở nên vô ích Vì vậy, nhà quản trị cần phải đả thông tâm lý cho người thực hiện rằng họ có khả năng làm được việc, thông qua việc “hoạch định các chính sách thể hiện rõ mối quan
hệ giữa nỗ lực và thành tích, giữa kết quả và phần thưởng đồng thời tạo nên sức hấp dẫn của các kết quả, phần thưởng đối với người lao động Khi thực hiện được những điều này, động lực lao động của người lao động sẽ được tạo ra” [8, tr.163]
Không Không Không
Hình 2.2 Lý thuyết kỳ vọng của Vroom (1964)
( Nguồn: Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân)
Như vậy để tạo động lực làm việc cho người lao động, các nhà quản trị cần tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người lao động, làm cho họ hiểu và nhận thức đúng quan hệ giữa sự nỗ lực với kết quả đạt được, kết quả đó sẽ tương ứng với phần thưởng nhận được nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của người lao động Có thể thấy, thuyết kỳ vọng của Victor Vroom quan tâm đến những kỳ vọng của cá nhân người lao động như kết quả làm việc, phần thưởng và các kết quả đầu tư thỏa mãn mục tiêu của họ Vì vậy, các nhà quản trị phải tin rằng phần thưởng một tổ chức đưa ra phải phù hợp với mong muốn của mỗi cá nhân Lý thuyết của Victor Vroom đã chỉ ra rằng mục tiêu của tổ chức không giống với mục tiêu của cá nhân, và mỗi cá nhân trong tổ chức đều có mục tiêu khác nhau, tuy nhiên các mục tiêu này vẫn có thể kết hợp hài hoà với nhau, khi người lao động nhận rằng họ thực hiện công việc vì mục tiêu chung của tổ chức sẽ đem lại kết quả tốt cho mục tiêu của họ, lúc này họ sẽ cố gắng để hoàn thành tốt công việc đó Lý thuyết của Vroom mang tính chính xác cao và tính logic nhưng nó lại khó
áp dụng vào thực tiễn Lý thuyết này không cụ thể và phức tạp hơn so với cách tiệp cận của Maslow và Herzberg
Dựa trên lý thuyết kỳ vọng của Vroom, năm 1968, một số học giả như Lyman Porter và Edward Lawler đã đưa ra lý thuyết toàn diện về động lực Mô hình của
Kết quả: liệu có
phần thưởng không?
có đúng cái tôi cần không? Động lực
Trang 29Porter và Lawler là một mô hình động lực hoàn thiện hơn so với các nghiên cứu trước, giải thích mối quan hệ tồn tại giữa thái độ công việc và hiệu suất công việc, theo đó, động lực không phải là một mối quan hệ nhân quả đơn giản mà là một hiện tượng phức tạp Mô hình động cơ thúc đẩy của Porter và Lawler cho thấy toàn bộ sự cố gắng,
nỗ lực của người lao động trong thực hiện công việc, hay sức mạnh của động cơ thúc đẩy phụ thuộc vào giá trị của phần thưởng mà người lao động sẽ nhận được khi hoàn thành tốt công việc Người lao động khi nhận thức đúng về nhiệm vụ cần thực hiện, với những kiến thức và kỹ năng của mình, sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được các phần thưởng xứng đáng như tiền, địa vị, điều kiện làm việc tốt… đem đến sự hài lòng cho người lao động Chính sự hài lòng của người lao động, là động cơ thúc đẩy người lao động làm việc tốt, đem lại hiệu quả làm việc cao, là kết quả tổng hợp của nhiều phần thưởng Mô hình động lực của Porter và Lawler được tạo ra để xác định mối quan hệ giữa động lực mà nhân viên nhận được do sự hiện diện của phần thưởng
và phần thưởng thường xuyên, năng suất và sự hài lòng của nhân viên
Hình 2.3 Mô hình động cơ thúc đẩy của Porter và Lawler (1968)
Mô hình giả định rằng nhân viên sẽ chỉ hài lòng nếu họ đã hoàn thành tốt công việc, sẽ nhận được phần thưởng đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của họ Do đó, mô hình này giải thích rõ hơn về động lực làm việc và mối quan hệ giữa hiệu suất và sự hài lòng Nhưng đến nay, nó vẫn chưa ảnh hưởng nhiều đến thực tiễn quản lý nguồn nhân lực
Giá trị các phần thưởng
Phần thưởng hợp
lý theo nhận thức
Khả năng thực hiện nhiệm vụ
Nhận thức về nhiệm vụ cần thiết
Khả năng được nhận thưởng
Phần thưởng nội tại
Phần thưởng bên ngoài
Động
cơ thúc đẩy Kết quả thực
hiện nhiệm vụ
Sự thỏa mãn
Trang 302.3 Đặc điểm của ngành sư phạm
Theo nghĩa Hán Việt, sư là thầy, phạm là khuôn thước, mẫu mực Vì vậy, sư phạm có thể hiểu là người thầy khuôn phép, mẫu mực, là tấm gương sáng cho trò noi theo Sư phạm cũng có thể hiều là khoa học về giáo dục và giảng dạy trong trường học Theo Đinh Quang Báo “lao động sư phạm là một loại lao động đặc biệt, để thích ứng với lao động này, sinh viên sư phạm khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải chuẩn
bị cho mình những phẩm chất và năng lực, thói quen phù hợp với lao động sau khi tốt nghiệp Do đó, chuẩn đầu ra ngành sư phạm đào tạo giáo viên phải hướng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên”
Sản phẩm của lao động sư phạm là con người với những nhân cách theo mô hình mà xã hội đòi hỏi ở giáo dục nhà trường, công cụ chủ yếu của lao động sư phạm
là nhân cách của nhà giáo, lao động của nhà giáo biến người học thành con người xã hội thông qua môi trường sư phạm Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất của lao động
sư phạm là sự tương tác giữa thầy và trò, giữa nhà trường và cộng đồng xã hội, được
tổ chức một cách hợp lý nhằm tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của thế
hệ trẻ Trong môi trường giáo dục, nhà giáo càng nhiệt tình trong công việc, biết lắng nghe, chia sẻ trong giao tiếp thì càng tạo được quan hệ tốt giữa gia đình và nhà trường,
từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục
Có thể thấy, ngành sư phạm mục đích là đào tạo ra những nhà giáo đủ năng lực
ở các cấp bậc tham gia vào sự nghiệp giảng dạy thế hệ trẻ thành lực lượng lao động tiếp nối sự phát triển xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành nghề, lĩnh vực của
xã hội
Hiện nay, ngành sư phạm đang chuyển mình trong những cải tiến không ngừng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn sức khỏe trí tuệ cộng đồng Vì vậy, đội ngũ nhà giáo và các cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nói chung phải không ngừng tự hoàn thiện về đạo đức, nhân cách, chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính sáng tạo trong hoạt động sư phạm
Trong công tác giáo dục đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, người lao động đóng vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo Ngoài các điều kiện
về vật chất, tinh thần, môi trường văn hóa… việc đánh giá nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy cán bộ, giảng viên, nhân viên trong lao động sư phạm sáng tạo và nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả làm việc Việc đánh giá công
Trang 31bằng có tác động tích cực đến bản thân người lao động, giúp học có động lực phấn đấu hoàn thiện và nâng cao giá trị bản thân để được đánh giá cao, được ghi nhận thành tích đóng góp để tiếp tục được sử dụng vào những vị trí công việc phù hợp với năng lực bản thân
2.4 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động
2.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Boeve (2007)
Boeve đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố tạo động lực của các giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ tại các trường Y trên đất nước Mỹ, dựa trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và chỉ số mô tả công việc (JDJ) của Smith, Kendall và Hulin (1969) Theo đó, các yếu tố tạo động lực được chia thành: nhóm nhân tố nội tại
và nhóm nhân tố bên ngoài Bản chất công việc, cơ hội phát triển và thăng tiến thuộc nhóm nhân tố nội tại; còn các yếu tố như lương, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp thuộc nhóm nhân tố bên ngoài
Kết quả nghiên cứu cho thấy bản chất công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp
và cơ hội phát triển là các yếu tố có tương quan mạnh nhất, trong khi sự hỗ trợ của cấp trên và lương có tương quan yếu hơn đối với động lực làm việc của các giảng viên, ngoài ra thời gian công tác lâu dài tại khoa cũng ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên Nghiên cứu của Wallace D Boeve (2007) chỉ ra rằng nhân tố đồng nghiệp
có tác động nhiều nhất, kế đến là nhân tố bản chất công việc có ảnh hưởng mạnh đến động lực làm việc
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Boeve
Nhân tố nội tại
Nhân tố bên ngoài
Động lực làm việc
Trang 32Nghiên cứu của Abby M Brooks (2007)
Dựa trên bảng câu hỏi phỏng vấn gồm 53 biến quan sát đối với 181 người làm các công việc khác nhau trên khắp nước Mỹ, Abby M Brooks (2007) đề xuất mô hình:
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Abby M Brooks
Kết quả nghiên cứu của Abby M Brooks cho thấy sự kết hợp của thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công việc là dự đoán tốt nhất về động lực làm việc của nhân viên Động lực tại nơi làm việc và sự hài lòng trong công việc là tiền đề của nhau Động lực làm việc được phát hiện là yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê về sự hài lòng trong công việc Các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến sự hài lòng của nhân viên bao gồm: Đánh giá hiệu quả công việc; Đào tạo; Cấp trên; Đóng góp vào tổ chức Hạn chế trong nghiên cứu này là không xem xét quy mô, cấu trúc phân cấp của tổ chức
Nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011)
Teck-Hong và Waheed (2011) đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc dựa trên cơ sở lý thuyết về hai nhân tố của Herzberg, để tiến hành khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia như sau:
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed
Đào tạo
Sự đóng góp/
Sự công nhận
Thiết lập mục tiêu
Tương lai
Sự hài lòng Động lực làm việc
ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC
Bản chất công việc
Sự công nhận
Phát triển nghề
nghiệp
Chính sách công ty
Tiền
Quan hệ với cấp trên
Công việc ổn định
Điều kiện làm việc
Thành đạt Thăng tiến
Quan hệ với đồng nghiệp
Trang 33Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố ảnh hưởng chính đến động lực làm việc là điều kiện làm việc và sự cộng nhận Kết quả phân tích chỉ ra rằng để tạo động lực cho nhân viên thì các yếu tố duy trì động lực có tác động hiệu quả hơn và ảnh hưởng đến người lao động nhiều hơn các yếu tố động viên Hạn chế của nghiên cứu là phân tích không đầy đủ các khía cạnh của các nhân tố do ít biến quan sát, khiến cho kết quả nghiên cứu có thể không chính xác
Nghiên cứu của Kovach (1987)
Nghiên cứu của Kennett S Kovach (1987) với hơn một nghìn mẫu khảo sát của nhân viên và người giám sát, nghiên cứu về động lực làm việc của người lao động làm việc trong các ngành công nghiệp khác nhau tại Hoa Kỳ đã bổ sung các yếu tố tạo động lực cho nhân viên ngành công nghiệp và đưa ra mô hình 10 yếu tố động viên nhân viên gồm: (1) công việc thú vị, (2) được công nhận đầy đủ công việc đã làm, (3)
sự tự chủ trong công việc, (4) công việc ổn định, (5) lương cao, (6) sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, (7) điều kiện làm việc tốt, (8) sự gắn bó của cấp trên với nhân viên, (9) xử lý kỷ luật khéo léo, tế nhị, (10) sự giúp đỡ của cấp trên để giải quyết những vấn đề cá nhân Việc nghiên cứu theo mô hình 10 yếu tố của Kovach (1987) được tiến hành ở nhiều nước, trên nhiều lĩnh vực và kiểm định được rằng các yếu tố đều ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên
Nghiên cứu của Marko Kukanja (2012)
Marko Kukanja (2012) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch tại khu vực ven biển Piran của Slovenia thông qua việc khảo sát 191 nhân viên làm việc tại các quán bar, nhà hàng, quán café Kết quả nghiên cứu cho thấy: tiền lương là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động, tiếp theo là phúc lợi xã hội, thời gian làm việc linh hoạt, và đào tạo được đánh giá là yếu tố ít quan trọng nhất
Nghiên cứu của Tan và cộng sự (2011)
Tan và cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của các nhân viên y tế tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 11 yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên, gồm: Lãnh đạo; Công việc thú
vị; Quan hệ với đồng nghiệp; Môi trường làm việc; Công việc ổn định; Thành tích; Tiền lương; Quan hệ với cấp trên; Sự thăng tiến và phát triển; Thương hiệu và văn hóa; Sự công nhận
Trang 34Nghiên cứu của Shaemi Barzoki và cộng sự (2012)
Trên cơ sở lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, Shaemi Barzoki và các cộng sự (2012) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên và đưa ra 7 yếu
tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên, bao gồm: An toàn nghề nghiệp;
Chính sách của công ty; Mối quan hệ với đồng nghiệp; Giám sát và mối quan hệ với cấp trên; Điều kiện làm việc; Cuộc sống cá nhân; Tiền lương và thưởng Kết quả cho thấy yếu tố tiền lương, tiền công có ảnh hưởng lớn nhất đến động lực làm việc của nhân viên
H7 H6 H5 H4 H3 H2 H1
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của ShaemiBarzoki và các cộng sự
2.4.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, những đề tài nghiên cứu liên quan đến động lực làm việc của người lao động trong các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp, trường học đã được công
bố trên sách, báo, trên các tạp chí chuyên ngành uy tín…
Đề tài nghiên cứu của Giao Hà Quỳnh Uyên (2015) về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc đối với nhân viên văn phòng tại công ty phần mềm FPT Đà Nẵng, đã xây dựng mô hình nghiên cứu với 8 yếu tố ảnh hưởng với 40 biến quan sát gồm: bản chất công việc, điều kiện làm việc, đào tạo thăng tiến, tiền lương, phúc lợi, cấp trên, đồng nghiệp, đánh giá thành tích Kết quả nghiên cứu cho thấy: bản chất công việc ảnh hưởng nhiều nhất đến động lực làm việc của nhân viên, các yếu tố như tiền lương, phúc lợi, đồng nghiệp cũng ảnh hưởng khá lớn và cũng là các yếu tố quan trọng tác động đến động lực làm việc của nhân viên
Sự bảo
đảm
công việc
Chính sách của
tổ chức
Mối quan
hệ với đồng nghiệp
Các hoạt động giám sát và mối quan hệ với các
cơ quan
Các điều kiện làm việc
Cuộc sống cá nhân
Tiền lương, tiền công và thưởng
Các yếu tố duy trì
Động lực
Trang 35Nghiên cứu của Phạm Duy Khanh (2020) về các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên y tế bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với mô hình đề xuất gồm 01 biến phụ thuộc là động lực làm việc và 07 biến độc lập bao gồm: Bản chất công việc, Môi trường làm việc, Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Sự công nhận, Thu nhập và Phúc lợi, Cơ hội đào tạo và thăng tiến Dựa trên nền tảng lý thuyết và kết quả nghiên cứu định tính, thang đo cho 07 biến độc lập và 01 biến phụ thuộc được xây dựng gồm 32 biến quan sát Dữ liệu thu được từ 168 mẫu phỏng vấn được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Kết quả nghiên cứu cho thấy: sự công nhận là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến động lực làm việc, tiếp sau đó là 6 yếu tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần, gồm: bản chất công việc, thu nhập và phúc lợi, lãnh đạo, đồng nghiệp, môi trường làm việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến
Tác giả Phan Ánh Trúc (2018) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực giảng dạy của giảng viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu” Tác giả
đã xây dựng mô hình nghiên cứu với những yếu tố gồm: Chế độ lương thưởng và đãi ngộ, Mối quan hệ với đồng nghiệp, Lãnh đạo trực tiếp, Đào tạo và phát triển, Sự công nhận, Thái độ của sinh viên… Kết quả nghiên cứu cho thấy: Yếu tố Mối quan hệ với đồng nghiệp tác động mạnh nhất, tiếp theo đó là các yếu tố có ảnh hưởng giảm dần theo thứ tự như sau: Lãnh đạo trực tiếp, Đào tạo và phát triển, Thái độ của sinh viên,
Sự công nhận Yếu tố Chế độ lương thưởng - đãi ngộ không ảnh hưởng đến động lực
giảng dạy
Bảng 2.2 Tổng hợp các mô hình nghiên cứu
Sự thăng tiến và phát triển Môi trường làm việc
Sự gắn bó với nhân viên
Xử lý kỷ luật khéo léo, tế nhị
Trang 36Tên tác giả Các yếu tố ảnh hưởng Nguồn
Kovach
Công việc thú vị
Kennett S.Kovach (1987)
Sự công nhận
Sự tự chủ trong công việc
Công việc ổn định Lương cao
Sự thăng tiến và phát triển Môi trường làm việc
Sự gắn bó với nhân viên
Xử lý kỷ luật khéo léo, tế nhị
Sự giúp đỡ của cấp trên
Cuộc sống cá nhân Các điều kiện làm việc Các hoạt động giám sát và mối quan hệ với các cơ quan
Mối quan hệ với đồng nghiệp Chính sách của tổ chức
Sự đảm bảo công việc
Tan và cộng sự
Lãnh đạo
Tan và cộng sự (2011)
Thành tích Môi trường làm việc Công việc ổn định Quan hệ với cấp trên Tiền lương
Quan hệ với đồng nghiệp Thương hiệu và văn hóa
Thăng tiến Thành đạt Điều kiện làm việc Công việc ổn định Quan hệ với cấp trên Tiền
Quan hệ với đồng nghiệp Chính sách công ty Phát triển nghề nghiệp
Sự công nhận
Trang 37Tên tác giả Các yếu tố ảnh hưởng Nguồn
Giao Hà Quỳnh
Uyên
Bản chất công việc
Giao Hà Quỳnh Uyên (2015)
Điều kiện làm việc Đào tạo thăng tiến Tiền lương
Phúc lợi Cấp trên Đồng nghiệp Đánh giá thành tích
Phan Ánh Trúc
Chế độ lương thưởng và đãi ngộ
Phan Ánh Trúc (2018)
Mối quan hệ với đồng nghiệp Lãnh đạo trực tiếp
Đào tạo và phát triển
Sự công nhận Thái độ của sinh viên
Phạm Duy
Khanh
Bản chất công việc
Phạm Duy Khanh (2020)
Môi trường làm việc Lãnh đạo
Đồng nghiệp
Sự công nhận Thu nhập và phúc lợi
Cơ hội đào tạo và thăng tiến
(Nguồn: tác giả nghiên cứu và tổng hợp)
2.5 G iả thuyết và mô hình nghiên cứu
Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đều chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động là: Đặc điểm của công việc; Lương, thưởng và phúc lợi; Điều kiện làm việc; Môi trường làm việc, Đào tạo và thăng tiến, Mối quan hệ với đồng nghiệp; Cấp trên; Sự đảm bảo công việc; Sự công nhận, Chính sách công ty Trong đề tài về “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu” tác giả đã chọn lọc kế thừa, điều chỉnh lại những yếu tố trên cho phù hợp với Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu và đưa vào mô hình nghiên cứu của mình
Trang 382.5.1 Giả thuyết nghiên cứu
2.5.1.1 Mối quan hệ giữa Lãnh đạo với Động lực làm việc
Theo TS.Yves Enregle, lãnh đạo là làm cho người khác thực hiện công việc của
họ và hiểu biết công việc để giao cho người khác làm Người lãnh đạo là người có khả năng gây ảnh hưởng, truyền cảm hứng cho nhân viên và khuyến khích họ đóng góp có hiệu quả cho hoạt động của tổ chức Thái độ và phong cách lãnh đạo cũng có thể ảnh hưởng đến các hành vi hợp tác hoặc không hợp tác của nhân viên Lãnh đạo đem đến
sự hài lòng cho nhân viên thông qua việc đối xử công bằng, thể hiện sự quan tâm đến cấp dưới, có năng lực, tầm nhìn và khả năng điều hành, hỗ trợ nhân viên trong công việc (Robins et al, 2002) Một số nghiên cứu cho thấy giám sát nhân viên thường xuyên, rõ ràng, nhất quán trong việc phản hồi cấp dưới có thể làm tăng động lực nhân viên (Gilchrist & Gallois, 2003) Từ đó, nghiên cứu này có giả thuyết H1 như sau:
Giả thuyết H1: yếu tố lãnh đạo có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên
2.5.1.2 Mối quan hệ giữa Thu nhập với Động lực làm việc
Thu nhập của người lao động từ việc làm bao gồm các khoản: tiền lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng và các loại phúc lợi Mỗi yếu tố có cách tính riêng và có ý nghĩa khác nhau đối với việc kích thích động viên người lao động hăng hái, tích cực, sáng tạo trong công việc và trung thành với doanh nghiệp (Trần Kim Dung, 2018, tr 334) Theo kết quả nghiên cứu của Boeve (2007), Marko Kukanja (2012), Shaemi
Barzoki và các cộng sự (2012), Giao Hà Quỳnh Uyên (2015), Phạm Duy Khanh (2020) đã chỉ ra rằng yếu tố thu nhập có ảnh hưởng đến động lực làm việc Từ đó, nghiên cứu này có giả thuyết H2 như sau:
Giả thuyết H2: yếu tố thu nhập có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên
2.5.1.3 Mối quan hệ giữa Đồng nghiệp với Động lực làm việc
Đồng nghiệp là tất cả những người cùng làm việc với nhau trong một tổ chức Mối quan hệ với đồng nghiệp trong nghiên cứu này là sự quan tâm, tôn trọng, cách ứng xử thân thiện, hòa đồng giữa các đồng nghiệp với nhau Kết quả Nghiên cứu của Luddy (2005) chỉ ra rằng nhân viên tỏ ra hài lòng với đồng nghiệp cao nhất Nghiên cứu của Forret và Love (2007), Basford và Offermann (2012) cũng cho thấy rằng mối quan hệ đồng nghiệp ảnh hưởng đến động lực làm việc và ý định ở lại làm việc cho tổ
Trang 39chức của người lao động Nghiên cứu của Boeve (2007) chỉ ra rằng nhân tố đồng nghiệp có tác động nhiều nhất đến động lực làm việc, đồng thời kết quả nghiên cứu của Giao Hà Quỳnh Uyên (2015) và Phạm Duy Khanh (2020) cũng cho rằng yếu tố đồng nghiệp có ảnh hưởng đến động lực làm việc Từ đó, nghiên cứu này có giả thuyết H3 như sau:
Giả thuyết H3: yếu tố đồng nghiệp có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên
2.5.1.4 Mối quan hệ giữa Đào tạo và thăng tiến với Động lực làm việc
DeCenzo D.A & Robbins cho rằng đào tạo, phát triển là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành
vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân (Trần Kim Dung, 2018,
tr 240) Đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại Còn phát triển nhân viên nhằm chú trọng đến các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp (Trần Kim Dung, 2018, tr 271) Đào tạo và thăng tiến có thể hiểu là nâng cao kỹ năng, kiến thức của cá nhân, tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ để hướng tới cơ hội phát triển bản thân, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp Theo kết quả nghiên cứu của Herzberg (1959), Boeve (2007), Giao Hà Quỳnh Uyên (2015), Phan Ánh Trúc (2018) cho rằng yếu tố Đào tạo và thăng tiến có ảnh hưởng đến động lực làm việc Từ đó, nghiên cứu này có giả thuyết H4 như sau:
Giả thuyết H4: yếu tố đào tạo và thăng tiến có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên
2.5.1.5 Mối quan hệ giữa Đánh giá thành tích với Động lực làm việc
Đánh giá thành tích là xác định mức độ hoàn thành công việc của nhân viên so với các tiêu chuẩn đề ra, từ đó công nhận sự đóng góp của nhân viên trong quá trình làm việc đối với một tổ chức Trong một tổ chức, đảm bảo sự công bằng trong cách đánh giá kết quả thực hiện công việc là một công cụ quan trọng kích thích người lao động hăng hái làm việc, là đòn bẩy tạo động lực làm việc đối với người lao động Shah
và các cộng sự (2012) chỉ ra rằng nếu tổ chức nhận ra được sự nỗ lực và đóng góp của nhân viên đồng thời trao thưởng xứng đáng cho sự đóng góp này thì tổ chức sẽ tạo được động lực làm việc của nhân viên ở mức cao nhất Theo kết quả nghiên cứu của Shah và các cộng sự (2012), Giao Hà Quỳnh Uyên (2015) thì yếu tố đánh giá thành
Trang 40tích có ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Từ đó, nghiên cứu này có giả thuyết H5 như sau:
Giả thuyết H5: yếu tố đánh giá thành tích có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên
2.5.1.6 Mối quan hệ giữa Môi trường làm việc với Động lực làm việc
Môi trường làm việc đóng vai trò rất quan trọng tác động đến hiệu quả làm việc của người lao động Môi trường làm việc gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, văn hóa nơi làm việc… Môi trường làm việc tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động phát huy được tối đa năng lực của mình Cơ sở vật chất càng đầy đủ và hiện đại thì năng suất lao động càng cao (Maslow, 1943) Trong một tổ chức, đảm bảo việc thực hiện tốt các chính sách đối với người lao động sẽ khiến cho người lao động cảm thấy yên tâm, nỗ lực phấn đấu hơn nữa trong công việc cũng như mọi hoạt động chung của tổ chức Tan và cộng sự (2011) cho rằng: môi trường làm việc càng tốt sẽ càng tác động đến động lực làm việc của nhân viên Và ngược lại, nếu tổ chức không thể cung cấp môi trường làm việc tốt hơn, sự không hài lòng sẽ xuất hiện từ phía nhân viên (Herzberg, 1959) Từ nhận định trên, tác giả đề xuất giả thuyết H6 như sau:
Giả thuyết H6: yếu tố môi trường làm việc có ảnh hưởng thuận chiều đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên
2.5.2 Mô hình nghiên cứu
2.5.2 1 Các mô hình nghiên cứu liên quan
Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu về tạo động lực làm việc đối với người lao động của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy lý thuyết hai nhân
tố của Herzberg là một trong những học thuyết được sử dụng phổ biến nhất Mô hình nghiên cứu của Boeve (2007) cũng dựa trên lý thuyết tạo động lực của Herzberg và
mô hình nghiên cứu động lực làm việc của Kennett S Kovach (1987) cũng được áp dụng nhiều trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực của người lao động Theo nghiên cứu của Abby M Brooks “động lực tại nơi làm việc và sự hài lòng trong công việc là tiền đề của nhau” Vì vậy, từ các lý thuyết và mô hình nghiên cứu động lực làm việc của Boeve (2007) và Kennett S Kovach (1987), tác giả kế thừa một số yếu tố và điều chỉnh tên gọi cho phù hợp với tình hình của Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc từ nghiên cứu của Abby M Brooks (2007), Tan và cộng sự (2011), Teck-Hong và Waheed (2011), Shaemi Barzoki và các cộng sự (2012) để làm nền tảng cho nghiên cứu của