Với 7 nhà cung cấp dịch vụ, hiện nay Viêt Nam được đánh giá là một trong những nước có thị trường kinh doanh các dịch vụ thông ti di động sôi động và cạnh tranh khốc liệt nhất.. Với mục
Trang 1BӜ GIÁO DӨC VÀ ĈÀO TҤO
TRѬӠNG ĈҤI HӐC BÁCH KHOA HÀ NӜI
H͕ và tên tác gi̫ : LÊ MҤNH HҦI
Ĉ͉ tài : PHÂN TÍCH CÁC Ĉ͘I THͮ C̨NH TRANH CͮA VINAPHONE
VÀ TÌM GI̪I PHÁP GIͶ VͶNG VÀ PHÁT TRI͊N TH͒ PḪN
LUҰN VĂN THҤC SӺ KHOA H ӐC
Chuyên ngành Quҧn Trӏ Kinh Doanh
Ng˱ͥi h˱ͣng d̳n khoa h͕c : PGS.TS PHAN THӎ THUҰN
Hà Nӝi – 11/2010
Trang 2Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 7
LỜI CÁM ƠN 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ THỊ PHẦN 11
1.1 LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ THỊ PHẦN 12
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 12
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh 13
1.1.3 Năng lực cạnh tranh 13
1.1.4 Đặc điểm của cạnh tranh 13
1.1.5 Vai trò của cạnh tranh 14
1.1.6 Các loại cạnh tranh 15
1.1.7 Quy định của pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam 18
1.1.8 Khái niệm thị phần 20
1.1.9 Phương pháp xác định thị phần 20
1.2 NÉT KHÁC BIỆT TRONG CẠNH TRANH THÔNG TIN DI ĐÔNG 21
1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh 23
1.3.1 Môi trường vĩ mô 23
1.3.2 Môi trường kinh tế 25
1.3.3 Môi trường nghành 25
1.3.4 Các yếu tố nội tại 29
1.4 Phân tích đối thủ cạnh tranh 36
PHẦN II PHÂN TÍCH CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH CỦAVINAPHONE 40
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY VINAPHONE 41
2.1.1 Lịch sử hình thành và ra đời mạng Vinaphone 41
2.1.2 Lĩnh vực kinh Doanh 41
Trang 3Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 2
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty Vinaphone 42
2.1.4 Giới thiệu chung về các sản phẩm dịch vụ của công ty Vinaphone 42
2.1.4.1 Các dịch vụ cơ bản 42
2.1.4.2 Các dịch vụ tiện ích hỗ trợ dịch vụ thoại 43
2.1.4.3 Các dịch vụ giá trị gia tăng 44
2.1.4.4 Các sản phẩm của công ty 44
2.1.4.5 Các kết quả đạt được trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh 45
2.2 CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TRÊN THỊ TRƯỜNG KINH DOANH 48
CÁC DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 48
2.2.1 Dịch vụ thoại 48
2.2.2 Dịch vụ SMS 48
2.2.3 Dịch vụ giá trị gia tăng 49
2.2.4 Các dịch vụ 3G 50
2.2.5 Cổng thông tin di động 51
2.2.6 Dịch vụ cố định không dây 52
2.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CÁC DỊCH VỤ 52
THÔNG TIN DI ĐỘNG TẠI VIỆT NAM 52
2.3.1 Giới thiệu và tóm tắt các điểm mạnh điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh52 trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ thông tin di động của Vinaphone 52
2.3.2 Cạnh tranh bằng giá cước và khuyến mại 59
2.3.3 Phân tích cục diện cạnh tranh hiện tại của các nhà mạng 60
2.3.4 Các chính sách điều chỉnh về cước và khuyến mại của nhà nước 62
2.3.5 Cạnh tranh không lành mạnh 64
2.4 PHÂN TÍCH CẠNH TRANH CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA 66
VINAPHONE VỚI CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH 66
2.4.1 Phân tích cạnh tranh các dịch vụ thoại 66
2.4.2 Phân tích cạnh tranh các dịch vụ 3G 82
2.4.3 Phân tích cạnh tranh các Dịch vụ giá trị gia tăng 96
2.5 MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC CỦA VINAPHONE 100
TRONG QUA TRÌNH CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP PHÁT TRIỂN 100
2.5.1 Bộ máy quản lý 100
2.5.2 Hạn chế trong việc sử dụng vốn kinh doanh của Vinaphone 101
2.5.3 Hạn chế về kênh phân phối 103
2.5.4 Hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) 103
2.5.5 Hạn chế trong công tác chăm sóc khách hàng 104
2.5.6 Hạn chế trong việc quy hoạch xây dựng và quản lý Hệ thống cơ sở hạ 105
Trang 4Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 3
tầng và thiết bị kỹ thuật 105
PHẦN III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ PHẦN CHO CÔNG TY VINAPHONE 107
3.1 GIẢI PHÁP 1: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 108
3.1.1 Giải pháp quản lý và xây dựng các dịch vụ theo nhóm làm việc 108
3.1.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý cơ sở hạ tầng và các hệ thống kỹ 112 thuật 112
3.1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 116
3.1.4 Giải pháp xây dựng trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ (R&D) 121
3.2 GIẢI PHÁP 2: XÂY DỰNG CÁC KÊNH THU THẬP THÔNG TIN 124
3.3 GIẢI PHÁP 3: TĂNG CƯỜNG CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG 128
3.4 GIẢI PHÁP 4: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KÊNH PHÂN PHỐI 134
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
TÓM TẮT LUẬN VĂN 142
Trang 5Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Mạnh Hải, học viên lớp Cao học QTKD2 - Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội - Khóa 2008-2010 Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là đề tài nghiên cứu của riêng tôi
từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ thực tế viết ra Các số liệu, tài liệu, kết quả trong luận văn này là thực tế
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày trong
đề tài này
LÊ MẠNH HẢI
Trang 6Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCVT Bưu chính viễn thông
BCVT Bưu chính viễn thông
CLKD Chiến lược kinh doanh
CRM Quản lý quan hệ khách hàng
CSKH Chăm sóc khách hàng
VNPT Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
VNPTTTp Viễn thông tỉnh thành
Trang 7Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Đánh giá vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp may 38
Bảng 2.1: Số lượng các trạm phát sóng BTS các năm 2005- 2009 45
Bảng 2.2: Số lượng phát triển thuê bao từ 2005-2009 46
Bảng 2.3: Doanh thu và phát triển thuê bao toàn mạng các năm 2007 - 2009 47
Bảng 2.4: Các dịch vụ giống nhau của ba nhà mạng 59
Bảng 2.5: Thị phần thuê bao di động tính đến tháng 09/2010 62
Bảng 2.6: Chỉ tiêu chất lượng dịch vụ 69
Bảng 2.7: Số lượng trạm phát sóng của ba nhà mạng dẫn đầu 69
Bảng 2.8: Bảng so sánh giá cước các dịch vụ cơ bản của các nhà mạng 70
Bảng 2.9: Bảng so sánh các gói cước cơ bản giữa các nhà mạng 71
Bảng 2.10: Tỉ lệ bình chọn CSKH 72
Bảng 2.11: Thị phần thuê bao nội mạng tính đến tháng 09/2010 74
Bảng 2.12: Bảng đánh vị thế cạnh tranh của Vinaphone cùng các đối thủ cạnh 81
tranh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thoại 81
Bảng 2.13: Kết quả đo kiểm tốc độ dịch vụ 3G của các nhà mạng 85
Bảng 2.14: Bảng thống kê công nghệ 3G của các nhà mạng 88
Bảng 2.15: Bảng đánh giá vị thế cạnh tranh của Vinaphone cùng các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ 3G 94
Bảng 2.16: Bảng đánh vị thế cạnh tranh của Vinaphone cùng các đối thủ 99
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng 99
Bảng 2.17: Thị phần các mạng tại một số tỉnh 104
Bảng 3.1: Các cửa hàng đại lý của Vinaphone trên toàn quốc 136
Bảng 3.2: Thị phần di động của các mạng tại các tỉnh 137
Trang 8Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Các yếu tố của môi trường nghành 29
Hình 2.1: Biểu đồ số lượng các trạm phát sóng BTS các năm 2005- 2009 45
Hình 2.2: Biểu đồ phát triển thuê bao các năm 2005 - 2009 46
Hình 2.3: Doanh thu toàn mạng các năm 2007 - 2009 47
Hình 2.4: Biểu đồ Thị phần thuê bao di động tính đến tháng 09/2010 62
Hình 2.5: Biểu đồ mô tả bình chọn về chất lượng CSKH giữa các nhà mạng 72
Hình 2.6: Biểu đồ thị phần nội mạng 74
Hình 3.1: Mô hình quản lý cơ sở hạ tầng và các hệ thống kỹ thuật 115
Hình 3.2: Mô hình thu thập thông tin tác giả đề xuất cho công ty Vinaphone 126
Hình 3.3: Mô hình hoạt động CSKH của Vinaphone 129
Hình 3.4: Mô hình tư vấn dịch vụ và giải quyết khiếu nại cho khách hàng 133
Trang 9Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 8
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, các Cô tại Trung tâm đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành khóa học niên khóa 2008-2010
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phan Thị
Ngọc Thuận đã hết sức ủng hộ và tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình
hoàn thành luân văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sự giúp
đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý, các học viên Lớp Quản trị kinh doanh khóa 2008-2010, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và các đồng nghiệp tại Công ty Vinaphone
Tôi xin chân thành cảm ơn !
LÊ MẠNH HẢI
Trang 10Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh doanh các dịch vụ thông tin di động là một trong những nghành mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong lĩnh vực kinh doanh viễn thông Chính vì nguồn lợi nhuận khổng
lồ này đã dẫn tới có rất nhiều các doanh nghiệp và tập đoàn hùng mạnh gia nhập và cuốn vào trào lưu cạnh tranh của thị trường đầy tiềm năng này
Với 7 nhà cung cấp dịch vụ, hiện nay Viêt Nam được đánh giá là một trong những nước có thị trường kinh doanh các dịch vụ thông ti di động sôi động và cạnh tranh khốc liệt nhất Công ty Dịch vụ Viễn thông Vinaphone là Công ty thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT, là một trong bảy nhà cung cấp hiện nay trên thị trường và hiện đang đứng trong tốp 3 nhà mạng dẫn đầu thị trường
Theo báo cáo thống kê thuê bao từ 7 nhà mạng, thì con số thuế bao di động đã lên tới gần 140 triệu thuê bao, trong khi dân số hiện nay của Việt Nam mới chỉ đạt hơn 80 triệu người, điều này cho thấy thị phần cạnh tranh còn lại là đã gần như cạn kiệt và chạm đỉnh Và sự thực là trên thị trường cạnh tranh khốc liệt này, đang diễn ra một cuộc chiến cạnh tranh giành giật thị phần và khách hàng vô cùng căng thẳng
Bất kỳ một đôi thủ nào nếu sơ hở và ngủ quên, đều sẽ bị thị trường triệt hạ và đào thải một cách không thương tiếc
Với mục đích nghiên cứu và phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường kinh doanh các dịch vụ thông tin di động, nhằm mục đích tìm ra những giải pháp và chiến lược hiệu quả, giúp cho công ty Vinaphone có thể giữ vững
và phát triển mở rộng thị phần, nâng cao vị thế cạnh tranh của Vinaphone trên thị trường kinh doanh các dịch vụ thông tin di động, tôi đã quyết định lựa chọn nội dung nghiên cứu cho đề tài tốt nghiệp của mình là: "Phân tích các đối thủ cạnh tranh của Vinaphone để tìm giải pháp giữ vững và phát triển thị phần"
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tiến hành nghiên cứu và phân tích cạnh tranh các sản phẩm dịch vụ của Vinaphone với các đối thủ cạnh tranh, để tìm ra các giải pháp giữ vững và phát triển thị phần cho công ty Vinaphone
Trang 11Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 10
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Công ty Vinaphone và các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là thị trường kinh doanh các dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng và nghiên cứu theo các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích các đối thủ cạnh tranh trên các nhóm sản phẩm dịch vụ
của PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuận
Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận qua sách, báo và các tài liệu liên quan
Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu báo chí, các diễn đàn thảo luận thị trường, các báo cáo điều tra và phân tích thị trường, để từ
đó có dữ liệu phân tích, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và vị thế cạnh tranh của từng đối thủ trên thị trường
Phương pháp quy nạp và suy diễn
Phương pháp điều tra thông tin thị trường
Phương pháp nghiên cứu và xây dựng các giải pháp từ thực tiễn công việc
6 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn gồm 3 phần chính như sau:
Phần I : Cơ sở lý luận về cạnh tranh và thị phần
Phần II : Phân tích các đối thủ cạnh tranh của công ty Vinaphone
Phần III : Đề xuất một số giải pháp giữ vững và phát triển thị phần cho công ty
Vinaphone
Trang 12Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 11
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ THỊ PHẦN
Trang 13Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 12
1.1 LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ THỊ PHẦN
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích
về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy
ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành…
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế
Thuật ngữ cạnh tranh kinh tế được nhà kinh tế học người Anh là Adam Smith đưa ra Cạnh tranh trong kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu, nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra
Các thuật ngữ được cho là có liên quan mật thiết đến thuật ngữ cạnh tranh kinh tế là: Cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, độc quyền…
Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung-cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường Cạnh tranh là hiện tượng kinh tế xã hội hết sức phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh Một tác giả đã trích dẫn một
số khái niệm về cạnh tranh như sau:
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản
để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.[3]
Theo từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”[3]
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình
Trang 14Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 13
quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh
Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có
và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia) Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được
1.1.3 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,…
mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần
mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
1.1.4 Đặc điểm của cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát từ quy
Trang 15Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 14
luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất Câu nói cửa miệng của nhiều người hiện nay "thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay gắt khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do
1.1.5 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng
Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise vì càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt
xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước
Trang 16Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 15
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại,…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người
để mình tỏa sáng”
Có thể thấy, kinh doanh như một cuộc chơi nhưng không giống như chơi thể thao, chơi bài hay chơi cờ, khi mà phải luôn có kẻ thua – người thắng (lose – win); trong kinh doanh, thành công của doanh nghiệp không nhất thiết đòi hỏi phải có những kẻ thua cuộc Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thành công (sự “cộng sinh của hai bên”) Đây là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là cạnh tranh làm hại lẫn nhau Tình huống này được gọi là “cùng thắng” (win – win)
Ở Việt Nam có câu “buôn có bạn, bán có phường” có nghĩa là không nhất thiết các doanh nghiệp cạnh tranh cùng một mặt hàng phải sống chết với nhau mà thông thường phải liên kết với nhau thành các phố kinh doanh cùng một mặt hàng như phố hàng trống, hàng mã…
Cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh không lành mạnh là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi
Trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên công nghiệp, các công ty, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranh khốc liệt trong tình huống đối đầu để duy trì sự phát triển và gia tăng lợi nhuận Do đó các nhà kinh doanh cho rằng cạnh tranh thuộc phạm trù tư bản nên quan điểm về cạnh tranh trước kia được hầu hết các nhà kinh doanh đều nhầm tưởng “cạnh tranh” với nghĩa đơn thuần theo kiểu “thương trường là chiến trường”
Trang 17Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 16
Mục đích của nhà kinh doanh là luôn luôn mang lại những điều có lợi cho doanh nghiệp mình Đôi khi đó là sự trả giá của người khác Đây là tình huống “cùng thua” (lose – lose) Không ít cơ sở sản xuất, doanh nghiệp còn sử dụng những chiêu thức
"đen" nhằm hạ thấp và loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một lĩnh vực ngành nghề để độc chiếm thị trường
Những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh
Một trong những thủ đoạn "đen", ít tốn kém đầu tư mà gây thiệt hại lớn cho các đối thủ cạnh tranh là tung tin thất thiệt, thường gọi là tin đồn Tin đồn có ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp đối thủ, tập trung vào các vấn đề nhạy cảm như phương thức kinh doanh, tổ chức nhân sự, chất lượng sản phẩm, thậm chí đôi khi cả những khuyết tật đời
tư cá nhân của các nhân vật chủ chốt trong đơn vị, doanh nghiệp đó
Trên thế giới, không ít các đại gia lừng danh đã từng là nạn nhân của những thông tin thất thiệt này như: Sony, Erickson, Coca Cola, Pepsi
Ở Việt Nam, tuy nền kinh tế thị trường mới hình thành và phát triển chưa lâu nhưng thủ đoạn tung tin thất thiệt cũng xảy ra và đang có chiều hướng ngày một gia tăng kiến nhà nước không kiểm soát một cách hiệu quả được, làm không ít doanh nghiệp làm ăn chân chính thiệt hại kinh tế rất lớn
Đó là những thủ đoạn tung tin đồn gây thiệt hại lớn, còn như cạnh tranh kiểu tin đồn
cò con thì hầu như diễn ra hằng ngày mà nhiều người gọi là "hội chứng" tin vịt
Ví như: một doanh nghiệp đang tham gia đấu thầu xây dựng một công trình, bỗng có tin đồn doanh nghiệp này đang có vấn đề về tài chính, hay các công trình đã được doanh nghiệp thực hiện trước đó có nhiều vấn đề gian dối không bảo đảm chất lượng, thế là thua thầu, thậm chí không được tham gia đấu thầu chờ kết quả kiểm tra Tương
tự như vậy, khu du lịch này muốn hạ bệ khu du lịch kia thì tung tin: khu du lịch ấy mất
vệ sinh, chất lượng phục vụ kém,trật tự an ninh không bảo đảm thế là mất khách như chơi
Tin đồn thất thiệt đang trở thành một vũ khí cạnh tranh của những doanh nghiệp làm
ăn không lương thiện Việc đối phó được với hình thức cạnh tranh "bẩn" này rất khó khăn Một số doanh nghiệp nhỏ và vừa (đặc biệt là ở Việt Nam) chưa có được những biện pháp hữu hiệu để chống lại hình thức cạnh tranh bằng cách tung tin thất thiệt này, hầu hết họ đều dựa vào các cơ quan quản lý Nhà nước
Nhưng ngay các cơ quan chức năng của Nhà nước cũng rất lúng túng và bị động trong
xử lý đối với thủ đoạn cạnh tranh "đen" này Minh chứng cụ thể nhất là hội chứng tin đồn về giá gạo ảo trong những tháng đầu năm 2008, làm cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng lao đao, các cấp ngành chức năng lúng túng, gây cho việc xuất khẩu gạo trì hoãn, thiệt hại cho kinh tế của Việt Nam Mặc dù hiện nay ở Việt Nam đã có Luật Cạnh tranh, trong đó đưa ra nhiều hành vi bị cấm như: mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc
Trang 18Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 17
trong kinh doanh, dèm pha doanh nghiệp khác, quảng cáo sai với thực chất, phân biệt đối xử trong hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính Như vậy, thủ đoạn tung tin thất thiệt
để cạnh tranh được xếp vào điều cấm: gièm pha doanh nghiệp Đây là hành lang pháp
lý để các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh hơn, các cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý để xử lý những thủ đoạn cạnh tranh bằng tin đồn "đen"
Tuy nhiên, việc phát hiện nguồn gốc phát xuất của tin đồn không phải là việc đơn giản, đòi hỏi rất nhiều thời gian công sức, tiền bạc mới điều tra được Mà nếu có điều tra ra được thì chế tài xử lý cũng còn nhiều bất cập, thậm chí còn rất nhẹ so với những thiệt hại vô hình cũng như hữu hình mà thương hiệu của doanh nghiệp đó gánh chịu
Vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của các cấp chính quyền, hiệp hội ngành nghề trong việc phòng chống tin đồn thất thiệt, giải pháp tốt nhất là các nhà sản xuất, kinh doanh phải tự bảo vệ mình, bằng nghiệp vụ quản trị thông tin, bằng chất lượng sản phẩm và chữ tín của doanh nghiệp
Trong cạnh tranh cần tỏ ra khôn ngoan hơn đối thủ để loại trừ đối thủ cạnh tranh, giành giật quyết liệt thị phần, khuyến trương thương hiệu sản phẩm, khống chế nhà cung cấp và khóa chặt khách hàng Theo quan điểm đó, sẽ luôn có người thắng và kẻ thua trong kinh doanh Cách nhìn về một kết cục thắng – thua được Gore Vidal viết như sau: “Chỉ thành công thôi chưa đủ Phải làm cho kẻ khác thất bại nữa”
Sự khác biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là một bên có mục đích bằng mọi cách tiêu diệt đối thủ để tạo vị thế độc quyền cho mình, một bên là dùng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng lựa chọ mình chứ không lựa chọn đối thủ của mình
Cạnh tranh kinh tế không phải là “chiến tranh” và cũng không phải là “hòa bình” Cạnh tranh kinh tế không còn là những động thái của tình huống (contextual act) hay không phải chỉ là những hành động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn không ngừng, khi đó các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ tốt nhất khách hàng
Cạnh tranh tự do hay cạnh tranh hoàn hảo
Là loại cạnh tranh theo các quy luật của thị trường mà không có sự can thiệp của các chủ thể khác Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn đến giá giảm, cung ít cầu nhiều sẽ dẫn đến giá tăng
Trang 19Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 18
Loại cạnh tranh này xảy ra khi trên thị trường một số lượng lớn các nhà sản xuất sản xuất ra những sản phẩm tương đối giống nhau nhưng khách hàng lại cho rằng chúng
có sự khác biệt, dựa trên chiến lược khác biệt hoá sản phẩm của các công ty
Ví dụ, trên thị trường có các sản phẩm xà bông tương đối giống nhau Nhưng có hãng thì bảo rằng sẽ đem lại làn da mềm mại sau khi tắm, hãng thì bảo là đem lại hương thơm tươi mát, hãng thì bảo rằng sẽ làm trắng da
Trong cạnh tranh độc quyền có thể phân chia thành hai loại:
• Độc quyền nhóm: Là loại độc quyền xảy ra khi trong ngành có rất ít nhà sản xuất, bởi vì các ngành này đòi hỏi vốn lớn, rào cản ra nhập ngành khó Ví dụ: ngành công nghiệp sản xuất ôtô, máy bay
• Độc quyền tuyệt đối: Xảy ra khi trên thị trường tồn tại duy nhất một nhà sản xuất và giá cả, số lượng sản xuất ra hoàn toàn do nhà sản xuất này quyết định
Ví dụ: Điện, nước ở Việt Nam do nhà nước cung cấp
1.1.7 Quy định của pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về vấn đề cạnh tranh Ngày 03 tháng
12 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và ban hành Luật cạnh tranh và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2005 Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh Theo đó, có hai hành vi cạnh tranh là vi phạm pháp luật là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi hạn chế cạnh tranh
Là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.[4]
Cần lưu ý rằng pháp luật ở Việt Nam không quy định về việc chống độc quyền hay xu hướng thống lĩnh thị trường của một hoặc một nhóm doanh nghiệp vì việc độc quyền được coi là một hệ quả tất yếu của sự cạnh tranh bình đẵng trong một nền kinh tế thị trường Tuy vậy pháp luật ở Việt Nam lại nghiêm cấm việc lạm vị trí độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường để thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo đó, Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.[4]
Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng
kể Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trớ thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động
Trang 20Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 19
nhằm gây hạn chế cạnh tranh Bản thân các doanh nghiệp đó phải có thị phần đáng kể
để có thể liên kết hạn chế cạnh tranh
Nếu hai doanh nghiệp thì phải có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan Ba doanh nghiệp thì phải chiếm từ 65% trở lên Bốn doanh nghiệp thì phải có 75% thị phần trở lên.[4]
Đối với doanh nghiệp thuộc diện này thì pháp luật nghiêm cấm thực hiện những hành
vi kinh doanh như sau: [4]
9 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
9 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng
9 Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
9 Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh
9 Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
9 Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh này được thể hiện qua các hoạt động sau: [4] Chỉ dẫn gây nhầm lẫn: Là việc các doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khỏe để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
Xâm phạm bi mật kinh doanh.[4]
Ép buộc trong kinh doanh: Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó Gièm pha doanh nghiệp khác: Bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác: Là hình thức gây rối bằng hành
Trang 21Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 20
vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
Ngoài ra còn các hành vi khác như:
• Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
• Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
• Phân biệt đối xử của hiệp hội
• Bán hàng đa cấp bất chính
Bên cạnh đó quyền cạnh tranh trong kinh doanh luôn được pháp luật Việt Nam bảo hộ Điều 4 Luật cạnh tranh quy định về quyền cạnh tranh trong kinh doanh Theo đó, doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh Và việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật cạnh tranh
1.1.8 Khái niệm thị phần
Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm được Thị phần càng lớn thể hiện sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Để tồn tại và có sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm được một phần thị trường, bất kể ít hay nhiều
Thị phần thuê bao di động trả sau: Là tỷ lệ thuê bao di động trả sau của doanh nghiệp trên tổng số thuê bao di động trả sau của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc các địa phương, khu vực cần so sánh
Thị phần thuê bao di động trả trước: Là tỷ lệ thuê bao di động trả trước của doanh nghiệp trên tổng số thuê bao di động trả trước của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc các địa phương, khu vực cần so sánh
Thị phần doanh thu: Là tỷ lệ doanh thu của doanh nghiệp trên tổng số doanh thu của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc các địa phương, khu vực cần so sánh
Trang 22Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 21
Thị phần thuê bao nắm giữ trong các thành phần xã hội: Là tỷ lệ thuê bao di động của doanh nghiệp trên tổng số thuê bao di động của tất cả các doanh nghiệp trong các thành phần xã hội Ví dụ như thị phần thuê bao học sinh sinh viên, thị phần thuê bao công chức, những người đi làm, thị phần thuê bao trong tầng lớp lao động
1.2 NÉT KHÁC BIỆT TRONG CẠNH TRANH THÔNG TIN DI ĐÔNG
Cạnh tranh khốc liệt
Cạnh tranh khốc liệt và đỉnh điểm có thể triệt hạ đối thủ cạnh tranh một cách không thương tiếc Sự phá sản của đối thủ cạnh tranh sẽ mang lại nhiều nguồn lợi và miếng bánh thị phần được chia thêm cho các đối thủ còn lại
Công nghệ có ảnh hưởng lớn tới cạnh tranh
Công nghệ mới hiện đại sẽ chiếm ưu thế Ở Việt Nam sự cạnh tranh chỉ thực sự diễn ra giữa các nhà mạng sử dụng công nghệ GSM Các mạng sử dụng công nghệ CDMA như EVN, SFONE chiếm thị phần không đáng kể Trong tương lai các mạng này muốn dành được lợi thế cạnh tranh thì buộc phải có những giải pháp thay đổi sang công nghệ WCDMA (Thế hệ 3G cho công nghệ GSM)
Số lượng các đối thủ cạnh tranh có giới hạn
Số lượng các đối thủ cạnh tranh tương đối ít do thị phần của mỗi nhà mạng nắm giữ tương đối lớn, từ đó có sự quy định chặt chẽ về số lượng được phép tham gia nghành của chính phủ Năm 1993 các dịch vụ viễn thông di động chính thức được triển khai tại Việt Nam với sự mở màn của MobilFone một công ty trực thuộc VNPT Đến năm
1996 VNPT lại cho gia đời thêm một công ty nữa và Vinaphone chính thức được thành lập Năm 2002, Sfone tham gia cuộc chơi với công nghệ CDMA Năm 2004 Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel cũng chính thức tham gia nhập mạng và trong vòng chưa đầy ba năm mạng di động này đã đẩy cuộc chiến cạnh tranh giữa các nhà mạng đến hồi khốc liệt Năm 2007 HTMobile (nay đổi tên là VietNam Mobile) cũng theo gót Sfone ra nhập thị trường di động với công nghệ CDMA Năm 2009 Bộ công an cũng không chịu ngồi yên khi liên doanh với Nga thành lập mạng GTel Như vậy tính đến hết năm 2009 thị trường cạnh tranh di động cũng chỉ có sự tham gia của 07 nhà khai thác Trong khi miếng bánh thị phần đã gần như cạn kiệt Một số nhà mạng mới tham gia thị trường thời gian gần đây như VietNamMobile và GTel cũng đang gặp không ít khó khăn trong việc dành một chỗ đứng nhỏ trên thị trường
Thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền nhóm
Thị trường kinh doanh các dịch vụ thông tin di động là một thị trường mang tính độc quyền nhóm với một số các đặc điểm sau:
• Môi trường nghành chỉ tồn tại một số lượng nhỏ các công ty
Trang 23Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 22
• Sản phẩm vừa được tiêu chuẩn hoá vừa có nét khác biệt
• Thừa nhận tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp
• Khó khăn khi gia nhập
Xu hướng hình thành mô hình độc quyền tập đoàn
Mô hình độc quyền tập đoàn khá phổ biến trên thế giới, nhất là ở lĩnh vục cung cấp dịch vụ viễn thông Trong mô hình này, có một vài nhà cung cấp chủ yếu trên thị trường và cùng nhau phân chia thị trường Sản phẩm và giá cả của các hãng độc quyền tập đoàn tương đối đồng đều và có đường cầu khá dốc vì họ có quyền đặt giá chứ không phải người chấp nhận giá
Tuy ở Việt Nam, các mạng di động lớn không hẳn đã có vai trò như những nhà độc quyền tập đoàn vì trên họ còn có Bộ Thông tin và truyền thông quản lý và điều chỉnh Song, với cơ chế trao quyền tự chủ ngày càng cao cho các doanh nghiệp như hiện nay, hầu như trên thị trường mạng di động các mạng này được tự do kinh doanh mà không gặp sự can thiệp hay thiên vị nào Bộ Thông tin và truyền thông cũng cho phép các mạng lớn chủ động giảm mức cước đến 30% Cho nên xét về thực chất, các mạng di động lớn hiện nay đang hình thành mô hình độc quyền tập đoàn
Khi nhìn nhận như vậy, chúng ta có thể hiểu sâu sắc nguyên nhân bên trong của những đợt giảm cước, khuyến mại liên tiếp như hiện nay
Các hãng độc quyền tập đoàn đối diện với một đường cầu gãy khúc Vì khi một hãng, chẳng hạn như Viettel giảm giá xuống, lập tức các mạng khác sẽ giảm cước theo
để "trả đũa" Tuy nhiên khi Viettel tăng giá cước lên thì không có mạng nào hưởng ứng
Theo Kinh tế học Vi mô, điều này làm cho đường doanh thu biên của hãng độc quyền tập đoàn có một khoảng gián đoạn, trong khoảng trống gián đoạn đó, hãng không thể tăng hay giảm giá một cách đáng kể Để cạnh tranh với các hãng khác trong trường hợp này, các hãng không cạnh tranh bằng giá nữa mà bằng khác biệt hoá sản phẩm Viettel đã chọn cách làm cho sản phẩm của mình hấp dẫn hơn bằng cách tung ra các chương trình khuyến mại Nó kéo theo hàng loạt chương trình khuyến mại của các hãng khác Riêng MobiFone, trong nhiều trường hợp cách mạng này khác biệt hoá sản phẩm chính là nhờ vào chất lượng dịch vụ ưu việt hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh
Đó là lí do tại sao các đợt khuyến mại diễn ra gần như đồng loạt và giá cước di động ngày càng có xu hướng giảm xuống - một "thanh âm trong trẻo" giữa thời kì mà giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ khác đang leo thang
Thực chất, chính nhờ mô hình độc quyền mà khách hàng đang nhận được sự chăm sóc ngày càng tốt hơn vì các mạng di động phải cố sức để giữ và tạo nguồn khách
Trang 24Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 23
hàng mới Các chương trình khuyến mại vì thế cứ nối tiếp nhau để khách hàng
không có lí do gì không đến với mạng di động mà họ cho là tốt nhất
1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
1.3.1 Môi trường vĩ mô
Các yếu tố thuộc về chính sách luật pháp của nhà nước
Hệ thống chính trị pháp luật đại biểu cho các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp tới việc đưa ra các chiến lược và kế hoạch kinh doanh sản xuất cho các doanh nghiệp, từ đó tác đông tới quá trình cạnh tranh giữa giữa các doanh nghiệp cùng nghành Các chính sách của nhà nước có tác động lớn đến các yếu tố chủ chốt như việc gia nhập nghành, phương thức cạnh tranh hay mức lợi nhuận
Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ viễn thông di động các chính sách và luật quy định của nhà nước có những tác động mạnh mẽ đến quá trình cạnh tranh Với chính sách của nhà nước cho phép nhiều nhà cung cấp cùng khai thác dịch vụ viễn thông di động đã khuấy lên một cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà mạng Từ
đó dẫn tới tính chất cạnh tranh di động mang tính sống còn Các đối thủ sẵn sàng triệt
hạ nhau bằng mọi hình thức cạnh tranh có thể
Các chính sách và quy định về giá về khuyến mại cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình cạnh tranh giữa các nhà mạng Đầu tiên các ông lớn còn chủ quan ngủ quên trước
sự tham gia nghành của các đối thủ nhỏ con Nhưng cùng với thời gian, sự liều lĩnh và chịu chơi của những con cá bé trong các chiến lược giảm giá và khuyến mại khủng đã làm các ông lớn bừng tỉnh và không ngần ngại lao vào các cuộc chiến giảm giá và khuyến mại Và lúc này các chính sách về cước cùng các khung quy định khuyến mại được áp cho các ông lớn từ phía chính phủ để bảo vệ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới tham gia hòa mạng trong thời gian đầu
Ngoài ra một số quy định về khuyến mại như số ngày được khuyến mại trong năm, mức khuyến mại không được vượt quá 50% giá trị sản phẩm cũng có những bó buộc khiến các nhà mạng phải tìm những chiêu thức cạnh tranh mới
Bên cạnh đó các quy định về đăng ký thông tin cá nhân cho các thuê bao di động cũng khiến các nhà mạng gặp khó khăn không ít trong việc duy trì tốc độ phát triển thuê bao mới
Các yếu tố về dân số và văn hóa xã hội
- Tốc độ tăng dân số sẽ mở rộng miếng bánh thị phần cho các mạng khi dân số có xu hướng ngày càng gia tăng Như vậy trong tương lại, nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ
sẽ vẫn là một tiềm năng lớn để các nhà mạng tiếp tuc khai thác và cạnh tranh
- Văn hóa dùng hàng hiệu cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định đầu tư công nghệ
Trang 25Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 24
của các nhà mạng nhằm nâng cao tính cạnh tranh Hiện nay tại Việt nam các mạng di động sử dụng công nghệ GSM, WCDMA đang được đa số người dân sử dụng, do mang đặc tính công nghệ tiện lợi, phổ biến dễ dùng Các sản phẩm đầu cuối dùng cho công nghệ này được lưu hành khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là tính thời thượng
và được thiết kế bắt mắt, thời trang Mặc dù chi phí bỏ ra để có được các máy đầu cuối
sử dụng công nghệ này rất cao so với các máy đầu cuối sử dụng công nghệ CDMA, nhưng tại Việt Nam các sản phẩm này vẫn được bán rất chạy
Trước thị hiếu tiêu dùng đó có nhiều hãng di động đã phải cải tiến hoặc thay đổi toàn
bộ công nghệ mạng từ CDMA sang công nghệ GSM, WCDMA để chạy đua đáp ứng nhu cầu khách hàng như Việt Nam Mobile và EVN Telecom
Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Với đà phát triển nhanh và luôn thay đổi, sự phát triển của khoa học công nghệ đem đến cuộc cách mạng làm thay đổi các xu thế tiêu dùng trên thị trường viễn thông Công nghệ viễn thông di động từ những ngày đầu với thế hệ 1G và những thiết bị cầm tay cồng kềnh chắc khác nào một chiếc điện thoại để bàn và giá thành sử dụng thì quá cao, chỉ có thể phục vụ cho nhu cầu những khách hàng có thu nhập cao Tiếp đến những năm 90 khi công nghệ 2G ra đời mà điển hình là công nghệ GSM đã cải thiện được phần nào về độ thu nhỏ của thiết bị cầm tay Chiếc điện thoại được cải thiện dần, nhỏ hơn di chuyển rộng, không mất sóng và giá thành thì ngày càng rẻ theo do đà phát triển của công nghệ cùng với sự ra đời của nhiều nhà cung cấp trên thị trường Từ thế
kỷ 21 công nghệ di động 2G đã được phổ cập trên toàn thế giới, điện thoại di động trở thành chiếc điện thoại cá nhân luôn mang theo mình của đa số người sử dụng Công nghệ di động được phân loại thành hai loại công nghệ là CDMA và GSM Tại Việt Nam, xu hưỡng sử dụng của người tiêu dùng đa số là chuộng các công nghệ GSM, do cộng nghệ này thường đi kèm với những thiết bị đầu cuối di dộng đẹp, thời trang, hiện đại và phổ cập
Cuộc cách mạng công nghệ 3G tại Việt Nam gần đây đã mang đến cho người sử dụng những dịch vụ chất lượng và những tiện ích băng rộng Giờ đây ranh rới giữa Internet và di dộng đã được phá bỏ, người sử dụng có thể dùng điện thoại trong mọi tiện ích, xem phim trực tuyến, chat, lướt web, bản đồ thời tiết và nhiều dịch vụ đa dạng khác chứ không đơn thuần chỉ là thoại và tin nhắn như những năm trước đó
Và khi một công nghệ mới được một nhà mạng triển khai thì cũng gây sức ép, bắt buộc các nhà mạng khác phải cho ra đời công nghệ tương tự trong một thời gian ngắn Cuộc chiến cạnh tranh cũng tiếp bước trong các chặng đường phát triển của khoa học công nghệ Nó buộc các nhà mạng phải luôn bám sát thị trường để nắm bắt các nhu cầu người tiêu dùng cùng động tĩnh của các đối thủ khi có sự thay đổi công nghệ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng, khoa học công nghệ
Trang 26Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 25
luôn hưỡng tới những giới hạn mới, làm thay đổi cả một xu thế tiêu dùng của một thời đại
1.3.2 Môi trường kinh tế
1 Thuế: Thuế có ảnh hưởng đến mua sắm thiết bị và đầu tư công nghệ của các nhà
mạng Sự tăng hoặc giảm thuế gây ảnh hưởng tới quá trình đầu tư và góp phần làm giảm hoặc tăng giá thành trên các sản phẩm dịch vụ, ảnh hưởng tới quá trình cạnh tranh các gói dịch vụ bán kèm máy đầu cuối giữa các nhà mạng
2 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế: Ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến tất cả mọi lĩnh vực đời sống, xã hội, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị chậm lại Năm 2008, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn: lạm phát tăng cao, lãi suất ngân hàng biến động mạnh, tỷ giá hối đoái diễn ra phức tạp, tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại kéo dài sang cả năm 2009, tác động tới các doanh ngiệp, các lĩnh vực hoạt động, càng làm cho sự cạnh tranh về giá, khuyến mại để dành dật khách hàng giữa các mạng di động thêm phần khốc liệt
3 Lạm phát: L
Lạm phát tăng dẫn đến giá cả leo thang làm tăng chí phí đầu tư trong giá cước đang có
xu hướng ngày càng giảm làm ảnh hưởng đến các chiến lược canh tranh về giá giữa các mạng
4 Tỷ gía hối đoái: Thời gian gần đây, đô la và một số ngoại tệ tăng giá ảnh hưởng
không nhỏ tới các quá trình thanh toán quốc tế Trong khi giá bán dịch vụ tính theo mệnh giá tiền trong nước có xu hướng ngày càng giảm Trong hoàn cảnh đó các mạng
sẽ ngày càng phải thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định và chính sách cạnh tranh
về giá
1.3.3 Môi trường nghành
Các đối thủ cạnh tranh trong nghành
Hiện nay thị trường di động có tất cả 07 nhà cung cấp cùng tham gia kinh doanh các dịch vụ thông tin di động và cạnh tranh nhau quyết liệt, bao gồm: Mobifone, Viettel, Vinaphone, Sfone, Vietnamobile, beeline, EVNTelecom Trong đó chỉ có ba nhà cung cấp là đang có lợi thế cạnh tranh và nắm quyền chủ động trên thị trường là Mobifone, Vinaphone và Viettel Các doanh nghiệp còn lại, do thị phần khá nhỏ nên đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh khốc liệt
Các đối thủ mới gia nhập nghành
Các doanh nghiệp mới gia nhập nghành gây nguy cơ làm giảm lợi nhuận tiềm năng của nghành Các doanh nghiệp mới tham gia nếu có một lượng vốn tiềm tàng và học
Trang 27Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 26
tập kinh nghiệm từ các đối thủ đang cạnh tranh trong nghành để có sự đầu tư hợp lý và xây dựng mô hình kinh doanh mới cạnh tranh và hiệu quả hơn sẽ gây ra áp lực cạnh tranh tương đối lớn nên các nhà cung cấp Bên cạnh đó sự ra đời của các doanh nghiệp này cũng gây đe dọa đến nguồn tài nguyên nhân lực Trong năm 2007 khi mạng HT Mobile được thành lập cũng đã kéo đi không ít nguồn nhân lực trình độ cao của các mạng lớn như MobiFone, VinaPhone, làm suy giảm trầm trọng năng lực sản xuất và lợi thế cạnh tranh của các mạng này
Các doanh nghiệp mới ra nhập nghành kéo theo nhu cầu đầu tư lớn sẽ tạo điều kiện cho các nhà cung cấp tăng giá thiết bị, làm suy giảm chất lượng thiết bị và sự hỗ trợ sử dụng cho các doanh nghiệp lớn trên thị trường đang lệ thuộc vào các nhà cung cấp này
Bên cạnh đó, trước nhu cầu của các doanh nghiệp mới ra nhập nghành làm các nhà cung cấp cần tuyển thêm nhân lực đã có kinh nghiệm làm việc để đáp ứng công việc Năm 2004 khi Viettel tham gia ngành, nhà cung cấp HuaWei đã lấy đi không ít nguồn nhân lực từ các nhà mạng VinaPhone và MobiFone Đến năm 2007 HT Mobile ra nhập nghành thì nhà cung cấp giải pháp mạng CDMA cho HT Mobile là Nortel đã tuyển ồ ạt nhân lực từ các nhà mạng, ngay các nhà cung ứng khác như Siemen, Ericsson và HueiWay cũng bị thiệt hại lớn về nguồn nhân lực
Từ các yếu tố trên cho ta thấy sự gia nhập mới của một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ thông tin di động gây rất nhiều biến động và gây ảnh hưởng lớn tới toàn bộ nghành
Các sản phẩm thay thế
Các sản phẩm thay thế luôn tạo áp lực đe dọa đến tiềm năng lợi nhuận của ngành Trong lĩnh vực di động tại thời điểm hiện tại có khá nhiều các công nghệ có thể tạo ra
sự thay thế lấn sân các dịch vụ thông tin di động
Sự phổ biến và thông dụng việc sử dụng internet trong thời gian gần đây đã góp phần nẩy mầm những dịch vụ phát sinh ăn theo từ nó, điển hình là các dịch vụ thoại VoiceIP đang đang được sử dụng ngày càng nhiều trên khắp thế giới do giá cước rẻ và tiết kiệm chi phí Một số loại điển hình như Skype, là dịch vụ được ưa chuộng nhất vì miễn phí hoàn toàn, dễ sử dụng và chất lượng âm thanh tương đối tốt, trong khi đó, Yahoo Messenger nổi tiếng với hàng loạt tính năng, gồm thư thoại voicemail và cuộc gọi hội nghị (conference call) MSN Messenger và Sipgate cũng được đánh giá cao nhờ tính năng tối đa hóa âm thanh cuộc gọi Mặc dù ra đời sau nhưng Google Talk không được đón chào nồng nhiệt vì các chức năng báo hiệu âm thanh của dịch vụ chỉ hoạt động khi người dùng bắt đầu thực hiện cuộc gọi, còn Babble.net thì quá lép vế vì một số lỗi phần mềm và các file giúp đỡ hoạt động kém hiệu quả
Trang 28Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 27
Tuy nhiên các dịch vụ VoiceIP mới chỉ được sử dụng nhiều trong các dịch vụ cố định Với các thiết bị đầu cuối di động, việc sử sụng VoiceIP vẫn còn nhiều hạn chế Do các thiết bị cầm tay chỉ được thiết kế tối ưu cho việc sử dụng trong mạng di đông
WiMAX là một chuẩn truy nhập Vô tuyến băng rộng BWA (Broadband Wireless Access), BWA sẽ rẻ hơn khi áp dụng các chuẩn WiMAX và các giải tần của BWA rẻ hơn của 3G, WiMAX có khả năng trở thành sự thay thế cho 3G; hay một sự bổ sung khả năng truyền dữ liệu cho 3G với giá thành hạ; hoặc một sự thay thế cho giải pháp 4G trên nền tảng IP và truyền số liệu và thoại dạng gói end-to-end Có ý kiến cho rằng
để Mobile WiMax có thể phát triển được cũng phải mất thời gian dài, lúc đó dịch vụ di động đã phát triển mạnh nên WiMax không phải là mối đe dọa tương lai Số lượng khách hàng dùng WiMax sẽ không thể tăng nhanh bởi công nghệ này còn phụ thuộc vào máy đầu cuối Hơn nữa, lớp khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ Multimedia trên công nghệ WiMax không nhiều như dịch vụ di động”
Ngoài ra các công nghệ điện thoại vệ tinh cũng là một nguy cơ thay thế tiềm tàng cho các điện thoại cầm tay di động, nhưng là một tương lai còn rất xa
Như vậy, các công nghệ và dịch vụ thay thế xét ở thời điểm này vẫn chưa có sự xuất hiện nào đáng kể có thể gây áp lực cạnh tranh nhiều đến sự phát triển của công nghệ mạng di động Tuy nhiên, trong tương lại mọi việc là đều có thể diễn ra những tình huống bất ngờ Công nghệ chưa hoàn thiện ở thời điểm này sẽ đáp ứng ở một thời điểm khác và các mạng di đông cùng cần hết sức hoàn thiện công nghệ di động hơn
nữa để có thể tồn tại lâu dài trong tương lai
Nhà cung cấp
Trong lĩnh vực thông tin di động, có rất nhiều các hãng viễn thông lớn chuyên cung cấp các công nghệ, thiết bị và dịch vụ cho các doanh nghiệp trong nghành như Ericsson, HuaWei, Nokia, Siemens, Alcatel, Motorola, Zte , Do tính cạnh tranh cao nên các nhà cung cấp hiện nay thường có rất nhiều những chính sách ưu đãi về giá
cả, công nghệ và hỗ trợ phát triển cho các khách hàng là các doanh nghiệp tiềm năng trong nghành Thường thì sự gắn bó này là rất mật thiết và lâu dài, dựa trên xu hướng đôi bên cùng có lợi
Ngày nay khi mà sự bùng nổ của thời đại viễn thông toàn cầu càng dẫn tới cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung cấp trong lĩnh vực viên thông hiện đại Trong một thời gian ngắn thế giới đã đổi cực khi xuất hiện thêm hai nhà cung cấp đang mạnh lên từng ngày là HuaWei và ZTE HuaWei hiện đang đứng thứ hai về thị phần viễn thông trên thế giới chỉ sau Ericsson Chủ chương của nhà cung cấp này là mạng đến cho khách hàng các lợi thế về giá cả, thời gian và các công nghệ độc đáo, hiện đại giúp đẩy nhanh tốc độ xây dựng và nâng cấp phát triển mạng trong một thời gian ngắn,
Trang 29Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 28
nâng cao vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Đây cũng là xu thế chung để các nhà cung cấp còn lại cần hướng tới
Tuy nhiên khi đã có một sự gắn bó và phụ thuộc khá sâu với khách hàng, nhà cung cấp cũng có thể tạo ra sự áp đặt về giá, đầu tư hoặc công nghệ khiến các khách hàng doanh nghiệp đôi khi bị thụ động và lệ thuộc trong phát triển mạng lưới Các doanh nghiệp thường sử dụng công nghệ thiết bị của nhiều hơn một nhà cung cấp nên áp lực
từ phía các nhà cung cấp đối với các doanh nghiệp trong nghành cũng có nhưng không nhiều lắm Mặc dù vậy khi các doanh nghiệp đã sử dụng và bị phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp thì các nguy cơ từ chất lượng dịch vụ, độ an toàn thông tin, các dịch vụ
hỗ trợ cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong qua trình cạnh tranh với các mạng khác
Bắt đầu từ năm 2002 với sự ra đời của SFone và sau đó năm 2004 là Viettel đã dẫn tới một cuộc ganh đua khốc liệt giữa các nhà mạng và lúc này cuộc chiến cạnh trạnh đã trao cho khách hàng những vũ khí lợi hại để gây áp lực nên các nhà cung cấp
Do các mạng cung cấp cùng những sản phẩm dịch vụ chuẩn hóa hoặc không có đặc trưng khác biệt, khi đó, các khách hàng có thể tìm thấy các sản phẩm, dịch vụ từ các nhà cung cấp khác Từ đó gây áp lực cho các nhà cung cấp phải canh tranh với nhau để giành lấy khách hàng và thị phần trên thị trường
Hơn thế nữa, các khách hàng trong nghành cũng không phải chịu những chi phí chuyển đổi lớn khi chuyển sang sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp khác, do đó các đòi hỏi về nhu cầu của khách hàng ngày càng ép các nhà cung cấp canh tranh nhau gay gắt Đầu tiên là cuộc chiến về giá cả để lôi khéo các khách hàng, tiếp đó là sự phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm dịch vụ, chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng được nâng cao Rõ ràng thì lúc này quyền lực đã nằm hoàn toàn trong tay khách hàng và các nhà cung cấp như những người phục vụ chu đáo trước các nhu cầu và đòi
Trang 30Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 29
hỏi quyền lợi từ phía khách hàng Các yếu tố của môi trường nghành được minh họa qua hình 1.1
Hình 1.1: Các yếu tố của môi trường nghành 1.3.4 Các yếu tố nội tại
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong nghành thì cũng thường xuyên đối diện với lỗi lo về vốn khi mà sức ép từ phía khách hàng về chất lượng dich vụ, giá cả và vùng phủ sóng Trong đó, vấn đề gây áp lực nhất là khi các mạng phải bắt buộc có những thay đổi công nghệ để theo kịp thời đại, chống lại nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm thay thế và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Điển hình gần đây là cuộc chiến phát triển công nghệ 3G giữa các nhà mạng, khi mà chi phí cho việc đưa công nghệ này vào không khác nào mỗi nhà mạng phải bỏ ra một số vốn khổng lồ để đầu từ gần như thêm
Trang 31Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 30
một hệ thống mạng tương tự với mạng 2G hiện tại Nhiều doanh nghiệp đã bị lao đao trong cuộc chiến này
Những doanh nghiệp nhỏ hoặc đã bị lỗ quá nặng như SFone và Vietnam Mobile đến thời điểm này vẫn chưa thấy có dấu hiệu nào sẽ tham gia cuộc chiến cạnh tranh công nghệ 3G giữa các mạng Đúng là không có tiền thì chơi sang cũng rất khó nên các nhà mạng này còn vẫn rất chần chừ
Chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố nòng cốt của một doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ chỉ phát triển đứng vững khi có một nguồn nhân lực đầy đủ và chất lượng Nếu doanh
nghiệp sở hưu một nguồn nhân lực mạnh và chất lượng cao, thì sản phẩm và dịch
vụ được tạo ra sẽ có chất lượng và hiệu quả kinh doanh cao hơn, từ đó góp phần
nâng cao vị thế cạnh tranh trong nghành
Trong quá trình cạnh tranh giữa các mạng di động, các mạng mới gia nhập nghành thường có xu hướng tuyển dụng nhân lực đã có trình độ và kinh nghiệm từ các nhà mạng lâu năm khác Việc tuyển dụng này sẽ giảm thiểu được rất nhiều các chi phí về nhân lực, đào tạo và công nghệ trong qúa trình xây dựng mạng, mang đến những kinh nghiệm xây dựng và phát triển từ các nhà mạng khác, giảm thiểu thời gian lập mạng Hơn thế nữa, việc tuyển dụng kiểu này có một ý nghĩa vô cùng quan trong đối với các doanh nghiệp mới gia nhập nghành Do quá trình này có những rào cản rất lớn, nhất là lại trong một môi trường nghành độc quyền nhóm như lĩnh vực thông tin di động thì việc ra nhập của một thành viên mới gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, ngay từ lúc khởi động nếu doanh nghiệp có trong tay nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm từ trước, thì sẽ giảm được rất nhiều các chi phí phát sinh và thời gian xây dựng, lắp đặt và triển khai mạng lưới Một số doanh nghiệp khi mới ra nhập ngành như Viettel, Vietnam Mobile, SFone cũng đã áp dụng cách tuyển dụng này từ các nhà mạng lâu năm như MobiFone
và Vinaphone, khiến nhân lưc của những nhà mạng này bị tuyển dụng và lôi kéo khá nhiều, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho Viettel sau này
Bên cạnh đó việc tuyển dụng nhân lực của nhau giữa các đối thủ, cũng nhằm mục đích làm suy yếu và làm tổn hao nguồn lực của đối phương Lấy ví dụ khi một cá nhân giàu kinh nghiệm đang nắm giữ nhiều hệ thống kỹ thuật hoặc các bộ phận kinh doanh nòng cốt của một nhà mạng quyết định chuyển sang phe đối thủ, thì việc ra đi đột ngột của
cá nhân này sẽ làm nhà mạng bị chảy máu chất xám trầm trọng, thậm chí là tổn thất rất lớn, nếu cá nhân này đóng vai trò chủ đạo trong doanh nghiệp, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và có thể làm giảm chất lượng mạng, dịch vụ của doanh nghiệp ở một mức độ nào đấy, đôi khi làm suy yếu rõ nét trong một bộ phận doanh nghiệp Hơn thế nữa việc
ra nhập đội ngũ nhân viên của đối thủ, gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp về các bí mật kinh doanh hoặc công nghệ và các vấn đề chiến lược, các vấn đề nội bộ, tạo điều
Trang 32Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 31
kiện cho các đối thủ cạnh tranh nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mình, giảm vị thế cạnh tranh trên thị trường Năm 2006, với nhiều lợi thế cạnh tranh về tận dụng nguồn nhân lực và quản lý hiệu quả, Viettel đã vươn lên, vượt qua đối thủ Vinaphone đã có thời gian phát triển trước đó rất lâu
Trình độ công nghệ
Một doanh nghệp có trình độ công nghệ tiên tiến và phát triển, thường chiếm được lợi thế cạnh tranh vượt trội trên thị trường Doanh nghiệp trong quá trình phát triển phải thường xuyên đổi mới công nghệ và cập nhật các thông tin về công nghệ trên thế giới để có những thay đổi và cải tiến kịp thời trình độ công nghệ của mình
Để đầu tư công nghệ hiệu quả, cần lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín và lâu năm trên thị trường Bên cạnh đó cũng cần ưu tiên lựa chọn đối với những nhà cung cấp trẻ mới nổi, nếu họ đưa ra mức giá cạnh tranh và hỗ trợ kỹ thuật tốt nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng cho các sản phẩm công nghệ mà họ cung cấp Điều này giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí đầu tư mua sắm thiết bị giúp tăng mức lợi nhuận, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường
Trên thị trường viễn thông Việt nam hiện nay có rất nhiều các nhà cung cấp lâu năm
và có uy tín trên thị trường như Ericsson, Alcatel, Nortel, Nokia, siemmen Nhưng một vài năm gần đây có một số nhà cung cấp trẻ mới nổi lên và chiếm lĩnh thị trường viễn thông làm nhiều nhà cung cấp lâu năm khác bị trao đảo và suy yếu Nhiều nhà cung cấp phải liên kết hợp tác với nhau để có thể trụ lại trên thị trường như Nokia-Siemmen, Sony-Ericsson Do đó thị phần cung cấp các thiết bị và công nghệ viễn thông bị chia sẻ và mức lợi nhuận nghành có dấu hiểu giảm rõ rệt Trong đó, nổi bật nhất là hai doanh nghiệp đến từ Trung quốc là Huawei và Zte Hai nhà cung cấp này
đã trào hàng tới các nhà mạng với mức giá siêu rẻ cùng chính sách hỗ trợ và nhiều ưu đãi mà chưa một nhà cung cấp nào trước đây có thể làm được Một số thiết bị và công nghệ gần như được các nhà cung cấp này biếu không các nhà mạng hoặc cho chậm thời gian thanh toán Điều này làm cho gần như tất cả các nhà mạng trên thị trường không thể làm ngơ, từ chỗ thăm dò đến lúc quyết định đầu tư lớn Trên thị trường di động Việt nam, sự tăng tốc và vươn lên vị trí thứ hai của Viettel cũng có phần lớn từ
sự đầu tư công nghệ giá rẻ từ các nhà cung cấp này
Khả năng tự phát triển và nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp cũng là một trong những nhân tố giúp doanh nghiệp nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường Ngày này sự phát triển công nghệ bằng nguồn nhân lực sẵn có của mình được nhiều doanh nghiệp áp dụng khá thành công Hành động này giúp cho doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhanh với những thay đổi và yêu cầu từ các khách hàng đồng thời giúp doanh nghiệp tao ra nhiều giá trị gia tăng cho chính mình Các khả năng R&D và A&D làm giảm sự phụ thuộc của các nhà mạng vào các nhà cung cấp và các công ty
Trang 33Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 32
phần mềm Trong khi việc đặt hàng từ nhà cung cấp có thể mất thời gian hàng tháng thì một số công nghệ đơn giản và dễ áp dụng có thể được nhà mạng tự phát triển từ chính nguồn lực có sẵn của chính mình Điều này giúp doanh nghiệp giảm thiểu được khá nhiều chi phí đầu tư và thời gian công nghệ, thậm chí nhiều nhà mạng trên thế giới còn có thể tự phát triển công nghệ lõi cho chính mạng của mình Do đó họ tập chung phát triển nhiều công nghệ chủ chốt, lập ra nhiều phòng nghiện cứu và thí nghiệm quy
mô nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, hiện đại đáp ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường, điển hình như một số nhà mạng như Docomo, AT&T
Mô hình tổ chức quản lý và điều hành
Trong các doanh nghiệp, xây dựng các mô hình tổ chức quản lý và điều hành chuyên nghiệp là hết sức quan trọng Một doanh nghiệp được vận hành trên một mô hình năng động, hiện đại và luôn luôn thích nghi với môi trường thì có thế chủ động, bộ máy vận hành trơn tru phát huy được tối đa sức mạng tiềm tàng của lực lượng sản suất và tăng cường sức mạnh cạnh tranh trên mọi phương diện
Một mô hình tổ chức quản lý và điều hành hiệu quả được thể hiện ở một số yếu tố sau:
• Bộ máy gọn nhẹ không cồng kềnh và khi vận hành thì luôn đạt được hiệu suất
sử dụng tối đa
• Có sức mạnh chủ động về tài chính
• Luôn kết hợp chặt chẽ giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận sản xuất
• Phát huy được tối đa khả năng sáng tạo và năng lực làm việc của từng cá nhân
• Tuyển dụng hiệu quả, đúng người, đúng việc
• Cơ chế tiền lương và đãi ngộ hợp lý, kích thích khả năng sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và giữ chân được các nhân tài cũng như nguồn nhân lực chủ chốt của doanh nghiệp
• Phát huy được văn hóa doanh nghiệp và tạo dựng được một môi trường làm việc thoải mái, gây hứng thú và sự tin tưởng, để các nhân viên có thể yên tâm
và dốc sức cho doanh nghiệp
• Luôn có những biện pháp đào tạo, xây dựng đội ngũ kế cận để duy trì mô hình hoạt động hiệu quả trong từng thời kỳ
• Cải tiến và xây dựng lại mô hình sáng tạo tuy theo thực tiễn kinh doanh trong từng thời điểm khác nhau
Trên thị trường viễn thông, Viettel được đánh giá là một trong những doanh nghiệp thành công trong việc xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả và đầy sáng tạo
Trang 34Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 33
Giá trị cốt lõi và câu cửa miệng của mô hình quản lý Viettel là “Sáng tạo là sức sống” Viettel là doanh nghiệp với 20 năm liên tục hoạt động có lãi, đặc biệt trong 10 năm từ 1999-2009, doanh thu tăng 1.500 lần (từ 30-40 tỉ năm 1999 lên 60.000 tỉ năm 2009), 4 năm liền có doanh thu năm sau gấp đôi năm trước Đặc biệt, trong năm 2008, tỉ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đạt tới 87%, đứng đầu các DN nhà nước Điều quan trọng hơn cả là Viettel còn đóng góp hiệu quả cụ thể cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho gần 50.000 người, hàng vạn gia đình có thu nhập tương đối ổn định, tích cực tham gia công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là một số chương trình xã hội lớn như Internet đến trường học, điện thoại cho 10 triệu hộ nông dân, phủ sóng biên giới, hải đảo Không những thế, Viettel còn đầu tư thành công và đã trở thành nhà cung cấp hàng đầu ở hai thị trường Campuchia và Lào chỉ trong một thời gian rất ngắn Từ vị thế của một mạng di động sinh sau đẻ muộn ra đời năm 2004, Viettel đã bứt phá vươn lên, phá vỡ sự độc quyền và trở thành đối thủ cạnh tranh hùng mạnh cùng MobiFone
và Vinaphone, tạo ra thế chân vạc trên thị trường kinh doanh các dịch vụ thông tin di động
Khả năng nắm bắt thông tin
Trong lĩnh vực kinh doanh, việc thu thập các thông tin hàng ngày đóng vai trò tối quan trọng, nó giúp các doanh nghiệp xác định được chiến lược và đường lối kinh doanh hiệu quả, giúp tăng khả năng nắm giữ và mở rộng thị phần, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Một số loại thông tin chủ chốt có ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bao gồm các loại thông tin chủ yếu sau:
Thông tin về đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh là những chướng ngại và áp lực cạnh tranh chủ yếu tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nắm bắt được các thông tin của các đối thủ cạnh tranh chủ chốt trên thi trường giúp doanh nghiệp có những định hướng kinh doanh hợp
lý, phù hợp với từng thời kỳ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Bên cạnh đó việc nắm rõ đường đi nước bước của đối thủ giúp doanh nghiệp luôn luôn sẵn sàng, chủ động ứng phó các đòn tấn công của các đối thủ cạnh tranh
Việc thu thập thông tin của đối thủ cạnh tranh có thể thông qua nhiều kênh, như:
o Web site của đối thủ: Nơi lưu giữ thông tin về các sản phẩm dịch vụ của họ giúp doanh nghiệp có thể tham khảo và nghiên cứu về các sản phẩm dịch vụ của đối thủ
o Đội ngũ bán hàng: Thu thập thông tin của đối thủ qua việc so sánh hiệu quả kinh doanh các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh
o Đội ngũ kỹ thuật: Giúp so sánh được các công nghệ của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh
Trang 35Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 34
o Các kênh phân phối: Giúp thu thập thông tin tình hình về địa điểm cửa hàng, phòng trưng bày, hệ thống đại lý hay điểm cung cấp dịch vụ của đối thủ
o Các nhà cung cấp: Những người đã từng cung cấp sản phẩm dịch vụ tương tự cho đối thủ
o Các hãng quảng cáo: Đã từng làm việc cho đối thủ
o Thông tin đối thủ từ các cuộc họp chuyên gia, các hiệp hội, các hãng nghiên cứu thị trường, các báo cáo phân tích sản phẩm, các thông tin từ các nhà phân tích chứng khoán
Ngoài các thông tin thực địa, các thông tin xuất bản cũng đóng vai trò khá quan trọng như:
Thông tin từ các tạp chí địa phương
Thông tin quảng cáo tuyển dụng
Các tài liệu của chính phủ
Phát biểu của lãnh đạo
Các báo cáo của nhà phân tích
Trên thị trường viễn thông, việc thu thập thông tin đối thủ cạnh tranh được các nhà mạng thu thập hàng ngày, chủ yếu từ các công ty thu thập thông tin thị trường chuyên nghiệp và các bộ phận kinh doanh, các cửa hàng đại diện, các đại lý trung gian và bán
lẻ tại các địa phương trên toàn quốc Các thông tin chủ yếu thường được thu thập qua các nguồn xuất bản như báo giấy, báo mạng, các tạp chí , Web site của đối thủ Nói chung là doanh nghiệp có rất nhiều nguồn để lấy thông tin của đối thủ và việc thu thập này được tiến hành hàng ngày, đóng góp một phần quan trọng vào thành công của doanh nghiệp trên đấu trường cạnh tranh khốc liệt
Thông tin về khách hàng
Nắm bắt được các thông tin khách, giúp các doanh nghiệp có được các lợi thế sau:
Phân đoạn thị trường KH theo nhu cầu trở nên dễ dàng và chính xác hơn
Làm giảm các chi phí marketing
Nắm bắt liên tục các thông tin phản hồi của khách hàng về chất lượng các sản phẩm và dịch vụ của công ty, để từ đó có những giải pháp hợp lý đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn
Giúp doanh nghiệp có những biện pháp chăm sóc khách hàng ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng
Mở rộng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh Một số nhà mạng di động có những đội ngũ cộng tác viên đông đảo, vừa làm nhiệm vụ chăm sóc khách hàng, vừa tiếp nhận các ý kiến khách hàng về chất lượng sản phẩm của mạng mình và các mạng khác Các thông tin về khách hàng được các nhà mạng tranh thủ thu thập qua các bài viết trên báo mạng, nơi rất tiện lợi cho các ý kiến đóng
Trang 36Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 35
góp trực tiếp của khách hàng Các web site, forum thảo luận về các sản phẩm, dịch vụ viễn thông cũng được các nhà mạng quan tâm nghiên cứu để thăm dò ý kiến khách hàng
Bên cạnh đó các nhà mạng cũng thương xuyên tổ chức các Road Show, hội chợ, các gian hàng về các tỉnh trên toàn quốc nhằm tranh thủ sự ủng hộ khách hàng, đồng thời cũng thu thập các phản ánh của khách hàng về tình hình kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và các mong muốn của khách hàng, khám phá ra các nhóm khách hàng tiềm năng
Các kênh tiếp nhận và xử lý khiếu nại khách hàng cũng được hầu hết các nhà mạng tăng cường đẩy mạnh
Thông tin về năng lực chất lượng mạng lưới và sản phẩm dịch vụ của chính doanh nghiệp
Việc cập nhật các thông tin báo cáo từ các bộ phận kinh doanh và kỹ thuật về năng lực, chất lượng mạng lưới, chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình giúp doanh
nghiệp luôn tự nắm rõ năng lực và nguồn lực của chính mình tại từng thời điểm Từ đó giúp doanh nghiệp có những đối sách hợp lý, cụ thể trong từng giai đoạn cạnh tranh Các thông tin thường hay được thu thập trong cạnh tranh di động:
Các báo cáo về chất lượng mạng vô tuyến và mạng lõi tại từng khu vực được báo cáo hàng ngày từ các bộ phận kỹ thuật
Các báo cáo hàng tuần từ các bộ phận kỹ thuật về chất lượng sản phẩm dịch vụ
Các báo cáo về phản ánh, khiếu nại của khách hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ
Các báo cáo định kỳ về năng lực, khả năng đáp ứng của toàn bộ hệ thống mạng lưới, giảm các nguy cơ quá tải làm giảm chất lượng dịch vụ
Thông tin về hoạt động kinh doanh và tài chính
Các thông tin về hoạt động kinh doanh và tài chính cũng hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp nhất là trong cạnh tranh di động thì các thông tin này là không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cụ thể gồm một số các thông tin cụ thể sau:
Các thông tin từ các bộ phận bán hàng và các đại lý bán lẻ về tình hình kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ trên từng địa bàn
Các thông tin về báo cáo đối soát cước dịch vụ
Các báo cáo về thị phần thuê bao, sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và các đối thủ tại từng khu vực
Các thông tin về báo cáo nguồn thu tài chính hàng quý và tình hình phát triển thuê bao của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh
Trang 37Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 36
Các thông tin về doanh thu thẻ cào
Các báo cáo doanh thu của các sản phẩm dịch vụ
Ngoài ra còn rất nhiều các thông tin chi tiết khác mà các doanh nghiệp cần đến trong quá trình cạnh tranh Các loại thông tin thu thập được nêu ra ở đây là những loại thông tin điển hình chủ yếu được các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng
1.4 Phân tích đối thủ cạnh tranh
Nếu phân tích môi trường vĩ mô nhằm mục đích xác định từng yếu tố môi trường vĩ
mô tạo cơ hội (sự thuận lợi) hay nguy cơ đe dọa (khó khăn) cho sự phát triển của doanh nghiệp, của tổ chức nào đó, thì phân tích môi trường ngành lại nhằm mục đích xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, xác định các áp lực hoặc đe dọa hiệu quả kinh doanh, sự tồn tại của doanh nghiệp từ phía khách hàng, nhà cung ứng, sản phẩm thay thế và đối thủ tiềm ẩn
Phân tích đối thủ cạnh tranh hiện có nhằm xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình Trong nội dung luận văn nghiên cứu này, tôi sử sụng phương pháp phân tích cạnh tranh của PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuận với năm bước phân tích cơ bản sau:
Bước 1: Lập danh mục đối thủ cạnh tranh
Trong mục này kể tên các đối thủ hoặc nhóm đối thủ cạnh tranh ngang sức Nếu có ít đối thủ thì kể tên đối thủ, nhưng quá nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong nghành (như dược phẩm) có thể phải phân nhóm đối thủ cạnh tranh
Ví dụ danh mục đối thủ cạnh tranh của Vinataxi (thành phố Hồ Chí Minh) bao gồm:
1 Vinasun
2 Savico
3 V Taxi
Bước 2: Chọn tiêu chí đánh giá cạnh tranh của các đối thủ
Tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh các nghành khác nhau thì không giống nhau.Việc chọn tiêu chí nào đặc trưng cho nghành kinh doanh là do nhà phân tích cân nhắc để đánh giá chính xác nhất khả năng của các đối thủ
Chẳng hạn để phân tích cạnh tranh của nhà xuất bản về mặt bàn sách tiếng Anh, chon các tiêu chí như: 1 Chỉ tiêu; 2 Thị trường; 3 Chi phí sản xuất; 4 Chủng loại; 5 Hậu mãi; 6 Phục vụ
Nhưng với công ty sản xuất thang máy tự động thì tiêu chí cạnh tranh lại là: sản lượng bán; chất lượng; giá bán; tiềm lực tài chính; thương hiệu; hệ thống quản lý Còn với công ty vận tải taxi thì các tiêu chí là: chất lượng xe; giá cước, chất lượng phục vụ, thương hiệu, hệ thống phân phối, khả năng tài chính
Trang 38Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 37
Bước 3: Tóm tắt các điểm mạnh điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh theo các tiêu chí đã chọn
Trong ví dụ dưới đây mô tả phân tích đối thủ cạnh tranh của công ty Vinataxi Các tiêu chí lựa chọn để đánh giá cạnh tranh là chất lượng xe, giá cước, thái độ phục vụ của lái
xe, hệ thống phân phối cửa hàng, khả năng tài chính của hãng
Ví dụ:
Về chất lượng xe: thì công ty Vinasun tốt nhất vì hoàn toàn được trang bị xe mới Còn Savico vì Vinataxi thì kém Vinasun nhưng tốt hơn V.Taxi Vì công ty này có cả xe cũ
và xe mới, V.Taxi thì hoàn toàn xe cũ
Về giá cước: thì các công ty đều như nhau vì theo quy định của Hiệp hội Taxi Nhưng
xe 7 chỗ của Vinasun chỉ bằng giá cước xe 4 chỗ nên có thể coi giá cước của Vinasun
là mềm nhất
Tương tự các tiêu chí còn lại cũng được đánh giá giống như các tiêu chí trên trên
Bước 4: Giải thích cách cho điểm theo từng tiêu chí đã chọn
Để đánh giá mức độ cạnh tranh, phải cho điểm các đối thủ theo từng tiêu chí
Ví dụ đối với nghành may mặc, chọn các tiêu chí sau để đánh giá cạnh tranh: 1.Mẫu
mã, chủng loại; 2 Giá bán; 3.Chất lượng sản phẩm; 4.Năng lưc sản xuất; 5.Thương hiệu: 6.Chất lượng nguồn nhân lực; 7.Dịch vụ bán hàng; 8.Mạng lưới marketing Mỗi tiêu chí có thể đánh giá 5 mức, từ 1 đến 5 điểm, cụ thể như sau:
1 Tiêu chí mẫu mã, chủng loại:
- Mầu sắc, kiểu dáng, mẫu mã đa dạng, phong phú, thường xuyên thay đổi theo
xu hướng thời trang Cho 4 đến 5 điểm
- Kiểu dáng mẫu mã nhiều nhưng ít thay đổi, hoặc thay đổi chậm Cho 2 đến 3 điểm
- Kiểu dáng mẫu mã nghèo nàn, ít thay đổi Cho 1 điểm
2 Tiêu chí giá bán:
- Giá bán sản phẩm được phần lớn người tiêu dùng đánh giá là phù hợp với khả năng mua, có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường Cho 4 đến 5 điểm
- Giá bán sản phẩm cao hơn so với mức giá của những sản phẩm cùng loại trên thị trường do có sự khác biệt về một số yếu tố kỹ thuật, người mua thường phải đắn
đo trong quyết định mua hay không mua sản phẩm do yếu tố giá của sản phẩm Cho 2 đến 3 điểm
Trang 39Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 38
- Giá sản phẩm cao, chỉ phù hợp với số ít người tiêu dùng Cho 1 điểm
Các tiêu chí còn lại được cho điểm và đánh giá tương tự
Bước 5: Lập bảng đánh giá vị thế cạnh tranh của các đối thủ
Theo cách cho điểm giải thích trên đây, tiến hành cho điểm từng tiêu chí cho các đối thủ và đưa vào bảng 1.1 Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại hình sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt nhau, có thể đánh giá đối thủ cạnh tranh theo từng loại dịch vụ (hoặc nhóm sản phẩm) Vì mỗi loại dịch vụ sản phẩm, cũng có những đối thủ cạnh tranh khác nhau Các bước phân tích cho từng loại sản phẩm, dịch vụ vẫn được thực hiện tương tự như đã nêu ở các phần trên
Bảng 1.1: Đánh giá vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp may
Điểm số đánh giá của từng công ty
Trang 40Lê Mạnh Hải - Luận Văn Thạc Sỹ QTKD Trang 39
KẾT LUẬN PHẦN I
Trong phần I đã đi tìm hiều một số khái niêm và lý luận cơ bản về cạnh tranh và thị phần Tiếp đó đã phân tích, đánh giá một số nét khác biệt của cạnh tranh di động với các hình thức cạnh tranh khác và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả nặng cạnh tranh Kết thúc phần I trình bày các bước phân tích cạnh tranh dựa trên phương pháp
phân tích cạnh tranh của PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuân Trong phần II sẽ đi vào phân
tích cụ thể, chi tiết các đối thủ cạnh tranh của Vinaphone trên từng nhóm dịch vụ có tính cạnh tranh cao, dựa trên phương pháp phân tích đã được trình bày ở cuối chương