- Đánh giá thực trạng công tác quản lý về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí, bao gồm các khâu trong quy trình quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp, phân tích, đánh giá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN TÀI HẢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GVC TS VŨ QUANG
Hà Nội - Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GVC.TS Vũ Quang, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, nội dung của bản luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khoa học khác Các phân tích, đánh giá, kết luận và giải pháp trong luận văn này là kết quả làm việc của cá nhân tôi./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Nguyễn Tài Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Viện Kinh tế và Quản lý đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, chuyên sâu, kỹ năng nghiên cứu để áp dụng trong thực hiện công tác và hoạt động tại cơ quan Những kiến thức quý báu tiếp thu được từ các thầy, cô thực sự sẽ rất hữu ích cho công việc của tôi ở hiện tại và tương lai
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, Tiến sĩ Vũ Quang đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sỹ này
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân đã nỗ lực, cố gắng, song do khả năng, kinh nghiệm và thời gian có hạn, nên luận văn không tránh khỏi một số thiếu sót ngoài mong muốn Vì vậy tôi rất mong được quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp góp ý để các nghiên cứu, đề xuất trong luận văn có thể triển khai, áp dụng trong thực tiễn công việc
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC DẦU KHÍ 5
1.1 Những vấn đề chung về thuế tài nguyên 5
1 1.1 Khái quát về thuế tài nguyên: 5
1.1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thuế tài nguyên: 5
1.1.3 Những nội dung cơ bản về thuế tài nguyên: 7
1.2 Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 10
1.2.1 Những vấn đề chung về quản lý thuế tài nguyên: 10
1.2.2 Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 20
1.2.3 Những khác biệt cơ bản của công tác quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí ở Việt Nam so với công tác quản lý tài nguyên khác 27
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 30
1.3.1 Nhóm chỉ tiêu chung 30
1.3.2 Nhóm chỉ tiêu cụ thể 30
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 31
1.4.1 Yếu tố khách quan 31
1.4.2 Yếu tố chủ quan 32
1.5 Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam 33
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên tại một số nước trên thế giới 33
1.5.2 Bài học đối với Việt nam 34
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 36
2.1.1 Giới thiệu tổng quan tổ chức bộ máy cơ quan thuế hiện nay 36
Trang 52.1.2 Đặc điểm hoạt động của các đơn vị thực hiện tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam 39
2.1.3 Tổ chức bộ máy cơ quan thuế thực hiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí 42
2.2 Thực tế thực hiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí, những kết quả đạt được 43
2.2.1 Về đăng ký thuế 43
2.2.2 Về kê khai thuế, nộp thuế 45
2.2.3 Về công tác tuyên truyền phổ biến chính sách, hỗ hợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuế. 46
2.2.4 Về xây dựng dự toán thu thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí. 47
2 2.5 Công tác Quản lý nợ thuế 48
2.2.6 Công tác thanh tra, kiểm tra quản lý thu thuế và chấp hành nghĩa vụ thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí. 49
2.3 Những đóng góp vào thu NSNN từ hoạt động khai thác dầu khí 50 2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 56
2.4.1 Kết quả đạt được trong xác định mục tiêu quản lý 56
2.4 2 Kết quả đạt được trong thực hiện các chức năng quản lý 56
2.4.3 Kết quả đạt được trong xây dựng chính sách thuế tài nguyên hướng dẫn riêng đối với hoạt động dầu khí 57
2.4.4 Kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy quản lý thuế đối với hoạt động khai thác dầu khí 58
2.4.5 Kết quả đạt được trong công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công tác đăng ký, khai, nộp thuế, quản lý nợ thuế 58
2.4.6 Kết quả đạt được trong thanh tra, kiểm tra thuế 59
2.5 Những hạn chế và nguyên nhân 59
2.5.1 Về tổ chức bộ máy quản lý thu thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 59
Trang 62.5.2 Về nhân sự thực hiện công tác quản lý thuế, công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với lĩnh vực khai thác dầu khí 61
2.5.3 Về công nghệ thực hiện quản lý thuế đối với khai thác dầu khí 64
2.5.4 Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 61
2.5.5 Về công tác xây dựng, thực hiện dự toán thu thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí 59
2.5.6 Một số hạn chế tồn tại khác 65
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM 67 3.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí tại Việt Nam 67
3.1.1 Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 theo phê duyệt tại Quyết định 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ 67
3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 72
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí 75
3.2.1 Nhóm giải pháp định hướng chung 76
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam 80
KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU MẪU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy cơ quan thuế các cấp từ TW đến địa phương 36
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của cơ quan Tổng cục Thuế 37
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức của Cục Thuế 38
Sơ đồ 2.4 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế 39
BẢNG Bảng 2.1 Danh sách các lô, mỏ dầu khí đang khai thác tại Việt Nam 41
Bảng 2.2 Danh sách các lô, mỏ dầu khí đang khai thác tại nước ngoài 42
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2015 51
Bảng 2.4 Diễn biến thu NSNN trên GDP giai đoạn 2011-2015 52
Bảng 2.5 Số thu NSNN từ thuế phí giai đoạn 2011-2015 52
Bảng 2.6 Bảng số liệu thu NSNN từ dầu thô, khí thiên nhiên 53
Bảng 2.7 Bảng số thu thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí 53
Bảng 2.8 Bảng số thu NSNN từ thuế tài nguyên và từ thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí 54
Bảng 2.9 Bảng kết quả thu thuế tài nguyên từ khai thác dầu khí tại từng Cục Thuế đối với từng Lô hợp đồng dầu khí 53
Bảng 2.10 Bảng so sánh dự toán thu thuế tài nguyên từ khai thác dầu khí với thực tế thực hiện 65
Trang 8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội
PVN Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
GDP Tổng giá trị sản phẩm trong nước
NSNN Ngân sách nhà nước
NSTW Ngân sách Trung ương
NSĐP Ngân sách địa phương
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
CNTT Công nghệ thông tin
PSC Hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí TTHC Thủ tục hành chính
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Chính sách thuế là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, điều hòa thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước để duy trì và phát triển xã hội Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật thuế Thực hiện tốt công tác quản lý thuế sẽ phát huy tối đa vai trò của thuế đối với kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực quan trọng trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước Do tính chất không tái tạo, việc quản lý
và phân bổ nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý và phân bổ nguồn lực tài chính đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý sẽ là nguồn lực quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và thuế tài nguyên và đặc biệt là thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí luôn là nguồn thu
ổn định, quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách từ thuế
Tập đoàn dầu khí Việt Nam là một Tập đoàn kinh tế lớn, được Chính phủ Việt Nam giao trách nhiệm làm đầu mối thực hiện quản lý nhà nước, ký kết các hợp đồng dầu khí với đối tác nước ngoài, đồng thời trực tiếp thực hiện hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam Hoạt động của Tập đoàn dầu khí Việt Nam tập trung trong 5 lĩnh vực trọng yếu, xương sống của Tập đoàn gồm: (1) phát triển hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí; (2) phát triển công nghiệp khí; (3) phát triển công nghiệp điện; (4) phát triển công nghiệp sản xuất, chế biến dầu khí; (5) cung cấp dịch vụ dầu khí, … Trong đó, hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí đóng vai trò trọng nhất, có tính quyết định lớn đến hoạt động của Tập đoàn, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và đóng góp
số thu quan trọng trong tổng số thu của ngân sách nhà nước
Công tác quản lý thuế tài nguyên, chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt
Trang 10kết quả tích cực, tạo cơ sở và hành lang pháp lý ổn định, thuận lợi cho người nộp thuế là các nhà thầu trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm
dò và khai thác dầu khí thực hiện nghĩa vụ thuế, kê khai, nộp thuế vào ngân sách nhà nước Tạo thuận lợi cho cơ quan thuế hỗ trợ người nộp thuế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế Tuy nhiên, đến nay, theo xu thế phát triển chung, công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động dầu khí cũng đã xuất hiện những tồn tại, bất cập cần sửa đổi, bổ sung; việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế; xây dựng bộ máy tổ chức quản lý thuế phù hợp với thực tiễn hoạt động của ngành dầu khí và yêu cầu của công tác quản lý thuế trong xu thế đổi mới của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước nói chung và của ngành thuế nói riêng
Xuất phát từ thực tế nêu trên, đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam hiện nay” được lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ Giải quyết tốt vấn đề đặt ra của đề tài là một trong những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật thuế, thúc đẩy SXKD
từ đó thúc đẩy tăng trưởng đầu tư, tăng năng lực SXKD qua đó tăng nguồn thu cho NSNN, đồng thời nâng cao hơn nữa công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Liên quan đến đề tài nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam hiện nay” đã có đề cập trên tạp chí Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ đề cập đến vấn đề quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác tài nguyên nói chung trong đó có đề cập đến tài nguyên dầu khí, chưa có công trình nào đánh giá cụ thể về Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam để từ đó đưa ra các biện pháp, giải pháp khắc phục nhằm hoàn chỉnh cơ chế quản lý thuế tài nguyên với đối tượng này đảm bảo phù hợp mục tiêu, yêu cầu của quản lý thuế và chiến lược phát triển ngành thuế
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích: Nêu lên được những bất cập, tồn tại hạn chế trong công tác
quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí, bao gồm các khâu trong quy trình quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp, phân tích, đánh giá những hạn chế, nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí cho thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản
lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí tại Việt Nam
nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí tại Việt Nam, số liệu phân tích trong giai đoạn 2011-2015
5 Những đóng góp mới của Luận văn
Từ việc đánh giá phân tích các tồn tại trong công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí, đề xuất một số biện pháp khắc phục, Luận văn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả cho công tác quản lý thuế gồm
Trang 12công tác xây dựng chính sách thuế, chính sách quản lý thuế nhằm tổ chức thực hiện, quản lý nguồn thu ngân sách phù hợp, hiệu quả
- Đối với công tác xây dựng chính sách: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế tài nguyên đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Công tác xây dựng chính sách cần đánh giá các yếu tố tác động đến các đối tượng liên quan trước khi ban hành từ đó có thể xem xét, điều chỉnh và ban hành chính sách mới phù hợp hơn để áp dụng trong thực tiễn
- Đối với công tác quản lý phải thực hiện theo hướng hiệu lực, hiệu quả giảm thiểu những thủ tục hành chính gây lãng phí nguồn lực tài chính cũng như nguồn lực về con người Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý thuế hiện đại, hiệu quả phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của cơ quan thuế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại theo nguyên tắc tập trung thống nhất, hội nhập
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là: mô tả khái quát đối tượng nghiên cứu; tổng hợp các số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu; phân tích, so sánh đối tượng nghiên cứu để đưa ra nhận định và đề xuất giải pháp hoàn thiện
7 Kết cấu đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở Việt Nam
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC DẦU KHÍ
1.1 Những vấn đề chung về thuế tài nguyên
1.1.1 Khái quát về thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào hoạt động khai thác tài nguyên trong lãnh thổ Việt Nam Đây là một khoản thu bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân
có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc vào cách thức tổ chức và hiệu quả sản xuất kinh doanh của người khai thác
Ở nước ta, trước những năm 1990 chưa áp dụng thuế tài nguyên nhưng đã
áp dụng một số hình thức thu mang tính chất của thuế tài nguyên như thu tiền
ruộng rừng, thu thuế đối với khai thác vàng, sa khoáng, …
Từ năm 1990, trước yêu cầu của công cuộc cải cách thuế đòi hỏi hệ thống thuế cần phải bao quát được đầy đủ các nguồn thu trong nước, có tác động tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế Đối với tài nguyên thiên nhiên, cần đảm bảo việc khai thác sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Do đó, Pháp lệnh quy định về thuế tài nguyên được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/1991 Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998
và năm 2008
Đến năm 2009, Quốc hội khoá 12 đã thông qua Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 có hiệu lực từ 01/7/2010 thay thế các Pháp lệnh thuế tài nguyên trước đó và quy định cụ thể về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, kê khai thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế tài nguyên
1.1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thuế tài nguyên:
1.1.2.1 Đặc điểm của thuế tài nguyên:
- Là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý
Trang 14- Sản phẩm chịu thuế tài nguyên là các sản phẩm khai thác trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam gồm: đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam Do đó, việc thực hiện áp thuế tài nguyên đối với các sản phẩm khai thác còn thể hiện được tính chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Việt Nam
- Được cấu thành trong giá bán sản phẩm mà người mua là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua hàng Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế tài nguyên vào NSNN nhưng phải trả tiền thuế thông qua việc thanh toán giá trị hàng hoá cho người bán (giá cả hàng hoá mà người mua phải trả đã bao gồm cả khoản thuế tài nguyên)
- Chỉ khai, nộp một lần tại khâu khai thác và xuất bán tài nguyên, không lặp lại ở các lần tiếp sau
- Thu trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác
- Mọi tổ chức, cá nhân thuộc tất cả các thành phần kinh tế khi thực hiện khai thác tài nguyên phải nộp thuế tài nguyên không phân biệt ngành nghề, quy
mô, hình thức, mục đích sử dụng tài nguyên
- Việc xác định số thuế phải nộp đơn giản hơn so với thuế thu nhập doanh nghiệp Căn cứ tính thuế là sản lượng, giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế Mức thuế suất theo thang sản lượng khai thác
1.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của thuế tài nguyên:
Thứ nhất - huy động nguồn lực tài chính cho NSNN: Với việc đối tượng
chịu thuế được bao quát hầu hết các tài nguyên thiên nhiên khai thác và xuất bán nên thuế tài nguyên luôn là nguồn thu lớn, quan trọng, ổn định đóng góp cho cân đối NSNN hàng năm
Số liệu tổng hợp của ngành thuế thì tổng số thuế tài nguyên thu NSNN giai đoạn 2011 - 2015 đạt 189.962 tỷ đồng (bình quân khoảng 37.992 tỷ đồng/năm), chiếm tỷ trọng từ 6% đến 9% trong tổng thu NSNN nội địa hàng năm (trong đó,
Trang 15thuế tài nguyên từ dầu khí chiếm khoảng 75% đến 80% tổng thu ngân sách từ thuế tài nguyên hàng năm)
Thứ hai - là một công cụ quan trọng để điều tiết, định hướng hoạt động khai thác tài nguyên: Luật thuế tài nguyên ra đời là một trong những công cụ quan trọng trong việc quản lý tài nguyên, cùng với quy định nguồn thu từ thuế tài nguyên được để lại ngân sách địa phương 100% (trừ thuế tài nguyên từ dầu khí) đã tạo điều kiện để các cơ quan quản lý tại địa phương tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động khai thác tài nguyên, hạn chế hoạt động khai thác không phép, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường
Luật thuế Tài nguyên quy định mức thuế suất thuế tài nguyên được phân biệt theo từng nhóm, loại tài nguyên và luỹ tiến từ 0% (đối với nước thiên nhiên phục vụ các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và sinh hoạt ) đến 20%, 30%, 40% (đối với tài nguyên, khoáng sản quý hiếm) là công cụ để Chính phủ có thể điều hành, định hướng hoạt động khai thác tài nguyên theo hướng khuyến khích bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với các tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo (dầu khí, than, đá, )
1.1.3 Những nội dung cơ bản về thuế tài nguyên:
Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 25/11/2009, có hiệu lực từ 01/7/2010 quy định:
1.1.3.1 Đối tượng chịu thuế: Ðối tượng thuộc diện chịu thuế tài nguyên là
các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:
Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên, khí than; Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật; Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển; Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất; Yến sào thiên nhiên; Tài nguyên khác
Trang 161.1.3.2 Đối tượng nộp thuế tài nguyên: Tất cả các tổ chức, cá nhân được
phép khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam thuộc đối tượng nộp thuế tài nguyên (trừ đối tượng được miễn thuế, giảm thuế theo quy định)
Trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
a) Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;
b) Bên Việt Nam và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh;
c) Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế
1.1.3.3 Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên
- Sản lượng tài nguyên tính thuế
+ Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế;
+ Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại;
+ Đối với tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm;
Trang 17+ Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận;
+ Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam;
+ Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm
có giá trị dưới 200 triệu đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở các địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế thu vào ngân sách
- Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều
4 Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật thuế tài nguyên Giá tính thuế tài nguyên phải được thể hiện trên chứng từ bán hàng, nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định; trường hợp giá bán tài nguyên khai thác thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh thì tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định Đối với một số trường hợp Bộ Tài chính có quy định cụ thể giá tính thuế tài nguyên
- Thuế suất thuế tài nguyên được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành (hiện hành là Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội)
Trang 181.2 Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
1.2.1 Những vấn đề chung về quản lý thuế tài nguyên:
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý:
- Quản lý là sự tác động có chủ đích, thường xuyên liên tục của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Theo cách tiếp cận này thì quản lý thuế là việc cơ quan thuế dùng quyền nhà nước của mình để quy định, bắt buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật
- Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp giúp chủ thể hoàn thành mục tiêu có hiệu quả
Theo cách tiếp cận này thì cơ quan thuế và người nộp thuế (sau đây gọi là NNT) thiết lập mối quan hệ với nhau thông qua hệ thống chính sách thuế, chính sách quản lý thuế phù hợp, đảm bảo sự kết nối giữa chủ thể quản lý và đối tượng được quản lý là sự kết nối, quan hệ hai chiều có sự hỗ trợ, tương tác qua lại với nhau như: Cơ quan thuế xây dựng và ban hành chính sách thuế phải phù hợp thực
tế hoạt động kinh doanh phát sinh của người nộp thuế, chính sách thuế được ban hành phải được tuyên truyền phổ biến tập huấn sâu rộng cho người nộp thuế hiểu được chính sách và thực hiện đúng chính sách
- Quản lý là một hoạt động gồm năm yếu tố tạo thành đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát và điều chỉnh kế hoạch
Theo cách tiếp cận này cơ quan thuế xây dựng hệ thống quản lý gồm các bộ phận chức năng để xây dựng, lập kế hoạch thu thuế (bộ phân dự toán thu thuế) đến các bộ phận quản lý người nộp thuế, kiểm tra đôn đốc thu nợ thuế, bộ phận thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế
1.2.1.2 Quan điểm về quản lý thuế và quản lý thuế tài nguyên:
Thực tế công tác quản lý thuế tại Việt Nam hiện đang được tổ chức quản lý theo cách kết hợp các nội dung về quản lý nêu trên bao gồm việc triển khai thực hiện từ công tác hoạch định, xây dựng mục tiêu, kế hoạch thu ngân sách, từ đó đề
ra các chương trình, biện pháp để thực hiện, trong đó tập trung vào các biện pháp
Trang 19tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN; xây dựng
hệ thống chính sách pháp luật thuế phù hợp, đơn giản, minh bạch, dễ thực hiện, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nộp thuế vào NSNN và thuận lợi cho cơ quan thuế thực hiện chức năng quản lý thuế; thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Trong quá trình thực hiện sẽ thực hiện tổng kết, đánh giá phát hiện sai sót, tồn tại để điều chỉnh, sửa đổi, đề ra các biện pháp khắc phục ở những kỳ tiếp theo nhằm đạt mục tiêu quản lý tốt nhất
Công tác quản lý thuế luôn gắn chủ thể quản lý là Cơ quan thuế các cấp với đối tượng quản lý là người nộp thuế Điều này thể hiện ở việc chủ thể quản lý sử dụng các chức năng và công cụ quản lý tác động tới đối tượng quản lý để đạt được các mục tiêu quản lý Các chức năng quản lý thuế bao gồm bốn nhóm cơ bản gắn với quy trình quản lý thuế gồm:
Nhóm 1: Nhóm chức năng hoạch định như: lập kế hoạch, ban hành các chương trình, mục tiêu để thực hiện;
Nhóm 2: Nhóm chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: thực hiện các công việc phổ biến các chính sách thuế, thủ tục thuế đã được ban hành đến người nộp thuế; hỗ trợ người nộp thuế giải quyết các vướng mắc phát sinh về thủ tục thuế, chính sách thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế;
Nhóm 3: Nhóm chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý thu thuế: thực hiện các công việc quản lý người nộp thuế đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; xử lý miễn giảm thuế …
Nhóm 4: Nhóm chức năng kiểm tra, giám sát thực hiện công tác quản lý thuế: thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế và việc
tổ chức thực hiện các quy trình quản lý thuế của cơ quan thuế
Quản lý thuế tài nguyên cũng phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc chung của quản lý thuế như nêu trên nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với đặc tính riêng của sắc thuế này là việc người chịu thuế và người nộp thuế là hai đối tượng khác nhau trong đó người tiêu dùng là người chịu thuế (trả thuế thông qua giá
Trang 20thanh toán hàng hóa dịch vụ cho người bán), NNT là người bán sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ và đối tượng của quản lý thuế tài nguyên là người nộp thuế (không phải người chịu thuế) Do đó, các hoạt động quản lý của cơ quan thuế từ xây dựng chính sách thu thuế tài nguyên, chính sách kê khai, nộp thuế, hoạt động kiểm tra thuế là nhằm quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế
Quản lý thuế tài nguyên cũng phải xác định được nhóm tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế hay thuộc đối tượng không chịu thuế và quản lý được các căn
cứ tính thuế bao gồm: giá tính thuế, thuế suất áp dụng đối với từng loại tài nguyên,
… nhằm xây dựng chính sách thuế đảm bảo đơn giản, minh bạch, dễ thực hiện, định hướng được hoạt động khai thác tài nguyên hiệu quả, tiết kiệm, tránh ô nhiễm
môi trường, tạo nguồn thu ổn định cho NSNN
1.2.1.3 Mục tiêu quản lý thuế tài nguyên:
Thứ nhất: tập trung huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho NSNN, đồng
thời phải đảm bảo nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu Số thu từ thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng luôn là nguồn thu chủ yếu, quan trọng của NSNN, làm tốt công tác quản lý thuế là tiền đề để thực hiện được mục tiêu này
Thứ hai: phát huy tốt nhất vai trò của thuế tài nguyên Nếu công tác quản lý
thuế thực hiện không tốt, không đúng định hướng đề ra thì các vai trò của thuế tài nguyên không phát huy tác dụng tích cực mà ngược lại nó tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, đến công tác điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh tế
Thứ ba: nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế Nhà nước
thực hiện quản lý bằng pháp luật, trong lĩnh vực thuế Nhà nước đã ban hành các chính sách thuế thể hiện qua hệ thống pháp luật thuế Qua công tác quản lý thuế, thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra thuế và chế tài xử lý vi phạm sẽ tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế, tránh những tổn thất lớn do phải chấp hành các hình thức xử phạt
Thứ tư: Tăng tỷ trọng số thu thuế tài nguyên trong tổng số thu thuế vào
NSNN nói chung để cân đối nguồn thu đảm bảo mục tiêu cắt giảm thuế ở khâu
Trang 21nhập khẩu trong quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế và thực hiện mục tiêu miễn giảm một số loại thuế khác
Thứ năm: Quản lý thuế tài nguyên cần phù hợp với thông lệ quốc tế Khối
doanh nghiệp là những đơn vị đi đầu và chịu sự tác động lớn nhất từ xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng QLT đối với doanh nghiệp ở Việt Nam phải phù hợp với điều kiện của nền kinh tế đất nước nhưng không thể quá khác biệt với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế nhất là trong điệu kiện hiện nay quy mô hoạt động của các doanh nghiệp lớn vượt ra khỏi biên giới quốc gia, hoạt động trên phạm vi toàn cầu
Thư sáu: Đơn giản hóa chính sách và thủ tục trong công tác hành thu: Quản
lý thuế tài nguyên cũng như quản lý thuế nói chung không thể nằm ngoài xu hướng đòi hỏi cấp thiết hiện nay là đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí, thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN và nâng cao hiểu quả công tác quản lý thuế của cơ quan thuế
1.2.1.4 Quan điểm, tư tưởng đổi mới về quản lý thuế tài nguyên:
Quan điểm về quản lý thuế tài nguyên cũng nằm trong quan điểm chung về quản lý thuế và trong từng giai đoạn quan điểm này có khác nhau, trước đây trách nhiệm quản lý thuế phần lớn thuộc về cơ quan thuế, mỗi doanh nghiệp đều có những “cán bộ chuyên quản” về thuế để giám sát thường xuyên việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Quan điểm này đã được đổi mới khi ban hành Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007) theo hướng giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp tự tính, tự khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN của mình
Cơ quan thuế tập trung thực hiện các chức năng về tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, giúp người nộp thuế nắm bắt, hiểu và áp dụng các quy định pháp luật về thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN Đồng thời, cơ quan thuế có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đúng hạn cho người nộp thuế và
Trang 22thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành chính sách pháp luật thuế của người nộp thuế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Công chức quản lý thuế phải đề cao trách nhiệm trong quá trình xử lý các công việc về thuế, nâng cao tinh thần trách nhiệm hỗ trợ, phục vụ người nộp thuế theo nội dung công việc được phân công và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện công việc được giao
Việc đổi mới cơ chế quản lý thuế như nêu trên cho thấy những kết quả tích cực, theo đó đơn giản hóa trong thủ tục hành chính, tạo cho doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động SXKD và tự chịu trách nhiệm trong thực hiện nghĩa vụ với NSNN, phù hợp với thông lệ quốc tế
1.2.1.5 Nguyên tắc quản lý thuế tài nguyên:
Thứ nhất, nguyên tắc tập trung, thống nhất: Quản lý thuế tài nguyên phải
được thực hiện một cách thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo chính sách nhất quán Cơ quan thuế trung ương có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng, ban hành hệ thống chính sách thuế tài nguyên, chính sách quản lý thuế tài nguyên, các quy trình quản lý thuế để áp dụng thống nhất trong hệ thống Cơ quan thuế tại địa phương các cấp có trách nhiệm hiểu, áp dụng, triển khai công tác hành thu, quản lý thu nhất quán trên phạm vi địa bàn được phân công
Thứ hai, nguyên tắc công khai, minh bạch: Việc điều tiết thuế của Nhà nước
có tác động lớn đến toàn xã hội thông qua tác động đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của NNT Vì vậy công khai, minh bạch trong quản lý thuế là một nguyên tắc quan trọng nhằm phát huy vai trò kiểm tra, kiểm soát của toàn xã hội đến công tác quản lý thuế, hạn chế tiêu cực phát sinh trong quản lý thuế Thực hiện nguyên tắc này sẽ phát huy được trí tuệ của đông đảo người dân, tổ chức trong việc đóng góp ý kiến xây dựng chính sách thuế, tuyên truyền hỗ trợ rộng rãi chính sách thuế cho NNT, giám sát các Cơ quan thuế thực hiện công tác quản lý thuế
Thứ ba, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu
Quản lý thuế phải đạt được mục tiêu lớn nhất với mức chi phí nhỏ nhất có thể Chi phí ở đây bao gồm cả chi phí cho vận hành hệ thống thuế của Nhà nước và chi phí
Trang 23của NNT để thực hiện nghĩa vụ thuế (chi phí tuân thủ của NNT) Hệ thống thuế tinh giản, gọn nhẹ, thủ tục hành chính thuế càng đơn giản, minh bạch, công tác hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế càng triệt để thì chi phí càng thấp và ngược lại
1.2.1.6 Nội dung quản lý thuế tài nguyên
Quản lý thuế tài nguyên ở Việt Nam hiện nay thực hiện trên cơ sở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, lập kế hoạch thu thuế:
Thực hiện nội dung này, trên cơ sở hồ sơ đề xuất của người nộp thuế, cơ quan thuế sẽ tiếp nhận và xử lý các thủ tục hành chính thuế gồm: hồ sơ đăng ký thuế, hồ sơ khai thuế tài nguyên, hồ sơ miễn giảm thuế tài nguyên Các thông tin,
dữ liệu của NNT sẽ được lưu trong hệ thống quản lý thông tin của cơ quan thuế phục vụ cho công tác quản lý, hỗ trợ người nộp thuế và xây dựng kế hoạch thu thuế của cơ quan thuế
- Đăng ký thuế là việc NNT kê khai những thông tin của mình theo quy định như: thông tin về tên, địa chỉ trụ sở, quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, xác định các loại thuế phải nộp và nộp tờ khai đăng ký thuế cho cơ quan thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo quy định
Cơ quan thuế địa phương là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế của NNT, Tổng cục Thuế là cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý thống nhất về đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho NNT Mỗi NNT chỉ được cấp 1 mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn tồn tại Mã số thuế được sử dụng khi thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ với khách hàng, giao dịch với cơ quan thuế Luật Quản lý thuế quy định cụ thể thời hạn đăng
ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế, chấm dứt hiệu lực mã số thuế,
Đăng ký thuế tài nguyên được thực hiện cùng các sắc thuế khác khi nộp Tờ khai đăng ký thuế cho cơ quan thuế
Trang 24- Khai thuế, tính thuế: Khai thuế là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp và nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế theo quy định Nguyên tắc khai thuế: Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và tự tính ra số thuế phải nộp Luật Quản lý thuế quy định kỳ khai thuế tài nguyên và thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên như sau:
- Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp (theo hướng dẫn tại điểm b khoản 6 Điều 10, khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 24 Thông tư 156/2013/TT-BTC);
- Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên: Hồ sơ khai thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác tài nguyên mà người nộp thuế có trụ sở chính ở cùng địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với nơi doanh nghiệp có hoạt động khai thác tài nguyên được nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp (Cục Thuế hoặc Chi cục Thuế) Trường hợp người nộp thuế có trụ sở chính tại tỉnh, thành phố này nhưng có hoạt động khai thác tài nguyên tại tỉnh, thành phố khác thì nộp hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế hoặc Chi cục Thuế do Cục trưởng Cục Thuế nơi phát sinh hoạt động khai thác tài nguyên quy định
- Khai thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là loại khai theo tháng và quyết toán năm hoặc đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo tháng chậm nhất là ngày thứ 20 (hai mươi) của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế
- Nộp thuế: Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn tiền thuế vào ngân sách nhà nước Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
- Quản lý thông tin của người nộp thuế: Hệ thống thông tin về người nộp thuế là tất cả các thông tin, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ của người nộp thuế bao gồm các thông tin định danh, thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, kê khai, nộp thuế, thông tin về tình hình tuân thủ pháp luật thuế và các thông tin khác liên
Trang 25quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Thông tin về người nộp thuế được thu thập từ các nguồn: do người nộp thuế kê khai từ khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; thông tin do Cơ quan thuế thu thập được qua công tác quản lý thuế như thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, quản lý nợ thuế; thông tin về đặc thù ngành, lĩnh vực kinh doanh của người nộp thuế hoặc nhóm người nộp thuế, chính sách và tình hình phát triển kính tế xã hội nói chung và đối với từng ngành, lĩnh vực nói riêng do Cơ quan thuế thu thập hoặc do các tổ chức, cá nhân cung cấp
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin người nộp thuế thống nhất từ trung ương đến địa phương, đảm bảo cơ sở dữ liệu tập trung về trung ương và có chế độ báo cáo thường xuyên, định kỳ giữa cơ quan quản lý thuế các cấp
- Lập kế hoạch thu NSNN từ thuế tài nguyên: hàng năm, cơ quan thuế các cấp trên cơ sở kết quả thực hiện thu ngân sách tại địa bàn được giao quản lý của năm liền trước và tình hình phát triển kinh tế xã hội của năm tiếp sau để xây dựng
dự toán thu NSNN tại địa phương được giao quản lý Dự toán thu ngân sách được thực hiện đối với tất cả các khoản thuế, phí, lệ phí trong đó bao gồm cả khoản thuế tài nguyên
Dự toán thu ngân sách được xây dựng từ cấp địa phương, cơ quan Tổng cục Thuế sẽ làm việc trực tiếp với từng Cục Thuế về công tác xây dựng dự toán đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu trên địa bàn Tổng hợp kết quả báo cáo Bộ Tài chính để làm việc với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thống nhất mục tiêu thực hiện dự toán NSNN trước khi báo cáo Chính phủ xem xét trình Quốc Hội phê duyệt
Trên cơ sở mức dự toán thu NSNN được Quốc Hội thông qua, Chính phủ,
Bộ Tài chính sẽ triển khai giao dự toán pháp lệnh cho từng địa phương để thực hiện Trên cơ sở đó, các địa phương và đơn vị liên quan triển khai các biện pháp nhằm thực hiện dự toán thu NSNN được giao
Việc xây dựng dự toán thu NSNN đối với thuế tài nguyên cũng được thực hiện theo nguyên tắc nêu trên và triển khai các biện pháp quản lý thu NSNN đồng
bộ, phù hợp với quy định pháp luật thuế tài nguyên
Trang 26Thứ hai, Tuyên truyền hỗ trợ NNT về chính sách thuế tài nguyên, thủ tục
thuế tài nguyên Đây là một trong những khâu đầu của công tác QLT, tiếp sau khâu đăng ký thuế của người nộp thuế Thực hiện tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT giúp ngăn ngừa và giảm các hành vi vi phạm pháp luật thuế do không am hiểu, cập nhật kịp thời những điểm mới của chính sách pháp luật về thuế Công tác này còn giúp cho mối quan hệ giữa Cơ quan thuế và NNT trở nên thường xuyên, gần gũi hơn Người nộp thuế sẽ nhận được những thông tin, kiến thức về thuế, tiết kiệm thời gian, chi phí cho quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế; cơ quan thuế sẽ giảm chi phí hành thu, tăng hiệu quả quản lý thu do NNT tự giác chấp hành nghĩa
vụ thuế Để làm tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT thì cơ quan thuế phải thực
sự đồng hành cùng NNT, coi NNT là “khách hàng” của mình
Thứ ba, kiểm tra thuế, thanh tra thuế: Trong cơ chế tự khai tự nộp, Cơ quan
thuế hướng dẫn và tôn trọng việc tự tính ra số thuế phải nộp và khai, nộp với cơ quan thuế của người nộp thuế Cơ quan thuế có những biện pháp giám sát hiệu quả việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế thông quan công tác thanh tra, kiểm tra nhằm vừa đảm bảo khuyến khích tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế vừa đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế Đặc biệt với cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp thì chức năng này đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính tự khai của người nộp thuế, Cơ quan thuế cần thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả thông qua công tác thanh tra, kiểm tra vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các hành vi vi phạm Thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo công bằng cho người nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ giống nhau nếu cùng thực hiện những hoạt động kinh doanh giống nhau, đồng thời người nộp thuế nào vi phạm ngoài việc phải nộp đầy
đủ số thuế thiếu còn phải chấp hành các hình thức xử lý vi phạm về thuế
Trang 27Thứ tư, quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế:
đây là việc cơ quan thuế quản lý số liệu đối với người nộp thuế, qua đó xác định các đối tượng thuộc trường hợp phát sinh nợ thuế, phân loại nợ thuế và đưa ra các biện pháp xử lý nợ thuế theo quy định pháp luật như: đôn đốc nộp số tiền thuế còn
nợ vào NSNN; thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với các trường hợp không chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Với cơ chế giao trách nhiệm cho người nộp thuế trong việc tự tính, tự khai,
tự nộp thuế vào NSNN thì làm tốt chức năng Quản lý nợ thuế sẽ đảm bảo hạn chế phát sinh tồn đọng về nợ thuế Đảm bảo công bằng khi NNT cùng phát sinh nghĩa
vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn, các trường hợp có hành vi vi phạm về thời hạn nộp thuế cơ quan thuế sẽ can thiệp, xử lý kịp thời Quản lý nợ thuế tốt sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, hạn chế phát sinh các khoản nợ thuế không có khả năng thu hồi
Về thực hiện xử lý vi phạm về thuế: Luật Quản lý thuế quy định các hành vi
vi phạm pháp luật thuế được chia thành 4 nhóm: (1) Hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế; (2) Hành vi vi phạm chậm nộp tiền thuế; (3) Hành vi vi phạm khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; (4) Hành vi trốn thuế, gian lận thuế Đồng thời quy định các hình thức xử phạt, mức phạt đối với các hành vi vi phạm nêu trên gồm:
(i) Phạt cảnh cáo: áp dụng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế ít nghiêm trọng
(ii) Phạt tiền: Áp dụng đối với các hành vi phạm thủ tục nghiêm trọng và các hành vi khai sai, trốn thuế, chậm nộp tiền thuế, cụ thể:
Đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế: không quá 100 triệu đồng
Đối với các hành vi vi phạm chậm nộp tiền thuế: phạt 0,05 % mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp
Đối với hành vi vi phạm do khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: phạt 20% số tiền thuế khai thiếu đối với số thuế phải nộp hoặc số tiền thuế khai tăng đối với số thuế được hoàn
Trang 28Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế: Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn, gian lận
1.2.2 Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
Thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí là một sắc thuế trong
hệ thống thuế hiện nay tại Việt Nam, là một khoản thu của ngân sách nhà nước, do
đó thực hiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí luôn cần đảm bảo tuân thủ các mục tiêu và quy định chung của pháp luật quản lý thuế Đồng thời, do đặc thù hoạt động của ngành dầu khí và vai trò đối với số thu ngân sách, công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí đã được nghiên cứu, xây dựng thêm những quy định, hướng dẫn riêng phù hợp với đặc thù hoạt động của ngành dầu khí và thông lệ quốc tế về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
1.2.2 1 Sự cần thiết phải quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
- Dầu, khí là nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng trong quá khứ, hiện tại và tương lai của thế giới Đối với những quốc gia có tiềm năng dầu khí, việc tìm kiếm thăm dò, khai thác, kinh doanh dầu khí trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân và mang lại lợi nhuận cao Xuất phát từ nguồn thu nhập và lợi nhuận cao nên việc tích tụ tư bản từ dầu khí thường nhanh chóng
và lớn Vì vậy, dầu khí có ưu thế trong việc đóng góp vào ngân sách quốc gia và
hỗ trợ cho các ngành khác phát triển Ngoài ra, dầu khí còn là nguồn cung cấp năng lượng cho hoạt động an ninh, quốc phòng, một yếu tố không thể thiếu trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia
- Đối với nền kinh tế của Việt Nam, dầu khí có vai trò rất quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngành công nghiệp dầu khí là ngành kinh tế, kỹ thuật đa ngành và liên ngành, là khâu đầu cung cấp nguyên, nhiên vật liệu đầu vào như xăng dầu, khí, LPG, … cho các ngành công nghiệp khác như điện lực, hóa chất, … Sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, còn giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo an
Trang 29ninh năng lượng quốc gia và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
- Trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế còn chưa đủ mạnh để
có thể chủ động trong công tác thu ngân sách nhà nước thì nguồn thu thuế tài nguyên, đặc biệt là thu thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí là một trong những nguồn lực quan trọng trong cân đối thu, chi ngân sách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế đất nước
1.2.2.2 Mục đích thực hiện công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
- Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như quy định các điều kiện để một đơn vị được thực hiện công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, ) thì thuế tài nguyên là một trong những công
cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường …
- Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế Những điều còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế
- Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm vừa khích lệ người nộp thuế vừa là công cụ hữu hiệu góp phần quản lý, bảo vệ và thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, thúc đẩy khai thác tài nguyên gắn liền với chế biến sâu và góp phần hạn chế tối đa xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế biến…
1.2.2.3 Yêu cầu quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
- Đảm bảo nguồn thu từ thuế phải được tập trung một cách chính xác, đầy
đủ, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho NSNN
Trang 30- Phải tối thiểu hoá chi phí, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý Chi phí quản lý thuế bao gồm các chi phí tuân thủ pháp luật và các chi phí thu thuế Phải
có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, phát huy vai trò tích cực của hệ thống thuế trong đời sống kinh tế xã hội
- Phải đảm bảo được sự tuân thủ pháp luật, giảm thiểu được các hành vi vi phạm pháp luật và phản ánh kịp thời các yêu cầu của xã hội, các bất cập trong chính sách để có sự điều chỉnh kịp thời
1.2.2 4 Nội dung chính về chính sách quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
Quy định thu thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí ở nước ta được thực hiện đầu tiên tại Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 và Pháp lệnh thuế tài nguyên được ban hành năm 1990, Pháp lệnh sửa đổi vào các năm 1998 và năm
2008 Đến năm 2009 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 có hiệu lực từ 01/7/2010, Luật này thay thế các Pháp lệnh thuế tài nguyên trước đó
Về thủ tục thuế: Trước đây, Cơ quan Thuế sẽ xác định số thuế phải nộp của từng người nộp thuế và gửi thông báo số thuế phải nộp để Người nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào NSNN Từ ngày 01/7/2007, theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH12 thì người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế Luật Quản lý thuế năm 2006 là một bước cải cách lớn của ngành thuế trong công tác quản lý thu thuế, chuyển từ việc quản lý thuế theo đối tượng sang quản lý thuế theo chức năng Việc xác định nghĩa vụ thuế được chuyển từ cơ quan thuế sang người nộp thuế, NNT được hoàn toàn chủ động trong việc xác định nghĩa vụ thuế của mình để thực hiện nộp vào NSNN phù hợp với quy định của pháp luật thuế
Cơ quan thuế chỉ xây dựng, ban hành các chính sách thuế, chính sách quản lý thuế, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế hiểu biết pháp luật thuế và kiểm tra, giám sát, đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN phù hợp quy định của pháp luật
Trang 31Một số quy định cụ thể về chính sách quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí:
- Đối tượng được tiến hành hoạt động dầu khí gồm: Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài
- Đối tượng chịu thuế tài nguyên bao gồm:
+ Dầu thô theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993
+ Khí thiên nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993 + Khí than theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008
- Sản lượng tính thuế tài nguyên: Là toàn bộ sản lượng dầu thô và khí thiên nhiên khai thác và giữ được từ diện tích hợp đồng dầu khí, được đo tại điểm giao nhận (sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên thực tế khai thác)
- Giá tính thuế tài nguyên: Giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên là giá bán tại điểm giao nhận Điểm giao nhận là điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên được chuyển giao quyền
sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí Trường hợp dầu thô, khí thiên nhiên không được bán theo hợp đồng giao dịch sòng phẳng, cơ quan quản lý thuế (cơ quan thuế và cơ quan hải quan) sẽ ấn định giá tính thuế theo nguyên tắc sau:
+ Đối với dầu thô: Giá tính thuế là giá bán trung bình của dầu thô cùng loại trên thị trường quốc tế 3 tuần liên tục: Tuần trước, tuần bán và tuần tiếp theo tuần bán dầu thô Người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan thuế các thông tin về thành phần, chất lượng của dầu thô đang khai thác Khi cần thiết, cơ quan quản lý thuế tham khảo giá bán trên thị trường Mỹ (WTI), thị trường Anh (Brent) hay thị trường Singapore (Plátt’s) hoặc tham khảo ý kiến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định giá dầu thô đang khai thác của người nộp thuế
+ Đối với khí thiên nhiên: Giá tính thuế là giá bán khí thiên nhiên cùng loại trên thị trường, tại địa điểm giao nhận và các yếu tố liên quan khác Khi cần thiết,
cơ quan quản lý thuế có thể tham khảo ý kiến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định giá khí thiên nhiên đang khai thác của người nộp thuế
Trang 32- Thuế suất: Mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên thực hiện theo Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH12 hiện nay thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô là từ 7 – 29%; đối với khí thiên nhiên là từ 1 – 10% được xác định lũy tiến theo từng thang sản lượng, cụ thể:
Bảng 1.1 Mức thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên
Thu ế suất (%)
Dự án khuyến khích đầu tư Dự án khác
- Đối với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí theo quy định của Luật Dầu khí và thỏa thuận tại các Hợp đồng
Trang 33phân chia sản phẩm dầu khí thì người nộp thuế xác định số thuế phải nộp, khai, nộp thuế tài nguyên bằng dầu thô, khí thiên nhiên hoặc bằng tiền, hoặc một phần bằng tiền và một phần bằng dầu thô, khí thiên nhiên Trong trường hợp đặc biệt liên quan đến an ninh năng lượng quốc gia, Chính phủ có thể yêu cầu các đơn vị thực hiện nghĩa vụ thuế vào NSNN bằng sản phẩm dầu thô, khí thiên nhiên và phải
có văn bản chỉ đạo trước ít nhất 6 tháng
- Kỳ tính thuế tài nguyên: Là năm dương lịch Kỳ tính thuế tài nguyên đầu tiên bắt đầu từ ngày khai thác dầu thô, khí thiên nhiên đầu tiên cho đến ngày kết thúc năm dương lịch; Kỳ tính thuế tài nguyên cuối cùng bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm dương lịch đến ngày kết thúc khai thác dầu thô, khí thiên nhiên
- Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên tạm tính đối với dầu thô: chậm nhất là ngày thứ 35 kể từ ngày xuất bán (đối với dầu thô bán tại thị trường nội địa) hoặc ngày cơ quan hải quan xác nhận dầu thô xuất khẩu Trường hợp ngày thứ 35
là ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết (gọi chung là ngày nghỉ) thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên tạm tính đối với khí thiên nhiên: chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp sau tháng giao khí Trường hợp ngày thứ
20 là ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên là ngày tiếp theo của các ngày nghỉ đó
- Thời hạn nộp thuế tài nguyên tạm tính: như thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên tạm tính
- Thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên:
+ Chậm nhất là ngày thứ 90, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch;
+ Chậm nhất là ngày thứ 45, kể từ ngày kết thúc hợp đồng dầu khí;
+ Trường hợp ngày thứ 90 hoặc ngày thứ 45 là ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết thì thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó
- Căn cứ hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên, người nộp thuế xác định: Nếu số thuế tài nguyên tạm tính trong kỳ tính thuế lớn hơn số thuế phải nộp thì số
Trang 34thuế nộp thừa được trừ vào số thuế phải nộp của lần nộp thuế tài nguyên tạm tính tiếp theo hoặc làm thủ tục hoàn thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế hiện hành nếu không có kỳ nộp thuế tài nguyên tiếp theo; Nếu số thuế tài nguyên tạm tính trong kỳ tính thuế ít hơn số thuế phải nộp thì người nộp thuế phải nộp đủ
số thuế còn thiếu vào Kho bạc Nhà nước cùng với thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên
- Đồng tiền khai thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí là đồng đô la Mỹ (USD); Đồng tiền nộp thuế tài nguyên đối với hoạt động này là đồng Việt Nam hoặc đồng USD phù hợp với từng hoạt động xuất bán dầu thô, khí thiên nhiên tại thị trường Việt Nam hay xuất khẩu, cụ thể: Trường hợp dầu thô, khí thiên nhiên được bán bằng đô la Mỹ thì đồng tiền nộp thuế tài nguyên là đô la Mỹ; Trường hợp dầu thô, khí thiên nhiên, được bán bằng tiền đồng Việt Nam thì đồng tiền nộp thuế tài nguyên là đồng Việt Nam; Trường hợp dầu thô, khí thiên nhiên, được bán vừa bằng đô la Mỹ vừa bằng đồng Việt Nam thì đồng tiền nộp thuế tài nguyên là đồng Việt Nam;
Việc quy đổi từ đô la Mỹ sang đồng Việt Nam để nộp thuế được thực hiện theo tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm nộp thuế
- Về việc hạch toán ngân sách nhà nước từ thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí: Theo quy định của Luật NSNN năm 2002 thì các khoản thu về dầu, khí (bao gồm cả thuế tài nguyên) sẽ được hạch toán thu NSTW 100%
- Việc cấp phép khai thác: Bộ Công Thương thẩm định hợp đồng dầu khí, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt; thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho phép chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dầu khí; cấp Giấy chứng nhận đầu tư và Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh đối với các hợp đồng dầu khí theo quy định của Luật Dầu khí và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan (Nghị định số 115/2009/NĐ-CP ngày 24/12/2009 của Chính phủ)
Trang 351.2.3 Những khác biệt cơ bản của công tác quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí tại Việt Nam so với công tác quản lý thuế tài nguyên khác
1.2.3.1 Về thuế suất: theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH12 ngày
16/12/2013 của UBTV Quốc Hội thì mức thuế suất đối với các loại tài nguyên trừ dầu thô, khí thiên nhiên được xác định theo mức tỷ lệ % cố định áp dụng cụ thể đối với từng loại tài nguyên như: sắt 12%, vàng 15%, đồng 13%, cát 11%, than 9%, trầm hương 25%, Tuy nhiên, thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên không cố định một mức như các tài nguyên nêu trên mà xác định theo mức sản lượng lũy tiến, mức thuế suất tăng dần phụ thuộc vào từng thang sản lượng dầu, khí khai thác được trong từng ngày của mỗi hợp đồng dầu khí trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm hoặc 1 quý tùy thuộc thỏa thuận tại từng hợp đồng khai thác dầu khí cụ thể sau khi được sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ) Thuế suất thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí còn được áp dụng đối với dự án khuyến khích đầu tư và dự án khác, theo đó dự án khuyến khích đầu tư được hưởng mức thuế suất thuế tài nguyên thấp hơn, đây thường là các dự án thuộc vùng nước sâu, xa bờ, có vị trí nhạy cảm về mặt địa chính trị Danh sách các
dự án khuyến khích đầu tư do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Cụ thể: mức thuế suất tài nguyên đối với dầu thô như sau:
+ Sản lượng dầu thô khai thác đến 20.000 thùng/ngày, mức thuế suất là 10%, đối với dự án khuyến khích đầu tư là 7%;
+ Sản lượng dầu thô khai thác từ trên 20.000 thùng/ngày đến 50.000 thùng/ngày, mức thuế suất là 12%, đối với dự án khuyến khích đầu tư là 9%;
+ Sản lượng dầu thô khai thác từ trên 50.000 thùng/ngày đến 75.000 thùng/ngày, mức thuế suất là 14%, đối với dự án khuyến khích đầu tư là 11%;
1.2.3.2 Về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp thuế:
+ Đối với thuế tài nguyên của các loại tài nguyên khác: người nộp thuế thực
hiện khai thuế tạm tính theo từng tháng và nộp thuế chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp sau tháng xuất bán tài nguyên
Trang 36+ Đối với thuế tài nguyên của hoạt động khai thác dầu khí: xuất phát từ đặc thù thông lệ quốc tế về hoạt động bán dầu thô, khí thiên nhiên, giá bán được xác định theo thị trường thế giới và tính bình quân tháng xuất bán vì vậy phải đến đầu tháng sau mới xác định được giá bán dầu, khí; đồng thời các bên thanh toán với nhau phải sau 30 ngày kể từ ngày xuất bán Với số tiền thuế phải nộp rất lớn, nếu quy định thời hạn nộp thuế 20 ngày như các loại tài nguyên khác trong khi NNT chỉ nhận được tiền sau 30 ngày thì đến hạn nộp thuế, NNT vẫn chưa nhận được tiền và có thể phải vay ngân hàng để nộp ngân sách Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, khắc phục những bất cập nêu trên, Bộ Tài chính đã nghiên cứu hướng dẫn cho phép người nộp thuế được khai thuế tài nguyên tạm tính theo từng lần xuất bán và nộp thuế chậm nhất là ngày thứ 35 kể từ ngày xuất bán dầu
1.2.3.3 Về đồng tiền khai, nộp thuế:
+ Đối với thuế tài nguyên của các tài nguyên khác, đồng tiên khai thuế, nộp thuế vào NSNN là đồng Việt Nam
+ Đối với thuế tài nguyên từ hoạt động khai thác dầu khí: xuất phát từ đặc thù riêng của hoạt động bán dầu thô, khí thiên nhiên là giá bán được xác định theo thị trường giá dầu thế giới (thị trường Brent – Anh, thị trường Platt’s – Singapore hoặc thị trường WTI của Mỹ) trên cơ sở đồng đô la Mỹ (USD), việc hạch toán kế toán tại các nhà thầu hoạt động dầu khí cũng được xác định theo đồng USD (do hầu hết các nhà thầu đều là các tập đoàn kinh tế lớn, là các Công ty đa quốc gia, có phạm vi hoạt động rộng khắp trên toàn thế giới) Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, chính sách thuế hiện hành đang quy định người nộp thuế được khai thuế thống nhất bằng đồng USD và nộp thuế hoặc bằng đồng USD hoặc bằng VNĐ tùy thuộc đồng tiền người nộp thuế nhận được khi bán dầu thô, khí thiên nhiên (trường hợp bán dầu thô trong nước thì đồng tiền người nộp thuế nhận được là đồng Việt Nam, NNT thực hiện nộp thuế bằng đồng Việt Nam; nếu bán dầu xuất khẩu thì đồng tiền mà người nộp thuế nhận được là đồng USD, NNT thực hiện nộp thuế vào NSNN bằng đồng USD)
Trang 371.2.3.4 Về hạch toán khoản thu trung ương, địa phương:
+ Để khuyến khích các địa phương tham gia trong công tác quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, quy định hiện hành cho phép toàn
bộ khoản thu từ thuế tài nguyên đối với các tài nguyên khác được phân bổ hoàn toàn cho ngân sách địa phương nơi thực hiện hoạt động khai thác tài nguyên đó để địa phương cân đối thu chi và thực hiện công tác bảo vệ môi trường do tác động từ hoạt động khai thác tài nguyên
+ Thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí ngược lại được phân bổ 100%
về ngân sách Trung ương tạo nguồn để Trung ương cân đối thu chi, phân bổ cho các địa phương trên cả nước đảm bảo công tác anh sinh xã hội, hỗ trợ các tỉnh nghèo có nguồn thu từ thuế thấp
1.2.3.5 Về mẫu biểu tờ khai thuế:
Với những khác biệt về thuế suất thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí, giá tính thuế, đồng tiền khai, nộp thuế như nêu trên nên các nguyên tắc tính toán để xác định nghĩa vụ thuế tài nguyên từ hoạt động khai thác dầu khí cũng hoàn toàn khác biệt so với các loại tài nguyên khác Điều này đã được Bộ Tài chính ghi nhận và đã nghiên cứu, quy định riêng tại Thông tư số 32/2009/TT-BTC ngày 19/2/2009 hướng dẫn thực hiện qui định về thuế đối với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam phù hợp với quy định của Luật Dầu khí
Thông tư số 32/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính đã hướng dẫn cụ thể về cách xác định số thuế tài nguyên tạm tính, thuế tài nguyên theo quyết toán từ hoạt động khai thác dầu khí, các mẫu biểu khai thuế tài nguyên tạm tính, quyết toán cũng được nghiên cứu xây dựng riêng phù hợp với đặc thù của hoạt động khai thác, xuất bán dầu khí (các mẫu tờ khai gồm: mẫu tờ khai số 01/TAIN-DK về khai thuế tài nguyên tạm tính đối với khai thác dầu khí; mẫu tờ khai số 02/TAIN-DK về khai quyết toán thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí; Bảng kê số 02-1/TAIN-
DK về sản lượng và doanh thu bán dầu thô, khí thiên nhiên; Bảng kê số
Trang 3802-2/TAIN-DK về số tiền thuế tài nguyên tạm tính đã nộp kèm theo Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên)
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
1.3.1 Nhóm chỉ tiêu chung
1.3.1.1 Chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ thu NSNN
Chỉ tiêu này thể hiện số thuế tài nguyên đối với hoạt động dầu khí phải thu trong năm theo dự toán pháp lệnh được Quốc hội giao; tổng số thu thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí so với tổng số thu từ thuế tài nguyên và so với tổng số thu ngân sách do ngành thuế quản lý
Mục đích là để đánh giá mức độ hoàn thành số thu thuế tài nguyên từ dầu khí so với dự toán pháp lệnh giao; đánh giá mức độ đóng góp của thuế tài nguyên
từ dầu khí trong việc thực hiện nhiệm vụ thu NSNN Chỉ tiêu này được tính và phân tích nguyên nhân biến động theo từng năm
1.3.1.2 Chỉ tiêu đánh giá về công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
Thể hiện mức độ tiếp cận thông tin về cơ chế, chính sách thuế, chính sách quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua việc NNT được hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về thuế từ CQT các cấp thông qua các hình thức như trả lời điện thoại, đối thoại trực tiếp với đại diện cơ quan thuế, hướng dẫn bằng văn bản, …
Mục tiêu để đánh giá mức độ, khối lượng, chất lượng thực hiện công tác tuyên truyền về thuế của cơ quan thuế đến với NNT
1.3.2 Nhóm chỉ tiêu cụ thể
1.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá sự tuân thủ của người nộp thuế được thực hiện theo ba chỉ tiêu:
Một là, đánh giá trên cơ sở số tờ khai thuế tài nguyên đối với khai thác dầu
khí nộp đúng hạn so với tổng số tờ khai thuế tài nguyên phải nộp; số tờ khai thuế
Trang 39tài nguyên đối với khai thác dầu khí không có lỗi số học trên số tờ khai thuế tài nguyên phải nộp
Mục đích để đánh giá mức độ tuân thủ về thời gian nộp tờ khai thuế của NNT, mức độ tuân thủ trong kê khai thuế của NNT trong năm
Hai là, đánh giá trên cơ sở các kết quả thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của NNT là các nhà thầu dầu khí: thông qua các chỉ tiêu về tỷ lệ nhà thầu, nhà điều hành dầu khí kiểm tra có phát hiện sai phạm, số thuế bị truy thu từ thanh tra, kiểm tra
Mục đích để đánh giá mức độ tuân thủ của NNT trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế với NSNN, đánh giá hiệu quả, chất lượng, mức độ đóng góp của công tác thanh tra thuế đối với việc thực hiện công tác quản lý, giám sát tính tuân thủ pháp luật thuế của NNT
Ba là, đánh giá trên cơ sở các chỉ số về quản lý nợ thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí của các nhà thầu dầu khí
Mục đích để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu nợ thuế (theo dõi, đôn đốc, cưỡng chế thu nợ thuế, …), đánh giá ý thức tuân thủ của NNT trong thực hiện nghĩa vụ thuế
1.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá về mức độ cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí thông qua các chỉ số về số tờ
khai thuế tài nguyên NNT phải thực hiện, tỷ lệ NNT thực hiện khai thuế qua mạng, tỷ lệ NNT thực hiện nộp thuế điện tử
Mục đích đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế đối với hoạt động cải cách công tác quản lý thuế của cơ quan thuế, đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thuế
1.3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá sự hài lòng của NNT đối với công tác quản lý
thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí của CQT thông qua điều tra xã hội học
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí
1.4.1 Yếu tố khách quan
Trang 401.4.1.1 Luật pháp và chính sách của Nhà nước
Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí Hệ thống pháp luật thuế hoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế, phù hợp các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp điều kiện chính trị, văn hóa xã hội, đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của đất nước theo từng thời kỳ thì mới phát huy hiệu quả cao trong thực thi pháp luật thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí Một môi trường pháp lý mạnh, an toàn còn tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn đầu tư mang lại hiệu quả đối với
số thu ngân sách cũng như trong phát triển nền kinh tế đất nước
Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật thuế tài nguyên thiếu các quy định cần thiết, không đồng bộ, không rõ ràng, thiếu minh bạch hoặc còn những quy định bất cập với thực tế thì không thể có hiệu quả cao trong thực thi áp dụng luật mà còn phát sinh nhiều vướng mắc khi thực hiện làm giảm hiệu quả vai trò của thuế, gây hiệu ứng ngược với yêu cầu, mục tiêu đã đặt ra trong QLT
Các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo điều kiện cần thiết cho việc triển khai áp dụng pháp luật thuế tài nguyên như: ứng dụng khoa học công nghệ nhất là công nghệ thông tin trong QLT, trang bị thiết bị công cụ cho công tác quản
lý thuế, có chính sách đãi ngộ phù hợp để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thuế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin, có phẩm chất đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp sẽ mang lại hiệu cao trong QLT
1.4.1.2 Các nhân tố biến động khó lường của thị trường dầu khí toàn cầu
dẫn đến giá bán các mặt hàng dầu thô, khí thiên nhiên gần như không thể dự báo chính xác cho giai đoạn 1 năm, điều này cũng làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế, ảnh hưởng đến khả năn hoàn thành dự toán pháp lệnh được giao của cơ quan
thuế đối với khoản thuế tài nguyên đối với khai thác dầu khí
1.4.2 Yếu tố chủ quan
1.4.2.1 Tác động và chi phối bởi yêu cầu thu NSNN trong từng giai đoạn
Tùy theo mục tiêu, nhu cầu động viên ngân sách của từng giai đoạn sẽ chi