1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án thuỷ điện tại ban quản lý dự án thủy điện 2

119 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những tác động tích cực của thủy điện, việc đầu tư xây dựng thủy điện trong thời gian qua ở nước ta, đặc biệt thủy điện vừa và nhỏ đã phát sinh nhiều bất cập, chưa có quy hoạch,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN VĂN THÀNH

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Chuyên nghành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN DANH NGUYÊN

Hà Nội - Năm 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Thầy cô trong viện Kinh tế và Quản lý, viện Đào tạo sau đại học đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến thầy giáo –

TS.Nguyễn Danh Nguyên đã luôn nhiệt tình hướng dẫn về mặt khoa học, luôn

khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của “Ban quản lý dự án thủy điện 2” trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

i

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư thuỷ điện tại Ban quản lý dự án thuỷ điện 2” Tôi đã thực hiện đúng qui trình trong thời gian làm luận văn

i Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

ii Những số liệu trong luận văn này là trung thực

iii Những kết luận trong luận văn chưa từng được công bố

ii

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

iii

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 5

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5 1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 5

1.2 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư 6

1.2.1 Dự án đầu tư 6

1.2.2 Quản lý dự án đầu tư 11

1.2.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư 15

1.2.4 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư 23

1.3 Quản lý dự án đầu tư công trình thủy điện 24 1.3.1 Đặc điểm của các (công trình) dự án thủy điện 24

1.3.2 Những thách thức trong quản lý dự án thủy điện 27

1.3.3 Các mô hình quản lý dự án thủy điện 29

iv

Trang 6

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý dự án thủy điện 36

1.4.1 Các nhân tố khách quan 36

1.4.2 Các nhân tố chủ quan 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 2 40

2.1 Giới thiệu tổng quan về Ban QLDA Thủy điện 2 40

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ban QLDA Thủy điện 2 40

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ban QLDA Thủy điện 2 42

2.1.3 C ơ cấu tổ chức quản lý của Ban QLDA Thủy điện 2 43

2.2 Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án tại Ban QLDA Thuỷ điện 2 47

2.2.1 Tình hình quản lý các dự án đầu tư tại Ban QLDA Thuỷ điện 2 giai đoạn 2010 - 2015 47

2.2.2 Công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban QLDA Thuỷ điện 2 53

2.2.3 Mô hình quản lý dự án thủy điện tại Ban QLDA Thuỷ điện 2 56

2.2.4 Phân tích thực trạng công tác QLDA thủy điện tại Ban QLDA Thủy điện 2 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 90

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁNTẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 2 91

3.1 Các mục tiêu hoàn thiện công tác QLDA tại Ban QLDA Thủy điện 2 giai đoạn 2015– 2020 91

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban QLDA Thủy điện 2 92

v

Trang 7

3.2.1 Đẩy nhanh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và di dân tái định

cư, đảm bảo mặt bằng để khởi công và thực hiện dự án 93

3.2.2 Kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện hồ sơ Tư vấn để hạn chế các nội dung phát sinh. 99

3.2.3 Thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực 102

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

vi

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH BẢNG

Bảng 1.1: Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư 9

Bảng 2.1: Các dự án Thủy điện do Ban QLDA Thủy điện 2 quản lý 48

Bảng 2.2 Thực trạng công tác quản lý dự án tại Dự án Thủy điện Bản Vẽ 59

Bảng 2.3 Thực trạng công tác quản lý dự án tại Dự án Thủy điện Nậm Mô 61

Bảng 2.4: Quy mô, công suất dự án Thủy điện Bản Vẽ 64

Bảng 2.5: Bảng tiến độ dự án Thủy điện Bản vẽ 65

Bảng 2.6: Tình hình thực hiện đầu tư Dự án Thủy điện Bản Vẽ 71

Bảng 2.7: Khối lượng thực hiện dự án của các nhà thầu xây lắp 74

Bảng 2.8: Sản lượng điện của nhà máy Thủy điện Bản Vẽ qua các năm 76

Bảng 2.9 Quy mô, công suất dự án Thủy điện Nậm Mô 79

Bảng 2.10: Khối lượng thực hiện dự án của các nhà thầu xây lắp 84

HÌNH Hình 1.1: Chu kỳ của dự án đầu tư 9

Hình 1.2: Sơ đồ quy trình quản lý thời gian tiến độ 17

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình quản lý chi phí 19

Hình 1.4: Sơ đồ quy trình quản lý chất lượng 20

Hình 1.5: Sơ đồ chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 30

Hình 1.6: Mô hình chìa khóa trao tay 31

Hình 1.7: Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án 32

Hình 1.8: Mô hình quản lý theo chức năng 33

vii

Trang 9

Hình 1.9: Mô hình quản lý theo dự án 34

Hình 1.10: Mô hình quản lý dạng ma trận 35

Hình 2.1: Trụ sở Ban Quản lý dự án Thủy điện 2 tại Nghệ An 40

Hình 2.2 Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Ban QLDA Thủy điện 2 42

Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức Ban QLDA Thủy điện 2 44

Hình 2.4 Quy trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi của Ban QLDA 53

Hình 2.5 Quy trình thực hiện bước TKKT hoặc thiết kế BVTC 55

Hình 2.6: Mô hình quản lý dự án thủy điện điện tại Ban QLDA Thuỷ điện 2 57

Hình 2.7: Nhà máy thủy điện Bản Vẽ 63

Hình 2.8: Nhà máy thủy điện Nậm Mô 77

viii

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Về mặt lý luận:Phát triển thủy điện là xu hướng tất yếu của nhiều nước trên thế giới, đảm bảo khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu điện năng cho phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ổn định, an toàn và kinh tế, góp phần bảo đảm quốc phòng, và an ninh năng lượng quốc gia

Đối với nước ta, thủy điện đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất điện, đóng vai trò quan trọng cho an ninh năng lượng quốc gia Ngoài mục tiêu phát điện, các nhà máy thủy điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho hạ du trong mùa mưa bão, đồng thời cung cấp nước phục vụ sản xuất và nhu cầu dân sinh trong mùa khô

Bên cạnh những tác động tích cực của thủy điện, việc đầu tư xây dựng thủy điện trong thời gian qua ở nước ta, đặc biệt thủy điện vừa và nhỏ đã phát sinh nhiều bất cập, chưa có quy hoạch, lộ trình và chưa được kiểm soát chặt chẽ trong công tác quản lý xây dựng và vận hành các công trình thủy điện Để phát triển thủy điện bền vững thì từ công tác lập quy hoạch, lập dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, thi công xây dựng công trình cho đến quản lý vận hành… phải tuyệt đối tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, đặc biệt là việc quản lý và vận hành các công trình thủy điện

Về mặt thực tiễn: Mức tiêu thụ năng lượng năm 2013 của Việt Nam khoảng

57 triệu tấn dầu quy đổi và dự báo sẽ tiếp tục gia tăng ở mức cao vào khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2010-2020, xấp xỉ 5% giai đoạn 2020-2030 [1] Do vậy, để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển các nguồn điện theo hướng năng lượng sạch thì thủy điện đang là một hướng đi của Việt Nam Tuy nhiên phát triển

và vận hành quản lý như thế nào để bảo đảm hướng bền vững, tránh được những luồng thông tin hiểu sai về thủy điện đang đòi hỏi các nhà quản lý, bộ, ngành, địa phương phải làm tốt công tác đầu tư xây dựng và vận hành thủy điện đồng thời phải minh bạch thông tin

1

Trang 11

Tính đến nay, nguồn điện do thủy điện cung cấp cho cả nước lên đến 47,5% nguồn điện của Việt Nam Nhằm định hướng cho quá trình phát triển ngành Điện Việt Nam, ngày 05 tháng 10 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 176/2004/QĐ-TTG phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Điện Việt Nam giai đoạn

2004 - 2010, định hướng đến 2020 Trong đó, một trong những mục tiêu hàng đầu phát triển của ngành Điện Việt Nam trong thời gian tới là sử dụng tốt các nguồn thuỷ năng, đưa tổng công suất các nguồn thủy điện từ 14.000 MW hiện nay lên 21.300 MW vào năm 2020 [2] Tuy nhiên để nguồn năng lượng này phát triển bền vững thì chúng ta phải làm tốt công tác quy hoạch, quy trình xây dựng, phải quan tâm đến vấn đề quản lý dự án như một hệ thống phương pháp luận độc lập và hoàn chỉnh về quản lý nói chung và quản lý dự án xây dựng nói riêng

Trên cả nước có nhiều ban quản lý dự án thủy điện, nhưng Ban Quản lý dự

án 2 là một đơn vị sự nghiệp kinh tế, thay mặt chủ đầu tư (Tập đoàn điện lực Việt Nam) quản lý phần lớn các dự án xây dựng thủy điện trên địa bàn các Tỉnh miền trung Tuy đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiện tại công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án thủy điện 2 còn nhiều mặt hạn chế cần được giải quyết Vì vậy, việc tìm hiểu, công tác quản lý đầu tư dự án thủy điện, từ đó đề xuất những ý kiến nhằm giúp ban lãnh đạo công ty chủ động, hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án thủy điện là một việc làm quan trọng và cần thiết Xuất phát từ cơ sở lý luận và cơ sở

thực tiến nói trên, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án

thuỷ điện tại Ban Quản lý dự án thủy điện 2"để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án thủy điện

Xác định rõ nguyên nhân, đánh giá đúng thực trạng để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án thủy điện tại Ban Quản lý

dự án thủy điện 2

2

Trang 12

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu:Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác quản

lý đầu tư dự án thủy điện tại Ban Quản lý dự án thủy điện 2

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi các hoạt động quản lý đầu tư

dự án thủy điện tại Ban Quản lý dự án thủy điện 2 từ năm 2012 đến 2015

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng

ở tất cả các chương của luận văn Cụ thể, sử dụng lý luận về qui trình lập dự án, thực tiễn quản lý dự án để phân tích, đánh giá công tác quản lý dự án tại Ban Quản

lý dự án thủy điện 2 Từ đó, khái quát lên thành những vấn đề có tính lý luận về công tác quản lý dự án (Chương 1) Kết hợp lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án (Chương 2, 3)

Phương pháp phân tích, tổng hợp:Phương pháp này được sử dụng trong tất

cả các chương của luận văn Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày các hiện tượng, các quan điểm, các qui trình tổ chức quản lý, khái quát lại để phân tích, rút ra những cái thuộc về bản chất của các hiện tượng, các quan điểm, qui định và hoạt động thực tiễn của công tác quản lý dự án (Chương 1, Chương 2) Từ

đó rút ra các đánh giá, kết luận, kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án thủy điện (Chương 3)

Phương pháp so sánh thống kê:Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn

nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dụng để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Giúp hệ thống hóa các kiến thức về quản lý đầu tư dự án thủy điện

3

Trang 13

Vận dụng các kiến thức lý luận của hoạt động quản lý đầu tư dự án thủy điện vào thực tiễn công tác quản lý dự án tại Ban QLDA Thủy điện 2

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1:Một số vấn đề lý luận về dự án và quản lý đầu tư dự án thủy điện

Chương 2:Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư dự án thủy điện tại Ban QLDA Thủy điện 2

Chương 3:Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư dự án tại Ban QLDA Thủy điện 2

4

Trang 14

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài:Đã có rất nhiều cuốn sách liên quan đến quản lý dự

án thủy điện và các giải pháp phát triển:

Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của Hệ thống Kinh tế năng lượng”

(Fundamentals of Power System Economics, John Wiley & Sons) của tác giả Daniel Kirschen và Goran Strbac thuộc Trường đại học Khoa học và công nghệ Manchester - Anh đãđưa ra các khái niệm kinh tế vi mô liên quan cần thiết cho việc bắt đầu nghiên cứu các vấn đề của thị trường điện, vấn đề về lưới điện truyền tải, điều độ, an ninh hệ thống điện Bên cạnh đó, trong các chương cuối của cuốn sách này, tác giả đề cập thêm đến vấn đề đầu tư cho lĩnh vực thủy điện trong điều kiện môi trường cạnh tranh [10]

Cuốn sách “Kiến thức cơ bản về quản lý dự án” (Projet Management Body of

Knowledge) đã nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận về quản lý dự án [11] Tuy nhiên, cuốn sách không đề cập đến vấn đề quản lý dự án tại các thủy điện nói chung và thủy điện của Việt Nam nói riêng

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam: Trong những năm gần đây đã có một số công trình,

bài viết nghiên cứu về quản lý dự án thủy điện, trong đó đáng kể nhất có công trình nghiên cứu của một số tác giả:

Tác giả Nguyễn Anh Tuấn với Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện mô hình

tổ chức sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam”, đã đưa ra mô

hình tổ chức sản xuất điện như xây dựng các thủy điện, so sánh kinh nghiệm xây dựng thủy điện ở một số nước, khu vực trên thế giới để vận dụng áp dụng vào Việt Nam; đề xuất phương hướng và các giải pháp tổ chức quản lý thủy điện, xây dựng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của nước ta vào thời điểm nghiên cứu

5

Trang 15

[3] Tuy nhiên, Luận án không đi sâu phân tích việc quản lý dự án tại các thủy điện Việt Nam nói chung và các dự án của Ban quản lý dự án thủy điện 2 nói riêng

Tác giả Nguyễn Quang Hưng với Luận văn thạc sĩ: “Xây dựng và phát triển

công tác quản lý dự án tại ban quản lý dự án cục hàng không Việt Nam”, đã phân

tích được thực trạng quản lý dự án và đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển công tác quản lý dự án tại ban quản lý dự án - Cục hàng không Việt Nam Ban quản lý dự án chủ yếu quản lý các dự án phục vụ trong ngành hàng không, không phải là ban quản lý dự án chuyên nghiệp trong ngành điện [4]

Tác giả Nguyễn Thành Sơn với Luận án tiến sĩ kinh tế “Xây dựng và phát

triển thị trường bán buôn điện cạnh tranh việt nam”, đã luận giải, giải quyết các vấn

đề như phân tích, đánh giá hiện trạng ngành điện Việt Nam, thực trạng công tác mua bán điện của ngành điện Việt Nam [5] Tuy nhiên, luận án đã không đi sâu phân tích vấn đề quản lý đầu tư dự án của các thủy điện

Ngoài ra còn có các tác phẩm khác của các nhà nghiên cứu chuyên môn về vấn

đề thủy điện như: Mô hình toán trong vận hành điều tiết tối ưu hệ thống hồ chứa nước bậc thang với mục đích phát điện (TS Lê Hùng – ĐH Đà Nẵng); Phần mềm tính toán điều tiết tối ưu hồ chứa thủy điện Krông H’năng (TS Lê Thế Hùng, Công

ty CP Sông Ba)

Từ việc đánh giá tình hình hình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam, có thể kết luận rằng chưa có công trình, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nào nghiên cứu một cách bao quát vấn đề quản lý đầu tư dự án tại Ban QLDA Thủy điện 2 Đây là luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh đầu tiên nghiên cứu vấn đề này

1.2 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư

1.2.1 Dự án đầu tư:Trong những năm gần đây, khái niệm “dự ánđầu tư” đã không

còn là một thuật ngữ xa lạ đối với các nhà quản lý các cấp Có rất nhiều công việc trong các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức dự án và

6

Trang 16

điều đó đồng nghĩa với yêu cầu đặt ra là phải có được một hệ thống quản lý với các phương pháp quản lý dự án hiệu quả nhất

Khái niệm dự án: Có rất nhiều cách để định nghĩa dự án Tùy theo mục

đích mà ta có thể nhấn mạnh một khía cạnh nào đó Trên phương diện quản lý: “Dự

án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất” Theo quan điểm chung nhất: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm

vụ cần phải thực hiện theo một phương pháp riêng, trong khuôn khổ nguồn lực riêng, có kế hoạch và tiến độ cụ thể nhằm tạo ra một sản phẩm mới Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”

Như vậy có thể định nghĩa: “Dự án là một chuỗi các công việc, được thực hiện

nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện ràng buộc về phạm vi, thời gian và

ngân sách”

Khái niệm đầu tư:Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu

hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [6]

Đầu tư là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

Khái ni ệm dự án đầu tư: Là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao

động, tài nguyên thiên nghiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất khỹ thuật Dự

án đầu tư là một tập hợp riêng biệt (cụ thể, xác định) những hoạt động có hệ thống được thự hiện trong một thời hạn xác định, bằng những nguồn lực xác định nhằm đạt mục tiêu phát triển nhất định

Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các

hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [6]

Đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư

7

Trang 17

Dự án có mục đích, kết quả xác định: Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm

nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao

Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn: Dự án là một sự

sáng tạo, giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc

Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên

hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước Tuỳ theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên là khác nhau Giữa các bộ phận quản lý chức năng và nhóm quản lý dự án thường xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.Vì mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác

Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo: Khác với quá trình sản

xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại

Môi trường hoạt động va chạm: Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau

cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức Dự án "cạnh tranh" lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau

8

Trang 18

Tính bất định và độ rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật

tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao

Chu kỳ dự án đầu tư

Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt

hoạt động

Có thể minh hoạ chu kỳ của dự án đầu tư như hình 1.1 dưới đây:

(Nguồn: Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư - PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt)

Hình 1.1: Chu kỳ của dự án đầu tư

Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh - sử dụng) Mỗi giai đoạn lại được chia làm nhiều bước khác nhau Bảng 1.1 dưới đây thể hiện các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án

Bảng 1.1: Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư

dự án

-Đánh giá và quyết định

Đàm phán

lắp

Chạy

thử và nghiệm thu sử

Sử

dụng chưa

hết

Sử dụng công

SX-KD-DV sử dụng

Ý đồ dự

án mới

9

Trang 19

(Thẩm định DA)

các

hợp đồng

toán dụng công

suất cao nhất thanh lý

(Nguồn: Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư - PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt)

Trong 3 giai đoạn trên, giai đoạn chuẩn bị đầu tư hay tiền đầu tư tạo tiền đề

và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là xây dựng dự

án đầu tư Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình lập dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu Thông thường, tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5% đến 15% vốn đầu tư của dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85% đến 99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác…) Điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến

Trong giai đoạn thực hiện đầu tư, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả Ở giai đoạn này, 85% đến 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra, nằm khê đọng trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời Do

đó, thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư

Giai đoạn 3 vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả trong

10

Trang 20

hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ phụ thuộc trực tiếp vào quá

trình tổ chức quản lý hoạt động các kết quả đầu tư Làm tốt các công việc của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư sẽ tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức quản

lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư

1.2.2 Quản lý dự án đầu tư

Khái niệm quản lý dự án:Quản lý dự án là một nghề, thuật ngữ quản lý dự án

được dùng đế miêu tả một hoạch định về việc tổ chức trong việc quản lý những hoạt động đang diễn ra Những hoạt động này thường được gọi là quản lý theo dự án Định nghĩa về quản lý dự án là một việc rất khó, tuy nhiên có thể hiểu quản lý dự án như sau:

Theo lý thuyết hệ thống thì: “Quản lý dự án là điều khiển một quá trình hoạt động của hệ thống trong một quỹ đạo mong muốn, nhằm đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra các sản phẩm như mục tiêu đề ra” Như vậy, theo cách này quản lý dự

án là điều khiển một hệ thống đã có trước, với một loạt các điều kiện ràng buộc, các nguyên tắc, các phát sinh xảy ra trong quá trình sản xuất

Quản lý dự án là “ứng dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để thỏa mãn các yêu cầu của dự án” [11]

Theo TS Ben Obinero Uwakweh: “Quản lý dự án là sự lãnh đạo và phối hợp các nguồn lực và vật tư để đạt được các mục tiêu định trước về: Phạm vi, chi phí, thời gian, chất lượng và sự hài lòng của các bên tham gia Đó là sự điều khiển các hoạt động của một hệ thống (dự án) trong một quỹ đạo mong muốn Với các điểu kiện ràng buộc và các mục tiêu định trước” [12]

Theo Viện quản lý dự án quốc tế PMI (2007):“Quản lý dự án chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tập hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể”

Theo Tổ chức tiêu chuẩn Vương Quốc Anh:“Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, giám sát và kiếm tra tất cả các khía cạnh của dư án và thúc đẩy tất cả các thành phần liên quan dẽn dự án nhằm đạt dươc mục tiêu của dự án theo đúng thời

11

Trang 21

hạn đã định với chi phí, chất lượng và phương pháp đã được xác định”

Theo Liên hiệp hội quán lv dự án Vương Quốc Anh: “Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, tổ chức, giám sát và kiếm tra tất cả các khía cạnh của dự án và thúc đẩy tất cả các thành phần tham gia nhằm đạt được các mục tiêu của dự án một cách

an toàn và trong khuôn khổ thời gian, chi phí và phương pháp”

Theo PMBOK (A Guid to the Project Management Body of Knowlegde):

“Quản lý dự án là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật và công cụ vào các hoạt động dự án đê thỏa mãn các yêu cầu đối với dự án”

Như vậy quản lý dự án là sự ứng dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương tiện kỹ thuật trong các hoạt động của dự án nhằm đáp ứng những yêu cầu của chủ đầu tư và những mục tiêu của dự án trong các ràng buộc về thời gian, nguồn nhân lực vật tư và xe máy… Tất cả các công việc trong hoạt động của dự án đều cần có sự giám sát

Tóm lại: Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có

tính hệ thống đê tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn

bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án

Các mục tiêu chung của quản lý dự án:Theo thời gian, các mục tiêu của quản

lý dự án cũng tăng lên để phù hợp với sự tăng trưởng của xã hội, từ tam giác mục tiêu đã phát triển thành tứ giác, ngũ giác, lục giác và tương lai có thế có thêm các đỉnh mục tiêu khác Đối với quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình còn có thêm một mục tiêu nữa là sự thoả mãn của khách hàng

Tam giác (Ba) mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng công việc, thời gian (tiến độ) và giá thành (chi phí)

Tứ giác (Bốn) mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn lao động và giá thành

Ngũ giác (Năm) mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn lao động, giá thành, môi trường

Lục giác (Sáu) mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn

12

Trang 22

lao động, giá thành, môi trường và rủi ro

Ý nghĩa của quản lý dự án:Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những

sai sót trong những công trình lớn, phức tạp: Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng nhiều Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình thúy lợi, các trạm điện và các công trình phục

vụ ngành hàng không Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp quản dự án đều khó gánh vác được những tổn thất to lớn do sai lầm trong quản lý gây ra Thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực hiện các

dự án công trình lớn, phức tạp đạt được mục tiêu đề ra một cách thuận lợi

Áp dụng phương pháp quản lý dự án sẽ có thể khống chế, điêu tiết hệ thống mục tiêu dự án: Nhà đầu tư (khách hàng) luôn có rất nhiều mục tiêu đối với một dự

án công trình, những mục tiêu này tạo thành hệ thống mục tiêu của dự án Trong đó, một số mục tiêu có thể phân tích định lượng, một số lại không thể phân tích định lượng Trong quá trình thực hiện dự án, thường chú trọng đến một số mục tiêu định lượng mà coi nhẹ những mục tiêu định tính Chỉ khi áp dụng phương pháp quản lý

dự án trong quá trình thực hiện dự án mới có thể tiến hành điều tiết, phối hợp, khống chế giám sát hệ thống mục tiêu tổng thể một cách có hiệu quả

Một dự án có quy mô lớn sẽ liên quan đến rất nhiều bên tham gia dự án như người tiếp quản dự án, khách hàng, đơn vị thiết kế, nhà cung ứng, các ban ngành chủ quản nhà nước và công chúng xã hội Chỉ khi điều tiết tốt các mối quan hệ này mới có thể tiến hành thực hiện công trình dự án một cách thuận lợi

Quán lý dự án thúc dẩy sự trưởng thành nhanh chóng của các nhản lực chuyên ngành: Mỗi dự án khác nhau lại đòi hỏi phải có các nhân lực chuyên ngành khác nhau Vì thế, quản lý dự án thúc đẩy việc sử dụng và phát triển nhân lực, giúp các nhân lực có thể phát huy đến mức cao nhất năng lực của họ

Tóm lại, quản lý dự án ngày càng trở nên quan trọng và có nghĩa trong đời sống kinh tế Trong xã hội hiện đại, nếu không nắm vững phương pháp quản lý dự án sẽ gây ra những tổn thất lớn Đế tránh được những tổn thất này và giành được những thành công trong việc quản lý dự án thì trước khi thực hiện dự án, phải lèn kế hoạch một cách tỉ mỉ, chu đáo

13

Trang 23

Đặc điểm quản lý dự án đầu tư:Quản lý dự án có những đặc điểm sau:

Tổ chức dự án là một tổ chức tạm thời, được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn Trong thời gian tồn tại dự án, nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với phòng chức năng, sau khi kết thúc dự án cần phải tiến hành phân công lại lao động, bố trí lại máy móc thiết bị

Có quan hệ phối hợp giữa nhà quản lý dự án với phòng chức năng trong tổ chức Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng Người đứng đầu dự án và nhóm tham gia dự án là những người có trách nhiệm phối hợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực hiện thắng lợi

mọi mục tiêu của dự án Nhưng trong thực tế giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn về

vấn đề nhân sự, chi phí, thời gian và mức độ thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật

Chức năng của quản lý dự án đầu tư: Bao gồm các chức năng cụ thể và giữa

các chức năng này có mối liên hệ với nhau: Chức năng ra quyết định; Chức năng

kế hoạch; Chức năng tổ chức; Chức năng điều hành và chức năng khống chế

Chức năng ra quyết định:Quản lý dự án đầu tư là một quá trình ra quyết định

có tính hệ thống Việc đưa ra quyết định ngay từ đầu có ảnh hưởng quan trọng đến giai đoạn thiết kế, giai đoạn thi công cũng như sự vận hành sau khi dự án đã được

hoàn thành

Chức năng kế hoạch: Chức năng kế hoạch đưa toàn bộ quá trình, hệ thống mục tiêu, và toàn bộ hoạt động của dự án vào quỹ đạo kế hoạch, dùng hệ thống kế hoạch ở trạng thái động để điều hành, khống chế toàn bộ dự án Sự điều hành hoạt động công trình là sự thực hiện theo trình tự mục tiêu dự định Nhờ chức năng kế hoạch mà mọi công việc của dự án đều có thể dự kiến và khống chế được

Chức năng tổ chức: Chức năng tổ chức ở đây có nghĩa là: thông qua việc xây dựng một tổ chức dưới sự lãnh đạo của giám đốc dự án để đảm bảo dự án được thực hiện theo hệ thống, xác định chức trách và trao quyền cho hệ thống đó, thực hiện chế độ hợp đồng, hoàn thiện chế độ quy định để hệ thống đó có thể vận hành một cách hiệu quả, đảm bảo cho mục tiêu của dự án được thực hiện theo kế hoạch

Chức năng điều hành: Quá trình quản lý dự án là sự phối hợp của rất nhiều các bộ phận có mối quan hệ mâu thuẫn và phức tạp Do đó, nếu xử lý không tốt các

14

Trang 24

mối quan hệ này sẽ tạo ra những trở ngại trong việc phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động của dự án Vì vậy, phải thông qua chức năng điều hành của quản lý dự án để tiến hành kết nối, khắc phục trở ngại, đảm bảo cho hệ thống có thể vận hành một cách bình thường

Chức năng khống chế: Chức năng khống chế đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu chính của các dự án đầu tư Bởi vì, các dự án đầu tư đôi khi có thể rời xa mục tiêu dự định, phải lựa chọn phương pháp quản lý khoa học để đảm bảo mục tiêu được thực hiện

1.2.3 Nội dung của quản lý dự án đầu tư:

1.2.3.1 Quản lý dự án theo lĩnh vực: Theo Viện nghiên cứu quản trị dự án quốc tế,

quản lý dự án bao gồm các nội dung sau:

Lập kế hoạch tổng quan: Là việc tổ chức dự án theo một trình tự logic, xác

định mục tiêu và các phương pháp để đạt mục tiêu của dự án, dự tính những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian làm những công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án Lập kế hoạch dự án là tiến hành chi tiết hóa những mục tiêu của dự án thành các công việc cụ thể và hoạch định một chương trình biện pháp để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực

quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ

Công tác lập kế hoạch dự án bao gồm nhiều nội dung Từ việc lập kế hoạch tổng thể dự án đến những kế hoạch chi tiết, từ kế hoạch huy động vốn, phân phối vốn và các nguồn lực cần thiết cho dự án đến kế hoạch quản lý chi phí, quản lý tiến độ… từ kế hoạch triển khai thực hiện dự án đến kế hoạch “hậu dự án”

Quản lý phạm vi: Là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục

tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực hiện, công

việc nào nằm ngoài phạm vi của dự án

Quản lý thời gian, tiến độ: Làquá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng

công việc, xác định thời gian thực hiện từng công việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiến trình thực hiện các công việc dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép

và những yêu cầu về chất lượng đã định

15

Trang 25

Mục đích của quản lý thời gian là làm sao để dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu đã định về chất lượng Công việc quản lý thời gian và tiến độ thực hiện dự án đầu tư phải trả lời được các câu hỏi chủ yếu sau: Để hoàn thành toàn bộ dự án cần bao nhiêu thời gian? Để đảm bảo thực hiện hoàn thành đúng hạn dự án như đã hoạch định cần tập trung chỉ đạo những công việc nào Những công việc nào có thể kéo dài và có thể kéo dài bao lâu mà vẫn không làm chậm tiến độ thực hiện dự án?.Tiến độ thực hiện

dự án có thể rút ngắn được hay không? Nếu có thì có thể rút ngắn thời gian thực hiện những công việc nào và thời gian rút ngắn là bao lâu?

Quản lý thời gian là cơ sở để giám sát chi phí cũng như các nguồn lực khác cần cho công việc của dự án Trong môi trường dự án, chức năng quản lý thời gian

và tiến độ quan trọng hơn trong môi trường hoạt động kinh doanh thông thường vì nhu cầu kết hợp phức tạp và thường xuyên liên tục giữa các công việc Quy trình quản lý thời gian được thể hiện khái quát trong hình 1.2

16

Trang 26

(Nguồn: Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư - PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt)

Hình 1.2: Sơ đồ quy trình quản lý thời gian tiến độ

Quản lý thời gian

2 Công cụ và kỹ thuật

- Phương pháp sơ đồ mạng AON

- Thông tin của các dự án trước

2 Công cụ và kỹ thuật

- Đánh giá của chuyên gia

- Đánh giá tổng thể, tính toán

- Các báo cáo tiến độ

- Yêu cầu thay đổi kế hoạch quản lý thời gian

17

Trang 27

Quản lý chi phí: Quản lý chi phí là công tác quan trọng nhất trong các công

việc quản lý dự án Quản lý chi phí tại Việt Nam bao gồm: Xác định lúc bắt đầu (lập), thực hiện (chi, giải ngân) và điều chỉnh trong quá trình thực (nếu có) và kiểm soát (thẩm tra, thẩm định, kiểm toán - các công tác tiền kiểm, hậu kiểm) Công tác quản lý chi phí hiện nay tại Việt Nam người ta thường dùng các phần mềm công cụ

Quản lý chi phí làquá trình dự toán kinh phí; giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dựán; phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí nhằm đảm bảo thực hiện hoàn thành dự án trong phạm vi ngân sách đã được hoạch định từ trước

Tổng chi phí của dự án bao gồm: Chi phí trực tiếp là những khoản mục chi phí có thể xác định cụ thể, trực tiếp cho từng công việc hoặc dự án Bao gồm: chi phí nhân công sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí quản lý trực tiếp và những khoản chi phí khác trực tiếp liên quan đến công việc thực hiện dự án; Chi phí gián tiếp là những khoản chi phí không được tính trực tiếp cho từng công việc hoặc

dự án nhưng lại rất cần thiết nhằm duy trì sự hoạt động của dự án Bao gồm: chi phí phân bổ của các nhà quản lý cấp trên, chi phí marketing, chi phí lao động gián tiếp, chi phí nguyên vật liệu gián tiếp… Có thể phát sinh khoản tiền phạt nếu dự án kéo dài quá ngày kết thúc xác định

Trong thực tiễn quản lý luôn luôn có hiện tượng đánh đổi giữa thời gian và chi phí Nếu tăng giờ lao động, tăng thêm số lượng máy móc thiết bị thì tiến độ thực hiện dự án có thể được đẩy nhanh Tuy nhiên, khi tăng thêm nguồn lực như vậy sẽ làm tăng chi phí trực tiếp, bên cạnh đó, không phải tất cả các công việc được đẩy nhanh đều đem lại kết quả mong muốn Do đó, sự tính toán cân đối, hợp lý giữa thời gian và chi phí là yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản lý

Quản lý chi phí dự án được thực hiện trong tất cả các giai đoạn khác nhau của chu trình dự án Trong mỗi giai đoạn, quản lý chi phí lại có vai trò khác nhau và được thực hiện khác nhau Quản lý chi phí bao gồm lập kế hoạch nguồn lực, ước tính chi phí, dự thảo ngân sách và kiểm soát chi phí, trong mỗi giai đoạn đòi hỏi một sự tính toán phù hợp và hiệu quả Thể hiện chi tiết trong Hình 1.3 dưới đây

18

Trang 28

(Nguồn: Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư)

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình quản lý chi phí

Quản lý chi phí

1 Lập kế hoạch nguồn lực

1 Đầu vào

- Cấu trúc phân chia công việc

- Thông tin tương tự từ dự án trước

- Giới hạn phạm vi

- Mô tả nguồn lực đòi hỏi

- Chiến lược tổ chức thực hiện

- Các báo cáo tài chính

- Các yêu cầu thay đổi

- Kế hoạch quản lý chi phí

- Cấu trúc phân chia công việc

- Các nguồn lực đòi hỏi

- Đơn giá ước tính cho từng công việc

- Các thông tin từ các dự án tương tự

2 Công cụ và kỹ thuật

- Công thức toán học Phần mềm Excel

19

Trang 29

Quản lý chất lượng: Là quá trình triển khai giám sát những tiêu chuẩn chất

lượng cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu tư Những nội dung chủ yếu của công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây lắp bao gồm: Thẩm tra thiết kế và quy hoạch; Kiểm định chất lượng vật liệu, bán thành phẩm và thiết bị của công trình; Tổ chức kiểm tra, giám sát tại hiện trường trong quá trình thi công xây lắp; Tổ chức đánh giá chất lượng công trình sau khi hoàn thành Quản lý chất lượng dự án được thực hiện thông qua một hệ thống các biện pháp kinh tế, công nghệ, tổ chức, hành chính và giáo dục, thông qua một cơ chế nhất định và hệ thống các tiêu chuẩn định mức, hệ thống kiểm soát, các chính sách khuyến khích Quản lý chất lượng dự án phải được thực hiện trong suốt chu kỳ dự án, từ giai đoạn hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang giai đoạn vận hành khai thác Quản lý chất lượng dự án là một quá trình liên tục, gắn

bó giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài Để thực hiện dự án cần có máy móc thiết bị, con người, yếu tố tổ chức… Quy trình quản lý chất lượng được thể hiện tóm tắt qua Hình 1.4

(Nguồn: Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư)

Hình 1.4: Sơ đồ quy trình quản lý chất lượng

3 Đầ

Quản lý chất lượng

20

Trang 30

21

Trang 31

1.2.3.2 Quản lý dự án theo chu kỳ dự án

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Sau khi hình thành ý tưởng dự án, tập hợp số

liệu, xác định nhu cầu, đánh giá độ rủi ro, dự tính nguồn lực, so sánh lựa chọn dự án

là những công việc cần triển khai và quản lý trong giai đoạn này Quyết định chọn

lựa dự án là những quyết định chiến lược dựa trên mục đích, nhu cầu và các mục tiêu lâu dài của tổ chức, doanh nghiệp Những nội dung cần được xét đến là mục đích yêu cầu của dự án, tính khả thi, lợi nhuận tiềm năng, mức độ chi phí, độ rủi ro

và ước tính nguồn lực cần thiết

Tiếp đến phải chi tiết xem dự án cần được thực hiện như thế nào mà nội dung chủ yếu của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch Các công việc được triển khai:

- Thành lập nhóm dự án, thiết lập cấu trúc tổ chức dự án

- Lập kế hoạch tổng quan

- Phân tách công việc của dự án

- Lập kế hoạch tiến độ thời gian

- Lập kế hoạch ngân sách

- Thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất

- Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết

- Lập kế hoạch chi phí và dự báo dòng tiền thu

- Xin phê chuẩn thực hiện

Kết thúc giai đoạn này, tiến trình thực hiện dự án có thể được bắt đầu Thành công của dự án phụ thuộc khá lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các

kế hoạch trong giai đoạn này

Giai đoạn thực hiện đầu tư: Giai đoạn này bao gồm các công việc cần thực

hiện như: xây dựng nhà xưởng và công trình, lựa chọn công cụ, mua sắm thiết bị và lắp đặt… Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và nỗ lực nhất Những vấn đề cần xem xét trong giai đoạn này là những yêu cầu kỹ thuật cụ thể, vấn đề so sánh đánh giá lựa chọn công cụ, thiết bị, kỹ thuật lắp ráp, mua thiết bị chính Mục tiêu của giai đoạn này là hoàn thành toàn bộ những nhiệm vụ đã đề ra trong kế hoạch, các hệ thống được xây dựng, kiểm định để đi vào vận hành

22

Trang 32

Giai đoạn vận hành, khai thác: Giai đoạn này thực hiện việc quan sát, theo

dõi kết quả khai thác dự án có đạt được như kế hoạch đề ra không? Tiến hành các hoạt động kiểm tra, bảo dưỡng theo thời gian để đảm bảo dự án được đưa vào vận

hành thường xuyên và phát huy tối đa hiệu quả

1.2.4 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư

Phương pháp quản lý dự án là tổng thể những cách thức tiến hành hoạt động quản lý dự án dựa trên cơ sở sử dụng các phương tiện kỹ thuật, biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế và các biện pháp khác

Đây chính là những phương pháp tác động có định hướng đối với các đối tượng và các tập thể sản xuất nhằm đạt được mục tiêu đề ra của dự án

Có nhiều phương pháp quản lý dự án khác nhau Tuỳ theo chỗ đứng, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu, người ta có thể phân loại phương pháp quản lý dự án theo nhiều cách khác nhau:

Đứng ở góc độ cơ chế quản lý có thể phản các phương pháp quản lý dự án thành các nhóm chính sau: Nhóm các phương pháp lãnh đạo theo kế hoạch tập trung hay là các phương pháp hành chính của quản lý;Nhóm các phương pháp kinh tế;Nhóm các phương pháp tổ chức, các phương pháp tổ chức mệnh lệnh

Đứng ở góc độ chức năng quàn lý, có thể có các phương pháp quản lý dự án như: Phương pháp kế hoạch, phương pháp tổ chức, phương pháp kiểm tra và phương pháp hạch toán

Đứng ở góc độ của nội dung và tính chất hoạt động của quản lý dự án có: Phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp luật pháp, phương pháp tâm lý xã hội và phương pháp giáo dục…

Đứng ở góc độ của phương thức quản lý có:Quản lý dự án theo các lĩnh vực (ngân sách, nhân lực, thiết bị và các nguồn lực vật chất khác được sử dụng để thực hiện dự án);Quản lý dự án theo chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo – điều hành – chỉ huy, kiểm tra, giám sát);Quản lý dự án theo quá trình (giai đoạn lập dự

án, giai đoạn tổ chức thực hiện, giai đoạn kết thúc dự án)

23

Trang 33

Các phương pháp quản lý dự án là một phạm trù lịch sử Nội dung đặc điểm của các phương pháp quản lý dự án được sử dụng sẽ thay đổi theo sự thay đổi cua các quan hệ sản xuất.Mỗi phương pháp có vai trò riêng, tác động của quản lý dự án chỉ có hiệu lực khi biết lựa chọn đúng và áp dụng linh hoạt nhất các phương pháp khác nhau Trong nhiều phương pháp quản lý dự án đã kể ra ở trên, trong thực tế quản lý

dự án cần đặc biệt lưu ý tới phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính

Bản chất của phương pháp kinh tế là chủ thể quản lý chỉ tác động gián tiếp vào đối tượng quản lý nhằm tạo ra một cơ chế hướng dẫn đối tượng quản lý hoạt động mà không cần có sự tham gia trực tiếp của phương pháp hành chính và cơ quan hành chính.Phương pháp kinh tế của quản lý còn được hiểu là tổng thể các biện pháp đảm bảo sử dụng hợp lý các quy luật kinh tế trong hoạt động kinh tế Đặc trưng của các phương pháp này là sự tác động gián tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế nhằm tạo ra một cơ chế hướng dẫn con người hành động theo quy luật kinh tế Phương pháp kinh tế lấy lợi ích kinh tế làm

cơ sở, lấy đòn bẩy kinh tế làm công cụ

Bản chất của phương pháp hành chính là phương pháp tác động của cơ quan quản lý lên đối tượng quản lý thông qua những quyết định trực tiếp, dứt khoát mang tính pháp lệnh cao Tính bắt buộc của phương pháp hành chính đòi hỏi mọi quyết định hành chính phải có luận cứ khoa học Việc sử dụng các phương pháp này không phải là ý muốn chủ quan của người này hay người khác Các phương pháp này chỉ phát huy tác dụng khi đã xác định được đầy đủ và chính xác quyền hạn, trách nhiệm của mỗi thành viên mỗi cấp trong hệ thống quản lý Nếu ngược lại sẽ dẫn đến quan liêu, duy ý chí Cần lưu ý là cơ chế cụ thể để thực hiện các phương pháp này trong thực tiễn là hệ thống kế hoạch kinh tế quốc dân

1.3 Quản lý dự án đầu tư công trình thủy điện

1.3.1 Đặc điểm của các (công trình) dự án thủy điện

Thủy điện:Thủy điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước Đa số năng

lượng thủy điện có được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay

24

Trang 34

một tuốc bin nước và máy phát điện Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước

như năng lượng thuỷ triều Thủy điện là nguồn năng lượng có thể hồi phục

Những hồ chứa được xây dựng cùng với các nhà máy thủy điện thường là những địa điểm thư giãn tuyệt vời cho các môn thể thao nước, và trở thành điểm thu hút khách du lịch Các đập đa chức năng được xây dựng để tưới tiêu, kiểm soát lũ, hay giải trí, có thể xây thêm một nhà máy thủy điện với giá thành thấp, tạo nguồn thu hữu ích trong việc điều hành đập

Quản lý dự án thủy điện là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống đê tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới những dự án thủy điện dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án thủy điện, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc

dự án thủy điện

Đặc điểm cơ bản của dự án thủy điện:Thủy điện đang đóng một vai trò quan

trọng trong việc giảm thiểu khí thải hiệu ứng nhà kính, do các công trình thủy điện thải ra rất ít khí thải độc hại so với các nhà máy điện năng lượng hóa thạch;Nước là nguồn năng lượng tái tạo, không phụ thuộc vào sự dao động của thị trường, do đó thủy điện góp phần củng cố vào an ninh năng lượng của mỗi quốc gia Một dự án thủy điện có đặc điểm cơ bản như sau:

Thời gian thực hiện một dự án thường kéo dài nhiều năm: Dự án thường trải

qua nhiều bước thẩm định, khảo sát thăm dò, thi công….vì vậy để có được một dự

án đi vào hoạt động thường phải kéo dài nhiều năm, dự án có qui mô càng lớn, thi công phức tạp thì càng kéo dài thời gian Chẳng hạn dự án Thủy điện Hoà Bìnhkhởi công xây dựng ngày 6 tháng 11 năm 1979, khánh thành ngày 20 tháng

12 năm 1994 Dự án thủy điện Trị An được xây dựng với sự hỗ trợ về tài chính và công nghệ của Liên Xô từ năm 1984, khánh thành và đưa vào sử dụng từ năm 1991

Dự án Thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng ngày 2 tháng 12 năm 2005,

25

Trang 35

được khánh thành vào ngày 23 tháng 12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á

Dự án thủy điện thường sẽ gây ảnh hưởng đến dân cư trong khu vực dự án:

Việc triển khai dự án sẽ phải tiến hành di dân trong vùng ảnh hưởng, vì quá trình tích nước của dự án thủy điện sẽ nhấn chìm nhiều vùng đất ở và đất sản xuất của dân cư sinh sống trong vùng dự án, từ đó làm xáo trộn cuộc sống của họ Đời sống của dân

cư trong vùng cũng như các giá trị văn hóa lịch sử phong tục tập quán của người dân bản địa trong khu vực dự án cũng sẽ bị thay đổi hoặc biến mất hoàn toàn Theo thống

kê chưa đầy đủ thì riêng với các công trình thủy điện trong nước đã có hơn 150 ngàn người bị ảnh hưởng trước đây và gần 400 ngàn người bị ảnh hưởng trực tiếp hiện nay Nhiều công trình có quy mô lớn như Thủy điện Sơn La, Thủy điện Tuyên Quang, Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Bản Vẽ… đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng Do tầm quan trọng và quy mô ảnh hưởng của công tác tái định cư này, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 1997 (NQ 05/1997/QH10) đã quy định rõ các công trình thủy điện lớn có quy mô di chuyển và tái định cư với quy

mô lớn hơn 20.000 người phải được Quốc hội xem xét thông qua

Làm thay đổi dòng chảytự nhiên của các con sông:Việc hình thành các đập

có hồ chứa sẽ làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của các con sông Sự thay đổi sẽ nhiều hay ít tùy theo hồ chứa được vận hành như thế nào Khi dòng chảy tự nhiên của một con sông thay đổi, thì hệ sinh thái trong lưu vực con sông đó cũng bị ảnh hưởng và có thể mất một thời gian khá lâu mới tìm được sự cân bằng mới, hoặc thậm chí không tìm lại được lại cân bằng ban đầu

Dự án thủy điện sẽ chiếm dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng: Dự án

thủy điện thường nằm ở những vùng rừng núi nên khi xây dựng cần phải khai quang một diện tích lớn để xây các công trình như: đường sá, đập, nhà máy, đường dây dẫn điện Phần lòng hồ sẽ bị ngập nước cũng phải được khai quang, những hoạt

26

Trang 36

động này sẽ ảnh hưởng lên môi trường thiên nhiên đã có sẵn trước đó và tác động lên hệ sinh thái của khu vực

Tác động tiêu cực nhất định đến môi trường - xã hội:Phần lớn, các dự án

nằm ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa nên đối tượng dân cư bị ảnh hưởng chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số phần nhiều còn nghèo

Vì vậy, công tác quản lý các dự án thủy điện sẽ phải đối mặt với những khó khăn và thách thức liên quan tới công tác quản lý, phối hợp hài hòa và vận hành tối

ưu các nhà máy thủy điện, đặc biệt là các nhà máy thủy điện trên cùng bậc thang nhằm đáp ứng các mục tiêu phát điện, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống lũ hạ du đồng thời đáp ứng các tiêu chí liên quan tới môi trường

1.3.2 Những thách thức trong quản lý dự án thủy điện

Với mạng lưới sông ngòi tương đối dày và điều kiện địa hình thuận lợi, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có tiềm năng về thủy điện.Trong hơn 20 năm qua, nguồn tiềm năng này đã được khai thác mạnh mẽ phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiện nay, Việt Nam có 268 công trình thủy điệnlớn vừa và nhỏ đã đi vào vận hành, 205 dự án đang được xây dựng và hàng ngàn hồ chứa đã được quy hoạch

Không thể phủ nhận trong nhiều năm qua, thủy điện đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của quốc gia Theo số liệu của EVN, thủy điện hiện đóng góp 45,17% tổng sản lượng điện của mạng lưới điện toàn quốc

Tuy nhiên, bên cạnh một số đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, việc phát triển thủy điện quá nhanh và nóng đã bộc lộ nhiều bất cập Thủy điện đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sinh thái, xã hôi Một diện tích khá lớn đất rừng, đất nông nghiệp và các loại đất khác đã bị chiếm dụng vĩnh viễn bởi các công trình này Theo báo cáo của Bộ Công thương, từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã chuyển đổi 50.000 ha đất rừng,

27

Trang 37

đất nông nghiệp và các loại đất khác để làm thủy điện Thủy điên làm thay đổi dòng chảy tự nhiên, cả trong mùa lũ và mùa kiệt, làm giảm đáng kể lượng phù sa xuống

hạ lưu Thủy điện có tác động lớn đến xã hội, một số lượng dân phải tái định cư, và tùy quy mô dân số, văn hóa bản địa ở mức độ khác nhau sẽ bị tác động

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT đối với 21 dự án thủy điện ở 12 tỉnh, hơn 75.000 hộ dân phải di dời phục vụ việc xây dựng công trình thủy điện và chịu ảnh hưởng sâu sắc về mặt sinh kế và đời sống Ngoài ra, công tác quản lý các

dự án thủy điện vừa và nhỏ còn nhiều lỏng lẻo.Theo kết quả chương trình giám sát Quốc hội, có tới 30% thủy điện nhỏ chưa được kiểm định về mặt an toàn, 66% chưa

có phương án bảo vệ được phê duyệt và 55% số đập chưa có phương án phòng chống lụt bão Hơn nữa, hàng loạt các sự cố như vỡ đập ở Gia Lai, nứt thân đập ở Quảng Nam hay xả lũ ở Miền Trung và Tây Nguyên trong thời gian qua gây ra những mối quan ngại lớn về vấn đề an toàn và quản lý vận hành đập.Trong tháng 11/2013, cùng với mưa lớn, hàng loạt các hồ thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đã đồng thời xả lũ với lưu lượng lớn gây nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân vùng hạ du Theo thống kê sơ bộ tại miền Trung, có tới 31 người bị chết, 9 người mất tích và 225 ngôi nhà bị cuốn trôi trong đợt lũ vừa qua Trước thực trạng trên, việc Chính phủ loại 424 dự án thủy điện, chiếm tới 34,2% trong tổng số 1239 dự án, ra khỏi quy hoạch sau quá trình rà soát là một quyết định cần thiết Tuy nhiên, các sự cố liên quan đến thủy điện gần đây cho thấy thủy điện vẫn tiềm tàng nhiều rủi ro và thách thức

Tóm lại: Các dự án thủy điện trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam

nói riêng, đã mang lại những giá trị kinh tế rất lớn không thể phủ nhận Tuy nhiên, công tác quản lý các dự án thủy điện cũng đã đặt ra những thách thức không nhỏ như: Vấn đề giải phóng mặt bằng tái định cư cho những hộ bị ảnh hưởng của các dự

án thủy điện, vấn đề môi trường, vấn đề an toàn các hồ đập… Điều này đòi hỏi một

sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các vướng mắc từ vấn đề thủy điện

28

Trang 38

1.3.3 Các mô hình quản lý dự án thủy điện

Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án:Mô hình chủ đầu tư trực tiếp

quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc chủ đầu tư lập ra ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công

việc dự án theo sự ủy quyền

Hình thức chủ đầu tư tự thực hiện dự án thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản và gần với chuyên môn sâu của chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý dự án

Trong trường hợp chủ đầu tư lập ban quản lý dự án để quản lý thì ban quản

lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về nhiệm vụ và quyền hạn được giao Ban quản lý dự án được đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ năng lực và được chủ đầu tư cho phép, nhưng không được thành lập các ban quản lý

dự án trực thuộc để thực hiện việc quản lý dự án

Chủ đầu tư trực tiếp quản lý nên các công tác thi công, giám sát, hạch toán các giá trị kinh tế cũng như chi phí cho toàn bộ dự án do chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm quản lý Tuy nhiên, dù hình thức nào thì cũng phải tuân thủ các văn bản qui định của pháp luật về quản lý dự án Hình thức chủ đầu tư tự thực hiện dự án được thể hiện qua mô hình tổng hợp Hình 1.5 dưới đây:

Trang 39

(Nguồn: Ban QLDA Thủy điện 2 cung cấp)

Hình 1.5: Sơ đồ chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án

Mô hình chìa khóa trao tay: Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay

là hình thức tổ chức trong đó ban quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền

của chủ đầu tư – chủ dự án mà còn là “chủ” của dự án

Hình thức tổ chức quản lý dự án dạng chìa khóa trao tay cho phép tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà tổng thầu để thực hiện toàn bộ dự án Khác với hình thức chủ nhiệm điều hành dự án, giờ đây mọi trách nhiệm thực hiện dự án được trao cho ban quản lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với việc thực hiện dự án

Ngoài ra, là tổng thầu, ban quản lý dự án không chỉ được giao toàn quyền thực hiện dự án mà còn được phép thuê thầu phụ để thực hiện từng phần việc trong

dự án đã trúng thầu Trong trường hợp này, bên nhận thầu không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp Điều này đòi hỏi những cán bộ chuyên trách trong các ban quản lý dự án phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ để có thể đảm đương trách nhiệm do chủ đầu tư giao cho Mô hình chìa khóa trao tay được thể hiện chi tiết qua Hình 1.6

(Nguồn: Ban QLDA Thủy điện 2 cung cấp)

Trang 40

Hình 1.6: Mô hình chìa khóa trao tay

Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án:Mô hình tổ chức “Chủ nhiệm điều hành

dự án” là mô hình tổ chức quản lý trong đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm chủ nhiệm điều hành, quản lý việc

Mô hình tổ chức chủ nhiệm điều hành dự án sẽ cho thấy sự phân câp rõ ràng trong công tác quản lý các dự án, theo đó các bộ phận sẽ được trao quyền trong

những quyết định của mình, đặc biệt là ý kiến của các chuyên gia tư vấn quản lý dự

án sẽ giúp dự án thực hiện đúng tiến độ, đúng kỹ thuật thiết kế và đảm bảo tiến độ dự

án đề ra Mô hình này cho phép chủ đầu tư quản lý nhiều dự án cùng lúc mà không bị

chồng chéo hay vướng mắc Mô hình này được thể hiện trong Hình 1.7

31

Ngày đăng: 27/02/2021, 14:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w