1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại chi cục thuế huyện kiến xương

133 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện nhận thức về Pháp Luật thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế còn hạn chế thì việc thực hiện các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế một cách hiệu quả, xử phạt nghi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN TRÍ HIẾU

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ

CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

Hà Nội - Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN TRÍ HIẾU

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ

CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ MAI CHI

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng nguồn

tài liệu từ báo cáo tổng kết công tác thuế của ngành thuế Thái Bình; các tài

liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web

theo danh mục tài liệu của luận văn

Thái Bình, ngày 01 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Trí Hiếu

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và quý báu từ thầy hướng dẫn, Cơ quan công tác – Chi cục Thuế huyện Kiến Xương, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Qua đây, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

TS Nguyễn Thị Mai Chi - người hướng dẫn khoa học - đã dành nhiều thời gian quý báu để chỉ dẫn về đề tài và định hướng phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi tiến hành thực hiện luận văn

Chi cục Thuế huyện Kiến Xương nơi tôi công tác, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian và giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích tinh thần lẫn vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin gửi lời chúc sức khỏe và chân thành cảm ơn!

Thái Bình, ngày 01 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Trí Hiếu

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN. i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC……… iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT … vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Những đóng góp của luận văn 4

6 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 6

1.1 Tổng quan về nợ thuế 6

1.1.1 Khái niệm nợ thuế 6

1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế 7

1.1.3 Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế 10

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 20

1.2.1 Quản lý nợ thuế 20

Trang 7

1.2.2 Cưỡng chế nợ thuế 26

1.2.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 32

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý, đôn đốc thu nợ 34

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 34

1.3 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 37

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của một số nước trên thế giới 37

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 39

Tóm tắt chương 1 40

CHƯƠNG 2 41

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN XƯƠNG 41

2.1 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Kiến Xương có ảnh hưởng tới công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi cục thuế huyện Kiến Xương 41

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 41

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý và nguồn nhân lực 45

2.1.4 Kết quả thu thuế giai đoạn 2013-2015 50

2.1.5 Thực hiện công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế Kiến Xương 50

2.2 Thực trạng quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn huyện Kiến Xương 52

2.2.1 Thực trạng nợ thuế và quản lý nợ thuế 52

Trang 8

2.2.2 Thực trạng công tác cưỡng chế nợ thuế 69

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 75

2.3.1 Những kết quả đã đạt được……… 75

2.3.2 Nguyên nhân 79

Tóm tắt chương 2 ……… 84

CHƯƠNG 3 84

GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN XƯƠNG 85

3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước tác động đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 85

3.2 Quan điểm định hướng và mục tiêu về quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế.86 3.2.1 Quan điểm định hướng về quản lý thuế và cưỡng chế thuế trên địa bàn huyện Kiến Xương 86

3.2.2 Mục tiêu và yêu cầu về tăng cường quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn huyện Kiến Xương 89

3.3 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 93

3.3.1 Nhóm giải pháp về bộ máy quản lý và nghiệp vụ 98

3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện các văn bản pháp luật ……….98

3.3.3 Nhóm giải pháp điều kiện 111

3.4 Một số kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên 117

3.4.1 Kiến nghị với Bộ Tài Chính 117

3.4.2 Kiến nghị với Tổng cục Thuế 117

Trang 9

3.4.3 Kiến nghị với Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Thái Bình 118

Tóm tắt chương 3……… 119 KẾT LUẬN………120

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả thu NSNN giai đoạn 2013-2015 50

Bảng 2.2: Tổng hợp số người nộp thuế đang hoạt động trên địa bàn huyện Kiến Xương 52

Bảng 2.3: Tổng hợp số thu ngân sách và nợ thuế qua các năm 53

Bảng 2.4: Phân loại nợ thuế theo tính chất nợ 57

Bảng 2.5: Cơ cấu tỷ lệ nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2013-2016 58

Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ thuế doanh nghiệp Ngoài quốc doanh 60

Bảng 2.7: Nợ thuế theo sắc thuế Ngoài quốc doanh 61

Bảng 2.8: Kết quả thu nợ đọng thuế giai đoạn 2013-2016 68

Bảng 2.9: Các biện pháp cưỡng chế đã thực hiện qua các năm 72

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Như chúng ta đã biết, thuế luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi Nhà nước Thuế là một công cụ tài chính quan trọng không chỉ thể hịên ở việc tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, mà thuế còn là một công cụ hữu hiệu để Nhà nước tiến hành điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối Tuy nhiên, đặc điểm của thuế là không hoàn trả trực tiếp, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá Vì vậy, một số tổ chức, cá nhân vẫn còn tâm lý muốn chậm chễ, chiếm dụng tiền thuế làm phát sinh số thuế nợ đọng Ngoài ra, một

số NNT do khó khăn về tài chính, những rủi ro hoặc sự cố bất thường gây ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế cũng làm phát sinh nợ đọng thuế Nợ đọng thuế

là hiện tượng phổ biến và luôn gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ thuế

Nợ đọng thuế là phổ biến, song nếu như số nợ đọng thuế là lớn và thường xuyên thì sẽ có tác động không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm giảm vai trò của đất nước trong việc động viên nguồn thu cho NSNN Nợ thuế cao cũng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả, hiệu lực của chính sách cũng như công tác quản lý của CQT Do vậy, việc đẩy mạnh công tác quản lý nợ thuế, hạn chế đến mức thấp nhất nợ đọng thuế là một trong những mục đích quan trọng của ngành thuế

Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, là một trong những chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai - tự nộp Quản lý được nợ đọng và kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế

Trang 13

Việc triển khai thực hiện Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế; ngược lại việc quản lý nợ đọng tốt lại có tác động to lớn với công tác quản lý thuế nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía NNT và CQT Do đó, việc tăng cường công tác quản

lý nợ và cưỡng chế thuế có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với việc giảm số thuế nợ đọng, tăng thu cho NSNN mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung

Trong nhiều năm qua, công tác thu ngân sách của huyện Kiến Xương đạt được những kết quả đáng mừng đó là số thu liên tục tăng và năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, tình trạng nợ đọng thuế vẫn diễn ra phổ biến, số

nợ đọng thuế vẫn còn rất lớn và đang có xu hướng gia tăng, nhiều khoản nợ thuế kéo dài nhiều năm không có khả năng thu, đặc biệt là việc xử lý các khoản nợ khó thu, nợ chờ xử lý còn rất nhiều vướng mắc kể cả khi Luật quản

lý thuế mới đã được sửa đổi bổ sung cũng chưa giải quyết hết Trong thực tiễn các doanh nghiệp được thành lập mới và doanh nghiệp bị mất đi do giải thể phá sản và ngừng hoạt động không theo Luật luôn đồng hành Theo Luật doanh nghiệp sự ra đời của các doanh nghiệp mới có sự thông thoáng và dễ dãi, nhưng giải quyết hậu quả của doanh nghiệp bỏ trốn còn nợ thuế thì vẫn thiếu khung pháp lý

Ý thức tuân thủ của một bộ phận người nộp thuế kém, cố tình dây dưa

nợ đọng tiền thuế dẫn đến tình trạng chiếm dụng tiền thuế kéo dài, gây thất thu lớn cho NSNN

Thực hiện chức năng quản lý thuế đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các ngành các cấp nhưng chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể

Do đó, việc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cường công tác QLN ở Chi cục Thuế huyện Kiến Xương là một đòi hỏi tất yếu nhằm góp phần nâng cao

Trang 14

hiệu quả công tác quản lý thuế Trong điều kiện nhận thức về Pháp Luật thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế còn hạn chế thì việc thực hiện các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế một cách hiệu quả, xử phạt nghiêm các trường hợp không chấp hành đúng pháp luật thuế sẽ là những yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định, nhằm nâng cao ý thức chấp hành Pháp Luật thuế, đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ thuế giữa những người nộp thuế

Căn cứ vào những vấn đề trên Tác giả chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện Kiến Xương ” làm đề tài nghiên cứu là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực , mang tính thời sự cấp bách về mặt lý luận và thực tiễn nhằm tăng cường công tác quản lý nợ & cưỡng chế nợ thuế nói riêng và quản lý thuế nói chung

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở những vấn đề cơ bản

về lý luận về quản lý nợ tác giả đã làm rõ thực trạng công tác QLN & CCNT trên địa bàn huyện Kiến Xương đang thực hiện để từ đó rút ra những vấn đề cần hoàn thiện, khắc phục

Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Về lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thuế, về công tác QLN & CCNT

- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng công tác QLN & CCNT trên địa bàn huyện Kiến Xương

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ

và cưỡng chế nợ thuế

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 15

nhân gọi chung là người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt

- Phạm vi nghiên cứu: Công tác QLN & CCNT đối với các tổ chức, cá

nhân trên địa bàn huyện Kiến Xương giai đoạn 2013-2015 và 6 tháng 2016

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật

biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu và viết luận văn

* Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kết hợp với khảo sát thực tế Chi cục Thuế Kiến Xương

- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu - so sánh

5 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản đã được phản ánh trong Luật Quản

lý thuế; Những hình thức, động cơ và thủ đoạn nợ thuế của người nộp thuế gây thất thu NSNN và những biện pháp cưỡng chế của cơ quan quản lý thuế đối với những trường hợp không nộp tiền thuế còn nợ vào NSNN

- Phân tích thực trạng công tác QLNN & CCNT trên địa bàn huyện Kiến Xương, những ảnh hưởng của việc nợ đọng tiền thuế đến môi trường kinh doanh và ngân sách huyện Kiến Xương

- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn huyện Kiến Xương trong những năm tới

Trang 16

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm có 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên

địa bàn huyện Kiến Xương

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý

nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn huyện Kiến Xương

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ

1.1 Tổng quan về nợ thuế

1.1.1 Khái niệm nợ thuế

Khái niệm: Nợ thuế là khoản tiền thuế theo qui định của pháp luật thuế

nhưng người nộp thuế không nộp đầy đủ, đúng hạn vào NSNN

Một trong những đặc trưng quan trọng của Thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành một khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn do những lý

do nào đó mà người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế

1- Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất;

thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do

cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN

2- Tiền thuế đang chờ điều chỉnh là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các

khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật mà NNT

đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền; chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc; chờ ghi thu - ghi chi; tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng mà cơ quan

thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định; tiền thuế không tính tiền chậm nộp

3- Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định

Trang 18

4- Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp

theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế

5- Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ (ngày thanh toán) là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN; hoặc ngày có hiệu lực thi hành

của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác

6- Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt

đầu phát sinh tiền thuế nợ

7- Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục

tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật

8- Khoá sổ thuế là thời điểm ngừng nhập các chứng từ kế toán liên

quan đến nghĩa vụ thuế của NNT như tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, các quyết định, thông báo Sau khi khoá sổ thuế, mọi số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế các tháng trước sẽ không được điều chỉnh, bổ sung ngay, mà chỉ được điều chỉnh, bổ sung sau ngày khoá sổ và sẽ được hạch toán vào thời điểm phát hiện để điều chỉnh, bổ sung vào kỳ thuế tiếp theo

9- Xác định nợ thuế (sau đây gọi là chốt nợ) là việc rà soát, đối chiếu số

liệu tiền thuế nợ của tháng báo cáo sau khi khóa sổ thuế, đảm bảo mọi số liệu

nợ trên sổ theo dõi nợ thuế, báo cáo nợ thuế thống nhất và không được thay đổi sau khi xác định nợ thuế

10- Thời điểm chốt nợ là mốc thời gian cố định để chốt số liệu nợ của

tháng đã khóa sổ và là ngày cuối cùng của tháng khóa sổ

1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế

1- Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến

Trang 19

chất bắt buộc, mà người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước Rõ ràng, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế Vì thế,

ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, người nộp thuế luôn có

xu hướng trốn hoặc tránh thuế Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam , khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho Ngân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác họ tìm mọi cách để tối thiểu hoá số thuế mà người nộp thuế phải nộp Một trong những cách đó là họ tìm cách nợ thuế

Vì thế, để hạn chế nợ thuế bên cạnh những biện pháp có tính chất luật pháp để cưỡng chế người nộp thuế tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền phổ biến

để người nộp thuế tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng

2- Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa

vụ nộp thuế vào NSNN Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để diều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, đối tượng nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế

Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo

Trang 20

quy định của Pháp luật

Xác định tiền chậm nộp tiền thuế:

- Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: Trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, (số ngày chậm nộp<90 ngày là 0,05%/ngày, từ 91 ngày trở đi

là 0,07%/ngày) Từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật về thuế số 71/2014/QH13, ngày 26/01/2014 của Quốc hội là 0,05%/ngày Từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày theo Luật số 106/2016/QH13

3- Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế

Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn

nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật

Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan

- Về chủ quan: Do người nộp thuế cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng số tiền thuế sử dụng cho mục đích khác

- Về khách quan: Do có khó khăn về sản xuất hoặc thu nhập chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế, lạm phát mà NNT tạm thời thiếu tiền nộp thuế

4- Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế

Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật để giảm được một phần nghĩa vụ phải nộp Ví dụ: DN kê khai chi phí thuê bản quyền sáng

Trang 21

nhập chịu thuế Ngược lại, nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất, đó là một nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa nộp chậm

1.1.3 Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế

1.1.3.1 Phân loại nợ thuế: là việc sắp xếp các khoản nợ thuế thành những nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất của từng khoản nợ

Các loại nợ thuế: Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nợ thuế

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ

Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ dựa trên những thông tin về người

nợ thuế như: mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu

- Nợ có khả năng thu: Nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế

của người nợ thuế được xác định phải nộp vào ngân sách nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc

các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khả năng thu hồi

Tuỳ vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì

cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày

- Nợ khó thu: Nợ khó thu theo cách phân loại này bao gồm số tiền thuế

nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động

kinh doanh; nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản

Trang 22

- Nợ không có khả năng thu: Việc phân loại nợ trong nhóm này chủ yếu

căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp trong nhóm này, người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp nợ này là có khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang

nhóm nợ không có khả năng thu này

Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế

Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được phân loại thành: nợ thuế, phí thông thường; nợ phạt thuế, phí và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra

- Nợ thuế, phí thông thường: Nợ trong nhóm này thường bao gồm các

khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ, mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi

trên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế

- Nợ phạt thuế, phí: Theo Luật quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan

thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều

Trang 23

loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phát sinh cho từng lần vi phạm Do đó, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ như: nợ do phạt nộp chậm; nợ

phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế

- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra: Đây là khoản nợ

thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác

ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải được nộp vào ngân sách nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố ý đã kê khai sai để trốn thuế

Số thuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của người nộp thuế

Căn cứ vào đối tượng nợ

Căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm

nợ khác nhau như sau:

- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh

- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể

- Nợ thuế thu nhập của cá nhân

- Nợ thuế của các đối tượng khác

Việc phân loại như trên có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức

độ nợ thuế của từng loại hình người nộp thuế Từ đó, có biện pháp, chính sách

để khuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợ khác để có những chính sách ưu đãi, miễn giảm

Trang 24

thuế phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn về tài chính đối với những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có mức nợ cao, tuổi nợ dài

Căn cứ vào tính chất nợ

- Nợ chờ xử lý: Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ

chờ xử lý căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại để phân loại Do đó, các khoản nợ thuộc các trường hợp

được đưa vào nhóm nợ chờ xử lý để theo dõi thường bao gồm:

Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế

do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế, đang làm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn

số phát sinh tức là số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với

số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục để điều chỉnh lại Ngoài ra trong nhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ

Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xoá nợ: là số tiền nợ thuế của người

nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xoá nợ theo quy định của pháp luật về thuế (bao gồm cả các trường hợp đang làm thủ tục xử lý miễn, giảm áp dụng các điều khoản miễn, giảm theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần); cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến

kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về

Trang 25

thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp để cưỡng chế thu nợ

Thứ ba, hiện nay theo các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật

về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý thì người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào ngân sách nhà nước Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử

lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu

Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của đối

tượng nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo qui định

- Nợ có khả năng thu: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác

định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước và không thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên Nợ thông thường được phân loại thành các trường hợp nợ dưới 30 ngày, từ 30 ngày đến 90 ngày và

từ quá 90 ngày trở lên

- Nợ khó thu: Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối

tượng nợ thì nợ khó thu bao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể phá sản doanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; nợ của đối tượng bị khởi tố là số tiền thuế nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật

Trang 26

Ở Việt Nam, tính đến 30/6/2014 trở về trước các khoản nợ của các Cục thuế thuộc hệ thống thuế được phân loại theo Quyết định 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình quản lý nợ Tổng cục Thuế đang lấy ý kiến tham gia sửa đổi quy trình 1395 cho phù hợp với Luật Quản lý thuế sửa đổi bổ sung và các Thông tư hướng dẫn: Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 hướng dẫn thu hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ Phân loại nợ thuế nhằm xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu nợ thuế có hiệu quả Phân

loại nợ thuế có thể dựa trên nhiều căn cứ như:

Căn cứ vào thông tin kê khai thuế, tài liệu, hồ sơ về NNT đã thu thập được, thông tin về người nợ thuế, số tiền nợ thuế theo khoản nợ và hạn nộp từ

bộ phận kê khai và kế toán thuế (phòng, đội) chuyển sang, công chức quản lý

nợ tiến hành phân loại nợ theo các tiêu thức (theo quy trình mới sửa đổi):

1- Tiền thuế nợ từ 01 đến 30 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ

01 đến 30 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ đang xử lý và tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh

2- Tiền thuế nợ từ 31 đến 60 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ

31 đến 60 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ đang xử lý và tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh

3- Tiền thuế nợ từ 61 đến 90 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ

61 đến 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ đang xử lý và tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh

Trang 27

4- Tiền thuế nợ trên 90 ngày và tiền thuế nợ khác là số tiền thuế đã quá

thời hạn nộp từ 91 ngày trở lên và một số khoản tiền thuế nợ khác nhưng NNT chưa nộp vào NSNN

5- Tiền thuế nợ đang xử lý là số tiền thuế nợ của người nộp thuế có văn

bản đề nghị xử lý nợ, hồ sơ đầy đủ theo quy định, cơ quan thuế đã tiếp nhận

hồ sơ và đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để ban hành quyết định xử lý nợ

6 Nhóm tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh và đã được gia

hạn nhưng đang điều chỉnh: là số tiền thuế đã nộp vào NSNN nhưng cơ quan

thuế đang làm thủ tục điều chỉnh; số tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng NNT/cơ quan thuế chưa đánh dấu trên tờ khai/chưa nhập vào hệ thống dẫn đến hệ thống vẫn theo dõi là nợ

1.1.3.2 Những điều kiện làm xuất hiện hành vi nợ thuế:

1- Do cơ chế chính sách thuế hiện hành

Do cơ chế chính sách có thể làm cho gánh nặng thuế quá cao vượt quá sức chịu đựng của NNT trong phạm vi khả năng nộp thuế của mình, khiến cho NNT tìm mọi cách để trốn thuế, hoặc họ không có khả năng nộp thuế nên phải nợ thuế

Trong thực tế, do mức thuế cao mà nhiều DN gặp khó khăn về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm dẫn đến nợ thuế kéo dài

Trang 28

trong việc tự giác nộp thuế vào NSNN

- Do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chính sách cổ phần hóa của nhà nước Trong quá trình chuyển đổi chưa giải quyết dứt điểm các khoản nợ thuế trước khi chuyển sang hoạt động ở loại hình doanh nghiệp mới

- Do cách quản lý lỏng lẻo, việc thực hiện Luật Thuế chưa nghiêm (Cơ quan Thuế chưa tính phạt chậm nộp tiền thuế ngay nên để DN lợi dụng để chiếm dụng tiền thuế trong một thời gian dài để thực hiện đầu tư kinh doanh)

- Một thời gian dài chúng ta chưa coi trọng việc tuyên truyền giáo dục, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao để nâng cao sự hiểu biết, tự giác tuân thủ pháp luật của NNT Hiện nay chúng ta mới bước đầu tuyên truyền rộng rãi, tuy nhiên hiệu quả đạt được chưa được cao

- Môi trường kinh tế xã hội chưa được cải cách đồng bộ, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế như quản lý thanh toán bằng tiền mặt Đó cũng là một vấn đề cần quan tâm hiện nay, nhà nước ta mới đang bước đầu thực hiện thanh toán qua tài khoản đối với cán bộ công chức, các

DN cần khấu trừ, hoàn thuế GTGT và đơn vị xuất nhập khẩu Trong khi đó luật quy định có quyền cưỡng chế thông qua việc trừ vào tài khoản của NNT

Do vậy việc kiểm soát được tài khoản của người dân vẫn còn là một thách thức lớn đối với cơ quan thuế

- Mặt khác, công tác dự báo thị trường của Nhà nước và doanh nghiệp chưa chính xác kịp thời dẫn đến rủi ro cao, nhiều đơn vị thua lỗ khó có khả năng thanh toán nợ

3- Do công nghệ quản lý:

Việc triển khai áp dụng phần mềm QLN chưa thực sự hiệu quả Đến nay qua nhiều lần nâng cấp đã đáp ứng tương đối đầy đủ các bước công việc

Trang 29

theo quy trình quản lý nợ, quy trình cưỡng chế, tuy nhiên việc khai thác triệt

để và sử dụng các dữ liệu hiện có phục vụ cho công tác quản lý ở cấp Chi cục Thuế vẫn còn hạn chế Nhất là báo cáo về kết quả công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế chưa kịp thời

4- Do đội ngũ cán bộ thuế:

Mặc dù đã đào tạo qua nhiều kỳ tập huấn nghiệp vụ của ngành, tham gia các hội thảo chuyên đề về công tác quản lý nợ Tuy nhiên một bộ phận cán bộ ý thức, thái độ chưa nhiệt tình, chưa tâm huyết với công việc Một số đơn vị còn coi nhẹ công tác quản lý nợ, chưa quan tâm chỉ đạo, sát sao và thường xuyên Bố trí cán bộ lớn tuổi, yếu về năng lực dồn hết về bộ phận quản lý nợ Việc sử dụng phần mềm quản lý nợ cũng chưa thành thạo, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế hiện đại và yêu cầu cải cách hành chính thuế, thậm chí một bộ phận cán bộ quản lý thuế chưa nắm vững và thực hiện tốt các chính sách thuế và quy trình nghiệp vụ quản lý thuế nói chung và nghiệp vụ quản lý nợ thuế nói riêng

5- Do ý thức của người nộp thuế:

Do nhìn nhận của công chúng về công tác thuế còn thiếu khách quan, nhiều người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phê phán, lên án mạnh các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội

Do ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT còn hạn chế nên chưa tự giác đi nộp thuế, chưa chấp hành nộp thuế theo thông báo nợ của cơ quan thuế, một số đối tượng cố tình chây ỳ tiền thuế, không nộp tiền thuế vào NSNN

Trang 30

Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, lãi suất ngân hàng trước đây cao hơn cả tỷ lệ phạt nộp chậm tiền thuế nên NNT thà bị phạt nộp chậm tiền thuế còn hơn là phải đi vay với lãi xuất cao hơn Tình hình tài chính của các doanh nghiệp nợ thuế là rất khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, rơi vào giải thể phá sản Chính vì vậy mà

số DN chiếm dụng tiền thuế, không nộp vào NSNN có xu hướng tăng thêm

1.1.3.3 Nguyên nhân và hậu quả của nợ thuế:

Nguyên nhân nợ thuế

Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể khái quát một số nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, do ý thức chấp hành luật thuế của một bộ phận NNT còn hạn

chế, chưa tự giác nộp thuế, cố tình dây dưa, chây ỳ, chiếm dụng tiền thuế của NSNN để thực hiện những mục đích khác

Thứ hai, do một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, sản xuất

kinh doanh thua lỗ nên không có nguồn lực để nộp thuế, dẫn đến nợ thuế kéo dài nhiều năm

Thứ ba, do đại bộ phận người dân chưa phê phán và lên án mạnh mẽ

các hành vi gian lận tiền thuế, nợ thuế, chưa hỗ trợ, phối hợp với CQT để thu thuế vào NSNN Do đó, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, chiếm dụng tiền thuế của NSNN còn xảy ra phổ biến, vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng giữa các NNT

Ngoài ra, nợ thuế còn do ảnh hưởng của một số nguyên nhân khách quan khác: khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, chính sách quản

lý của Nhà nước thay đổi

Trang 31

Hậu quả của nợ thuế: Nợ thuế không những có tác động nghiêm trọng

với công tác quản lý thuế mà còn có tác động đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Những tác động đó có thể khái quát trên một số mặt sau:

Thứ nhất, Nợ thuế gây thất thu cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu

của NSNN Yêu cầu đối với quản lý thuế là phải thu đúng, thu đủ và thu kịp thời số thuế phải nộp vào NSNN để Nhà nước có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội Nếu nguồn tài chính không

đủ hoặc không kịp thời thì các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ sẽ không thực hiện đúng tiến độ, các cân đối kinh tế bị phá vỡ, các nhiệm vụ về an sinh, xã hội không được thực hiện làm cho kinh tế suy thoái hoặc kém hiệu quả

Thứ hai, nợ thuế gây mất công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các NNT và

tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân đang kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của các NNT Pháp luật thuế đã qui định cụ thể nghĩa vụ của các NNT Tuy nhiên, việc một số NNT không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, không nộp đầy đủ, kịp thời các khoản thuế phải nộp vào NSNN đã tạo ra sự không công bằng trong khi những NNT còn lại thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế

Thứ ba, nợ thuế tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội liên quan

đến công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản

lý nợ thuế Khi xuất hiện các khoản nợ thuế, đòi hỏi Nhà nước phải có một bộ phận chuyên đảm nhận chức năng quản lý các khoản nợ thuế đó Hơn nữa những khoản nợ thuế này được nợ từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều sắc thuế khác nhau từ nhiều nguyên nhân khác nhau và biện pháp thu hồi cũng khác nhau Nợ thuế có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế và cƣỡng chế nợ thuế

1.2.1 Quản lý nợ thuế

Trang 32

1.2.1.1 Nội dung của công tác quản lý nợ thuế

*Khái niệm quản lý nợ thuế: Quản lý nợ thuế là hoạt động của cơ

quan thuế và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm các biện pháp, cách thức để đánh giá thực trạng nợ thuế, tổ chức thu nợ thuế, thu phạt chậm nộp thuế vào NSNN đầy đủ, đúng qui định

Quản lý nợ là một trong bốn chức năng cơ bản trong mô hình quản lý thuế theo chức năng, bao gồm: Tuyên truyền - hỗ trợ NNT, kê khai - kế toán thuế, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế và thanh tra - kiểm tra thuế

* Đặc điểm quản lý nợ thuế

Thứ nhất, Quản lý nợ thuế là hoạt động quản lý Nhà nước Quản lý nợ

thuế là hoạt động của cơ quan thuế và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do

đó, nó chính là hoạt động quản lý Nhà nước và có đầy đủ những đặc điểm của hoạt động quản lý Nhà nước

Về cơ quan thực hiện: Cơ quan có chức năng thực hiện quản lý nợ thuế

là cơ quan thuế các cấp, phối hợp với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Về biện pháp áp dụng: Biện pháp áp dụng trong quản lý nợ thuế là biện pháp hành chính, mang tính chất bắt buộc cao và thể hiện quyền lực của Nhà nước Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của NNT với NSNN Do đó, hành vi chậm nộp tiền thuế vào NSNN là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Vì vậy, trong quản lý thuế, biện pháp áp dụng chỉ có biện pháp hành chính, không áp dụng biện pháp thoả thuận

Về tính chất bắt buộc: tính chất bắt buộc của các biện pháp quản lý nợ thuế rất cao, do được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước

Thứ hai, Hoạt động quản lý nợ thuế mang tính chuyên môn, nghiệp vụ

cao Quản lý nợ thuế là một trong 4 khâu của mô hình quản lý thuế theo chức

Trang 33

năng, bao gồm: tuyên truyền, hỗ trợ NNT, kê khai - kế toán thuế, quản lý nợ, cưỡng chế nợ thuế và thanh tra - kiểm tra thuế Quản lý nợ có vai trò quan trọng trong quản lý thuế và có mối quan hệ mật thiết với 3 khâu còn lại trong

mô hình quản lý theo chức năng Do đó, để thực hiện quản lý nợ đạt hiệu quả cao, công chức quản lý nợ thuế không chỉ phải có hiểu biết về công tác quản lý

nợ thuế mà còn phải có hiểu biết đầy đủ về các qui trình liên quan: kê khai - kế toán thuế, thanh tra – kiểm tra thuế Bên cạnh đó, để thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng nợ thuế, xem xét, phân loại nợ thuế thì công chức quản lý

nợ thuế phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng về qui trình quản lý nợ thuế, luật quản lý thuế và các luật thuế có liên quan Vì vậy, hoạt động quản lý nợ thuế mang tính chuyên môn, nghiệp vụ rất cao và có tính đặc thù riêng

Xuất phát từ đặc điểm này của quản lý nợ thuế, để phân tích thực trạng công tác quản lý nợ thuế cũng như đề xuất những giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ thuế, chúng ta phải gắn với những đặc điểm đặc thù về chuyên môn, nghiệp vụ của công tác quản lý nợ thuế để những đánh giá mang tính đúng đắn nhất và những giải pháp đưa ra có tính khả thi cao

Thứ ba, Hoạt động quản lý nợ thuế gắn liền với thực hiện pháp luật

thuế và quản lý thuế Quản lý nợ thuế là một trong những hoạt động để đảm bảo nâng cao hiệu lực quản lý thuế và đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm minh trong thực tế Ngoài ra, trong quá trình thực hiện quản lý nợ thuế, công chức quản lý nợ thuế cũng phải gắn chặt với pháp luật thuế cũng như luật quản lý thuế để đảm bảo tính đúng đắn của các biện pháp thực thi, đảm bảo quản lý nợ thuế thực hiện đúng chức năng của nó

* Nội dung của quản lý nợ thuế: Quản lý nợ thuế là một trong những

nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế Công tác quản lý nợ thuế bao gồm một số nội dung cơ bản sau:

Trang 34

- Lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thực hiện quản lý thu nợ năm: Việc lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ hàng năm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nợ thuế Không những là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ thuế năm thực hiện mà còn là những biện pháp chỉ đạo vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý nợ thuế hàng năm Do đó hiệu quả của công tác lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ hàng năm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nợ thuế

- Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: Đây là nội dung cơ bản của công tác quản lý nợ thuế Bao gồm các nội dung sau:

Phân công quản lý nợ thuế: Là việc thủ trưởng bộ phận quản lý nợ thực

hiện phân công chi tiết từng NNT, từng khoản thuế nợ cho các cán bộ theo dõi nợ thuế

Phân loại tiền thuế nợ: Phân loại nợ thuế là việc sắp xếp nợ thuế thành

những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định

Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ: Sau khi thực hiện

phân loại nợ thuế, đôn đốc nợ thuế, công chức quản lý nợ thực hiện lập nhật

ký và sổ theo dõi tiền thuế nợ nhằm theo dõi lịch sử đôn đốc nợ thuế của từng NNT Nhật ký theo dõi tiền thuế nợ được lập riêng cho từng người nộp thuế

để theo dõi từng khoản tiền thuế nợ

Thực hiện đôn đốc thu nộp: Là việc cơ quan thuế thực hiện các biện

pháp đôn đốc thu nợ để thu hồi số tiền nợ đọng vào NSNN, bao gồm: gọi điện thoại nhắc nhở, gửi giấy mời lên làm việc, phạt chậm nộp, cưỡng chế

Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế,

hoàn kiêm bù trừ

Trang 35

Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ: Tài liệu liên quan đến công tác quản lý

nợ thuế được lưu trữ tại bộ phận quản lý nợ thuế và các bộ phận liên quan tham gia thực hiện qui trình theo chức năng, nhiệm vụ riêng của từng bộ phận trong qui trình quản lý

* Sự cần thiết của quản lý nợ thuế: Quản lý nợ và cưỡng chế thuế có

vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo thu đúng, thu đủ và thu kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước, đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các tổ chức cá nhân nộp thuế Sự cần thiết của quản lý nợ thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, quản lý nợ thuế đảm bảo số thu cho NSNN Quản lý nợ thuế

là chức năng chính và cơ bản của mô hình quản lý theo chức năng Quản lý

nợ cùng với các khâu còn lại trong mô hình quản lý theo chức năng đảm bảo mục đích huy động số thu cho NSNN Quản lý nợ thuế đảm bảo theo dõi được tình hình thực hiện nghĩa vụ của NNT, đảm bảo NNT nộp các khoản thuế theo qui định của pháp luật đầy đủ, kịp thời vào NSNN, qua đó đảm bảo

số thu cho NSNN, chống thất thu NSNN

Thứ hai, quản lý nợ thuế đảm bảo công bằng giữa NNT với nhau Nộp

thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của NNT Việc một số NNT không nộp đầy đủ, kịp thời số tiền thuế phải nộp theo qui định của pháp luật vào NSNN không chỉ làm giảm tính hiệu lực của hệ thống thuế, gây thất thu cho NSNN mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa những NNT với nhau Do đó, việc quản lý nợ thuế không chỉ đảm bảo nâng cao tính hiệu lực của hệ thống thuế, nâng cao tính tự tuân thủ của NNT, đảm bảo thu NSNN mà còn đảm bảo sự công bằng giữa những NNT với nhau, đảm bảo NNT cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì đều phải nộp vào NSNN

Trang 36

Thứ ba, quản lý nợ thuế là yêu cầu cần thiết để tăng cường kỷ luật thuế

Một trong những đặc điểm cơ bản của thuế là tính chất bắt buộc cao, được đảm bảo thực thi bởi quyền lực của Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một bộ phận không nhỏ NNT có ý thức chấp hành pháp luật thuế chưa cao, cố tình dây dưa, trây ỳ, chiếm dụng tiền thuế của NSNN Thực tế này một phần xuất phát từ những qui định không chặt chẽ, những kẽ hở còn tồn tại trong các qui định hiện hành để các đối tượng có thể lợi dụng Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là do ý thức tuân thủ pháp luật của NNT chưa cao, chưa nhận thức được ý nghĩa to lớn của việc thực hiện nghĩa vụ thuế với NSNN

Do đó, việc thực hiện quản lý nợ thuế, đôn đốc nợ thuế, phạt chậm nộp tiền thuế nợ có ý nghĩa quan trọng trong việc răn đe những NNT cố tình trây ỳ, dây dưa, chiếm dụng tiền thuế của NSNN, qua đó góp phần nâng cao ý thức tự tuân thủ của NNT, nâng cao tính hiệu lực của hệ thống quản lý thuế

1.2.1.2 Vai trò của quản lý nợ thuế

Công tác quản lý nợ thuế có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN, đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các tổ chức, cá nhân nộp thuế

- Đảm bảo NNT thực hiện nộp các khoản thuế đến hạn phải nộp hoặc thu đủ tiền thuế nợ vào NSNN

- Góp phần nâng cao tính tuân thủ của NNT trong việc thực hiện nghĩa

vụ thuế với NSNN

- Thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế đều phải nộp NSNN đúng hạn Phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm về nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ tự nguyện của NNT

Trang 37

- Hỗ trợ và nâng cao hiệu quả công việc của các khâu quản lý thuế khác như: Thực hiện dự toán thu thuế; đôn đốc thu và cưỡng chế nợ thuế đối với các khoản thuế nợ phát hiện từ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

- Kết quả quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là một thước đo để đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế

1.2.2 Cƣỡng chế nợ thuế

1.2.2.1 Khái niệm cưỡng chế nợ thuế

Cưỡng chế thuế là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc NNT nộp tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế đã quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm pháp luật

về thuế theo quy định hoặc khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế hoặc khi người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn không nộp tiền thuế vào NSNN

Để phù hợp với Luật Quản lý thuế sửa đội bổ sung thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế hiện nay đang thực hiện theo Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Việc thực hiện Thông tư này bắt đầu thực hiện từ tháng 2/2014 Trước tháng 2/2014 thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định của quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 8/5/2009 về ban hành quy trình cưỡng chế nợ thuế

Quyết định hành chính thuế gồm: quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế; quyết định tạm dừng cưỡng chế; các thông báo ấn định thuế, quyết định ấn định thuế, các thông báo nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước; quyết định thu hồi hoàn; quyết định gia hạn; quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp

Trang 38

luật về xử lý vi phạm hành chính thuế; quyết định về bồi thường thiệt hại; quyết định hành chính thuế khác theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Đặc điểm của cưỡng chế thuế

- Cưỡng chế thuế là một hành vi thi hành pháp luật về thuế

Cưỡng chế thuế thể hiện sức mạnh quyền lực của Nhà nước, nhà nước dùng biện pháp cần thiết để cưỡng chế người nợ thuế bắt buộc nộp tiền thuế

nợ vào Ngân sách Nhà nước Với tư cách là một thiết chế quyền lực của giai cấp thống xã hội, nhà nước có đầy đủ những ưu thế cần thiết cho việc nắm bắt, chuyển tải cũng như sự tôn trọng ý chí của mình trong việc tổ chức, điều hành một nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu, định hướng nhất định Bằng các hình thức hoạt động của bộ máy nhà nước, nhà nước tác động lên các quan hệ xã hội để đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định, ngăn ngừa các khuynh hướng phát triển sai lêch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện sai trái

- Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế

Chỉ khi các biện pháp thu nợ đã được thực hiện nhưng người nợ thuế vẫn chưa chịu nộp số thuế nợ vào NSNN thì khi đó cơ quan thuế buộc phải dùng đến những biện pháp cưỡng chế thuế

Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế nhằm đảm bảo 100% các khoản

nợ thuế được nộp vào NSNN, góp phần chống thất thu thuế

- Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế không chỉ liên quan đến cơ quan thuế mà còn có sự tham gia của các cơ quan thi hành pháp luật khác

Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cơ quan, ban, ngành chức năng có liên quan như: UBND cấp xã nơi

có đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan liên quan phối

Trang 39

hợp với cơ quan thuế thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu; Kho bạc, ngân hàn, viện kiểm sát đồng thời khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế sẽ gây tốn kém về thời gian, chi phí và nhân lực

1.2.2.3 Các trường hợp bị cưỡng chế thuế

- Các trường hợp bị cưỡng chế thuế theo quy định của Luật pháp, gồm: + NNT nợ tiền thuế, tiền phạt quá 90 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, nộp phạt về thuế theo quy định

+ NNT nợ tiền thuế, tiền phạt đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế + NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn

- Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, người bảo lãnh nộp tiền thuế không chấp hành nộp tiền thuế, tiền phạt theo thông báo của cơ quan thuế

- Người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuế, tiền phạt thay cho NNT trong trường hợp NNT không nộp tiền thuế vào NSNN

- KBNN không thực hiện việc trích tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế vào NSNN theo quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế của cơ quan thuế

- Tổ chức, cá nhân có liên quan không chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế của các cơ quan có thẩm quyền

1.2.2.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế

Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế được thực hiện theo quy định tại Điều

93 Luật Quản lý thuế Trong quá trình thực hiện các biện pháp cưỡng chế:

- Nguyên tắc thứ nhất: Nếu biện pháp cưỡng chế đang áp dụng hết thời

Trang 40

hạn thi hành, nhưng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này vẫn có thể thu hồi

đủ số tiền nợ thuế và người nợ thuế vẫn còn đủ điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế đang áp dụng, thì cơ quan thuế tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế đó mà không cần chuyển sang biện pháp cưỡng chế kế tiếp

- Nguyên tắc thứ hai: Đang áp dụng biện pháp cưỡng chế sau, nhưng có

đủ cơ sở xác định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trước có hiệu quả hơn,

có thể ban hành một (01) quyết định khác để áp dụng lại biện pháp cưỡng chế trước, đồng thời, chấm dứt hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế sau đang áp dụng

1.2.2.5 Các biện pháp cưỡng chế thuế

- Biện pháp thứ nhất: Cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản:

Đây là biện pháp cưỡng chế đầu tiên áp dụng đối với NNT thuộc diện bị cưỡng chế nợ thuế có tài khoản tiền gửi tại KBNN, ngân hàng thương mại và

tổ chức tín dụng và đang hoạt động giao dịch qua tài khoản

- Biện pháp thứ hai: Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền

lương hoặc một phần thu nhập: Đây là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người

nợ thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công do tổ chức, cá nhân khác chi trả

- Biện pháp thứ ba: Cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải

quan đối với hàng hoá nhập khẩu: Đây là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người nợ thuế có hàng hoá nhập khẩu đang làm thủ tục nhập khẩu và không áp dụng được các biện pháp cưỡng chế từ thứ nhất đến thứ ba

- Biện pháp thứ tư: Cưỡng chế bằng biện Thông báo hoá đơn không

còn giá trị sử dụng: Đây là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với người nợ thuế sử dụng hoá đơn, chứng từ trong các giao dịch mua bán mà đã áp dụng

đủ các biện pháp cưỡng chế từ thứ nhất đến thứ tư mà vẫn không thu đủ tiền

Ngày đăng: 27/02/2021, 13:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w