5 của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HÀ NỘI – 2017
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-o0o -
PHẠM THÀNH SƠN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ
TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ MAI CHI
HÀ NỘI - 2017 Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số:
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu dưới đây là sản phẩm nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu được đảm bảo tính chính xác
và có trích nguồn cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn được sử dụng lần đầu và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Mai Chi
Tôi xin cam kết đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác
Ngày tháng năm 2017
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 4
1.1 Nội dung khái quát về thuế 4
1.1.1 Khái niệm về thuế 4
1.1.2 Đặc điểm của thuế 5
1.1.3 Vai trò của thuế 7
1.2 Quản lý nợ thuế 10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nợ thuế 10
1.2.2 Nội dung quy trình quản lý nợ thuế 12
1.2.3 Nguyên nhân nợ thuế và những tác động của nợ thuế 17
1.3 Cưỡng chế nợ thuế 18
1.3.1 Khái niệm cưỡng chế nợ thuế 18
1.3.2 Đặc điểm của cưỡng chế nợ thuế 19
1.3.3 Quy trình cưỡng chế nợ thuế 19
1.4 Các tiêu chí đánh giá quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 21
1.4.1 Các tiêu chí đánh giá quản lý nợ thuế 21
1.4.2 Tiêu chí đánh giá cưỡng chế nợ thuế 24
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 24 1.5.1 Những nhân bên trong ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 24
1.5.2 Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 25
1.6 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 26
1.6.1 Kinh nghiệm của một số nước 26
Trang 5iii
1.6.2 Bài học kinh nghiệm và được vận dụng vào Việt Nam 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀCƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP HÀ NỘI 32
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế thành phố Hà Nội 32
2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của Thành phố Hà Nội 32
2.1.2 Giới thiệu về Cục thuế Thành phố Hà Nội 36
2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội 39
2.2.1 Thực trạng quy trình quản lý nợ thuế 39
2.2.2 Thực trạng công tác lập kế hoạch thu nợ 45
2.2.3 Thực trạng công tác thực hiện quản lý nợ và xử lý thu nợ 46
2.2.4 Trình tự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế Cục thuế Hà Nội 65
2.2.5 Kết quả hoạt động quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế của cục thuế Thành phố Hà Nội 67
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế Hà Nội giai đoạn 2014 – 2016 68
2.3.1 Những kết quả đạt được 68
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 69
2.3.3 Nguyên nhân 71
2.4 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ TẠI CỤC THUẾ TP HÀ NỘI 80
3.1 Tác động của mục tiêuphát triển kinh tế xã hội đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợthuế tại CụcThuế Thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 - 2020 80
3.1.1 Khái quát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 - 2020 80
Trang 6iv
3.2 Yêu cầu về quan điểm về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại
Cục Thuế thành phố Hà Nội 82
3.2.1 Quan điểm về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế thành phố Hà Nội 82
3.2.2 Yêu cầu về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế thành phố Hà Nội 83
3.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nộp thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội 88
3.3.1 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ tại Cục Thuế thành phố Hà Nội 88
3.4 Một số kiến nghị 97
3.4.1 Kiến nghị đến các cơ quan Nhà Nước 97
3.4.2 Kiến nghị đến Tổng Cục Thuế 98
3.4.3 Kiến nghị đến cơ quan quản lý nội tại Cục Thuế thành phố Hà Nội và UBND thành phố 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 7v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTC Bộ tài chính CBCNV Cán bộ công nhân viên CCHC Cải cách hành chính CCNT Cưỡng chế nợ thuế CNTT Công nghệ thông tin
ĐTNT Đối tượng nộp thuế HĐND Hội đồng nhân dân HTKK Hỗ trợ kê khai KBNN Kho bạc nhà nước
KT – XH Kinh tế - xã hội NHTM Ngân hàng thương mại
NNT Người nộp thuế NSNN Ngân sách nhà nước
SXKD Sản xuất kinh doanh TCT Tổng cục thuế TKTN Tự khai tự nộp
Trang 8vi
TMS
Hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (Transportation Management Systems)
TTHC Thủ tục hành chính TTHT Truyền thông hỗ trợ UBND Ủy ban nhân dân VAT Thuế giá trị gia tăng
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng ngân sách nhà nước ta trong
giai đoạn 2013 - 2016 8
Bảng 2.1: Thông tin Cục Thuế TP Hà Nội 36
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Cục Thuế TP Hà Nội 38
Bảng 2.2: Kết quả thu thuế tại Cục Thuế TP Hà Nội qua hai năm 45
Bảng 2.3: Tình hình nợ thuế luỹ kế qua các năm 47
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp công tác thu nợ thuế qua 3 năm 2014-2-16 tại Cục Thuế TP Hà Nội trong hai năm 50
Bảng 2.5 Số nợ thuế phân theo ngành nghề 53
Bảng 2.6: Các biện pháp thu nợ đã thực hiện tại Cục thuế Thành phố Hà Nội trong 3 năm qua 59
Bảng 2.7 : Số cuộc thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế Thành phố Hà Nội trong 3 năm qua 64
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Hình ước tính tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội 2016 .33
Hình 2.2: Đánh giá của các doanh nghiệp về hình thức cướng chế nợ thuế trên địa bàn Hà Nội 66
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Thuế có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Thuế là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước và là công cụ hữu hiệu để Nhà nước tiến hành điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Một hệ thống thuế phù hợp có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ngân sách quốc gia, tạo môi trường công bằng thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động Tuy nhiên, để thuế trở thành công cụ đắc lực trong quản lý kinh tế Nhà nước thì một mặt cần hoàn thiện bản thân hệ thống thuế, mặt khác cần tăng cường công tác quản lý thuế
Hiệu quả công tác quản lý thuế phụ thuộc trước hết vào đơn vị quản lý thuế, đồng thời cũng phụ thuộc lớn vào các đối tượng nộp thuế Việc nhận diện chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý thuế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách và các giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và địa phương Tuy nhiên, đặc điểm của thuế là không hoàn trả trực tiếp, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá Vì vậy, một số tổ chức, cá nhân vẫn còn tâm lý muốn chậm chễ, chiếm dụng tiền thuế làm phát sinh số thuế nợ đọng Ngoài ra, một số NNT do khó khăn về tài chính, gặp rủi ro hoặc sự cố bất thường gây ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế cũng làm phát sinh nợ đọng thuế
Nợ đọng thuế là phổ biến, song nếu như số nợ đọng thuế là lớn và thường xuyên thì sẽ có tác động không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nợ thuế cao cũng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả, hiệu lực của chính sách cũng như công tác quản lý của CQT Do vậy, việc đẩy mạnh công tác quản lý
nợ thuế, hạn chế đến mức thấp nhất nợ đọng thuế là một trong những mục đích quan trọng của ngành thuế
Quản lý nợ đọng thuế và cưỡng chế nợ thuế là khâu cuối cùng trong hệ thống quản lý thuế, là một trong những chức năng chính và cơ bản của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế Quản lý được nợ đọng và kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế
Việc triển khai thực hiện Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; ngược lại việc quản lý nợ đọng tốt lại có tác động to lớn với công tác quản lý thuế nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ
Trang 112
phía NNT và CQT
Do đó, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với việc giảm số thuế nợ đọng, tăng thu cho NSNN mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung
Trong những năm qua công tác quản lý nợ thuế ở Thành phố Hà Nội đem lại nhiều kết quả tích cực Nhưng thực tiễn quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Cục thuế Thành phố Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Tình trạng nợ đọng thuế vẫn diễn ra nhiều, số thuế nợ đọng ngày càng tăng cao, gây thất thu lớn cho NSNN
Do đó việc tìm kiếm giải pháp nhằm hỗ trợ, tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Cục thuế Thành phố Hà Nội là vấn đề mang tính thời sự và cấp bách ở Thành phố Hà Nội hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
nên tôi đã lựa chọn “Giải pháp tăng cường công tác Quản lý nợ thuế và Cưỡng chế
nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế của
mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế TP Hà Nội, luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
Phân tích thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế TP
Hà Nội, những mặt tích cực cũng như những hạn chế trong công tác quản lý nợ, cưỡng chế thuế tại Cục thuế TP Hà Nội thời gian qua, phân tích, đánh giá nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cụ thể của nó để đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế TP Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:Đề tài tại tập trung đi sâu nghiên cứu công tác quản lý
nợ thuế đối với các người nộp thuế tại Cục thuế TP Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ
thuế đối với các tổ chức cá nhân kinh doanh tại địa bàn Thành phố Hà Nội và do Cục thuế Thành phố Hà Nội quản lý từ năm 2014-2016, không bao gồm công tác quản lý
nợ và cưỡng chế thuế tại các Chi cục thuế trực thuộc Cục thuế TP Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh đối với
Trang 12Từ đó, thống kê so sánh để đưa ra số liệu cuối kỳ, so sánh số liệu qua các năm
từ đó cho ra những phân tích, đánh giá cụ thể nhất, thuyết phục nhất; căn cứ vào đó, luận văn sẽ đưa ra những giải pháp và kiến nghị xác thực nhất, đảm bảo đạt hiệu quả nghiên cứu
Số liệu trong bài là các số liệu về tình hình quản lý thuế tại Cục thuế Thành phố
Hà Nội Các số liệu về thu, thực hiện kế hoạch thu thuế, thanh tra, kiểm tra công tác thuế,…được lấy dựa trên các báo cáo của các đơn vị nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài đã hệ thống hoá đuợc những nội dung cơ bản về quản lý nợ thuế Qua đó góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về các biện pháp quản lý nợ
Về thực tiễn: Đề tài đã khảo sát, đánh giá thực trạng nợ thuế và công tác quản
lý nợ thuế tại Cục thuế TP Hà Nội, chỉ ra những thành tích đã đạt được và những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Cục thuế TP Hà Nội thời gian qua Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Cục Thuế TP
Hà Nội
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế Thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nợ và cưỡng chế nợ tại Cục thuế Thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 1
Trang 134
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ
CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1.1 Nội dung khái quát về thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của
nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho
việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước [1]
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước Cùng với
sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau: Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn,
từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật [1]
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thông nhất tuyệt đối về khái niệm thuế Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước” [19]
Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quý tiền tệ tập trung
Trang 145
của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”
Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức,
cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”
Trên góc độ kinh tế học:” Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.”
Theo từ điển tiếng Việt:” Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.”
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mỗi quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội
Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước
Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ các đặc trưng trên của thuế, ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế là:
“Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định.” [17]
Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo
dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Trang 156
Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác [11] Những đặc trưng đó là:
1.1.2.2 Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế
1.1.2.3 Tính pháp lý cao
Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật
1.1.2.4 Huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước
Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện động viên nguồn tài chính cho nhà nước, là chức năng cơ bản của thuế Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua
đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước Chức năng này
đã tạo ra những tiền đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân sách nhà nước
1.1.2.5 Điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và
Trang 16Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng huy động nguồn lực tài chính quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển Chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho nhà nước đã tạo ra những điều kiện để nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội Điều này tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, do đó
mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính
Cùng với sự thống nhất đó, thì giữa hai chức năng này của thuế cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của nhà nước tăng lên Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế
và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế
Do vậy, trong quá trình quản lý thuế, hoạch định các chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần phải chú ý đến mỗi quan hệ giữa chức năng điều tiết kinh tế và chức năng huy động nguồn tài chính của thuế
1.1.3 Vai trò của thuế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây :
1.1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước [2]
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội
bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu
Trang 178
ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền
kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng ở nước ta, Thuế thực sự trở thành
nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước từ năm 2013 Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách [79]
Bảng 1.1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng ngân sách nhà nước ta trong giai
tỏ thuế là nguồn thu quan trọng nhất của NSNN
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế đã hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm
tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm
1.1.3.2 Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy điều tiết sản xuất, kinh doanh phát triển [2]
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có
xu hướng gia tăng Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này
Trang 189
Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện thông qua các loại thuế gián thu và thuế trực thu, mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ
Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh
ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn
1.1.3.3 Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh [2]
Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế
đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù
và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.3.4 Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát [2]
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá
Trang 1910
cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động
1.2 Quản lý nợ thuế
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nợ thuế
1.2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nợ thuế
Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải
nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính và xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế, đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN 17]
Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế chưa nộp vào NSNN quá
thời hạn quy định
Khoản nợ là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh, trên cơ sở
đó, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp thu nợ hiệu quả đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước sau khi áp dụng các biện pháp đó
Thực tế trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế hiện nay, mỗi một khoản
nợ thường sẽ có các nguồn gốc phát sinh khác nhau, có những khoản nợ do người nộp thuế tự kê khai, người nộp thuế chậm nộp, hoặc cũng có những khoản nợ do cơ quan có thẩm quyền ấn định, bị phạt, truy thu hoặc các khoản nợ thuế có nguồn gốc phát sinh từ các dự án vay vốn hợp tác với nước ngoài, viện trợ không hoàn lại Phục
vụ công tác quản lý thuế, nhằm đảm bảo quản lý đúng các khoản thuế phát sinh thì
Bộ Tài chính cũng đã ban hành danh mục mục lục ngân sách nhà nước để người nộp thuế tự kê khai nộp thuế Trên cơ sở đó, cơ quan thuế có thể quản lý đúng, đủ các khoản thuế phát sinh một cách thuận lợi
Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và
số ngày nợ thuế của một khoản nợ
Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo
ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuếnợ là ngày tiếp theo ngày
hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Trang 2011
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuếnợ là ngày khoản nợ được
nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác
1.2.1.2 Đặc điểm của nợ thuế
Thứ nhất, nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Thuế là một hành vi phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà người có nghĩa
vụ phải nộp cho Nhà nước Rõ ràng, việc nộp thuế luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh
tế của NNT Vì thế tâm lý trốn thuế, tránh thuế là tâm lý phổ biến của NNT Đặc biệt
ở nước ta khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu
rõ bản chất và lợi ích của thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho CQT để thu thuế Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội Vì thế, để hạn chế nợ thuế, bên cạnh những biện pháp có tính chất pháp luật để cưỡng chế NNT tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền, phổ biến để NNT tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng
Thứ hai, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN Qui phạm pháp luật thuế là các qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện có điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các qui định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, ĐTNT, NNT và thời gian phải nộp thuế
Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo qui định của pháp luật thuế Trong luật quản lý thuế qui định mức xử phạt vi phạm về hành vi chậm nộp tiền thuế, tiền phạt là 0,05%/ ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đó
Thứ ba, nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Hành vi trốn thuế bao gồm: chậm nộp tiền thuế và không nộp tiền thuế
Trốn thuế: là hành vi cố ý vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp cho NN
Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Về chủ quan,
do NNT cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng hoặc trốn thuế Như vậy, trong trường hợp này, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật, phát sinh
do ĐTNT không tự giác kê khai, nộp thuế đúng hạn và cố tình vi phạm pháp luật Về
Trang 2112
khách quan, do có khó khăn về SXKD hoặc thu nhập chẳng hạn như: khủng hoảng kinh tế, lạm phát… mà NNT tạm thời không có khả năng để thanh toán nghĩa vụ cho NSNN
Thứ tư, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật đề giảm được 1 phần nghĩa vụ thuế phải nộp Ví dụ: doanh nghiệp kê khai chi phí thuê bản quyền sáng chế, nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí đầu vào, hạ thấp TNCT Còn nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất Đó là một nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình hoặc dây dưa nộp chậm
1.2.2 Nội dung quy trình quản lý nợ thuế
Từ năm 2005 đến nay, Tổng cục Thuế đã ban hành nhiều quy trình quản lý nợ thuế kèm theo các quyết định số 1123/QĐ-TCT ngày 24/10/2005, số 477/QĐ-TCT ngày 15/05/2008, số 752/QĐ-TCT ngày 14/05/2010, số 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011, và mới đấy nhất là Quy trình quản lý nợ thuế kèm theo Quyết đinh số: 2379/QĐ-TCT ngày 22/12/2014 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2015 để áp dụng trong phạm vi Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế; Vụ Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Tổng cục Thuế, Phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Cục Thuế; đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế và các bộ phận quản lý nợ thuộc các đội thuế thuộc Chi cục Thuế (sau đây viết tắt là bộ phận quản lý nợ); Các
bộ phận tham gia thực hiện quy trình bao gồm: phòng/đội kiểm tra thuế, phòng/đội quản lý thuế thu nhập cá nhân, phòng quản lý đất đai (nếu có) hoặc bộ phận quản lý các khoản thu từ đất thuộc phòng/đội tổng hợp – nghiệp vụ - dự toán, phòng quản lý doanh nghiệp lớn (nếu có) hoặc bộ phận quản lý doanh nghiệp lớn thuộc phòng/đội kiểm tra thuế, đội trước bạ và thu khác, đội thuế liên xã, phường, thị trấn Phòng, đội
có liên quan đến công tác quản lý nợ thuế như: kê khai và kế toán thuế, thanh tra, ấn chỉ, tin học, tuyên truyền – hỗ trợ; Công chức thuộc bộ phận quản lý nợ, công chức thuộc bộ phận tham gia thực hiện quy trình để tổ chức quản lý nợ thuế Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế như sau [15]:
1.2.2.1.Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
Việc xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ gồm 5 bước như sau:
- Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện
- Lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch
- Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã lập ở điểm 2 cho cơ quan thuế cấp trên hàng năm
- Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
Trang 2213
- Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
1.2.2.2 Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ
Phân công quản lý nợ thuế
Hàng tháng, sau ngày khoá sổ thuế một (01) ngày làm việc, trưởng phòng, đội trưởng đội quản lý nợ có trách nhiệm: Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản
lý nợ hoặc công chức tham gia quản lý nợ
Phân loại tiền thuế nợ
Căn cứ vào tiêu thức phân loại nợ thuế, công chức quản lý nợ thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của người nợ thuế còn nợ tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh theo nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ để phân loại các khoản nợ
Thực hiện đôn đốc thu nộp
* Đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện đôn đốc thu nộp bằng hình thức gọi điện thoại Trường hợp đã được sự đồng ý của NNT và điều kiện về cơ
sở hạ tầng thuận lợi, có thể đôn đốc qua hình thức nhắn tin và gửi thư điện tử cho chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của NNT thông báo về số tiền thuế
- Trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt Tại Cục Thuế, Thông báo 07/QLN có thể ủy quyền cho trưởng phòng quản lý nợ hoặc trưởng phòng tham gia thực hiện quy trình ký
- Sau khi lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt, Thông báo 07/QLN được gửi cho NNT
- Sau khi phát hành Thông báo số 07/QLN, nếu phát hiện có sai sót, phòng, đội quản lý nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình phải ban hành lại Thông báo 07/QLN, trong đó nêu rõ thông báo này thay thế cho thông báo đã ban hành
* Đối với khoản tiền thuế nợ quá thời hạn nộp từ 61 ngày hoặc trước 30 ngày tính đến thời điểm hết thời gian gia hạn nộp thuế, thời gian không tính tiền chậm nộp: công chức thuộc bộ phận quản lý nợ thực hiện xác minh thông tin để thực hiện cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật
Trang 2314
* Đối với khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế; khoản tiền thuế nợ đã quá thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn không tính tiền chậm nộp; NNT có hành vi bỏ địa chỉ kinh doanh, tẩu tán tài sản; NNT không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế: bộ phận quản lý nợ trình thủ trưởng
cơ quan thuế ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp cưỡng chế phù hợp
* Các trường hợp không ban hành Thông báo 07/QLN
- Trường hợp được nộp dần tiền thuế nợ, cơ quan thuế không thực hiện cưỡng chế nợ thuế và không ban hành Thông báo 07/QLN, thực hiện đôn đốc thu nộp theo Quyết định nộp dần tiền thuế nợ
- Đối với tiền thuế đang chờ điều chỉnh, cơ quan thuế không tính chậm nộp và không ban hành Thông báo 07/QLN Trường hợp cần thiết mời NNT đến để đối chiếu, điều chỉnh tiền thuế nợ, cơ quan thuế lập Thông báo điều chỉnh tiền thuế nợ (mẫu số 11/QLN) gửi NNT
* Đối với các trường hợp tiền thuế nợ khó thu; tiền thuế nợ đang xử lý; hộ gia đình và cá nhân có số tiền thuế nhỏ: ở địa bàn có số lượng NNT lớn, biên chế công chức quản lý nợ, trang thiết bị làm việc chưa đảm bảo, cơ quan thuế có thể chưa ban hành Thông báo 07/QLN
Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, thành phố ban hành quy định về số tiền thuế nợ nhỏ chi tiết theo từng nhóm NNT (ngưỡng phải ban hành Thông báo 07/QLN), phù hợp với từng địa bàn quận/huyện để tạm thời chưa ban hành Thông báo 07/QLN Trường hợp cần thiết phải ban hành Thông báo 07/QLN, cơ quan thuế có thể ban hành thông báo và gửi NNT theo quý hoặc 6 tháng một lần, đảm bảo thực hiện cưỡng chế nợ thuế
Đối với số tiền thuế nợ của hộ kinh doanh dưới ngưỡng phải ban hành Thông báo 07/QLN, bộ phận quản lý nợ lập danh sách tổng hợp tiền thuế nợ (theo mẫu số 15/QLN), trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt và chuyển đội thuế phường, xã để thông báo công khai
Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn thuế kiêm bù trừ số thuế nộp NSNN
Xem xét gia hạn nộp thuế: Đối với trường hợp NNT thuộc diện được gia hạn nộp thuế theo qui định của pháp luật nhưng hết thòi hạn nộp tờ khai thuế chưa lập hồ
sơ gia hạn, cơ quan thuế đã chuyển sang theo dõi nợ thuế, sau đó NNT có hồ sơ, văn bản đề nghị gia hạn, bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thuế có trách nhiệm kiểm tra
Trang 24Thu tiền thuế nợ thông qua hoàn thuế kiêm bù trừ thu NSNN: Trong trường hợp
có đề nghị của phòng, đội kê khai và kế toán thuế về việc xác nhận tiền thuế nợ của người nộp thuế, phòng QLN & CCT thực hiện lập phiếu xác nhận tình trạng nợ thuế; Chuyển lại phòng, đội kê khai - kế toán thuế để có cơ sở lập Quyết định hoàn trả kiêm
bù trừ thu NSNN
Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ
- Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh
+ Đối với tiền thuế đã nộp NSNN chờ điều chỉnh do sai sót:
Trường hợp người nộp thuế ghi sai các chỉ tiêu trên chứng từ nộp tiền: Căn cứ đăng ký thuế, khai thuế và mục lục NSNN, nếu phát hiện sai sót, phòng, đội quản lý
nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình lập danh sách các sai sót gửi sang phòng, đội kê khai và kế toán thuế để thông báo cho người nộp thuế thực hiện điều chỉnh kê khai, nộp tiền thuế vào NSNN theo đúng quy định
Yêu cầu KBNN ghi đầy đủ thông tin trên Bảng kê chứng từ nộp NSNN gửi cơ quan thuế như tên người nộp thuế, mã số thuế, số và ngày chứng từ, mục lục ngân sách, kỳ thuế số và ngày Quyết định xử lý về thuế
Đề nghị KBNN và NHTM thực hiện điều chỉnh kịp thời các khoản tiền thuế đã nộp NSNN bị sai lệch
Trường hợp có sai sót do cơ quan thuế:
Trang 2516
Đối với sai sót do nhập sai dữ liệu: Nếu phát hiện sai sót, phòng, đội quản lý nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình thông báo cho phòng, đội kê khai và kế toán thuế thực hiện điều chỉnh
+ Đối với các khoản tiền thuế đã nộp nhưng chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, phòng, đội quản lý nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình thông báo cho phòng, đội kê khai và kế toán thuế, phòng, đội kiểm tra thuế để xác định chứng từ nộp thuế của người nộp thuế tại KBNN, NHTM để điều chỉnh giảm số tiền thuế nợ của người nộp thuế trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế
+ Đối với các khoản nộp được thực hiện bằng hình thức ghi thu - ghi chi qua ngân sách, phòng, đội quản lý nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình đề nghị phòng, đội kê khai và kế toán thuế, kiểm tra thuế xác định thời hạn nộp ngân sách, theo đó điều chỉnh lại thời hạn nộp thuế trên các ứng dụng quản lý thuế
+ Đối với các nguyên nhân từ quá trình nâng cấp ứng dụng quản lý thuế
Phòng, đội quản lý nợ hoặc phòng, đội tham gia thực hiện quy trình phối hợp với phòng, đội kê khai và kế toán thuế phát hiện các khoản nợ chênh lệch do nguyên nhân này, chuyển bộ phận tin học để tiến hành sửa lỗi ứng dụng kịp thời
Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ thuế
* Báo cáo
- Báo cáo bằng văn bản: bộ phận quản lý nợ lưu trữ các báo cáo của cơ quan thuế đã gửi lên cơ quan thuế cấp trên
- Báo cáo gửi bằng hình thức điện tử, nhật ký theo dõi tiền thuế nợ của NNT và
sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ: lưu trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế tại cơ quan thuế các cấp quản lý NNT
* Hồ sơ
- Bộ phận ban hành văn bản (quản lý nợ/tham gia thực hiện quy trình) lưu trữ
hồ sơ bao gồm: thông báo tiền thuế nợ và tiền chậm nộp, các quyết định, thông báo
áp dụng các biện pháp đôn đốc thu tiền thuế nợ và xử lý nợ, quyết định xoá nợ, văn bản chấp thuận gia hạn nộp thuế, các giấy tờ, sổ sách, tài liệu khác liên quan đến tình hình nợ thuế của NNT
- Hồ sơ được sắp xếp theo từng NNT
- Việc lưu trữ hồ sơ thực hiện theo quy định về văn thư lưu trữ của nhà nước
* Dữ liệu lịch sử về nợ thuế tại cơ quan thuế các cấp
Bộ phận tin học thực hiện lưu trữ, đảm bảo an toàn bảo mật đối với dữ liệu đã
xử lý vào cơ sở dữ liệu trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế bao gồm toàn bộ báo cáo, nhật ký, sổ tổng hợp, Thông báo 07/QLN
Trang 2617
1.2.3 Nguyên nhân nợ thuế và những tác động của nợ thuế
1.2.3.1 Nguyên nhân nợ thuế
Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể khái quát một
số nhóm nguyên nhân chủ yếu sau [17; 18]:
Khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, chính sách quản lý của Nhà nước thay đổi
Những năm gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn, không có tiền nộp thuế Riêng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, dù đã hoàn thành công trình nhưng không được giải ngân kịp thời dẫn đến không có nguồn để nộp thuế Mặt khác, ngân hàng đang siết chặt việc cho vay khiến không ít doanh nghiệp không tiếp cận được vốn để phục hồi sản xuất kinh doanh Hoặc về quy định tỷ lệ tính tiền phạt chậm nộp, có thời điểm tỷ
lệ tính phạt chậm nộp thuế thấp hơn lãi suất ngân hàng nên doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng tiền thuế…
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh một số doanh nghiệp đã gặp phải thiên tai, tai nạn bất ngờ dẫn đến doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả nợ thuế, cũng như tiếp tục hoạt động kinh doanh
Thứ nhất, đại bộ phận người dân chưa phê phán và lên án mạnh mẽ các hành vi
gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ, phối hợp với CQT để thu thuế vào NSNN Do đó, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, chiếm dụng tiền thuế của NSNN còn xảy ra phổ biến, vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng giữa các ĐTNT
Thứ hai, do ý thức chấp hành luật thuế của một bộ phận NNT còn hạn chế, chưa
tự giác nộp thuế, cố tình dây dưa, chây ỳ, chiếm dụng tiền thuế của NSNN để thực hiện những mục đích khác
Thứ ba, do một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, sản xuất kinh doanh
thua lỗ nhiều năm nên không có nguồn lực để nộp thuế, dẫn đến giải thể, phá sản hoặc
tự bỏ kinh doanh như:Liên doanh VINASIAM nợ 4,6 tỷ đồng Công ty Đường Quảng Bình đã giải thể hơn chục năm rồi, nhưng để lại hậu quả 3,8 tỷ đồng nợ thuế và liên đới gánh nợ hàng chục tỷ đồng tiền vay ngân hàng của hàng trăm hộ trồng mía
Thứ tư, NNT từ trước đã quen với việc đôn đốc, ra thông báo nộp thuế của CQT
Vì vậy nhiều ĐTNT chưa hình thành thói quen tự giác nộp thuế vào NSNN khi chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp
Thứ năm, về cơ chế, chính sách:
Trang 2718
Cơ chế chính sách vẫn còn những bất cập như: Luật Quản ký thuế sửa đổi, bổ sung cho phép người nộp thuế nộp dần tiền thuế nhưng phải được tổ chức tín dụng bảo lãnh nên hiếm trường hợp được nộp dần Luật Doanh nghiệp không quy định trường hợp đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh do nợ thuế thì không được phép thành lập doanh nghiệp khác nên một số người nộp thuế có
số tiền thuế đã lợi dụng bỏ địa điếm kinh doanh và thành lập doanh nghiệp khác hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước
Cơ chế chính sách chưa đồng bộ cũng gây khó khăn cho công tác thu hồi nợ thuế như việc kê biên, bán đấu giá tài sản kê biên để thu hồi nợ thuế còn chậm trễ, tòa án chậm xét xử các vụ án liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT…
1.2.3.2 Những tác động của nợ thuế
Nợ thuế không những có tác động nghiêm trọng với công tác quản lý thuế mà còn có tác động nghiêm trọng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Những tác động đó có thể khái quát trên một số mặt sau:
Thứ nhất, Nợ thuế gây thất thu cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu của
NSNN Yêu cầu đối với quản lý thuế là phải thu đúng, thu đủ và thu kịp thời số thuế phải nộp vào NSNN để Nhà nước có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các nhiệm vụ
về phát triển kinh tế - xã hội Nếu nguồn tài chính không đủ hoặc không kịp thời thì các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ sẽ không thực hiện đúng tiến độ, các cân đối kinh tế bị phá vỡ, các nhiệm vụ về an sinh, xã hội không được thực hiện làm cho kinh
tế suy thoái hoặc kém hiệu quả
Thứ hai, nợ thuế gây mất công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các ĐTNT và tạo
môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân đang kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
Thứ ba, nợ thuế tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội liên quan đến công
tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý nợ thuế
1.3 Cưỡng chế nợ thuế
1.3.1 Khái niệm cưỡng chế nợ thuế
Cưỡng chế nợ thuế là việc đến thời hạn qui định được ghi trong thông báo nợ thuế hoặc trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhân hoặc
tổ chức vi phạm về thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì
bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế theo pháp luật qui định, như khấu trừ vào tiền lương, thu nhập hoặc khấu trừ tiền từ tài khoản của
cá nhân, tổ chức tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tài chính khác; hoặc
Trang 2819
cưỡng chế kê biên tài sản [18]
1.3.2 Đặc điểm của cưỡng chế nợ thuế
1.3.2.1 Cưỡng chế nợ thuế là một hành vi thi hành pháp luật về thuế
Cưỡng chế nợ thuế thể hiện sức mạnh quyền lực của Nhà nước, Nhà nước dùng biện pháp cần thiết để cưỡng chế người nợ thuế bắt buộc nộp tiền thuế nợ vào NSNN Bởi vì với tư cách là một thiết chế quyền lực của giai cấp thống trị xã hội, Nhà nước
có đầy đủ những ưu thế cần thiết cho việc nắm bắt, chuyển tải cũng như sự tôn trọng,
ý chí của mình trong việc tổ chức, điều hành một nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu, định hướng nhất định Bằng các hình thức hoạt động của bộ máy Nhà nước, Nhà nước tác động lên các quan hệ xã hội để đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định, ngăn ngừa các khuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện sai trái
1.3.2.2 Cưỡng chế nợ thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Chỉ khi các biện pháp thu nợ đã được thực hiện nhưng người nợ thuế vẫn chưa chịu nộp số thuế nợ vào NSNN thì khi đó CQT buộc phải dùng đến những biện pháp cưỡng chế thuế Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế đảm bảo 100% các khoản nợ thuế được nộp vào NSNN, góp phần chống thất thu thuế
1.3.2.3 Thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế không chỉ liên quan đến CQT
mà còn có sự tham gia của các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp với các
cơ quan, ban, ngành chức năng có liên quan: kho bạc, Ngân hàng, công an, viện kiểm soát… Đồng thời khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế sẽ gây tốn kém về thời gian, chi phí và nhân lực Chẳng hạn như cần có thời gian chuyển hồ sơ cho bên công an hay thông báo trích, chuyển tài khoản của khách hàng…
1.3.3 Quy trình cưỡng chế nợ thuế [14]
1.3.3.1 Nguyên tắc khi thực hiện cưỡng chế nợ thuế
Cưỡng chế nợ thuế là việc thực thi pháp luật về thuế nên cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế thuộc đối tượng được cơ quan thuế ban hành quyết định cho nộp dần tiền nợ thuế, tiền phạt
- Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tiếp theo được thực hiện khi không áp dụng được các biện pháp cưỡng chế trước đó hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng chưa thu đủ tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế theo quyết định hành chính thuế; trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền
Trang 2920
lương hoặc thu nhập thì chỉ áp dụng đối với người nộp thuế là cá nhân
- Nếu biện pháp cưỡng chế đang áp dụng hết thời hạn thi hành, nhưng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này vẫn có thể thu hồi đủ số tiền nợ thuế và người nợ thuế vẫn còn đủ điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế đang áp dụng, thì cơ quan thuế tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế đó mà không cần chuyển sang biện pháp cưỡng chế kế tiếp
1.3.3.2 Các bước thực hiện đối với một biện pháp cưỡng chế nợ thuế:
- Bước 1: Lập danh sách đối tượng phải xác minh thông tin
- Bước 2: Thu thập và xác minh thông tin của đối tượng chuẩn bị cưỡng chế
- Bước 3: Các trường hợp phải tổng hợp vào danh sách cưỡng chế bằng biện pháp cưỡng chế trước hoặc biện pháp cưỡng chế sau
- Bước 4: Ban hành quyết định cưỡng chế
- Bước 5: Gửi quyết định cưỡng chếcho đối tượng bị cưỡng chế và các cơ quan,
tổ chức có liên quan
- Bước 6: Tổ chức thực hiện cưỡng chế, theo dõi quá trình thực hiện cưỡng chế
nợ thuế
1.3.3.3 Các biện pháp cưỡng chế thuế
- Cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản
- Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiên lương hoặc một phần thu nhập
- Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng
- Cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên
- Cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ
- Cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
1.3.4 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt, độc lập với nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ và bổ sung cho nhau Quản lý thuế chỉ đạt chỉ tiêu hiệu quả cao khi công tác quản lý nợ và cưỡng chế
nợ thuế song hành, điều này thể hiện qua các khía cạnh sau:
Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng chế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ, các tiêu chí đánh giá rủi ro trong quản lý nợ thì cơ quan thuế xác định được những khoản nợ cần ưu tiên tập trung
để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạn như có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy
Trang 3021
các khoản nợ thông thường chưa cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định được những khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như trích tiền gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng… mục đích cuối cùng
là thu đủ thuế vào ngân sách nhà nước
Quản lý nợ tốt sẽ dẫn tới việc đôn đốc của cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm, khi số lượng
nợ chuyển sang nợ khó thu giảm đi, nó sẽ tác động trực tiếp đến khối lượng công việc cưỡng chế thuế, từ đó chi phí cưỡng chế thuế giảm đồng thời đạt được yêu cầu đặt ra đối với công tác cưỡng chế thuế là tính hiệu quả khi chi phí cưỡng chế của cơ quan thuế là thấp nhất và hiệu quả thu nợ là tối đa
Ở chiều tác động ngược lại, việc cưỡng chế có hiệu quả sẽ trực tiếp làm cho số tiền nợ thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang được theo dõi tại cơ quan thuế sẽ giảm đi Khi số lượng các khoản nợ giảm thì khối lượng công việc quản lý nợ cũng giảm, từ đó cơ quan thuế sẽ tập trung huy động nguồn lực vào công tác tuyên truyền,
hỗ trợ người nộp thuế, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hồ sơ khai thuế
Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế có mối quan hệ tác động tương hỗ, do đó nghiên cứu nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nợ cũng chính là
để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần nâng cao năng lực quản lý thuế Vậy, hiệu quả của công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế được thể hiện ra sao và theo các tiêu chí nào chính là những vấn đề cần được nghiên cứu làm rõ
1.4 Các tiêu chí đánh giá quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
1.4.1 Các tiêu chí đánh giá quản lý nợ thuế
1.4.1.1 Tiêu chí về công tác tổ chức quản lý nợ thuế
- Xây dựng chương trình, kế hoạch thu nợ và cưỡng chế trên địa bàn quản lý
- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với các đội thuế
- Trực tiếp theo dõi tình hình nợ, lập danh sách đối tượng thuế và thực hiện phân loại nợ thuế theo quy định; phân tích tình trạng nợ thuế của từng người nộp thuế trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý
- Thu thập thông tin về người nộp thuế còn nợ tiền thuế, phân tích nghiên cứu
và đề xuất biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, tiền phạt, cung cấp danh sách các tổ chức và các cá nhân chây ỳ nợ thuế để thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 3122
- Lập hồ sơ đề nghị cưỡng chế và đề xuất biện pháp thực hiện cưỡng chế thu tiền thuế nợ trình Lãnh đạo Chi cục thuế ra quyết định cưỡng chế Tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính thuế theo thẩm quyền hoặc tham mưu, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền, thực hiện cưỡng chế thu tiền nợ theo quy định
- Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền phạt, theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt vào Ngân sách Nhà nước, thực hiện xác nhận tình trạng nợ Ngân sách Nhà nước
- Tham mưu, đề xuất xử lý các hồ sơ xin khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ thuế và giải quyết các hồ sơ xử lý khác về nợ thuế (bao gồm cả các hồ sơ xử lý nợ thuế do các đội thuế chuyển lên); thẩm định và chuyển các hồ sơ về nợ thuế lên cơ quan cấp trên và các cơ quan có liên quan để phối hợp thực hiện các biện pháp xử lý nợ thuế
và thu hồi nợ thuế với các trường hợp không thuộc thẩm quyền của Chi Cục Thuế
- Theo dõi kết quả xử lý nợ của cơ quan thuế cấp trên và thực hiện các quyết đinh xử lý nợ đối với người nộp thuế
- Tổng hợp, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
- Thực hiện việc bảo quản và lưu trữ hồ sơ ngiệp vụ, tài liệu và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của đơn vị theo quy định
1.4.1.2 Tiêu chí về tình hình nợ thuế
Bao gồm các khoản nợ thuế sau: [15]
Nợ có khả năng thu: Theo thống kê, khoản nợ thuộc nhóm này thường chủ yếu
là các khoản nợ mới phát sinh sau thời hạn nộp thuế được quy định tại các văn bản pháp quy về thuế Do vậy, nợ có khả năng thu được hiểu là số tiền nợ thuế của người
nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng đã hết thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp, đồng thời không thuộc nhóm nợ khó thu và nhóm nợ không có khả năng thu
Tùy thuộc vào tính chất mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế, xã hội thì cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày
Nợ khó thu: Theo cách phân loại này, nợ khó thu bao gồm số tiền thuê nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản
án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh, nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản
Trang 3223
Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quan điều tra đã phong tỏa tài khoản, sổ sách kế toán nên người nộp thuế không thể thực hiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng phải nộp vào tài khoản của cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của cơ quan thuế vẫn báo nợ Khi người nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan đến nghĩa vụ thuế hoặc không liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợ của người nộp thuế này vào nhóm nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền
Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính hoặc ngừng và tạm ngừng kinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phân loại này vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương tự, đối với trường hợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền nợ thuế của người nợ thuế
đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phân vào nhóm này để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp
Nợ chờ xử lý miễn, giảm: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm theo quy định của pháp luật về thuế, bao gồm: xử lý gia hạn nộp thuế, xử lý xóa nợ, xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với sô tiền thuế được hoàn trả là số tiền thuê nợ của người nộp thuế
Nợ chờ điều chỉnh: Là tiền thuế đã nộp NSNN nhưng đang chờ cơ quan thuế làm thủ tục điều chỉnh
1.4.1.3 Tiêu chí về tỷ lệ thu hồi tiền nợ thuế
Là việc đánh giá tỷ lệ nợ quá hạn /Tổng số thuế ghi thu: Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất phản ánh hiệu quả của công tác đôn đốc thu nộp thuế của cơ quan thuế Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của công tác đôn đốc nợ đối với những khoản nợ trong hạn của cơ quan thuế trong năm Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả quản lý nợ và đôn đốc thu nộp càng cao và ngược lại
Tỷ lệ nợ có khả năng thu (hoặc nợ không có khả năng thu…)/Số thuế ghi thu Tiêu chí này phản ánh tình hình các loại nợ cụ thể Tiêu chí này phản ánh hiệu quả công tác quản lý nợ và đốc thu của cơ quan thuế đối với từng loại nợ đạt đến mức độ nào tỷ lệ này cũng cho biết khả năng thu hồi nợ ở mức nào
1.4.1.4 Tiêu chí về xử lý nợ thuế
Đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế: Thực hiện đôn đốc bằng điện thoại , nhắn tin, gửi mail cho đối tượng nợ thuế
Trang 3324
Đối với khoản nợ từ ngày 31 trở lên, kể từ ngày hết hạn nộp thuế: Thực hiện: Lập thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp theo mẫu số 07/QLN (ban hành kèm theo quy trình) trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế; các khoản nợ thuế của NNT tại Thông báo 07/QLN bao gồm các khoản nợ mới phát sinh từ 01 ngày trở lên Sau khi lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận được giao nhiệm vụ quản lý nợ gửi Thông báo07/QLN cho NNT
Đối chiếu số liệu: Khi người nộp thuế phản ánh về số tiền thuế nợ không chính xác hoặc người nộp thuế không chấp hành nộp số tiền thuế nợ và tiền phạt vào NSNN,
cơ quan thuế thực hiện tới trụ sở cơ quan thuế để lập biên bản đối chiếu làm căn cứ điều chỉnh hoặc lập biên bản yêu cầu người nộp thuế nộp kịp thời tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước
1.4.2 Tiêu chí đánh giá cưỡng chế nợ thuế
Hiện nay, chưa có bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả cưỡng chế nợ thuế Bởi vậy, chưa có cơ sở vững chắc để đánh giá số lượng và chất lượng công tác từng cán bộ cưỡng chế nợ thuế, bộ phân quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng như tình hình thực hiên công tác cưỡng chế nợ thuế của từng cơ quan thuế Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác cưỡng chế nợ thuế còn là cơ sở để nghiên cứu đề xuất các biện pháp cải tiến hoạt động cưỡng chế nợ thuế của từng cơ quan thuế Do đó, ngành Thuế cần nhanh chóng nghiên cứu ban hành Bộ tiêu chí đánh giá công tác cưỡng chế nợ thuế
Bộ tiêu chí này có thể ban hành chung trong bộ tiêu chí đánh giá tất cả các mặt hoạt động của cơ quan thuế hoặc được ban hành trong quy trình cưỡng chế nợ thuế
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
1.5.1 Những nhân bên trong ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ngoài việc có thể đánh giá và sử dụng các biện pháp, tác động của cơ quan thuế để nâng cao hiệu quả, tiết kiệm chi phí, thì còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan trong từng thời kỳ kinh tế
xã hội Do đó, khi nghiên cứu về hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế không thể không tính đến các yếu tố ảnh hưởng sau:
Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân về phía các cơ quan quản lý thuế như về tổ chức công tác quản lý nợ, nguồn lực quản lý nợ hoặc về các công cụ hỗ trợ quản lý như hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê khai kế toán thuế, quản
lý nợ thuế, ngoài ra còn do ảnh hưởng từ các yếu tố chính sách pháp luật thuế Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế [12]
Trang 3425
Thứ nhất, tổ chức công tác quản lý nợ không được sắp xếp khoa học sẽ ảnh
hưởng tới việc theo dõi nợ không chính xác Mặt khác, quản lý nợ chồng chéo giữa các bộ phận chức năng về thuế sẽ làm tăng tính ỷ lại của bộ phận này vào bộ phận khác, sẽ dẫn đến sự lỏng lẻo trong khâu quản lý, bỏ sót nợ hoặc chậm đôn đốc nợ Bên cạnh việc tổ chức công tác nợ thì việc đào tạo các kỹ năng quản lý nợ cho đội ngũ cán bộ quản lý cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đôn đốc, thu nợ nói riêng
và quản lý thuế nói chung Nếu cán bộ quản lý nợ không tinh thông nghiệp vụ thì khi
xử lý vấn đề về nợ hoặc cưỡng chế sẽ lúng túng và không kịp thời ban hành các quyết định xử lý
Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê
khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ Việc nghiên cứu, thiết kế các phần mềm quản lý nợ nếu không kịp thời
sẽ không phát huy hết hiệu quả của công nghệ thông tin, ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu nợ trên phần mềm không thống nhất với số liệu của người nộp thuế, sẽ dẫn đến việc tính phạt gặp sai sót, sai ngày nộp tiền của người nộp thuế, sai hạn nộp thuế của từng sắc thuế… làm cho khối lượng công việc của cán bộ quản lý nợ tăng lên khi phải đối chiếu số liệu với người nộp thuế Ngoài ra nếu áp dụng tính phạt chậm nộp theo Luật quản lý thuế hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế sẽ có nhiều sai lệch, một mặt gây phản ứng từ phía các doanh nghiệp, hoặc sẽ làm cho số nợ ảo tăng lên nhiều
1.5.2 Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý
nợ và cưỡng chế thuế Giả sử khi lạm phát tăng cao, khi đó chính phủ sẽ phải thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ, áp dụng mức lãi suất tín dụng tăng cao sẽ làm cho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu đầu vào tăng Điều này sẽ dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng làm cho hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp giảm nhiều, dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn không có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố tình chây ỳ nộp thuế dù biết có thể bị phạt chậm nộp từ phía cơ quan thuế
Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công tác
quản lý nợ và cưỡng chế thuế cũng rất quan trọng Chẳng hạn như, trường hợp cung cấp số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, hoặc tại một số địa phương, uỷ ban nhân dân nếu không quan tâm chỉ đạo sát sao các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan thuế để đôn đốc, cưỡng chế nợ thì cũng làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn
Trang 3526
Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
công tác đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế, theo thống kê của các nhà nghiên cứu về thuế thì khi nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế thường không cao, chính điều này đã làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế nói chung và quản lý đôn đốc nợ nói riêng
Thứ tư, chính sách pháp luật cũng có tác động đến các quyết định của cơ quan
quản lý đối với việc áp dụng các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong từng thời kỳ Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời bao quát hết các trường hợp khó khăn để giãn nợ, xoá nợ, khoanh nợ Tránh trường hợp một số người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, nợ đọng kéo dài nhưng cơ quan thuế vẫn tính phạt nộp chậm lại càng làm cho số nợ tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặp nhiều khó khăn Việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ
và cưỡng chế thuế sẽ lại càng không chính xác
Thứ năm, ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế cũng là một yếu tố tác động
chủ yếu tới hiệu quả của công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế Giả sử ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế không tốt thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ sẽ gặp nhiều khó khăn do đối tượng cố tình dây dưa chây ỳ không nộp, hoặc trường hợp do chính sách qui định chưa rõ thì đối tượng sẽ cố tình
áp dụng tính thuế sai, khi cơ quan thuế phát hiện ra truy thu thì lại khiếu nại, cố tình không nộp
Việc học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản lý thuế nói chung
và quản lý nợ và cưỡng chế thuế nói riêng là rất quan trọng với đất nước còn lạc hậu như nước ta Học hỏi kinh nghiệm để có thể tìm hiểu phương pháp tiếp thu, để có thể đem vào áp dụng thực tế là rất quan trọng, không những chỉ đối với lĩnh vực quản lý thuế mà ở bất kỳ lĩnh vực và ngành nghề nào cũng vậy Ở phần tiếp theo, luận văn giới thiệu kinh nghiệm quản lý nợ và cưỡng chế của một số quốc gia có hệ thống thuế
và phương pháp quản lý gần giống với Việt Nam để từ đó xem xét những điểm phù hợp có thể áp dụng tại Việt Nam hiện nay
1.6 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
1.6.1 Kinh nghiệm của một số nước
a Kinh nghiệm của Nhật Bản [18]
Chính phủ, Bộ Tài chính Nhật không giao dự toán thu thuế cho Tổng cục thuế
Hệ thống ngành thuế sắp xếp theo khu vực, không chịu ảnh hưởng theo địa giới hành
Trang 36Ở Nhật Bản, để thực hiện công tác thu nợ thuế, bộ phận quản lý nợ được thành lập tại các cấp Phòng thu nợ trực thuộc Ban quản lý và thu Ngân sách đã được thành lập tại Tổng cục thuế, Cục thuế vùng cũng có các phòng thu nợ trong khi Chi cục thuế có các nhóm thu nợ
Về biện pháp thu nợ: Thực hiện các biện pháp thu nợ như:
+ Thông báo cho NNT ngay trước khi đến hạn kê khai thuế hoặc nộp thuế tiêu dùng
b Kinh nghiệm Malaysia [18]
Cơ quan thuế Malaysia không thành lập phòng quản lý nợ và cưỡng chế thuế riêng mà tại mỗi ban của cơ quan thuế đều thành lập một bộ phận thu nợ, và cử một cán bộ lãnh đạo đảm nhận công việc liên quan đến công tác thu nợ có từ ba đến năm thành viên Chức năng chủ yếu của bộ phận thu nợ gồm: Lập kế hoạch thu nợ, chuẩn
bị các kế hoạch, chương trình quản lý nợ; tổ chức họp hàng tuần hoặc theo định kỳ hai tuần một lần nhằm theo dõi tình hình thu nợ thuế Trực tiếp liên hệ với người nộp thuế, thoả thuận thanh toán theo phân kỳ và thực hiện các biện pháp cần thiết để nâng cao nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm nộp thuế
Các biện pháp cưỡng chế áp dụng:
Trang 3728
+ Đóng cửa các cơ sở kinh doanh còn nợ tiền thuế;
+ Chỉ định ngân hàng là đơn vị nộp thay tiền thuế hoặc phong tỏa tài khoản ngân hàng nếu không có khoản tín dụng nào khác để thanh toán tiền thuế nợ đọng; + Không cho NNT còn đang trong tình trạng nợ đọng thuế được xuất cảnh; + Đình chỉ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của NNT còn nợ đọng tiền thuế; + Tịch thu tài sản của người nộp thuế cũng như gia đình của NNT còn nợ đọng tiền thuế nếu tất cả các tài sản đó do NNT tài trợ
Các biện pháp cưỡng chế không phải thực hiện tuần tự mà được áp dụng linh hoạt với từng đối tượng cụ thể nhằm thu được số thuế cao nhất với chi phí thấp nhất
Thành lập bộ phận điều tra thuế và thông tin tình báo Kết luận điều tra thuế làm căn cứ để khởi tố vụ án và căn cứ xét xử tội phạm trốn thuế tại Toà án
c Kinh nghiệm Hoa kỳ [10]
năm 1998, cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ theo đuổi chiến lước cải thiện mức độ tuân thủ của DN tập trung vào những phân đoạn thị trường đặc biệt, ban đầu là phân loại thị trường theo ngành SXKD như công nghiệp (xây dựng, giải trí…), kinh doanh bất động sản, sau đó phân đoạn thi trường theo nhu cầu và các thắc mắc về thuế Đến năm 2000, IRS thực hiện chiến lược quản lý thu thuế đối với các DN lớn,
DN nhỏ, những đối tượng làm công tác và các DN thuộc đối tượng miễn giảm thuế Đặc biệt, IRS rất chú ý đến chiến lược quản lý đối với chiến lược quản lý tờ khai thuế, IRS có cơ chế đơn giản hóa như cho phép DN nhỏ có giao dịch thuế đơn gian được
kê khai thuế qua điện thoại IRS cũng đã cơ cấu lại quản lý thuế liên bang và bang theo khách hàng để phục vụ những đối tượng DN này Những sự phân đoạn chiến lược này đã được cải thiện tỷ lệ tuân thủ tự nguyện do khách hàng thỏa mãn rất cao đối với những hành động của cơ quan thuế
Đối với thanh tra thuế, IRS sử dụng phương pháp hoàn toàn khác với các quốc gia khác trong việc lựa chọn DN thanh tra đó là dựa trên những thôn tin mà ĐTNT khai trong bản khai thuế IRS xác định sự lệch trong kê khai của một DN nộp thuế so với mức sai số trung bình của một nhóm ĐTNT được lấy làm mẫu và từ đó thiết kế chỉ số DIF để xác định bản kê khai thuế cân được thanh tra Với hệ số DIF càng cao thì khả năng bị thanh tra càng lớn và ngược lại Tuy nhiên IRS không tiết lộ cấu thành của hệ số DIF
Tuy nhiên sự không phân biệt rõ ràng giữa các nhóm khách hàng lớn, trung bình
và nhỏ làm cho việc thực thi chiến lược gặp nhiều khó khăn và tăng sự rủi ro trong quản lý thu thuế đối với DN ở quốc gia này
d Kinh nghiệm của nước Anh [1]
Trang 3829
Năm 1996, Cơ quan thu nội địa Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế TKTN Doanh nghiệp có quyền lựa chọn: tự kê khai, tính thuế, hoặc chỉ kê khai các thông tin liên quan (doanh thu, chi phí…) và cơ quan thuế tình số thuế phải nộp
Hoạt động TTHT đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong các nỗ lực để đảm bảo
sự thành công của TKTN Các chính sách TTHT luôn coi trọng tính khách hàng của
DN Cơ quan thuế Anh đã tiến hành nhiều hình thức dịch vị hỗ trợ phong phú Các chính sách TTHT cũng quy định nếu DN kê khai và nộp thuế không đúng quy định và DN chứng minh được lỗi này là do cán bộ thuế hướng dẫn sai thi DN không bị phạt nhưng phải nộp đủ số tiền còn thiếu, đồng thời cơ quan thuế sẽ tính trả lại tiền lãi cho DN nếu việc tư vấn làm ảnh hưởng đến thu nhập của DN Để tránh sai sót trong hướng dẫn kê khai, bộ phận dịch bụ hỗ trợ có một đội xử lý khiếu nại Cơ quan thuế thường xuyên có các tổ kiểm tra chất lượng của các cuộc tư vấn thông qua đối chiếu với chính sách hoặc phỏng vấn trực tiếp những người đã được tư vấn qua điện thoại để biết được chất lượng các câu trả lời cán bộ thuế Cơ quan thuế cũng đã xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện Ví dụ, theo yêu cầu của cơ quan thu nội địa thì 80% số văn thư được gửi tới phải được giải quyết trong 15 ngày hoặc 85% số người đến đề nghị tư vấn chỉ phải chờ trong vòng 30 phút, 90% các cuộc điện thoại cần được trả lời sau 20 giây TTHT là nhiệm vụ các bộ ngành thuế và bằng 55% cán bộ các Cục thuế và Chi cục thuế
1.6.2 Bài học kinh nghiệm và được vận dụng vào Việt Nam
Từ bộ máy tổ chức và kinh nghiệm quản lý nợ của các nước trên thế giới, có thể liên hệ rút ra những bài học kinh nghiệm với Việt Nam:
Thứ nhất, cần tổ chức bộ máy quản lý nợ sao cho không có sự chồng chéo giữa
các cấp, các bộ phận, phát huy tối đa năng lực của từng cán bộ phụ trách công tác
quản lý nợ
Thứ hai, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý trong công tác quản lý nợ phù hợp với
thông lệ quốc tế và tình hình kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ
Thứ ba, cần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý nợ thuế có chuyên môn, nghiệp
vụ vững vàng, có khả năng tin học và trình độ giao tiếp tốt Trên cơ sở đó mới có được sự phân tích nợ chính xác, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nợ, khai tác tối ưu các phần mềm quản lý nợ, quản lý thuế Việc ứng dụng CNTT trong quản
lý nợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế, tạo ra được sự chuyên nghiệp, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí cho công tác quản lý nợ
Thứ tư, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế phải được thực hiện linh
Trang 3930
hoạt đối với từng trường hợp cụ thể để đem lại hiệu quả cao nhất nhằm thu hồi tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước Không nên qui định cứng nhắc trong việc lựa chọn, trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế
Thứ năm, giao quyền điều tra thuế cho cơ quan thuế Điều tra thuế có ý nghĩa
quan trọng trong quản lý nợ, nhằm hướng tới: Ngăn ngừa NNT khỏi hành vi trốn lậu thuế; Đề xuất các biện pháp xử lý hoặc hình phạt thích đáng nhằm cảnh báo cho NNT khác về hậu quả của hành vi trốn lậu thuế tương tự
Thứ sáu, phải xây dựng kho dữ liệu tập trung phục vụ cho việc phân tích rủi ro,
tiến hành thực hiện kịp thời các biện pháp cưỡng chế thuế, các hoạt động thanh tra kiểm tra đối tượng nộp thuế
Thứ bảy, tăng cường xây dựng và thực thi hoạt động nghiên cứu dự báo hành vi tuân thủ thuế và tìm hiểu nhu cầu của DN
Đây là hoạt động cung cấp cơ sở thông tin cho sự phân đoạn thị trường và quản
lý sự tuân thủ của DN Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu nhu cầu cảu DN nhằm hướng tới mục tiêu quản lý tốt mối quan hệ với DTNT ở nhiều quốc gia Các hoạt đông điều tra khảo sát hành vi và nhu cầu của DN hàng năm là kênh thông tin quan trọng Ngoài
ra những kênh thông tin khác (gặp gỡ tiếp xúc với khách hàng, với các đại lý thuế; tổ chức các cuộc đối thoại để lấy ý kiến của các nhóm DN trong điểm, hay ý kiến của các địa lý thuế; theo dõi phản ứng của dân chúng từ các phương tiện truyền thông; tổ chức nhận phiếu góp ý qua các hòm thư/ điện thoại…) cũng được thiết lập chủ yếu là tìm hiều nhu cầu, sự thỏa mãn, sự phàn nàn của DN và đánh giá độ tin cậy của DN đối với cơ quan thuế
Tám là, đa dạng hóa dịch vụ hỗ trợ DN, cung cấp thông tin thuận tiện, nhanh chóng và kịp thời
Mục tiêu chung ở hầu hết các quốc gia là dịch vụ hỗ trợ phải đảm bảo cung cấp thông tin tốt nhất cho DN, tối thiểu hóa chi phí tiếp cận thông tin và thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của DN đồng thời tăng hiệu quả dịch vụ hỗ trợ DN
Các dịch vụ hỗ trợ ngày càng đa dạng về hình thức, về nội dung, về thời gian,
về địa điểm Tuy nhiên, sự đa dạng này phụ thuộc vào sự phát triển của CNTT ngành thuế ở các quốc gia khác nhau Theo xu hướng hiện nay, các dịch vụ hỗ trợ của cơ quan thuế áp dụng mãnh mẽ CNTT vào thực hiện đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, nhaanh thông báo qua mạng điện tử; khai thác thông tin, hỏi đáp các vướng mắc qua điện thoại Mặt khác, các dịch vụ của cơ quan thuế được cung cấp nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện nhất cho DN DN được tiếp xúc dễ dàng với cơ quan thuế qua cơ chế
“một của” nhằm tối thiểu hóa thời gian chờ đợi Đây là những tính chất hiện có của
Trang 4031 dịch vụ ở một cơ quan thuế hiện đại