--- LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG CÁC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ CÔNG SUẤT NHÀ MÁY TỪ 5MW ÷ 30 MW CỦA VIỆT NAM NGÀNH: QU
Trang 1-
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG CÁC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN VỪA VÀ
NHỎ (CÔNG SUẤT NHÀ MÁY TỪ 5MW ÷ 30 MW)
CỦA VIỆT NAM
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:
TÔ THANH HƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN BÌNH
HÀ NỘI 2006
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước tư giai đoạn 2001 ÷
2010 đến 2020 đã được Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX khẳng định: “Điện phải đi trước một bước ”, đó là quan điểm nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta Trong thời kỳ đổi mới, nhất là trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đầu tư xây dựng phát triển ngành Điện, coi đây là một ngành công nghiệp hạ tầng quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội, là yếu
tố đảm bảo thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước
Yêu cầu phát triển về điện trong hiện nay và trong thời gian tới rất lớn
do nhu cầu phát triển kinh tế đất nước, đời sống xã hội tăng nhanh, đòi hỏi sự phát triển vượt bậc cả về nguồn điện, lưới điện Trong 5 năm (từ 2001 đến 2005), ngành điện đã huy động vốn từ nhiều nguồn, đã đầu tư 92,100 tỷ đồng
để xây dựng nguồn và lưới điện, đưa vào vận hành 6 nhà máy điện lớn với tổng công suất 3.300 MW, 65.000 km đường dây cao, trung, hạ thế và hơn 38.000 MVA dung lượng trạm biến thế với các cấp điện áp khác nhau Cùng với đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 dài 1.448 km, trong một thời gian ngắn đã xây dựng xong đường dây Bắc - Nam mạch 2 dài hơn 1500 km Nhờ
đó, nguồn điện cả hai miền Nam - Bắc cùng hòa với hệ thống lưới điện quốc gia, dẫn điện đến mọi miền của tổ quốc làm bật dậy những tiềm năng kinh về kinh tế - xã hội của đất nước Để phát huy tiềm năng về thuỷ điện, trong quy hoạch phát triển nguồn và lưới điện theo quyết định số 95/2001/QĐ-TTg, ngày 22/6/2001; quyết định số 40/2003/QT-TTg ngày 21/3/2003 của Thủ
tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Điện lực Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 có xét đến năm 2020 thì ngành điện đang phát huy sức mạnh tổng hợp, vượt mọi khó khăn vươn tới thực hiện có hiệu quả trong việc xây dựng mới 25 thuỷ điện, nhiệt điện với tổng công suất 8.000
Trang 3MW, trên các dòng sông Đà, Sông Lô, Sông Gân, Sông Mã, sông Thu Bồn, sông Đồng Nai, sông Sê San, sông Ba lần lượt sẽ mọc lên hơn 20 nhà máy thuỷ điện lớn Nguồn "năng lượng trắng" này sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, có cấu phát triển kinh tế, góp phần
đi đầu vào việc đưa nước ta đến năm 2020 trở thành nước có nền kinh tế phát triển Nghị quyết đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
"Phát triển nhanh nguồn điện với cơ cấu hợp lý, hoàn chỉnh hệ thống truyền tải, đảm bảo sự vận hành an toàn hiệu quả, đáp ứng đủ điện cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cả ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo Nhà nước tập trung đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế để phát triển nhanh ngành điện trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và thực hiện cơ chế thị trường về giá bán điện, đồng thời có chính sách hỗ trợ các hộ nghèo
Để thực hiện được chủ trương và mục tiêu đã đề ra trong tổng sơ đồ quy hoạch phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 có xét đến năm 2020 (Tổng sơ đồ V) Song song với việc phát triển nguồn thuỷ điện có công suất lớn, Đảng và Nhà nước ta đã khuyến khích các thành phần kinh tế trong ngoài nước tham gia đầu tư phát triển nguồn điện, trong đó có thành phần thuỷ điện vừa và nhỏ (với công suất nhà máy đạt từ 3 - 30MW)
Với tiềm năng thuỷ điện vừa và nhỏ của nước ta chiếm một tỷ trọng đáng kể so với tổng tiềm năng thuỷ điện chung của cả nước Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch, thiết kế về thuỷ điện Việt Nam cho thấy:
- Tổng trữ năng về thuỷ điện một con sông của Việt Nam đạt hơn 64 tỷ kWh/năm
- Trữ năng của thuỷ điện vừa và nhỏ (173 công trình) đạt 10,47 tỷ kWh/năm, trong đó có: 140 công trình đạt chỉ tiêu kinh tế B/C
Việc phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thể hiện trên những chủ trương, chính sách, mục tiêu, biện pháp, chỉ tiêu
Trang 4xây dựng trong quyết định số 95/2001/QĐ-TTg ngày 22/6/2001, quyết định
số 40/2003/QĐ-TTg ngày 21/3/2003 của Thủ tướng chính phủ; cơ chế 797/CP-CN ngày 17/6/2003 của Chính phủ đã tạo ra một hành lang pháp lý về đầu tư, xây dựng các nhà máy thuỷ điện nói chung và các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ nói riêng
Đến nay, các cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đã có những cơ chế thông thoáng, khuyến khích, cho phép các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện được áp dụng:
1) Thực hiện những cơ chế chính sách trong quyết định TTg và quyết định 40/2003/QĐ-TTg của Chính phủ
95/2001/QĐ-2) Thực hiện quyết định về cơ chế chính sách đặc thù về việc đầu tư xây dựng các dự án thuỷ điện theo quyết định 1195/QĐ-TTg ngày 09/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ
3) Áp dụng cơ chế chính sách trong văn bản 797/CP-CN ngày 17/6/2003 và văn bản 400/CP-CN ngày 26/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ
4) Các dự án nguồn điện (có cả thuỷ điện) được áp dụng quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập theo quyết định số 50/2002/BCN của Bộ công nghiệp
Những văn bản trên cùng với luật xây dựng, luật đấu thầu, luật đầu tư
và các hệ thống văn bản pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng khác và các tiêu chuẩn xây dựng, quy phạm xây dựng, quản lý vận hành các nhà máy thuỷ điện đã tạo ra một hệ thống những văn bản pháp lý quy định về cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện công tác quản lý đầu tư và xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ Nhưng do những yêu cầu thực tiễn và cấp thiết của công tác đầu tư xây dựng các dự án đầu tư về thủy điện vừa và nhỏ còn có những điều
chưa hợp lý, còn có những bất cập trong tổ chức thực hiện Với đề tài của luận văn: "Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với việc đầu tư và xây
Trang 5dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ (công suất nhà máy từ 5MW ÷ 30 MW) của Việt Nam" của bản thân là để đáp ứng một phần đòi hỏi của thực tiễn của yêu cầu đầu tư xây dựng của các dự án thuỷ điện kể trên
1 Sự cần thiết của đề tài
Công tác đầu tư và xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ là đầu tư xây dựng những dự án thuộc nhóm B, tiền vốn đầu tư chiếm một tỷ trọng khá lớn trong việc đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện Việc sử dụng vốn đầu
tư có hiệu quả, chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản phần lớn phụ thuộc vào các giải pháp quản lý dự án đầu tư và xây dựng, trong đó phải kể đến những cơ chế chính sách quản lý ở tầm vĩ mô, cũng như công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình, nó quyết định đến hiệu quả đầu tư và chống lãng phí, tham ô trong đầu tư xây dựng cơ bản các dự án thuỷ điện, trong đó có các
dự án thuỷ điện vừa và nhỏ Việc xây dựng một chiến lược và có những chủ trương, chính sách, cơ chế thực hiện hợp lý, khoa học sẽ giúp cho chủ đầu tư nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giảm thiểu được những lãng phí, sai sót trong quá trình đầu tư và xây dựng dự án, góp phần thắng lợi trong việc thực hiện kế hoạch tổng sơ đồ V, tạo cơ sở tốt cho việc hội nhập và phát triển nền kinh tế quốc dân
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích đánh giá các dự án đầu tư về thuỷ điện vừa và nhỏ, đề xuất những luận cứ và giải pháp hợp lý, lôgic nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của những cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với các
dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, góp phần thúc đẩy sự phát triển đầu tư các dự án, góp phần phát triển kinh tế một cách nhanh, nhiều, tốt và bền vững
3 Đối tượng và phạm vi luận văn
Luận văn này chỉ giới hạn về việc phân tích thực trạng trong công tác đầu tư xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, sau đó đưa ra một số giải
Trang 6pháp về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc đầu tư và xây dựng các dự án trên
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Vận dụng những lý luận, công cụ phương pháp đánh giá của Nhà nước cho phép áp dụng, phân tích thực trạng trong công tác quản lý đầu tư cũng như đề xuất một số giải pháp về nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong việc đầu tư và xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ ở Việt Nam
5 Kết cấu của đề tài
Tên đề tài: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với việc đầu tư xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ (công suất nhà máy từ 5MW ÷ 30 MW) của Việt Nam
Chương 1: Tổng quan về quản lý đầu tư xây dựng các dự án thuỷ điện
Tài liệu tham khảo
Đề tài còn có những khiếm khuyết mắc phải, tác giả xin được các thầy hướng dẫn, thẩm tra, phản biện, xét duyệt lượng thứ và xin được các thầy cô những ý kiến đóng góp Xin trân trọng cám ơn
Tác giả
Tô Thanh H ương
Trang 7CH ƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC DỰ ÁN
THUỶ ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ
1.1 Tiềm năng về thuỷ điện ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, mưa nhiều, có nguồn sinh thuỷ tương đối phong phú Do hệ quả của sự tác động tổng hợp giữa điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều (lượng mưa bình quân năm đạt khá, X0 > 1950 mm/năm)
và cấu trúc địa hình, cấu tạo địa chất núi đồi chiếm diện tích ≈ 75% lãnh thổ, cho nên dòng chảy sông ngòi Việt Nam được hình thành khá phong phú, là nguyên nhân khách quan cơ bản nhất tạo nên một mạng lưới sông suối dày đặc trên lãnh thổ nước ta
Với mật độ sông suối có sự dao động khá lớn giữa các vùng và tương đối phù hợp với sự phân hoá không gian của điều kiện khí hậu và cấu trúc địa chất, địa hình; lượng mưa thay đổi giữa các năm không lớn, khoảng 2 lần
nhưng giữa các tháng và mùa trong năm lại khá lớn: vào mùa mưa lũ (từ 4 đến 5 tháng trong năm), lượng dòng chảy chiếm đến 70% ÷ 80% tổng lượng dòng chảy cả năm (thường được gọi là dòng chảy năm Q0 m3/s hoặc W0: 106
m3/năm), còn dòng chảy các tháng mùa khô (từ 7 ÷ 8 tháng) chỉ chiếm khoảng 20% đến 30% dòng chảy năm Lãnh thổ nước ta lại hẹp và dài, có dãy
Trường Sơn hầu như chạy dọc suốt từ Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Những dãy núi cao như Hoàng Liên Sơn (Đông Bắc Bộ), Tây Côn Lĩnh (Đông Bắc Bộ) tạo nên những độ dốc khá lớn cho các sông suối, nhất là những đoạn đầu nguồn Đây chính là trữ lượng về thế năng quan trọng có thể tận dụng để xây dựng các nhà máy thuỷ điện, trong đó có thể xây dựng được nhiều trạm thuỷ điện vừa và nhỏ có cột nước cao
Trang 8Tiềm năng về năng lượng (Thế năng) tại một vị trí của một con sông suối xác định theo công thức:
trong đó: - N: biểu thị công suất ở dạng thế năng có tại vị trí nhất định của con sông suối Khi xây dựng nhà máy thuỷ điện ở vị trí này đại
lượng này thường được gọi là công suất tính toán của nhà máy thuỷ điện
- 9,81: hệ số thế năng, hệ số này bằng giá trị tuyệt đối của gia tốc trọng trường
- Q: lượng nước chảy qua (tính theo mặt cắt ngang) của vị trí tính toán xây dựng nhà máy thuỷ điện thường được tính bằng m3/s
- H: cột nước phát điện được tại vị trí xây dựng nhà máy thuỷ điện (tính bằng m)
- η: hệ số không thứ nguyên là hệ số hiệu suất của nhà máy thuỷ điện, phụ thuộc vào kiểu nhà máy thuỷ điện, kiểu tuốc bin và phụ thuộc vào máy phát của nhà máy thuỷ điện (thường η < 0,9)
Theo công thức (1-1) nêu trên thì vị trí các sông suối ở phía thượng nguồn (thường được gọi là thượng lưu hay thượng du) có thể khai thác được nhiều trạm thuỷ điện vừa và nhỏ có cột nước vì ở vùng thượng lưu, độ dốc địa hình lớn (phía H >) nhưng lưu lượng Q lại khá nhỏ (<Q) vì diện tích hứng
nước mưa tạo nên lưu lượng Qnhỏ nên tích HQ không thể đạt giá trị lớn hơn được Mặt khác ở những vùng trung du (trung lưu của những sông lớn) như Hoà Bình (trên Sông Đà), Thác Bà (Sông chảy), Tuyên Quang (Sông Lô), Yaly (Sêsan), Trị An (Sông Đồng Nai) khi xây dựng nhà máy thuỷ điện phải xây dựng đập ngăn sông tại hồ chứa nước để tạo ra H >; Q > nên công suất các nhà máy thuỷ điện này đạt lớn và rất lớn như nhà máy thuỷ điện Sơn La, công suất lắp máy Nlm = 3600 MW, thuỷ điện Đại Thi trên sông Lô có Nlm =
Trang 9300MW, thuỷ điện Đồng Nai 3 - 4 trờn sụng Đồng Nai cú Nlm = 510MW, Nhờ cú mạng sụng suối phỏt triển và phõn bố tương đối đều khắp trờn lónh thổ nước ta nờn rất thuận lợi về việc sử dụng nguồn nước để xõy dựng phỏt triển năng lượng cũng như việc cấp nước sinh hoạt, sản xuất, hoạt động giao thụng
Với tiềm năng về năng lượng nước ta như trờn, theo kết quả tớnh toỏn quy hoạch tiềm năng thuỷ điện Việt Nam của Cụng ty tư vấn xõy dựng Điện 1
- Tổng cụng ty Điện lực Việt Nam thỡ trờn 11 hệ thống sụng lớn cú tổng cụng suất đạt 15.390 MW với điện lượng trung bỡnh hàng năm sản ra là: 64.347 triệu kWh, trong đú đó xõy dựng và đưa vào vận hành (tớnh đến thỏng 12/2005) cỏc nhà mỏy thuỷ điện với tổng cụng suất 3.393 MW và điện lượng trung bỡnh hàng năm đạt 18.409 triệu KWh Một loạt cỏc nhà mỏy thuỷ điện đang được xõy dựng với cụng suất ≈ 2.066MW Tỷ trọng về cụng suất của nhà mỏy thuỷ điện chiếm ≈ 51% cụng suất của cỏc nhà mỏy và sản lượng về thuỷ điện chiếm 55% sản lượng cỏc nhà mỏy điện ở Việt Nam
N ăm 2003
Công suất đặt
Thuỷ điện 51%
Sản lượng
Thuỷ điện 55% Nhiệt điện
than 14%
Nhiệt điện dầu 3%
Tuabin khí 28%
Diesel 0%
“Nguồn: Đề ỏn xõy dựng tập đoàn sản xuất Tổng cụng ty Điện lực Việt Nam”
Hỡnh 1 1 Cụng suất, sản lượng cỏc nhà mỏy điện thuộc EVN
Theo quyết định số 40/2003/QĐ- TTg ngày 21/3/2003 của Thủ tướng
Trang 10Chính phủ ban hành thì trong giai đoạn 2005 ÷ 2100 đất nước ta sẽ có thêm các nhà máy thủy điện loại lớn đi vào vận hành sau đây:
Bảng 1.1: Kế hoạch xây dựng các nhà máy thuỷ điện giai đoạn 2006 - 2100
Công suất NM (MW)
Năm khởi công
Năm vận hành
1 Thuỷ điện Rào Quán, Quảng Trị 70 2003 2007
2 Thuỷ điện Tuyên Quang 342 2002 2006: 2007
3 Thuỷ điện Cửa Đạt, Thanh Hoá 120 2004 2008: 2110
5 Thuỷ điện Bản Mai, Nghệ An 200 2005 2008
6 Thuỷ điện Đại Ninh, Tuyên Quang 300 2003 2007: 2008
7 Mở rộng thuỷ điện Thác Mơ 75 2005 2008
8 Thuỷ điện Hạ Sông Ba 200 2005 2010: 2011
9 Thuỷ điện Đăk Rinh (Đắc Lắc) 100 2004 2007
12 Thuỷ điện Đồng Nai 3 - 4 510 2004 2009: 2010
14 Thuỷ điện Thượng KonTum 220 2003 2008: 2009
16 Thuỷ điện Buôn Kướp, Đắc Lắc 280 2003 2008: 2009
18 Thuỷ điện An Khê, KaNak 163 2004 2009
Trang 11STT Tên nhà máy
Công suất NM (MW)
Năm khởi công
Năm vận hành
“Nguồn: Quyết định số 40/2003/QĐ-TTg ngày 21/3/2003 của Thủ tướng
Chính phủ”
Ngoài các nhà máy thuỷ điện trên còn có nhà máy thuỷ điện Sơn La có tổng công suất 3600 MW cũng sẽ được xây dựng trong năm 2005 và chuyển tiếp sang năm 2010, đến năm 2010 hoàn thành sẽ là công trình thuỷ điện lớn nhất nước ta và cả vùng Đông Nam Á
Về hệ thống sông ngòi Việt Nam, đa số sông ngòi nước ta là sông nhỏ (chiếm tới 90% tổng số sông) Nếu chỉ tính các sông có chiều dài từ 10km trở lên và có dòng chảy thường xuyên thì trên lãnh thổ Việt Nam có tới 23.600 con sông, trong đó có 13 hệ thống sông có diện tích lưu vực tập trung nước từ 3.000 km2 trở lên, hoặc nếu tính diện tích lưu vực từ 10.000 km2 trở lên thì có
9 hệ thống sông Xuất phát từ đặc tính địa lý sông ngòi theo diện tích lưu vực
và ý nghĩa thực tiễn đối với sản xuất và đời sống thì hệ thống sông ngòi Việt Nam được phân chia thành 9 hệ thống sông chính (có diện tích lưu vực Flv > 10.000 km2), đó là hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang, sông Thái Bình, sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Mê Kông (bảng 1.2):
Bảng 1.2: Hệ thống các sông lớn ở Việt Nam với F lv > 10.000 km 2
TT Hệ thống sông Diện tích lưu
vực Flv (km2) Địa phận tỉnh
1 Sông Kỳ Cùng –
Bằng Giang 11.200 Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh
2 Sông Thái Bình 15.800 Hải Dương, Hưng Yên
Trang 12TT Hệ thống sông Diện tích lưu
vực Flv (km2) Địa phận tỉnh
3 Sông Hồng 72.700 Sơn La, Lai Châu, Lào Cai
4 Sông Mã 17.600 Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La
6 Sông Thu Bồn 10.350 Quảng Nam, Đà Nẵng
7 Sông Ba 13.900 Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Yên
8 Sông Đồng Nai 37.400 Lâm Đồng, Bình Phước
9 Sông Mê Công 71.000 Gia Lai, Đắc Lắc
“Nguồn: Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ - Báo cáo cuối cùng, Công ty tư
vấn và xây dựng Điện 1, năm 2005”
Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thuỷ điện ở Việt Nam cho thấy tổng trữ năng thuỷ điện của các con sông được đánh giá vào khoảng 80 tỷ kWh/năm, trong đó trên 11 con sông lớn đã đạt hơn 64 tỷ kWh/năm Như vậy trữ năng kinh tế của thuỷ điện nhỏ trên các nhánh sông (trừ sông chính) toàn
nước ta có thể lên tới 10 tỷ kWh/năm Đây là nguồn điện năng do nước tạo ra rất lớn, cần khai thác triệt để nhằm đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng tăng của ngành kinh tế quốc dân, trong đó ưu điểm nổi bật của việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ là tác động đến môi trường không đáng kể, thoả mãn điều kiện phát triển bền vững và cung cấp điện năng tại chỗ cho những vùng mà hiện tại lưới điện quốc gia mới xây dựng hoặc chưa vươn tới được
1.2 Phạm vi giới hạn các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ
1.2.1 Phạm vi giới hạn các dự án đầu tư về thuỷ điện vừa và nhỏ
Hiện tại ở Việt Nam chưa có quy định về giới hạn theo một tiêu chí
Trang 13nhất định về thuỷ điện vừa và nhỏ Trên thế giới, việc xác định dự án thuỷ điện vừa và nhỏ theo quy mô công suất máy
- Các nước thuộc Liên Xô (cũ) và Mỹ quy định các nhà máy thuỷ điện
có quy mô Nlm < 30MW được gọi là thủy điện nhỏ
- Nước Anh quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 25MW
- Ấn Độ quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 15MW
- Trung Quốc quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 12MW
- Rumani và Cộng hoà Séc quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 10MW
- Canađa và Thuỵ Điển quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 9MW
- Phần Lan quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 6MW
- Pháp và Áo quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 5MW
- Thuỵ Sĩ và Italia quy định thuỷ điện nhỏ có Nlm < 2MW
Căn cứ vào nhiệm vụ quy hoạch xây dựng và đầu tư các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, để phù hợp với quy hoạch thuỷ điện quốc gia (NHP), trong cuộc hội thảo lần thứ nhất tại Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) ngày
18 tháng 9 năm 2003 và theo yêu cầu của EVN về xem xét nghiên cứu đầu tư các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ thì các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ là các dự
án có quy mô công suất từ 5 đến 30MW, tương ứng với công trình loại nhóm
B trong bảng phân loại các dự án đầu tư xây dựng công trình đã được ban hành kèm theo nghị định 16/20005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 của Chính Phủ
1.2.2 Nhu cầu dùng điện ở Việt Nam và vai trò của thuỷ điện vừa và nhỏ trong việc phát triển nguồn điện
Nhu cầu sử dụng điện của các ngành kinh tế nước ta ngày càng tăng ở mức cao Dựa trên cơ sở các kịch bản phát triển kinh tế do Viện chiến lược -
Bộ Kế hoạch đầu tư tính toán và dự báo; bằng phương pháp hệ số đàn hồi (xác định hệ số tương quan giữa tăng trưởng điện năng với GDP), Tổng công
Trang 14ty Điện lực Việt Nam đã dự báo nhu cầu điện cho giai đoạn 2000 đến 2020, trong đó nhu cầu điện năng giai đoạn 2000 - 2005 có điều chỉnh theo 3
phương án (thấp, cơ sở và cao) ứng với 3 kịch bản kinh tế tương ứng như bảng 1.3
Trang 15Bảng 1.3: Dự báo nhu cầu dùng điện năm 2000 - 2020
“Nguồn: EVN năm 2000”
Với tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2001 - 2010 khoảng 7% - 8% năm thì tốc độ nhu cầu điện sản xuất sau năm 2005 có tốc độ tăng cao
Trong việc tính toán tối ưu các chương trình nguồn điện trong giai đoạn 2001- 2020, EVN đã chọn phương án tổ hợp Nhiệt điện - Thuỷ điện (Theo Tờ
trình số 149 EVN/HĐQT - KH ngày 21 tháng 6 năm 2000 của Tổng công ty
điện lực Việt Nam trình thủ tướng Chính phủ về việc đề nghị duyệt quy hoạch
phát triển Điện lực Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 có xét đến năm
2020)
Với tiềm năng kinh tế của thuỷ điện vừa và nhỏ có thể đạt tới sản lượng
10 tỷ KWh/năm (theo tài liệu quy hoạch thuỷ điện vừa vả nhỏ toàn quốc do
N hu cầu
điện 2000
Thấp Cơ sở Cao Thấp Cơ sở Cao Thấp Cơ sở Cao
Nhu cầu điện
năng
(Triệu KWh)
26.000 đến 26.745
42.031
46.419
49.009
64.553
70.437
78.466
142.113
167.022
201.307
Nhu cầu
công suất
Max (MW)
4.487 đến 4.615
7.380
7.802
8.230
10.680
11.653
12.982
22.849
26.854
32.376 Tăng trưởng
Trang 16Tổng công ty Điện lực Việt Nam lập tháng 1 năm 2005) thì việc đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ sẽ có một vai trò đáng kể trong việc
tăng nhanh sản lượng điện góp phần giảm áp lực căng thẳng về sự thiếu điện hiện nay Mặt khác việc đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ
có mức vốn đầu tư không cao, thời gian xây dựng nhanh từ 2 - 3 năm, kỹ thuật xây dựng và đầu tư công nghệ không quá phức tạp có thể thu hút được các nhà đầu tư trong nước tham gia vào xây dựng các dự án thuỷ điện theo các hình thức đầu tư như: Nhà máy điện độc lập (IPP); Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao công nghệ (BOT); Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT); Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO), liên danh, công ty
cổ phần để đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện, nhất là các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ
1.3 C ơ sở phương pháp luận về nghiên cứu đầu tư xây dựng các dự án đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ
1.3.1 Kinh tế đầu tư và vai trò của kinh tế đầu tư
Đầu tư là huy động các nguồn lực (trước hết là tiền bạc) ở hiện tại, xây dựng một công trình cụ thể với hy vọng trong tương lai sẽ thu hoạch được hiệu quả cao nhất (nhiều tiền bạc hơn) Như vậy hành vi của người đầu tư là
sự hy sinh tiêu dùng ở hiện tại, tập trung tiền bạc vốn liếng cho việc xây dựng một công trình cụ thể để hy vọng trong tương lai sẽ kiếm được nhiều tiền bạc hơn, tiêu dùng nhiều hơn Đầu tư vào các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ cũng không nằm ngoài quy luật vận động và có nội dung khái quát như trên
Đầu tư để hy vọng trong tương lai có kết cục tốt đẹp hơn, do đó người đầu tư chịu nhiều mạo hiểm, rủi ro Quản lý đầu tư tốt sẽ tránh được những rủi ro không đáng có, giảm tổn thất, lãng phí và thất thoát các nguồn lực đầu
tư Vai trò quan trọng của kinh tế đầu tư có thể thấy rõ từ những luận điểm sau đây:
Trang 17a) Kinh tế đầu tư là một hoạt động quản lý kinh tế cơ bản của các ngành quản lý chức năng về kinh tế của Nhà nước, tạo ra những cơ chế, chính sách
vĩ mô chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp Lĩnh vực này thể hiện cụ thể định hướng kinh tế có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và của đất nước về mọi mặt kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, xã hội
b) Đầu tư sẽ có thể tạo ra cơ cấu kinh tế mới, làm xuất hiện các ngành sản xuất xã hội mới gắn liền với chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội mới, làm cho nền kinh tế phát triển năng động và hiệu quả hơn
c) Đầu tư sẽ thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động
d) Đầu tư có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, vì chính nhờ những dự án đầu tư (trong đó có các dự án đầu
tư thuỷ điện vừa và nhỏ) mà các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội được phát triển, thu nhập của người lao động được tăng thêm, nạn thất nghiệp được dần dần giải quyết
e) Phần lớn các dự án đầu tư đều kèm theo các công trình xây dựng với các máy móc, thiết bị, công nghệ tương ứng, mà mỗi công trình xây dựng như vậy thường là kết tinh của những thành quả khoa học, công nghệ, tổ chức sản xuất và nghệ thuật kiến trúc của cả một thời kỳ đang xét Sau khi xây dựng xong và đưa vào sử dụng các công trình xây dựng đó lại góp phần mở ra một
thời kỳ phát triển mới của đất nước
g) Hoạt động đầu tư chiếm một nguồn vốn lớn của doanh nghiệp và xã hội, có liên quan đến việc sử dụng hợp lý hay lãng phí tài nguyên và các nguồn lực của sản xuất, liên quan đến bảo vệ môi trường; những sai lầm về xây dựng và lựa chọn công nghệ của các dự án đầu tư có thể gây lên các thiệt hại lớn tồn tại lâu dài và khó sửa chữa
Trang 18h) Đối với các doanh nghiệp, đầu tư là một bộ phận quan trọng của chiến lược kinh doanh nói chung, có quan hệ chặt chẽ với chiến lược sản phẩm và chiến lược đổi mới công nghệ nói riêng, là một công việc sống còn của người sản xuất kinh doanh
1.3.2 Đầu tư xây dựng
Trước hết đầu tư phát triển là hoạt động kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến gia tăng tiềm lực của nền kinh tế, tạo ra việc làm cho các thành viên trong
xã hội Đầu tư xây dựng là một bộ phận trọng yếu của đầu tư phát triển và đầu
tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư
Khái niệm chung về đầu tư mà người ta hay sử dụng: Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng ở hiện tại tập trung các nguồn lực để tiến hành hoạt động nào
đó nhằm thu về lợi nhuận lớn hơn trong tương lai Nguồn lực đó có thể là nhân lực, vật lực, trí lực, tài lực Những kết quả của đầu tư có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có
đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Đầu tư xây dựng là quá trình chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn hiện vật, là quá trình chi dùng vốn để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu
hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt, và bồi dưỡng nhằm tạo ra những yếu
tố cơ bản của sản xuất kinh doanh; dịch vụ, tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới và duy trì tiềm lực sẵn có của nền kinh tế
Đầu tư xây dựng các dự án thuỷ điện nói chung, thuỷ điện vừa và nhỏ nói riêng là quá trình đầu tư chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật, là quá trình sử dụng vốn để xây dựng các nhà máy thuỷ điện, vận hành sản xuất
để sản xuất ra lượng điện năng phục vụ việc phát triển kinh tế
Đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, do đó cần đẩy mạnh hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư xây dựng có những điểm
Trang 19cơ bản khác biệt với các loại hình đầu tư khác đó là:
- Thứ nhất, đầu tư xây dựng đòi hỏi lượng vốn lớn và để nằm ứ đọng
trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu
tư xây dựng Do đó cần phải tính toán chính xác khả năng có thể đầu tư và để không bị thiếu vốn thì chủ đầu tư nên đầu tư theo giai đoạn, hạng mục công trình nào cần làm trước, hạng mục công trình nào cần làm sau Đồng thời cần làm tốt các bước của quá trình lập dự án và phải biết huy động vốn từ nhiều nguồn
- Thứ hai, hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài Thời gian tiến hành
một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả phát huy tác dụng đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra và thời gian hoạt động để thu hồi
đủ vốn đã bỏ ra cũng đòi hỏi nhiều năm Đời của dự án gắn với sự tồn tại của sản phẩm dự án trên thị trường và từ khi vận hành đến khi kết thúc đời dự án cũng đòi hỏi thời gian dài, chẳng hạn đối với các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ thời gian đầu tư và xây dựng dự án thường dài từ 3 đến 5 năm, đời sống của
dự án > 30 năm
- Thứ ba, đa số các dự án, công trình thuộc đầu tư xây dựng được tạo
ra ở một vị trí cố định Nên nó chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế
xã hội của vùng Để hoạt động đầu tư có hiệu quả nhà đầu tư cần tìm hiểu rõ điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội nơi có dự án được đầu tư
- Thứ tư, vì thời gian đầu tư và vận hành kết quả kéo dài, vốn đầu tư
lớn nên hoạt động đầu tư xây dựng dự án có mức độ rủi ro cao Do đó khi tiến hành phải nghiên cứu mọi yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư của dự án, xem xét các nguyên nhân rủi ro và biện pháp loại bỏ, hạn chế rủi ro
Ngoài ra, hoạt động đầu tư vào dự án còn có một số đặc điểm như: Thành quả có giá trị lớn, chịu tác động lớn từ điều kiện ngoại cảnh: khí hậu, thời tiết, luật pháp, chính sách đó là những rủi ro ngoài tầm kiểm soát của
Trang 20nhà đầu tư
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị, đó là việc lập dự án đầu tư, kiểm soát và hiệu chỉnh các dự án đầu tư theo mục tiêu mong đợi
Từ việc xem xét khái niệm của đầu tư xây dựng, chúng ta có thể khẳng định đầu tư xây dựng là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Vai trò của đầu tư xây dựng được thể hiện ở các mặt sau đây:
* Đầu tư vừa tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
* Đầu tư là một nhân tố tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế
* Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Đầu tư ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
* Đầu tư ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học và công nghệ
* Đầu tư ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động
Quản lý một dự án đầu tư xây dựng rất khác với quản lý một tổ chức có trạng thái ổn định Một dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rất rõ ràng trong khi một tổ chức ổn định vận hành liên tục
Chính vì lẽ đó mà việc quản lý có hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng
là cực kỳ quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp Chúng ta phải nghiên cứu những biện pháp cải thiện tính hiệu quả của quản lý đối với các dự án xây dựng và kiểm soát được quá trình xây dựng theo các chuẩn mực Mục đích mong đợi
Quản lý
Dự án Lập
kế hoạch Thực thi Kiểm tra
Thêi gian
TiÒn vèn
C¸c nguån nh©n lùc vµ
kü thuËt
S¶n phÈm
è
Trang 21[
1.3.3 Cỏc giai đoạn đầu tư và xõy dựng một dự ỏn đầu tư
Ở Việt Nam "Quy chế quản lý dự ỏn đầu tư xõy dựng cụng trỡnh" ban hành kốm theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/02/2005 của Chớnh phủ, phõn trỡnh tự đầu tư và xõy dựng thành 3 giai đoạn chớnh:
- Chuẩn bị đầu tư;
- Thực hiện đầu tư;
- Kết thỳc xõy dựng đưa dự ỏn vào khai thỏc sử dụng, (hỡnh 1.4)
Hành động
(Action)
Lập kế hoạch (Plan) Xác định những mục tiêu Khảo sát các nguồn Hình thành chiến lược
Kiểm tra (Check)
- Đánh giá thanh tựu đạt
được so với mục đích
- Lập báo cáo
- Xử lý các vấn đề
Thực thi (Do) Phân phối nguồn Hướng dẫn thực thi Phối hợp các nguồn lực
động viên khuyến khích cán bộ
Hỡnh 1.3 Cỏc bước thực hiện quản lý dự ỏn đầu tư và xõy dựng
Nghiệm thu
xâydựng Nghiệm thu đưa vào sử dụng
Trang 22Trong quy chế còn phân loại các dự án theo quy mô và tính chất công trình thành các nhóm dự án và theo đó phân cấp quản lý
1.3.4 Phương pháp luận về nghiên cứu đầu tư và xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ
1.3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung:
Cũng như các dự án đầu tư khác, dự án đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ hàm chứa bản chất lưỡng tính: Một mặt dự án xây dựng thuỷ điện vừa và nhỏ
là tập hợp hệ thống các hồ sơ pháp lý về chủ trương, chính sách, biện pháp, quyết định đầu tư cho dự án và hồ sơ, tài liệu về thiết kế kỹ thuật, dự toán, tổ chức xây dựng, kế hoạch tiến độ thi công công trình….; Mặt khác, nói đầu tư
và xây dựng dự án cũng là một môi trường hoạt động theo mục đích đã được đặt ra là phát triển nguồn điện năng, kết hợp với phát triển dân sinh, kinh tế, quốc phòng, theo những yêu cầu đặt ra cho từng dự án Do đó dự án xây dựng
về thuỷ điện vừa và nhỏ được hiểu như một phạm vi hoạt động sáng tạo, tạo nên một nhiệm vụ chức năng công trình sản xuất điện năng (công trình nguồn điện) với mục tiêu, thời gian xây dựng nhất định
Đối tượng nghiên cứu về đầu tư và xây dựng các dự án thuỷ điện vừa
và nhỏ là các điều kiện về thiên nhiên, nơi đầu tư dự án, (bao gồm điều kiện
về thuỷ văn sông ngòi, nguồn nước, điều kiện về địa hình, địa chất địa mạo), điều kiện về môi trường sinh thái, điều kiện về dân sinh, kinh tế và nhu cầu cấp điện cho khu vực… Dựa trên những cơ chế chính sách về đầu tư và xây dựng của Nhà nước và khả năng đầu tư của chủ đầu tư (khả năng về nguồn vốn, nhu cầu về tiến độ xây dựng, kế hoạch khai thác sau khi dự án đi vào sản xuất, chế độ vận hành kinh doanh của nhà máy thuỷ điện) đầu tư dự án qua
Hình 1.4 Các giai đoạn quản lý một dự án đầu tư
Trang 23các giai đoạn Từ đó ưu tiên xem xét đánh giá việc đầu tư theo chu kỳ đầu tư
dự án Nếu nhìn từ các công việc của một dự án đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ thì chu kỳ của dự án bao gồm các công việc theo sơ đồ sau đây:
Trang 24Hình 1.5 Chu kỳ dự án đầu tư Thủy điện vừa và nhỏ
Khi xác định và đầu tư dự án thuỷ điện vừa và nhỏ ở giai đoạn nghiên cứu quy hoạch, lập báo cáo cơ hội đầu tư (BCĐT), lập dự án đầu tư (DAĐT) phải nghiên cứu khảo sát, phân tích đánh giá tiềm năng thuỷ điện
Theo sơ đồ khai thác bậc thang các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ của một con sông (nhánh sông hay suối) để xác định tên, vị trí, quy mô tổng quát
dự án cần đầu tư Trong giai đoạn này việc khảo sát, phân tích đánh giá sàng lọc dự án đầu tư trên các tiêu chí sau:
a)Tiêu chí về kinh tế và kỹ thuật:
+ Những dự án có khả năng lắp đặt được công lắp máy
Nlm = 5 ÷ 30MW (hoặc lớn hơn đã được xác định trong quy hoạch thuỷ điện quốc gia) được khảo sát, phân tích đánh giá chủ yếu được sàng lọc, lựa chọn ở những vị trí có chênh lệch cột nước cao (Ht cao), riêng đối với những
Lo¹i bá
Lo¹i bá
Lùa chän S¶n xuÊt
Chu kú
dù ¸n
Lùa chän
Trang 25vị trí dự kiến đầu tư dự án có lưu vực (Flv: km2) lượng nước lớn nhưng không
có độ chênh cao địa hình nhiều thì có thể chọn nhà máy sau đập sao cho hạn chế việc ngập lụt, tác động đến môi trường tự nhiên Các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ dự kiến được đầu tư xây dựng theo nguyên tắc sử dụng năng lượng trực tiếp từ dòng sông thông qua các biện pháp công trình đập dâng nước thấp, từ cột nước qua tuyến năng lượng dẫn đến nhà máy để phát điện theo công suất tính toán, một số dự án có thể sử dụng hồ chứa điều tiết ngày đêm, điều tiết tuần hay mùa để nâng cao hiệu quả của khả năng phát điện của
nó
+ Việc khảo sát, phân tích, đánh giá, lựa chọn dự án: được tuân theo trình tự theo trình tự như mục 1.3.4 theo các chỉ tiêu tính toán về phân tích tài chính, phân tích kinh tế của dự án Cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích hiệu ích kinh tế của dự án có thể sử dụng phương án thay thế hoặc phương pháp đánh giá hiệu ích chính bản thân phương án đó đối với nền kinh tế quốc dân Hiện nay, luận chứng để lựa chọn phương án thay thế để phân tích hiệu quả kinh tế của dự án gặp nhiều khó khăn, đôi khi không chứng minh được tính kinh tế của phương án đang nghiên cứu xem xét Cho nên để phân tích kinh tế của dự án đầu tư về năng lượng (trong đó có các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ), Bộ Công nghiệp đã cho phép và quy định sử dụng phương pháp xác định hiệu ích của chính bản thân
dự án đầu tư đó đối với nền kinh tế quốc dân Kết quả phân tích kinh tế của
dự án bao gồm các chỉ tiêu sau:
* Chỉ số B/C: thông qua chỉ tiêu này xác định thứ tự ưu tiên các phương
án để chọn phương án có hiệu quả cao nhất về kinh tế
Trong đó:
B: là lợi ích của dự án bao gồm:
Trang 26- Doanh thu bán điện: Doanh thu bán điện được xác định trên cơ sở giá bán điện mà nhà máy thuỷ điện có thể bán được (giá bán điện theo khung giá quy định của Nhà nước)
- Các lợi ích khác thu được từ dự án như: lợi ích phát điện kết hợp chống hạn, chống lũ, các nguồn lợi thuỷ sản thu được từ hồ chứa của nhà máy thuỷ điện, giảm sự cố cắt điện (giảm thiểu thiệt hại đối với nền kinh tế khi có nhà máy thủy điện)
C: là dòng chi của dự án bao gồm:
- Vốn đầu tư xây dựng dự án (từ khi chuẩn bị đầu tư đến kết thúc đầu tư)
- Chi phí nguyên liệu, chi phí quản lý, chi phí vận hành và các chi phí đầu vào khác khi nhà máy được đưa vào sử dụng khai thác
Xác định dựa trên B/C phải tính theo dòng đời dự án Đối với dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, dòng đời dự án được quy định là 30 năm Phương án tính toán có chỉ tiêu B/C >1 và B/C cao nhất là phương án có hiệu quả kinh tế nhất
* Giá trị hiện tại ròng NPV (đồng), với điều kiện NPV > 0:
n
i i
r
C r
B
0
1 )
1 ( 1
Trong đó:
n - là số năm hoạt động kinh tế của dự án (dòng đời của dự án n ≥ 30 năm)
i - là thời gian tính toán 0 < i ≤ n (i = 0, n)
r(%) - là tỉ suất chiết khấu, tỉ lệ này hiện nay, đối với công trình điện năng thường được quy định từ 11,5% ÷ 12%
* Tỉ lệ hoàn vốn nội tại của dự án (EiRR%)
IRR% = r1 +
2 1
1
NPV NPV
NPV
− (r2 – r1) Trong đó:
r1- Tỉ suất chiết khấu nhỏ hơn tỉ lệ chiết khấu hạn định
r2 - Tỉ suất chiết khấu lớn hơn tỉ lệ chiết khấu hạn định
NPV1 - là giá trị hiện tại thuần tính theo r1
Trang 27NPV2 - là giá trị hiện tại thuần tính theo r2, với NPV2 < 0
Các chỉ tiêu kinh tế xác định được bao gồm các chỉ tiêu chính: B/C, EiRR % và NPV Thông thường 3 chỉ tiêu kinh tế này có cùng 1 xu thế (nếu B/C lớn thì EiRR% lớn và NPV lớn hoặc ngược lại) Khi so sánh phương án
về phân tích kinh tế, không phải lúc nào cũng đồng biến (nó phụ thuộc vào vốn đầu tư của phương án) Khi chọn phương án, ưu tiên chọn phương án có EiRR% cực đại
• Phân tích tài chính
Trong phân tích hiệu ích tài chính của dự án thuỷ điện vừa và nhỏ phải phân tích phương án kỹ thuật kiến nghị và xem xét trên quan điểm của chủ đầu tư
Đối với mỗi phương án đề xuất lựa chọn của một dự án, khi phân tích tài chính phải đưa yếu tố phân bố vốn đầu tư theo năm xây dựng, vai trò của
dự án trong hệ thống điện, khả năng phát huy năng lực phát điện của nhà máy theo năm vận hành phải được tính toán cụ thể Khi phân tích tài chính phải căn cứ vào cân bằng công suất và cân bằng điện năng trong hệ thống điện để
%
Hình 1.6 Biểu thị công thức xác định IRR %
Trang 28xác định giá trị công suất và điện lượng ứng với từng năm vận hành theo giờ cao thấp điểm, làm căn cứ dự báo, tính toán doanh thu hàng năm
Các chỉ tiêu phân tích tài chính cũng xoay quanh việc xác định các tỉ số B/C, NPV, FiRR% Trong các chỉ tiêu này FiRR% đóng vai trò quan trọng nhất, nó chỉ cho chủ đầu tư có khả năng về giới hạn của việc huy động vốn và vay vốn
Trong phân tích kinh tế và phân tích tài chính để đánh giá lựa chọn phương án đầu tư dự án còn phải phân tích, đánh giá về nguồn vốn, cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn, khả năng vay trả, có phương án huy động vốn và phương án tài chính, phân tích tính toán độ nhạy để chọn được phương án đầu
tư dự án có hiệu quả nhất Hiện nay đã được thể chế hoá bằng những quy định
cụ thể và sẽ được trình bày ở các mục sau
b) Các tiêu chí về kỹ thuật:
Các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ có công suất lắp máy từ 5MW ÷ 30MW theo quy định thường là các dự án nhóm B (có Tổng mức đầu tư (TMĐT) thường từ 100 ÷ 600 tỷ VNĐ) nên yêu cầu kỹ thuật, xây dựng không đòi hỏi khắt khe lắm Theo tiêu chuẩn xây dựng của nước ta hiện áp dụng: TCXDVN 285: 2002 thì các tiêu chí chính về kỹ thuật được quy định như sau:
- Cấp công trình: cấp III
- Mức đảm bảo thiết kế về điện năng theo tần suất PTK = 85%
- Mức đảm bảo về phòng lũ thiết kế với tần số P= 1%
- Mức đảm bảo an toàn về lưu lượng lũ kiểm tra: P = 0,2%
c) Các tiêu chí về môi trường:
Dự án đầu tư về thuỷ điện vừa và nhỏ phải được xem xét về môi trường, di dân, tái định cư, khi xây dựng xong dự án không được ngập lụt nhiều, những công trình nằm trong các vùng nhạy cảm như khu bảo tồn thiên
Trang 29nhiên, các vườn quốc gia hoặc các khu vực nguyên sinh cần được bảo vệ sẽ không được xem xét và đánh giá dự án là không có khả thi Tiêu chí về môi trường có thể căn cứ vào tiêu chí của Ngân hàng thế giới khi ra điều kiện cho vay vốn đầu tư cho các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ là:
- Giới hạn 5kW công suất lắp máy/ cho 1 ha ngập
- Giới hạn 7kW công suất lắp máy/ di chuyển 1 người
vừa và nhỏ
a) Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật:
Để khảo sát, tổng hợp, đánh giá, lựa chọn phương án đầu tư về dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, theo TCXDVN 285 – 2002 và theo những quy định hiện hành của Bộ Công nghiệp, của Ngành điện thì dự án thuỷ điện vừa và nhỏ có những chỉ tiêu chính như sau:
+ Công suất nhà máy thủy điện (MW, kW): là công suất định mức phát
ra của toàn bộ tuabin, máy phát của nhà máy, thường được gọi là công suất lắp máy, ký hiệu là Nlm (MW); Nlm= 5 đến 30MW
+ Sản lượng bình quân: E0 (106KWh/năm) là điện lượng bình quân năm nhà máy thuỷ điện phát ra
+ Số giờ sử dụng công suất lắp máy: T (giờ) là số giờ trong 1 năm công suất nhà máy thuỷ điện phát ra công suất lắp máy T = E0/Nlm
+ Chỉ tiêu kinh tế B/C: ENPV; EiRR%
+ Chỉ tiêu tài chính theo quan điểm dự án (theo phương án kỹ thuật kiến nghị lựa chọn) và chỉ tiêu tài chính theo quan điểm của chủ đầu tư: B/C, FNPV, FiRR%
Đối với các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, dự án đầu tư có tính khả thi là
dự án có:
- 3.500h ≤ T ≤ 4.200h
Trang 30- B/C > 1
- ENPV (FNPV) > 0
- EiRR% ; FiRR % cực đại
Nhà nước ta đã có những quy định cụ thể các chi tiêu kinh tế cũng như giới hạn về giá trị của những tham số cơ bản để tính toán xác lập các chỉ tiêu trên trong quá trình nghiên cứu, lựa chọn, phê duyệt các dự án đầu tư
b) Các thông số cơ bản của nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ:
Để nghiên cứu, tính toán, xác lập, chọn phương án đầu tư của nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ, theo những quy định hiện hành của Nhà nước và của cơ quan quản lý chuyên ngành, các thông số cơ bản của Nhà máy thuỷ điện thường có như sau:
+ Các thông số về công trình, nhà máy: gồm các thông số của hồ chứa nước (điều tiết ngày đêm, điều tiết tuần, điều tiết mùa hay không điều tiết), các thông số của đập dâng nước, các thông số về thuỷ văn, thuỷ năng và kinh
tế năng lượng, các thông số về tuyến năng lượng (gồm các hạng mục công trình của nhà nước, tuyến đường hầm áp lực, tuyến đường áp lực, nhà máy thuỷ điện )
+ Các thông số về kinh tế kỹ thuật nhà máy: gồm các thông số về tổng mức đầu tư xây dựng công trình, chi phí xây lắp, chi phí thiết bị các chi phí khác, lãi vay ngân hàng, thời gian hoàn vốn, giá thành xây dựng trên 1 MW công suất lắp máy…
Tất cả các thông số cơ bản trên dùng làm dữ liệu để nghiên cứu so sánh trong khi lựa chọn phương án đầu tư Khi đã lựa chọn và quyết định đầu tư dự
án thì các thông số trên là cơ sở pháp lý về kinh tế và kỹ thuật nói lên đặc
trưng quy mô của một dự án đầu tư về thuỷ điện vừa và nhỏ
1.4 Tổ chức thực hiện đầu tư các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ
1.4.1.Giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án:
Trang 31Sau quá trình nghiên cứu xem xét, xác định cơ hội đầu tư của dự án tại một địa điểm nhất định, dựa trên quy hoạch (quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ toàn quốc) đã được sơ bộ tên và quy mô khái quát của dự án đầu tư để đưa vào kế hoạch đầu tư phát triển dự án Khi được chủ đầu tư phê duyệt, chủ quản đầu tư phê duyệt chủ trương đầu tư thì dự án đầu tư chuyển sang bước chuẩn bị đầu tư, gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án: Trong giai đoạn chuẩn
bị đầu tư dự án thuỷ điện vừa và nhỏ (chủ yếu thuộc nhóm B - phân theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 7/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình)
Bước 1: Lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư
(trước đây đối với dự án thuỷ điện vừa và nhỏ thường được gọi là lập báo cáo
cơ hội đầu tư và xin phép đầu tư) Nội dung của báo cáo đầu tư xây dựng công trình (BCĐT) gồm có:
+ Sự cần thiết phải đầu tư dự án
+ Dự kiến quy mô đầu tư dự án về quy mô công suất, sản lượng bình quân năm, các hạng mục công trình cần xây dựng, vị trí dự kiến xây dựng công trình và nhu cầu sử dụng đất
+ Phân tích lựa chọn sơ đồ về công nghệ, kỹ thuật, các điều kiện cung cấp vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu, dịch vụ hạ tầng kỹ thuật Phương án tổng thể giải phóng mặt bằng, tái định cư, ảnh hưởng dự án với môi trường sinh thái, phòng chống cháy nổ, an ninh quốc phòng
+ Hình thức đầu tư, xác định tổng mức đầu tư (sơ bộ), thời gian thực hiện dự án, phương án huy động vốn theo tiến độ và hiệu quả kinh tế sơ bộ -
xã hội của dự án và phân kỳ đầu tư nếu có
Sau khi lập BCĐT xong, chủ đầu tư lập thủ tục xin phép đầu tư Việc xin phép và phê duyệt BCĐT được phân cấp theo dự án nhóm B và hình thức huy động vốn
Trang 32Bước 2: Lập báo cáo dự án đầu tư xây dựng công trình (DAĐT) và
thiết kế cơ sở (TKCS) dự án, chủ đầu tư phải tổ chức:
1 Lập báo cáo DAĐT
2 Lập TKCS dự án
3 Lập hồ sơ xin thẩm định và xin phê duyệt DAĐT và TKCS
nội dung sau đây:
+ Sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu đầu tư của dự án
+ Vị trí địa điểm, quy mô, diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình chính, công trình phụ của dự án Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ và công suất của nhà máy thuỷ điện
+ Các giải pháp thực hiện bao gồm: Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư, các phương án hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật của dự án, các phương án thực tế xây dựng, các phương án khai thác và sử dụng lao động khi nhà máy đi vào sản xuất kinh doanh, phân đoạn thực hiện và hình thức quản
nội dung:
+ Tóm tắt nhiệm vụ thiết kế xây dựng nhà máy, giới thiệu tóm tắt mối liên hệ của công trình với quy hoạch xây dựng tại khu vực, các điều kiện tự nhiên như tình hình thuỷ văn khí tượng, tiêu chuẩn được áp dụng
+ Thuyết minh công nghệ: Các phương án công nghệ lựa chọn, danh
Trang 33mục thiết bị công nghệ (chủ yếu về cơ khí thuỷ lực, thuỷ công, thiết bị điện)
và các thông số kỹ thuật chủ yếu của công trình
+ Phần thiết kế cơ sở bao gồm thuyết minh và các bản vẽ thiết kế cơ sở (TKCS) Hồ sơ xin thẩm định và xin phê duyệt dự án đầu tư ở giai đoạn này gồm có: Báo cáo dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế cơ sở dự án và tờ trình xin thẩm định, xin phê duyệt đầu tư dự án Đối với dự án thuỷ điện vừa
và nhỏ sẽ được phân cấp thẩm định, phê duyệt theo quy mô nhóm B và theo nguồn vốn đầu tư, thực hiện theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP và quy định số 50/2002/QĐ-BCN ngày 23/11/2002 của Bộ Công nghiệp về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập; Các cơ chế chính sách, quy định cụ thể sẽ được trình bày ở mục 1.5 của luận văn này
1.4.2.Giai đoạn thực hiện đầu tư dự án
Sau khi báo cáo đầu tư xây dựng công trình và thiết kế cơ sở được cấp thẩm quyền phê duyệt (người quyết định đầu tư dự án), thì dự án được chuyển bước sang giai đoạn thực hiện đầu tư
Đối với dự án thủy điện vừa và nhỏ, giai đoạn thực hiện đầu tư thường được thực hiện qua các bước
Bước 1: Tuyển chọn nhà thầu tư vấn lập thiết kế kỹ thuật - tổng dự
toán, lập thiết kế, bản vẽ thi công cho toàn dự án, trong tuyển chọn tư vấn có thể tuyển chọn tư vấn chính, tư vấn phụ (để thực hiện những hạng mục đặc thù chuyên ngành như: lập phương án di dân tái định cư, rà phá bom mìn, đường giao thông, hệ thống điện của nhà máy và đơn vị tư vấn chính được thầu không có tư cách tư vấn thiết kế các công trình chuyên ngành kể trên) Các bước thiết kế của dự án thuỷ điện vừa và nhỏ thương phải chọn 1 trong 2 bước thiết kế sau:
- Thiết kế 2 bước bao gồm thiết kế cơ sở (đã lập ở giai đoạn lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình) và thiết kế bản vẽ thi công (BVTC) Thiết kế 2
Trang 34bước thường chỉ áp dụng đối với các hạng mục phụ trợ của dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, các hạng mục chính như công trình đầu mối, tuyến năng lượng, thiết bị nhà máy đều phải được thiết kế theo 3 bước
- Thiết kế 3 bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật - Tổng dự toán (TKKT - TDT) và thiết kế BVTC Đối với dự án thuỷ điện vừa có Nlm từ 20MW ÷ 30MW phải xử lý những giải pháp kỹ thuật phức tạp thì đều thiết kế
3 bước cho toàn dự án, trừ những hạng mục phụ trợ, kỹ thuật đơn giản
Việc thiết kế 2 bước, hay 3 bước đối với dự án thuỷ điện vừa và nhỏ do người quyết định đầu tư quyết định Sau khi thiết kế được lập, chủ đầu tư phải xin phép sử dụng tài nguyên (tài nguyên đất), thoả thuận về địa điểm xây dựng dự án với các cơ quan địa phương và UBND địa phương, nơi có dự án đầu tư trước khi lập thủ tục trình duyệt với người quyết định đầu tư (là Bộ Công nghiệp, Tổng công ty điện lực Việt Nam, hoặc UBND địa phương tùy theo nguồn vốn đầu tư dự án)
Trường hợp chủ đầu tư lựa chọn Tổng thầu thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị, thi công xây dựng công trình (gọi là Tổng thầu EPC) Nhà thầu được chọn Tổng thầu EPC sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đầu tư dự án từ khi TKKT - TDT, lập thiết kế BVTC đến khi kết thúc bàn giao đưa vào sử dụng
Bước 2 Tổ chức xây dựng công trình
Sau khi TKKT - TDT, BVTC được duyệt, chủ đầu tư bắt đầu thực hiện
tổ chức xây dựng công trình Đối với các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, chủ đầu
tư có thể tổ chức tuyển chọn nhà thầu để (tổ chức đấu thầu, đầu thầu hạn chế, chỉ định thầu) Tổng thầu xây dựng dự án, hoặc đấu thầu từng hạng mục của
dự án Việc lựa chọn hình thức nào là do chủ đầu tư trình, người quyết định đầu tư quyết định Dù đấu thầu theo hình thức, quy mô như thế nào, chủ đầu
tư đều phải quản lý trực tiếp về tiến độ, chất lượng, khối lượng và giá thành
Trang 35đầu từ thực hiện dự án
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các quyết định, quy chế, nghị định để tạo ra cơ chế, chính sách thúc đầy đầu và xây dựng các dự án thuỷ điện nói chung và các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ nói riêng Các cơ chế chính sách này
cơ chế quản lý Nhà nước về mặt vĩ mô để tạo nhiều điều kiện thúc đẩy, tạo
cơ hội thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, áp dụng công nghệ khoa học tiên tiến, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án thuỷ điện, trong đó có các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ Những cơ chế, chính sách đó tập trung ở những văn bản pháp quy chính sau:
1 Quy chế về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ban hành theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ
2 Quyết định số 95/2001/QĐ-TTg ngày 22 tháng 06 năm 2001, Quyết định số 40/2003/QĐ-TTg ngày 21/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt hoạch định phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 có xét đến triển vọng năm 2002 (Tổng sơ đồ phát triển điện lực V - TSĐ V)
3 Quyết định số 50/2002/QĐ-BCN ngày 23 tháng 11 năm 2002 của Bộ Công nghiệp quy định về quản lý đầu tư các dự án thuỷ điện độc lập
4 Công văn số 797/CP-CV ngày 17-6 năm 2003 của Chính phủ gửi các
Trang 36Bộ, ban ngành ở TW và các cơ quan địa phương về việc áp dụng 1 số cơ chế thực hiện các dự án thuỷ điện khởi công năm 2003 - 2004
5 Công văn số 400/CP-CN ngày 26 tháng 03 năm 2004 của Chính phủ gửi các Bộ, ban ngành quản lý chức năng TW về việc thực hiện cơ chế đầu tư
và xây dựng các dự án thuỷ điện
6 Quy hoạch thuỷ điện vừa và nhỏ toàn quốc tháng 1/năm 2005 của Tổng Công ty điện lực Việt Nam
7 Quyết định số 1195/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng các công trình điện cấp bách trong giai đoạn 2006 - 2010, trong đó những dự án thuỷ điện vừa và nhỏ được xây dựng trong giai đoạn 2006 - 2100
sẽ được áp dụng những cơ chế chính sách trong quyết định 1195/QĐ - TTg
Những cơ chế, chính sách chung, chính sách đặc thù để khuyến khích thu hút đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án thuỷ điện lớn, thuỷ điện vừa và nhỏ đã đang được áp dụng trên các lĩnh vực sau đây:
1.5.2 Chủ trương phát triển đầu tư
- Phát triển nguồn điện phải đáp ứng về yêu cầu phụ tải: đến hết năm
2005 các nhà máy điện trong cả nước đạt sản lượng từ 45 đến 50 tỉ KWh, dự báo năm 2010 đạt sản lượng từ 70 đến 80 tỷ kWh và năm 2020 đạt sản lượng
từ 160 - 200 tỉ kWh Phát triển nguồn điện cũng phải đảm bảo cung cấp điện
an toàn, chất lượng, ổn định hiệu quả hợp lý để phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nước
- Khai thác tối đa các nguồn năng lượng có hiệu quả kinh tế cao như thuỷ điện, nhiệt điện khí, nhiệt điện than… Ưu tiên xây dựng các nhà máy thuỷ điện có lợi ích tổng hợp như sản xuất điện, chống bù, cấp nước Phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ theo cơ chế về quản lý đầu tư các dự án điện độc lập IPP, nhà máy điện BOT, nhà máy điện (BT), nhà máy điện (BOO), liên
Trang 37doanh hoặc cổ phần các nhà máy thuỷ điện với các nhà đầu tư trong nước và với các nhà đầu tư ở nước ngoài
- Xây dựng và phát triển các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ phải đáp ứng
cơ cấu nguồn điện chung của quốc gia và được nghiên cứu đầu tư tính toán cho phù hợp với điều kiện kỹ thuật, phù hợp với điều kiện nguồn nước, đảm bảo khai thác của dự án và hệ thống điện, của địa phương và khu vực để chủ động cung cấp điện theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt của nhân dân trong mùa khô và mùa mưa, kể cả năm ít nước, giờ cao điểm, giờ thấp điểm, đáp ứng nguồn nước phục vụ nông nghiệp, phòng lũ…
- Phát triển nguồn thuỷ điện vừa và nhỏ các dự án có hiệu quả để đấu nối với hệ thống điện quốc gia hoặc khu vực, giải quyết cấp điện cho khu vực, địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa với những cơ chế, chính sách thực hiện
có hiệu quả trình thủ tướng chính phủ xem xét quyết định
1.5.3 Cơ chế nguồn vốn đầu tư
Chính phủ đã có những cơ chế, chính sách về vốn đầu tư cho các dự án thuỷ điện trọng điểm và các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ nằm trong tổng sơ đồ phát triển điện lực V (TSĐV), đặc biệt nhằm khuyến khích phát huy tối đa các nguồn lực trong nước để xây dựng các dự án nguồn điện, trong đó có các dự
án thuỷ điện vừa và nhỏ, đó là những cơ chế:
Thứ nhất: Tổng Công ty điện lực Việt Nam giữ vai trò chủ đạo đáp
ứng điện cho phát triển kinh tế, xã hội và sinh hoạt cho nhân dân Những dự
án do Tổng công ty điện lực Việt Nam, các Công ty điện lực thành viên hạch toán độc lập làm chủ đầu tư được phép huy động mọi nguồn vốn để đầu tư các công trình thuỷ điện theo cơ chế tự vay, tự trả Các dự án thuỷ điện lớn, trọng điểm có thể dùng một phần vốn ngân sách Nhà nước cấp, vốn vay ODA, vốn vay tín dụng ngoài nước, trong nước Các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ có thể sử dụng một phần vốn khấu hao cơ bản để lại của Tổng công ty
Trang 38hoặc của các công ty (phải tự cân đối), vốn vay tín dụng xuất khẩu của người cung cấp thiết bị, vay vốn thiết bị trả bằng hàng, vốn liên doanh, cổ phần trong ngoài nước
Thứ hai: Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn đầu
tư xây dựng các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ theo các hình thức đầu tư:
+ Nhà máy điện độc lập (IPP): chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân trong ngoài nước đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện để khai thác và bán điện cho Công ty điện lực Việt Nam hoặc khách hàng dùng điện khác
+ Đầu tư xây dựng (BOT): Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao
+ Đầu tư xây dựng (BT): Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao
+ Đầu tư (BTO): Đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - vận hành
+ Công ty đầu tư liên doanh
+ Công ty đầu tư cổ phần
Thứ ba: Phương thức huy động vốn
- Vốn tự có, vốn góp hoặc vốn cổ phần chiếm ≥ 30% tổng vốn đầu tư (bao gồm Tổng mức đầu tư + lãi vay trong thời gian vốn vay)
- Vốn vay: Phần vốn vay ≤ 70% Tổng vốn đầu tư có thể vay:
+ 100% nguồn vốn vay huy động trong nước
+ 85% vốn thiết bị nhập ngoại vay nước ngoài còn lại vay trong nước + Lãi suất vốn vay trong nước: lấy bằng lãi suất thị trường trong nước (hiện tại ≤ 12%/năm), trong thời gian xây dựng được hưởng chính sách ưu đãi
về vay vốn
+ Thời gian trả nợ từ 7 - 15 năm
Trang 391.5.4 Về cơ chế tài chính
Nhà nước cho phép Tổng công ty điện lực Việt Nam được giữ lại tiền thuế sử dụng vốn hàng năm - đây là nguồn vốn Ngân sách nhà nước cấp để đầu tư xây dựng các công trình điện, trong đó có những dự án thuỷ điện vừa
và nhỏ
Theo quyết định 95/2001/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ thì thực hiện tiến trình điều chỉnh giá điện từ 7/2001 - đến 2005 Tiến trình điều chỉnh giá sẽ thực hiện từ 2006 - 2010 (nhưng nay vẫn dùng giá điện từ năm 2001 trở
về trước) để tính toán hiệu quả dự án đầu tư và khuyến khích thu hút đầu tư các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ
1.5.5 Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng
dự án thuỷ điện vừa và nhỏ xây dựng trong giai đoạn 2001 ÷ 2010 các chủ đầu tư được phép tuyển chọn chỉ định các đơn vị tư vấn thiết kế dự án, đơn vị
tư vấn thẩm định dự án theo các hình thức sau:
+ Đơn vị tư vấn có kinh nghiệm trong nước là đơn vị tư vấn thiết kế + Đơn vị tư vấn có kinh nghiệm trong nước là đơn vị tư vấn chính, đơn
vị tư vấn phụ là đơn vị tư vấn nước ngoài
Quy trình chọn chỉ định thầu tư vấn đã được EVN quy định như sau: Hình 1.8, biểu thị sơ đồ khối quy trình tuyển trọn tư vấn
Hình 1.9, biểu thị sơ đồ khối quy trình chọn tư vấn phụ nước ngoài
Trang 40Ban QLDA cùng TV lập TOR tư vấn và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Duyệt TOR chung và danh sách ngắn TV
Ban QLDA lập và phát hành HSMT
TV chính chẩn bị, lập và nộp bản chào
Ban QLDA đánh giá bản chào
& thương thảo hoàn thiện dự thảo hợp đồng để trình duyệt
Phê duyệt
Ký hợp đồng chính thức
Ban QLDA lập dự toán chi phí TV
Phê duyệt dự toán Tư vấn chính
chọn TV phụ NN
Không Đáp ứng
Đáp ứng Không