1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất ở nghệ an trong giai đoạn hiện nay

115 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ ---WX--- TRẦN QUANG VINH GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG NHÂN KỸ THUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SẢN XUẤT Ở NGHỆ

Trang 1

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

-WX -

TRẦN QUANG VINH

GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG NHÂN KỸ THUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SẢN XUẤT Ở NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Quản trị kinh doanh

Hà Nội – Năm 2013

Trang 2

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

-WX -

TRẦN QUANG VINH

GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG NHÂN KỸ THUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SẢN XUẤT Ở NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Quản trị kinh doanh

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Trần Văn Bình

Hà Nội – Năm 2013

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT 2 

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3 

LỜI MỞ ĐẦU 5 

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8  

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 8 

1.2 Một số khái niệm 10 

1.2.1 Hệ thống giáo dục quốc dân 10 

1.2.2 Cơ sở đào tạo nghề 12 

1.2.3 Doanh nghiệp 15 

1.2.4 Công nhân kỹ thuật 16 

1.2.5 Đào tạo công nhân kỹ thuật 17 

1.2.6 Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật 17 

1.2.7 Vai trò của lực lượng công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp 18 

1.2.8 Liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp 20 

1.2.9 Nhu cầu liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp 21 

1.3 Đào tạo công nhân kỹ thuật và việc làm trong cơ chế thị trường 24 

1.3.1 Xác định nhu cầu về nhân lực công nhân kỹ thuật 24 

1.3.2 Các phương pháp xác định nhu cầu về CNKT 25 

1.3.3 Đào tạo CNKT phải theo các quy luật của thị trường 25 

1.4 Mối liên kết giữa CSĐTN và DN 26 

1.4.1 Tuân theo theo nguyên lý "Học đi đôi với hành" 26 

1.4.2 Nội dung của mối liên kết 27 

1.4.3 Một số mô hình về mối liên kết giữa CSĐTN và DN 33 

1.5 Các loại hình tổ chức liên kết đào tạo giữa CSĐTN và DN 35 

1.5.1 CSĐTN và các DN là những đơn vị độc lập 35 

1.5.2 Tổ chức đơn vị sản xuất nằm trong CSĐTN 36 

1.5.3 Tổ chức CSĐTN nằm trong DN 37 

Trang 4

tỉnh Nghệ An 39 

2.1.1 Đặc điểm địa lí, dân cư và nguồn lao động 39 

2.1.2 Đặc điểm kinh tế 40 

2.2 Thực trạng đào tạo nghề tỉnh Nghệ An 41 

2.2.1 Số lượng và sự phân bố mạng lưới CSĐTN nghề 41 

2.2.2 Quy mô đào tạo 43 

2.2.3 Cơ cấu nghề đào tạo 44 

2.2.4 Chất lượng đào tạo 44 

2.2.5 Chương trình đào tạo 49 

2.2.6 Đội ngũ giáo viên giảng dạy 52 

2.2.7 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 54 

2.2.8 Một số tồn tại hạn chế về kết quả đào tạo và sử dụng CNKT 55 

2.3 Thực trạng liên kết đào tạo giữa CSĐTN với DN 56 

2.4 Thực trạng về quản lý liên kết đào tạo giữa CSĐTN và DN 58 

2.4.1 Thực trạng về quản lý nhà nước 58 

2.4.2 Một số tồn tại hạn chế trong tổ chức thực hiện liên kết 59 

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG NHÂN KỸ THUẬT 63  

3.1 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp 63 

3.1.1 Nguyên tắc đào tạo gắn với sử dụng 63 

3.1.2 Nguyên tắc hợp tác tự nguyện 63 

3.1.3 Nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi 64 

3.1.4 Nguyên tắc mua hàng phải trả tiền 64 

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên 64 

3.2 Yêu cầu trong liên kết 65 

3.3 Lựa chọn các giải pháp liên kết giữa CSĐTN và DN 65 

3.4 Các giải pháp liên kết giữa CSĐTN và DN 66 

Trang 5

3.4.3 Tăng cường và nâng cao chất lượng giáo viên và hợp tác nghiên

cứu khoa học từ DN 71 

3.4.4 Tăng cường tổ chức thực tập tại DN 76 

3.4.5 Huy động cơ sở vật chất của DN phục vụ đào tạo nghề 78 

3.4.6 Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách về liên kết đào tạo giữa CSĐTN và DN, đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên để được tạo cơ chế hợp tác thuận lợi 82 

3.5 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88 

3.6 Khảo sát về sự cần thiết và khả thi của các giải pháp 88 

3.6.1 Khảo sát tính cần thiết 89 

3.6.2 Khảo sát tính khả thi 90 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95  

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình làm luận em đã sử dụng cơ sở lý luận về liên kết đào

tạo công nhân kỹ thuật giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp với sự giúp

đỡ của PGS – TS Trần Văn Bình, thực sự em đã dành nhiều thời gian cho việc thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

Em xin cam đoan công trình này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng em, được lập từ nhiều tài liệu và liên hệ với số liệu thực tế để viết ra Không sao chép bất kỳ một công trình hay một luận án của bất cứ tác giả nào khác Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Học viên khóa 2011B

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Sơ đồ 1.2 Chất lượng đào tạo nghề

Sơ đồ 1.3 Mô hình đào tạo song hành

Sơ đồ 1.4 Mô hình đào tạo luân phiên/xen kẽ (Sanwich)

Sơ đồ 1.5 Mô hình đào tạo tuần tự

Mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung

tâm dạy nghề và các cơ sở khác có dạy nghề tính đến

30/6/2012

tỉnh

Bảng 2.4 Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề hàng năm

Bảng 2.5 Các nghề được tập trung đào tạo ở các cơ sở dạy nghề

Bảng 2.6 Kết quả điều tra chất lượng đào tạo CNKT qua thăm dò ý

Bảng 2.7

Kết quả điều tra chất lượng đào tạo CNKT qua thăm dò ý

kiến các CNKT đã được đào tạo (Chất lượng đào tạo được

đánh giá qua mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của người

được đào tạo)

Trang 9

BẢNG

Bảng 2.8 Kết quả điều tra chất lượng đào tạo CNKT qua thăm dò ý

Bảng 2.9 Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo

Bảng 2.10

Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo

so với yêu cầu của sản xuất qua ý kiến của người sử dụng

lao động

Bảng 2.11

Kết quả điều tra mức độ phù hợp của chương trình đào tạo

so với yêu cầu của sản xuất qua ý kiến của cán bộ quản lý

Bảng 2.14 Kết quả điều tra ý kiến của cán bộ quản lý các CSĐTN về

Bảng 2.15 Kết quả điều tra ý kiến của cán bộ quản lý các DN về mối

Bảng 3.1 Cấu trúc nội dung dạy học trong ĐTN và khả năng giảng

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Nguồn lực con người là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mối quốc gia Điều đó bắt nguồn từ vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu mà nếu thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sự phát triển Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi lợi thế sự phát triển đang chuyển dần từ yếu tố tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giá nhân công rẻ sang nguồn nhân lực ổn định và có chất lượng

Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, để thực hiện thành công

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng, một trong những vấn đề then chốt đặt ra là nguồn nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất Chủ trương chính sách của Đảng và

cơ quan quản lý nhà nước luôn quan tâm đặc biệt tới nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Trong những năm qua, đào tạo nghề của tỉnh Nghệ An đã nổ lực từng bước nâng cao chất lượng, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phát triển qui mô đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật của Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đào tạo nghề bộc lộ những hạn chế nhất định: cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong bối cảnh hội nhập; tình trạng bất cập giữa đào tạo và sử dụng gây thất nghiệp gia tăng, gây lãng phí cho xã hội Hệ quả là lãng phí nguồn ngân sách đào tạo của nhà nước; cơ hội tìm kiếm được việc làm phù hợp với trình độ đã được đào tạo của người lao động thấp; nhiều doanh nghiệp để có nguồn nhân lực theo mong muốn, sau khi tuyển lao động về phải cho đi đào tạo lại, rất mất thời gian, tiền bạc

Để đào tạo được đội ngũ lao động có chất lượng phù hợp với yêu cầu của sản xuất trong điều kiện khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng hiện nay

Trang 11

thì việc liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp cần có sự

quan tâm cao

Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Giải pháp liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp trong các mối liên kết nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp liên kết đào tạo công nhân kỹ thuật giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp ở Nghệ An Công tác điều tra, khảo sát chỉ tiến hành ở một số trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề và một số doanh nghiệp ở Nghệ An

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để phân tích, tổng hợp tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài

Trang 12

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn đánh giá, khảo sát, điều tra thực trạng liên kết đào tạo, phỏng vấn, thu thập thông tin

- Nhóm các phương pháp hỗ trợ khác

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc liên kết đào tạo công nhân kỹ thuật

- Đánh giá thực trạng về đào tạo, liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp

7 Giả thiết khoa học

Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật sẽ được nâng cao nếu như xây dựng được hệ thống các giải pháp liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp phù hợp và khả thi

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần: mở đầu, kết luận - kiến nghị, nội dung nghiên cứu gồm:

Chương 1 Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp trên đại bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3 Các giải pháp liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu

Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề (CSĐTN) với doanh nghiệp (DN) trong đào tạo nghề từ lâu đã được nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật (CNKT)

xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội

Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông Ở Nhật, Mỹ, Đức người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội

"Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất ở xí nghiệp Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận

Trang 14

suông" Tư tưởng này đã được cụ thể hóa trong nguyên lý giáo dục ở Việt Nam trong suốt lịch sử giáo dục của nước nhà Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, Tổng bí thư Trường Chinh đã khẳng định: "Biết và làm đi đôi; lý luận và hành động phối hợp"

Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho CSĐTN hợp tác với DN trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005 Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007 Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa CSĐTN với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này PGS - TS Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất [6]; Tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất" [19]; Trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" có nêu ra các giải pháp thiết lập quan hệ giữa CSĐTN và DN [16] Tác giả Hoàng Ngọc Trí với luận án tiến sĩ

"Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội" [15] có đề cập đến mối quan hệ giữa các trường nghề và đơn vị sản xuất Tác giả Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc

sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công

Trang 15

nghiệp Hà Nội" [17] có đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tố tác động đến quản lý quá trình đào tạo nghề

Một số bài báo khoa học đăng trên các báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu giáo dục điển hình như: Bài viết “Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Trịnh Thị Hoa Mai – Khoa Tài chính ngân hàng, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên tập chí Khoa học đại học Quốc gia Hà Nội, số 24 (2008), tr 30-34 [7]; Bài viết: “Doanh nghiệp và nhà trường: Mối liên kết lỏng lẻo” đăng trên báo Hà Nội mới ngày 13/8/2013 của tác giả Tuệ Phương; “Triển vọng từ liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp” đăng trên báo http://www.baodatviet.vn 16/07/2013; “Liên kết nhà trường - doanh nghiệp để nâng chất lượng dạy nghề” đăng trên báo http://gdtd.vn ngày 20/09/2013…./

Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan đến vấn đề hợp tác giữa trường nghề với DN trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Tuy nhiên, liên kết giữa CSĐTN và DN trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang còn nhiều vấn đề bất cập, vì vậy tác giả chọn vấn đề: “Liên kết giữa CSĐTN với DN nhằm nâng cao chất lượng công nhân

kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm

đề tài nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Hệ thống giáo dục quốc dân

1.2.1.1 Khái niệm hệ thống giáo dục quốc dân:

Hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) của một nước là toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và đào tạo cho thanh thiếu niên và công dân của nước đó.Những cơ quan này liên kết chặt chẽ với nhau hợp thành một hệ thống hòan chỉnh và cân đối nằm trong hệ thống xã hội, được xây dựng theo

Trang 16

những nguyên tắc nhất định về tổ chức giáo dục và đào tạo nhằm đảm bảo thực hiện được chính sách của quốc gia trong lĩnh vực giáo quốc dân

Hệ thống GDQD gồm 2 hệ thống lớn:

học, từng lọai CSĐTN…CSĐTN là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống GDQD, là cơ quan của nhà nước chuyên trách việc đào tạo con người theo yêu cầu của nền kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đọan lịch sử

khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao,văn hóa nghệ thuật…với các tổ chức như nhà văn hóa, câu lạc bộ , thư viên, trạm khoa học kỹ thuật… nơi dành cho thanh thiếu niên học tập, vui chơi giải trí, bồi dưỡng chính trị đạo đức, phát triển năng khiếu Các cơ quan giáo dục ngòai CSĐTN cũng là những thể chế

do nhà nước quản lý hoặc do các đòan thể xã hội phụ trách

- Trường trung cấp chuyên nghiệp

Trang 17

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

(Theo luật giáo dục sửa đổi năm 2009)

1.2.2 Cơ sở đào tạo nghề

1.2.2.1 Đào tạo nghề

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là:

Trang 18

- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn

1.2.2.2 Cơ sở đào tạo nghề

Cơ sở đào tạo nghề là cơ sở hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, CSĐTN theo Luật Dạy nghề qui định bao gồm các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề

1.2.2.3 Phân loại và hình thức đào tạo nghề

76.2006QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 quy định các trình độ đào tạo trong dạy nghề như sau:

a Sơ cấp nghề:

thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

- Dạy nghề trình độ sơ cấp được thực hiện từ ba tháng đến dưới một

năm đối với người có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học

- CSĐTN trình độ sơ cấp

Trang 19

+ Trung tâm dạy nghề

+ Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp

+ DN, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọi chung là DN), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp

b Trung cấp nghề

thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

- Dạy nghề trình độ trung cấp được thực hiện từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;

từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở Phân bổ thời gian giữa lý thuyết và thực hành trong các môn học, mô-đun đào tạo nghề: Lý thuyết chiếm 15% - 30%, thực hành chiếm

70% - 85% (Quy định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề ban

hành kèm theo quyết định số 58/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 9/6/2008 của bộ trưởng bộ LĐTBXH)

+ Trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp +Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp

Trang 20

c Cao đẳng nghề

thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình

độ cao hơn

- Dạy nghề trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề cùng ngành nghề đào tạo Phân bổ thời gian giữa lý thuyết và thực hành trong các môn học, mô-đun đào tạo nghề: Lý thuyết chiếm 25% -

35%; Thực hành chiếm 65% - 75% (Quy định về chương trình khung trình độ

cao đẳng nghề ban hành kèm theo quyết định số 58/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 9/6/2008 của bộ trưởng bộ LĐTBXH)

Theo từ điển Tiếng việt: DN được hiểu là "Đơn vị kinh doanh, như xí

nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất, v.v."

họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày

1 tháng 7 năm 2006, DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở

Trang 21

giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các HĐ kinh doanh

Các DN là tế bào quan trọng của nền kinh tế Sự lớn mạnh của các DN quyết định sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Hoạt động trong môi trường hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay, các DN Việt Nam đứng trước nhiều thách thức Một trong những khó khăn mà nhiều DN đang gặp phải là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

1.2.4 Công nhân kỹ thuật

Công nhân kỹ thuật là người lao động trong các lĩnh vực kỹ thuật, trực tiếp vận hành các thiết bị, công cụ lao động để làm ra các sản phẩm cho xã hội hoặc thực hiện các dịch vụ kỹ thuật trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân, ví như người thợ tiện, thợ sửa chữa xe máy, người lái xe

Dù ở trình độ nào, ngành nghề nào thì để trở thành CNKT, người lao động đều cần phải qua các khoá đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn để có những năng lực cần thiết cho việc hành nghề

Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của từng vị trí lao động mà thị trường lao động đòi hỏi, công nhân kỹ thuật có nhiều trình độ khác nhau

Ở nhiều nước trên thế giới, CNKT được chia thành 3 trình độ: CNKT bán lành nghề (semi-skilled worker), CNKT lành nghề (skilled worker) và CNKT lành nghề trình độ cao (highly-skilled worker)

Ở nước ta trước đây CNKT chỉ được đào tạo ở mức độ lành nghề (bậc 3/7) Ngày nay, để chuẩn bị cho quá trình CNH-HĐH đất nước, Luật Dạy nghề 2006 đã quy định Dạy nghề có 3 cấp trình độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Do vậy, CNKT cũng sẽ có 3 trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng

Trang 22

1.2.5 Đào tạo công nhân kỹ thuật

Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO các loại hình đào tạo được nhìn nhận như sau:

Đào tạo chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với chương trình

đào tạo được quy định, khi người học tốt nghiệp một khoá đào tạo theo một chương trình nào đó có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo có trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo không chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với các

chương trình đào tạo thiết kế theo nhu cầu của người học hoặc người sử dụng lao động mà khi học xong chương trình này người học có thể không được thừa nhận để tiếp tục học trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo phi chính quy là hình thức đào tạo nhằm hình thành một số

năng lực cho người lao động, không theo một chương trình được quy định nào

Với đặc điểm của đào tạo CNKT, thực hành là chủ yếu, quá trình đào tạo

có thể được thực hiện tại CSĐTN, tại DN hoặc liên kết giữa trường và DN

1.2.6 Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật

Hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm về chất lượng khác nhau Trước hết có hai loại quan niệm về chất lượng: chất lượng tuyệt đối; và chất lượng tương đối

Chất lượng theo quan niệm tuyệt đối:

- Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác

- Theo từ điển Oxford Pocket Dictionary: Chất lượng là mức hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản của một sự việc, sự vật nào đó

Chất lượng theo quan niệm tương đối:

Trang 23

Khái niệm về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn

ISO 9000-2000, chất lượng có khái niệm là: “Mức độ của một tập hợp các

đối với khái niệm sau đây: "chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật là mức độ

đạt được ở người công nhân kỹ thuật phù hợp với các mục tiêu đào tạo đã đề

ra, đồng thời phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động"

Sơ đồ1.2: Chất lượng đào tạo nghề

1.2.7 Vai trò của lực lượng công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp

nhân kỹ thuật những người lao động trực tiếp làm ra các sản phẩm, những người đứng máy, đứng theo dây chuyền công nghệ sản xuất

Trang 24

* Lực lượng công nhân kỹ thuật của một DN là người quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm đầu ra của DN

Một DN có lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề trình độ cao có kinh nghiệm sản xuất, có niềm đam mê nhiệt tình với công việc, gắn bó với tổ chức sẽ tạo ra cho doanh nghiệp nhiều sản phẩm có chất lượng với độ tin cậy cao Việc tao ra những sản phẩm chất lượng sẽ tạo cho DN uy tín đối với khách hàng, tạo được lợi thế cạnh tranh với các đối thủ khác Cạnh đó, số lượng sản phẩm cũng quyết định rất lớn tới doanh thu của DN Việc tăng năng suất gắn liền với thị trường tiêu thô sẽ đảm bảo cho DN một lượng doanh thu, đảm bảo cho DN một sự phát triển trên thị trường sản phẩm biến động không ngừng

* Lực lượng công nhân kỹ thuật là người quyết định chi phí sản xuất kinh doanh của DN

Với vai trò là người kết hợp các nguyên nhiên vật liệu đầu vào để tạo thành các yếu tố đầu ra việc sử dụng nguyên nhiên vật liệu của người công nhân như thế nào sẽ quyết định đến chi phí sản xuất kinh doanh của DN bởi chi phí về nhân công và chi phí nguyên nhiên vật liệu là chi phí của thành phẩm Các chi phí này liên quan đến chất lượng các sản phẩm được tạo ra, khi chất lượng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn thì nó sẽ giảm chi phí sản phẩm sai háng Bên cạnh đó, việc sử dụng tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu cũng góp phần tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp Việc lao động với năng suất cao cũng góp phần nâng làm giảm chi phí nhân công Chính vì thế, việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD) phụ thuộc rất lớn vào đội ngò công nhân sản xuất

* Lực lượng công nhân kỹ thuật là người tạo ra thặng dư cho DN

Là người kết hợp sức lao động với các tư liệu lao động tạo ra sản phẩm cho DN công nhân kỹ thuật là người tạo ra các giá trị thặng dư cho DN Giá

Trang 25

trị thặng dư là yếu tố quyết định cho sự tồn tại của các DN kinh doanh

vì mục tiêu lợi nhuận, nó quyết định sự phát đạt của doanh nghiệp hay là sự tàn bại của doanh nghiệp Tuy nhiên để phát huy được vai trò các giá trị đó thì doanh nghiệp cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố trong lĩnh vực quản lý điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm

* Lực lượng công nhân kỹ thuật là người tạo lên sự hoạt động của DN

Một doanh nghiệp để tồn tại được thì cần có các hoạt động mà người ta thường gọi là hoạt động SXKD Người công nhân là chủ thể trong quá trình sản xuất, là người tạo nên sự tồn tại của DN thông qua các hoạt động của mình Một DN tồn tại khi mà DN đó có sự phản ứng trước thị trường thay đổi Điều này phụ thuộc phần nào vào lực lượng công nhân trực tiếp, lực lượng công nhân lực lượng đông đảo nhất trong các doanh nghiệp

Từ trên ta thấy công nhân là một phần không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp là lực lượng quan trọng quyết định trong qúa trình tồn tại doanh nghiệp

1.2.8 Liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp

độ khác nhau tuỳ thuộc và yêu cầu vào khả năng của mỗi bên Các mức độ có thể kể đến là:

- Liên kết toàn diện là sự tham gia của các DN với CSĐTN trong mọi

lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo

- Liên kết có giới hạn là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh

vực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo

- Liên kết rời rạc là sự liên kết chỉ thực hiện trong một số lĩnh vực và

sự hợp tác này cũng có thể không thực hiện được thường xuyên mà chỉ thực hiện khi có điều kiện

Trang 26

1.2.9 Nhu cầu liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp

1.2.9.1 Về phía CSĐTN nghề

Hoạt động trong cơ chế thị trường, các CSĐTN phải tuân thủ một nguyên tắc chung là sản phẩm đào tạo của CSĐTN phải đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động rất đa dạng và đầy biến động Phép thử cho việc tuân thủ nguyên tắc đó chính là sự tiếp nhận của thị trường đối với những sinh viên tốt nghiệp (tất nhiên nhu cầu của thị trường không chỉ được xem xét trong ngắn hạn, mà còn gắn liền với chiến lược phát triển của dài hạn của nền kinh tế)

Rõ ràng, không thể đánh giá một CSĐTN là vững mạnh, có triển vọng, khi

mà số lượng sinh viên tốt nghiệp của CSĐTN vẫn bị thất nghiệp ngày càng nhiều Để có thể cung ứng cho thị trường những lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng, CSĐTN cần phải nắm bắt nhu cầu của DN nói riêng, của nền kinh tế nói chung Chính ở đây, các DN sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các CSĐTN nắm được nhu cầu lao động mà thị trường cần Do vậy, vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của CSĐTN luôn hướng tới nhu cầu xã hội nói chung, hướng tới nhu cầu DN nói riêng, như vậy, các CSĐTN luôn có nhu cầu phải được gắn kết với DN

1.2.9.2 Về phía DN

Để có đủ đội ngũ lao động thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình, các DN phải chủ động tìm kiếm lao động trên thị trường Con đường chung mà các DN vẫn thực hiện là tuyển dụng lao động qua các Hội chợ việc làm Bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận, việc tổ chức Hội chợ việc làm, về cơ bản, vẫn là con đường để đáp ứng nhu cầu lao động cho DN một cách thụ động Thực tế qua các Hội chợ việc làm được tổ chức gần đây cho thấy, mặc dù được tuyển chọn lao động trong điều kiện thị trường đầy ắp các cử nhân đang khát khao tìm việc, song hầu hết các DN đều không phải dễ dàng tìm được những lao động phù hợp cho mình Và nếu có tuyển dụng được

Trang 27

thì DN cũng còn phải đầu tư thêm thời gian, kinh phí để đào tạo lại đội ngũ này cho phù hợp với yêu cầu chuyên môn của DN Trong điều kiện đó, nếu có một CSĐTN đảm bảo cung cấp những sản phẩm đào tạo của mình đáp ứng đúng nhu cầu của DN, thì đối với DN đó là điều lý tưởng nhất Chính vì vậy, được hợp tác với một CSĐTN thực sự cũng là nhu cầu thiết thực của chính

DN

1.2.9.3 Về phía công nhân kỹ thuật

Hơn ai hết, CNKT trước khi tham gia học nghề là người cần nắm rõ khả năng có việc làm sau khi tốt nghiệp tại các CSĐTN Tuy nhiên, hiện nay các học sinh, sinh viên khi tham gia học nghề đều được định hướng theo sở thích, gia đình, theo các thông tin báo chí hoặc theo phong trào từng khu vực Những thông tin này thường không có định hướng rõ ràng và khả năng có công việc tốt sau khi ra trường thấp Vì vậy khi có sự liên kết giữa CSĐTN và

DN sẽ có những định hướng tích cực cho việc lựa chọn ngành nghề phù hợp

để tham gia học tập, đồng thời có môi trường học tập gắn liền giữa lý thuyết

và thực hành thực tế Qua đó, khi tốt nghiệp và đạt một trình độ nhất định đáp ứng nhu cầu của thị trường, CNKT sẽ dễ dàng có một công việc phù hợp, đúng với chuyền ngành mình học tập

Như vậy, liên kết đào tạo giữa CSĐTN và DN ở Việt Nam là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía mà chất lượng CNKT là hệ quả trực tiếp cho mối liên kết vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho DN

Vậy tại sao trong thực tế cho đến nay mối liên kết này vẫn chưa được tạo ra? Liên kết lỏng lẻo, mang tính đối phó, chắp vá giữa DN và CSĐTN đang trở thành lực cản các trường trong lộ trình nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời góp phần làm khó khăn thêm cho các DN trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh hiện nay Thực tế này xuất phát từ nhận thức chưa đúng về nhu

Trang 28

cầu và khả năng liên kết giữa CSĐTN và DN Điều này này thể hiện trên các mặt:

- Các CSĐTN thường không quan tâm nhiều đến thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp Sinh viên của trường sau khi tốt nghiệp có tìm được việc làm hay không, việc làm đó có đúng với chuyên môn được đào tạo không Dường như không phải là những vấn đề thuộc trách nhiệm của CSĐTN Mỗi giáo viên, những người trực tiếp làm công tác đào tạo thường coi đó là việc của lãnh đạo Lãnh đạo cấp Khoa thì coi đó là trách nhiệm của lãnh đạo cấp Trường, và cuối cùng ai cũng cho rằng đó là việc của Nhà nước Quan trọng hơn, hiện đang tồn tại một cơ chế mà, một mặt, vẫn nuôi dưỡng nhận thức chưa đúng và mặt khác, ngày càng làm mai một nhận thức tích cực

về nhu cầu và khả năng liên kết giữa CSĐTN và DN Đó là sự tách rời giữa khả năng tiếp nhận sản phẩm đào tạo của CSĐTN từ thị trường và sự lớn mạnh của CSĐTN, sự gia tăng thu nhập của từng thầy, cô giáo Thương hiệu của một CSĐTN dường như được xây dựng từ những thành tích trong quá khứ, gắn với tên tuổi của những nhà khoa học nổi tiếng, chứ không phải bằng

sự đóng góp hiện tại của CSĐTN về cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Mặc dù, việc tuân thủ nguyên tắc nhân quả trong quan hệ này là hết sức khó khăn, không dễ được thừa nhận Nhưng cũng

đã đến lúc phải mạnh dạn chấp nhận tính phụ thuộc của quan hệ này Chỉ khi nào sự tồn tại và lớn mạnh của các CSĐTN thực sự phụ thuộc vào việc tiếp nhận của thị trường lao động, trong đó có các DN, đối với sản phẩm mà họ cung ứng thì mới nảy sinh và nuôi dưỡng một nhận thức đúng đắn rằng, sản phẩm đào tạo của CSĐTN phải đáp ứng nhu cầu xã hội, của DN CSĐTN phải gắn với DN Đó không phải là quan hệ hỗ trợ, mà là vì sự sống còn của CSĐTN và DN trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và biến động

Trang 29

- Các DN hiện nay dựa trên nguồn lao động dồi dào và cần có việc làm của thị trường lao động, họ tự tin có thể tìm kiếm được những nhân lực tốt trên thị trường đó và đào tạo lại cho phù hợp với công việc thực tế tại doanh nghiệp mình Tuy nhiên, một thực tế diễn ra việc lựa chọn CNKT như vậy không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả cao khi phải tìm kiếm trên một thị trường lao động rộng lớn Đồng thời với việc tìm kiếm là công việc đào tạo lại những CNKT đã tuyển dụng sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí mà chưa

có chắc chắn đã tìm được CNKT phù hợp với yêu cầu của DN Với tâm lý tìm kiếm những CNKT có kỹ năng cơ bản tốt để đào tạo cho phù hợp với công việc, DN đã bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm dễ dàng hơn những CNKT vừa có kỹ năng

cơ bản tốt lại vừa phù hợp với công việc của mình bằng việc liên kết với CSĐTN để đào tạo ngay khi CNKT đang ở trong nhà trường Có một thực tế CSĐTN với những giáo viên vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực sư phạm tốt sẽ dễ dàng hơn trong việc đào tạo CNKT phù hợp với yêu cầu của

DN Do đó, việc liên kết này không chỉ có lợi cho CSĐTN mà còn có lợi trực tiếp cho DN qua việc quảng bá hình ảnh, tiếp nhận công nghệ kỹ thuật mới và tiếp nhận được những CNKT vào làm việc ngay không cần qua khâu đào tạo trung gian tại DN

1.3 Đào tạo công nhân kỹ thuật và việc làm trong cơ chế thị trường

1.3.1 Xác định nhu cầu về nhân lực công nhân kỹ thuật

Để học sinh - sinh viên tốt nghiệp có nhiều cơ hội tìm được việc làm, điều quan trọng là hệ thống đào tạo cần xác định được nhu cầu về lao động kỹ thuật nói chung và CNKT nói riêng của thị trường lao động

Với cơ sở Dạy nghề, xác định nhu cầu CNKT của các DN là một trong

những tiền đề quan trọng để xây dựng kế hoạch đào tạo và triển khai các chương trình đào tạo một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, của thị trường lao động về chất và góp phần

Trang 30

giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa nhu cầu của khách hàng và khả năng của

mình bằng cách xác định các ưu tiên trong việc mở các khoá đào tạo theo các

trình độ và ngành nghề khác nhau

1.3.2 Các phương pháp xác định nhu cầu về CNKT

1.3.2.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn các DN đối tác

Trong phạm vi hoạt động của mình, mỗi CSĐTN đều có những DN là đối tác, những DN này sử dụng học sinh tốt nghiệp của CSĐTN hàng năm

Do vậy, tổ chức điều tra phỏng vấn họ để có được nhu cầu đào tạo CNKT trước mắt cũng như kế hoạch phát triển nhân lực của họ trong một tương lai gần là điều cần thiết cho việc tổ chức các khoá đào tạo phù hợp cũng như chuẩn bị cho việc kế hoạch hoá đào tạo tương lai của trường

1.3.2.2 Phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh - sinh viên tốt nghiệp

Điều tra theo dấu vết học sinh, sinh viên tốt nghiệp đã tìm được việc làm và đang lao động ở các DN là một biện pháp khá hữu hiệu để xác định nhu cầu về CNKT, đặc biệt về mặt chất lượng là phương pháp Những học sinh sau khi tốt nghiệp trong quá trình lao động nghề nghiệp sẽ hiểu rõ hơn ai hết chất lượng của các chương trình họ đã được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của sản xuất tới mức độ nào, những nội dung nào là phù hợp, nội dung nào là không cần thiết và nội dung nào cần mà họ chưa được học

1.3.3 Đào tạo CNKT phải theo các quy luật của thị trường

1.3.3.1 Quy luật cung – cầu

Đào tạo giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp CNKT cho thị trường lao động Theo quy luật cung - cầu, nếu đào tạo CNKT cho một số ngành nghề và trình độ nào đó đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động

về chất cũng như về lượng thì một mặt sẽ tạo điều kiện để sản xuất phát triển mặt khác cũng kích thích thị trường lao động phát triển Nhưng nếu đào tạo

không đủ CNKT cho một số ngành nghề nào đó, cung không đủ cho cầu thì

Trang 31

sản xuất sẽ không phát triển được và một số DN phải nhập khẩu lao động kỹ

thuật Ngược lại, nếu đào tạo quá nhiều, cung vượt quá cầu thì một số CNKT

được đào tạo ra sẽ không tìm được việc làm và sẽ phải thất nghiệp

Do vậy, đào tạo CNKT phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động luôn biến động

1.3.3.2 Quy luật giá trị

Với quy luật giá trị, CNKT cũng như các CSĐTN nhân lực có chất lượng khác nhau phải được đối xử khác nhau, không thể cào bằng trong chính sách đào tạo cũng như chính sách sử dụng lao động kỹ thuật Có như vậy mới kích thích được sự phấn đấu vươn lên của người học cũng như của các CSĐTN để đạt chất lượng cao

1.3.3.2 Quy luật thặng dư

Với quy luật thặng dư, CNKT khi được đào tạo đáp ứng tốt cho thị trường lao động, các DN sẽ sử dụng nhiều hơn những CNKT, qua đó các CSĐTN sẽ có cơ hội tốt để đào tạo nhiều hơn những CNKT tại cơ sở mình

Có như vậy DN sẽ phát triển hơn, đồng thời CSĐTN cũng sẽ phát triển hơn

1.3.3.4 Quy luật cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường, những người lao động được đào tạo với chất lượng thấp sẽ ít có cơ hội tìm được việc làm và những CSĐTN kém chất lượng cũng sẽ dần dần bị xã hội đào thải Do vậy, trong cơ chế thị trường,

ngoài quy luật cung - cầu, cạnh tranh là một quy luật tất yếu Cạnh tranh lành

mạnh là một động lực cho sự phát triển

1.4 Mối liên kết giữa CSĐTN và DN

1.4.1 Tuân theo theo nguyên lý "Học đi đôi với hành"

“Học đi đôi với hành, thực tập kết hợp với lao động sản xuất, đào tạo gắn với sử dụng” đã trở thành một nguyên lý giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đào tạo nghề Lịch sử tiến hoá của loài người cũng đã chứng

Trang 32

minh rằng chỉ có thông qua lao động sản xuất loài người mới tồn tại và phát triển

(khách hàng) không được thiết lập hoặc thiết lập một cách hình thức trên quan

hệ xin-cho thì tất yếu dẫn đến tình trạng LĐKT vừa thừa lại vừa thiếu như tình trạng hiện nay, đến một chừng mực nào đó sẽ gây nên khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu về lao động kỹ thuật và sản xuất bị đình trệ, ngược lại, CSĐTN cũng không thể phát triển

Sản xuất phát triển, nhu cầu về CNKT và các loại LĐKT khác ngày càng tăng, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động đào tạo của cơ sở đào tạo phát triển Đào tạo càng phát triển, quy mô đào tạo ngày càng tăng và chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu CNKT về chất cũng như về lượng cho sản xuất; cứ như vậy, các đối tác, bên nọ thúc đẩy và tạo điều kiện cho bên kia phát triển một cách thuận chiều

Bởi vậy, thiết lập mối liên kết hữu cơ giữa CSĐTN và các DN nhằm mục đích hai bên cùng nhau hợp tác, gắn bó để hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển

1.4.2 Nội dung của mối liên kết

Mối liên kết giữa CSĐTN và DN phải được thiết lập trên quan điểm hệ

thống, có nghĩa là một mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực, với nhiều phương

thức, bởi lẽ mục tiêu cuối cùng của mối quan hệ này là để CSĐTN và DN

cùng nhau tác động để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo CNKT theo yêu cầu của sản xuất, mà chất lượng và hiệu quả thì chịu tác động của hàng

loạt nhân tố trong cũng như ngoài CSĐTN

Những nội dung chính trong mối quan hệ này có thể liệt kê ra như sau:

Trang 33

1.4.2.1 Trao đổi thông tin về nhu cầu đào tạo các ngành nghề và trình độ CNKT

Trong cơ chế thị trường, đánh giá nhu cầu đào tạo là bước khởi đầu quan trọng của việc phát triển một chương trình đào tạo hay tổ chức một khóa đào tạo Ngoài việc xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, các CSĐTN cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với các DN là khách hàng của mình để có những thông tin về nhu cầu nhân lực của họ cả về

số lượng lẫn chất lượng

Nếu các CSĐTN không có được thông tin về nhu cầu đào tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh mà tuyển sinh theo chỉ tiêu được phân phối một cách quan liêu, duy ý chí như hiện nay thì không tránh khỏi việc vừa thừa vừa thiếu lao động kỹ thuật

Trao đổi thông tin về nhu cầu đào tạo nhân lực nhằm các mục đích sau đây:

* Với CSĐTN:

- Tạo điều kiện cho CSĐTN biết được nhu cầu về CNKT thuộc các ngành nghề cũng như trình độ để hoạch định được các kế hoạch đào tạo và tổ chức được các chương trình đào tạo cũng như tuyển sinh phù hợp với nhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động

- Cung cấp thông tin cho CSĐTN về sự phù hợp của các chương trình đào tạo, những nội dung cần cải tiến, bổ sung hoặc cần thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất

* Với các DN:

- Biết được những thông tin đầy đủ về khả năng đào tạo của CSĐTN,

về ngành nghề và các trình độ CNKT cũng như những chương trình đào tạo

mà CSĐTN có thể cung cấp nhân lực cho các DN

- Giúp các DN có cơ hội tuyển chọn được những CNKT phù hợp với yêu cầu

Trang 34

* Với người học:

- Được hướng nghiệp và tư vấn nghề, giúp học sinh chọn được nghề phù hợp với nhu cầu xã hội cũng như năng lực bản thân để học

- Giúp học sinh tốt nghiệp có nhiều cơ hội để tìm được việc làm

* Với người lao động:

- Biết được những hình loại công việc còn nhiều vị trí CNKT bị thiếu

để hỗ trợ những người đang tìm việc có thể tìm được một việc làm càng nhanh càng tốt

1.4.2.2 DN tham gia với CSĐTN trong việc xây dựng chương trình đào tạo

Theo phương pháp tiếp cận mục tiêu trong đào tạo, mục tiêu đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của một chương trình đào tạo Nó là cơ sở để xây dựng nội dung chương trình cũng như để đánh giá chất lượng đào tạo đồng thời cũng là định hướng cho người học trong quá trình học tập

Mục tiêu đào tạo là những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học phải đạt được với những chuẩn được quy định để sau khi học xong một chương trình đào tạo có thể hành nghề

Với phương pháp tiếp cận thị trường, những chuẩn này phải xuất phát

từ yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động chứ không phải do hệ thống đào tạo tự đặt ra như hiện nay

Với cách tiếp cận như trên, trong quá trình xác định mục tiêu, chuẩn chương trình và nội dung đào tạo cho các ngành, nghề, các trình độ CNKT không thể không có sự tham gia của các DN

1.4.2.3 Các DN tham gia với CSĐTN trong quá trình tổ chức đào tạo

Sự liên kết giữa CSĐTN và DN trong việc tổ chức quá trình đào tạo mang lại các lợi ích sau đây:

* Với CSĐTN:

Trang 35

- Sử dụng được các thiết bị hiện đại của sản xuất, những thiết bị đắt tiền

mà CSĐTN không thể có để học sinh, sinh viên thực hành

- Sử dụng được những kỹ sư, công nhân giỏi trong sản xuất, những người thường xuyên được tiếp cận với những kỹ thuật và công nghệ mới tham gia vào công việc giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo

- Kịp thời và thường xuyên cập nhật, bổ sung và cải tiến được các chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất

- Có nhiều cơ hội để tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp

- Có điều kiện để tiếp cận được với môi trường sản xuất thật, với nhịp

độ khẩn trương của sản xuất công nghiệp với mục tiêu phấn đấu không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, những điều mà ở CSĐTN không thể có được Nhờ vậy, sớm hình thành được tác phong lao động công nghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp

Với những lợi ích nên trên, cần thiết lập mối liên kết giữa CSĐTN và các DN trong việc thực hiện quá trình đào tạo

Trang 36

1.4.2.4 Các đơn vị sản xuất tham gia đánh giá học sinh trong các kỳ thi tốt nghiệp

Ngoài việc tổ chức các kỳ thi, kiểm tra do các giáo viên của CSĐTN thực hiện như hiện nay, để việc đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên sau khi học xong một khóa đào tạo được chính xác, khách quan, trong Hội đồng chấm thi tốt nghiệp cần có một số thành viên là đại diện của các

DN Như vậy, sự đánh giá vừa bảo đảm tính khách quan vừa thực hiện được nguyên tắc bảo đảm chất lượng trong cơ chế thị trường là "vừa ý khách hàng"

1.4.2.5 Liên kết, hợp đồng đào tạo

Một nguyên tắc cơ bản của đào tạo là người học cần được học thực hành trong điều kiện càng sát với điều kiện sản xuất thực càng tốt CSĐTN liên kết với các đơn vị sản xuất trong đào tạo là một xu thế ngày càng phát triển rộng rãi ở nhiều nước bởi mối liên kết này có những ưu điểm sau đây:

- Gắn được đào tạo với sản xuất, với thị trường lao động

- Học sinh - sinh viên được học trong điều kiện sản xuất thực, nhờ vậy ngoài việc hình thành các kỹ năng, người học còn được rèn luyện thái độ lao động cần thiết, nhờ vậy, nâng cao được chất lượng đào tạo

- Đào tạo theo hợp đồng của các DN tạo điều kiện cho học sinh - sinh viên tốt nghiệp các khoá đào tạo đều có việc làm đúng ngành nghề và trình độ được đào tạo, do vậy nâng cao được hiệu quả đào tạo đồng thời nâng cao được uy tín cho CSĐTN

Với những ưu điểm nêu trên, liên kết, hợp đồng đào tạo giữa CSĐTN và các

DN đã trở thành một mô hình đào tạo hiện nay ở nhiều nước

1.4.2.6 Các DN góp phần kinh phí cho đào tạo

Một nguyên tắc đơn giản trong cơ chế thị trường là khi nhận một sản phẩm nào đó thì bên cầu phải trả tiền cho bên cung để trang trải các chi phí và cho phát triển Hơn nữa, trong điều kiện nước ta còn nghèo, việc đóng góp

Trang 37

kinh phí cho đào tạo và tham gia vào quá trình đào tạo là một hình thức để thực hiện xã hội hoá giáo dục

1.4.2.7 Hướng nghiệp, tư vấn nghề và giới thiệu việc làm

Hướng nghiệp đang là một khâu yếu của hệ thống đào tạo của chúng ta hiện nay Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các khóa đào tạo, hướng nghiệp và tư vấn nghề cho học sinh, sinh viên vào học các ngành nghề phù hợp và sắp xếp việc làm cho học sinh, sinh viên tốt nghiệp là những nhiệm vụ hết sức quan trọng cần được quan tâm

Hướng nghiệp, tư vấn nghề nhằm thu hút được đông đảo học sinh có các năng khiếu, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý phù hợp với nghề tham gia vào các khóa học Những học sinh này sẽ có khả năng thích ứng cao với nghề nghiệp cũng như nhanh chóng đạt tới mục tiêu đào tạo

Các DN cần tham gia vào công tác hướng nghiệp cho học sinh Bởi lẽ hơn ai hết, các nhà quản lý sản xuất, các kỹ sư, công nhân lành nghề là những người hiểu rõ các nội dung lao động của nghề, có thể mô tả tỉ mỉ các đặc điểm của nghề cũng như những yêu cầu của nghề đối với người lao động để giúp học sinh tìm hiểu và chọn nghề phù hợp

Giới thiệu việc làm cho học sinh tốt nghiệp cũng là một nhiệm vụ quan trọng Các DN chính là những người biết về nhu cầu lao động của mình, biết những vị trí lao động còn thiếu nhân lực, giới thiệu với học sinh để họ có cơ hội tìm việc làm và DN có cơ hội để chọn được lao động phù hợp

Tăng cường mối quan hệ giữa CSĐTN và DN trong công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề cho học sinh sẽ góp phần nâng cao được chất lượng CNKT sau đào tạo

Trang 38

1.4.3 Một số mô hình về mối liên kết giữa CSĐTN và DN

Với tính hiệu quả của nó, mối liên kết giữa CSĐTN và DN đã được

thiết lập từ lâu với nhiều mô hình khác nhau Một số mô hình sau đây đang

được áp dụng rộng rãi

1.4.3.1 Mô hình đào tạo song hành (dual system)

Đào tạo song hành là mô hình liên kết giữa CSĐTN và DN trong đó

quá trình đào tạo nghề được tổ chức song song vừa ở CSĐTN vừa ở DN Trong mỗi tuần lễ, học sinh được học một số ngày ở CSĐTN và một số ngày

ở DN Thông thường là học lý thuyết ở CSĐTN và học thực hành ở DN Tỉ lệ

số ngày học ở CSĐTN và ở DN phụ thuộc vào kế hoạch, tiến độ và tổ chức

quá trình đào tạo Trong thời gian đầu của khoá đào tạo, học sinh được học ở

CSĐTN nhiều hơn, nhưng càng về cuối khoá, số ngày học ở DN càng được

tăng lên bởi lẽ càng về cuối khoá học thì tỉ lệ giờ thực hành được tăng thêm

Mô hình này được biểu thị như ở sơ đồ 1.3

Tại

Tại DN Thực hành Thực hành Thực hành nghiệp Tốt

Sơ đồ 1.3: Mô hình đào tạo song hành

Mô hình này là sự kết hợp toàn diện và tận dụng được ưu thế của mỗi

bên: CSĐTN có ưu thế về giảng dạy lý thuyết và DN có ưu thế trong việc dạy

thực hành

Với những ưu việt của nó, mô hình đào tạo song hành ngày nay đang

phát triển ở nhiều nước trên thế giới

1.4.3.2 Mô hình đào tạo luân phiên

Đào tạo luân phiên cũng được tiến hành ở hai địa điểm là CSĐTN và

DN và luân phiên, sau một thời gian học ở CSĐTN thì học sinh được tới học

tại các xí nghiệp Mô hình này chỉ khác mô hình đào tạo song hành ở chỗ việc

Trang 39

thay đổi địa điểm học tập không tiến hành hàng tuần mà thực hiện sau một giai đoạn học tập nào đó

Mô hình này được thể hiện như ở sơ đồ 1.4

Tốt nghiệp

Sơ đồ 1.4: Mô hình đào tạo luân phiên/xen kẽ (Sanwich)

Với mô hình này, thực hành nghề được chia thành hai loại: thực hành

cơ bản và thực hành sản xuất, mỗi loại thực hành được chia thành nhiều giai đoạn Các giai đoạn thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được thực hiện xen kẽ, luân phiên tại CSĐTN và tại xí nghiệp Thực hành cơ bản chỉ nhằm mục đích rèn luyện cho học sinh các thao tác cơ bản để khi vào học thực hành tại ví trí sản xuất thực tế ở xí nghiệp khỏi bỡ ngỡ và ít làm ảnh hưởng đến sản

xuất

1.4.3.3 Mô hình đào tạo tuần tự

Với mô hình này, quá trình đào tạo cũng được thực hiện vừa ở CSĐTN vừa ở DN và cũng được chia thực hành thành hai loại: thực hành cơ bản và thực hành sản xuất như ở mô hình đào tạo luân phiên Tuy nhiên điều khác biệt là toàn bộ quá trình đào tạo chỉ được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu học lý thuyết và thực hành cơ bản tất cả các công việc của nghề tại CSĐTN, tiếp đến giai đoạn hai là giai đoạn thực hành sản xuất theo từng công việc và thực hành tốt nghiệp được thực hiện tại DN trong một thời gian dài,

có khi là cả học kỳ

Mô hình này được biểu thị như ở sơ đồ 1.5

sản xuất Tốt nghiệp

Sơ đồ 1.5 Mô hình đào tạo tuần tự

Trang 40

1.5 Các loại hình tổ chức liên kết đào tạo giữa CSĐTN và DN

1.5.1 CSĐTN và các DN là những đơn vị độc lập

Với loại hình tổ chức này, CSĐTN và các DN là những đơn vị hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào nhau, có sứ mệnh và chức năng riêng của mình, nhưng tự nguyện liên kết cùng nhau thực hiện đào tạo CNKT vì lợi ích chung của cả đôi bên Loại hình tổ chức này rất linh hoạt, mỗi CSĐTN có thể thiết lập mối liên kết với một hoặc một số DN là đối tác của mình trong dịch

vụ đào tạo Mối liên kết giữa CSĐTN với các DN khác nhau cũng có thể khác nhau Một CSĐTN có thể thiết lập mối liên kết toàn diện với một số DN nhưng cũng có thể chỉ thiết lập mối liên kết có giới hạn hoặc liên kết rời rạc với một số DN khác tuỳ thuộc vào khả năng và nhu cầu của mỗi bên, miễn là

sự liên kết mang lại hiệu quả cao trong những điều kiện cho phép

Loại hình tổ chức liên kết này được thể hiện như ở sơ đồ 1.6

Sơ đồ 1.6 Tổ chức liên kết CSĐTN và các DN độc lập

Loại hình tổ chức này có ưu điểm là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thậm chí là của từng xí nghiệp khác nhau để góp phần năng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm phục vụ cho lợi ích của đôi bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động của mỗi bên Chính nhờ

sự mềm dẻo, linh hoạt này mà mối liên kết có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao Đây cũng là mối quan hệ giữa CSĐTN và các khách hàng của mình

Ngày đăng: 27/02/2021, 13:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm