Hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà đất tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ Hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà đất tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ Hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà đất tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 2M ỤC LỤC
L ỜI MỞ ĐẦU 5
CH ƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ, ĐẤT 7
1.1 Các vấn đề cơ bản về thuế 7
1.1.1 Các khái niệm về thuế 7
1.1.2 Phân loại thuế 10
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế 12
1.1.4 Các yếu tố cấu thành của thuế 14
1.2 Giới thiệu chung về thuế nhà, đất 17
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế nhà, đất 17
1.2.2 Nguyên tắc thiết lập thuế nhà, đất 19
1.2.3 Phạm vi áp dụng 20
1.3 Nội dung công tác quản lý thuế nhà đất 24
1.3.1 Kê khai nộp thuế 25
1.3.2 Tính thuế, lập bộ thuế 26
1.3.3 Miễn, giảm thuế 34
1.3.4 Tổ chức thu, nộp, quyết toán thuế 36
1.4 Quy trình quản lý thuế nhà đất 37
1.5 Tổ chức quản lý thuế 39
1.5.1 Quản lý đối tượng nộp thuế 39
1.5.2 Quản lý căn cứ tính thuế 40
1.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế nhà đất 40
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng chính 42
1.7.1 Nhân tố bên trong 42
1.7.2 Nhân tố bên ngoài 43
CH ƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHÀ, ĐẤT TẠI CỤC THUẾ TỈNH PHÚ THỌ 44
2.1 Giới thiệu khái quát về Cục thuế tỉnh Phú Thọ 44
2.1.1 Tổ chức bộ máy tại cấp Cục Thuế 45
2.1.2 Tổ chức bộ máy tại cấp chi cục thuế 48
2.1.3 Sơ đồ tổng quát tổ chức bộ máy Ngành Thuế Phú Thọ 49
2.1.4 Công nghệ quản lý thuế 50
2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế nhà, đất tại Cục thuế Phú Thọ 53 2.2.1 Về kê khai, tính thuế, lập bộ thuế 53
Trang 32.2.2 Công tác thu nộp thuế, quyết toán thuế 61
2.3 Đánh giá về công tác quản lý thuế nhà, đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 66
2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 66
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và vấn đề đặt ra 70
CH ƯƠNG 3: HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QU ẢN LÝ THUẾ NHÀ, ĐẤT TẠI C ỤC THUẾ PHÚ THỌ 75
3.1 Định hướng cải cách công tác quản lý thuế đến năm 2010 75
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà, đất 76
3.2.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện Qui trình quản lý thuế nhà đất và phần mềm QLD 76
3.3.2 Giải pháp 2: Tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước 79
3.3.3 Giải pháp 3: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tin học 81 3.3.4 Giải pháp 4: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về thuế nhà đất 83
3.3 Một số kiến nghị: 84
3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ 84
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính - Tổng Cục thuế 85
3.3.3 Kiến nghị với UBND tỉnh, Cục Thuế Phú Thọ 86
K ẾT LUẬN 88
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 4DANH M ỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hình 1 1- Sơ đồ phân loại thuế 12
Hình 1 2- Qui trình quản lý thuế nhà đất (Mức tổng quát) 37
Hinh 2 1 – Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng Cục Thuế Tỉnh Phú Thọ 49
Hình 2 2- Mô hình mạng máy tính ngành thuế Phú Thọ 51
Hinh 2 3- Mô hình ứng dụng QLD 52
Hinh 2 4- Qui trình Kê khai, tính thuế, lập bộ thuế 53
Hinh 2 5- Kết quả thu thuế nhà đất 68
Hình 3 1 Qui trình Quản lý thuế nhà đất (sau khi bổ sung) 77
Hình 3 2 Mô hình ứng dụng quản lý thuế nhà đất (sau khi bổ sung) 79 Hình 3 3: Bản đồ địa chính điện tử tại Phú Thọ 80
Bảng 1 1- Bảng phân bổ các bậc thuế đất đô thị theo vị trí của từng loại đường phố 31
Bảng 1 2: Bảng Hệ số phân bổ cho các tầng 34
Bảng 2 1 - Bảng hạng đất và định suất thuế 56
Bảng 2 2 Thống kê kết quả lập bộ thuế nhà đất năm 2008 67
Bảng 2 3- Bảng Kết quả số thu về thuế nhà đất các năm 2006-2008 69
Trang 5L ỜI MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Thực hiện chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế đến năm
2010 đã được Chính phủ phê duyệt, trong những năm qua, Ngành Thuế đã tăng cường đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý Một
hệ thống gồm nhiều phần mềm ứng dụng quản lý thuế được xây dựng để phục
vụ công tác cho cơ quan thuế các cấp, đặc biệt phục vụ triển khai các luật thuế
mới ban hành
Pháp lệnh thuế nhà, đất được ban hành năm 1992 và sửa đổi bổ sung năm 1994, ngoài mục đích động viên một phần thu nhập của người sử dụng đất nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách còn thực hiện khuyến khích sử dụng
tiết kiệm, có hiệu quả quỹ đất ở, đất xây dựng công trình Từ năm 2006 đến năm 2007, Cục thuế Phú Thọ đã đăng ký, nghiên cứu và triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng phầm mền quản lý thu các khoản thu liên quan đến đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, trong đó có phân hệ quản lý thuế nhà đất nhằm xử lý tính chất phức tạp của công tác quản lý thuế nhà đất đó là căn
cứ tính thuế thường xuyên biến động và đặc biệt số lượng đối tượng nộp thuế rất lớn
Qua hơn một năm triển khai ứng dụng trên toàn tỉnh, phần mềm đã thể
hiện rõ những ưu điểm nổi trội đó là khả năng lưu trữ, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin chính xác, nhanh chóng và kịp thời Nó đã thực sự nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế nhà đất Cũng qua đó, đã bộc lộ các hạn chế của qui trình quản lý thuế hiện hành, sự phối hợp giữa các cơ quan
quản lý nhà nước và của cán bộ thuế cấp cơ sở khi tiếp cận các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý
Trang 6Từ những nhận thức lý luận và đòi hỏi của thực tiễn hiện nay, tác giả
lựa chọn đề tài: “Hoàn thi ện công tác Quản lý thuế nhà, đất tại Cục Thuế
t ỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình
2 M ục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thuế nhà đất hiện hành, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế nhà đất tại địa bàn tỉnh Phú Thọ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu trong luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về chính sách thuế nhà đất hiện hành
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các hoạt động quản lý thuế nhà đất tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ từ năm 2006 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu trong luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, đồng thời sử dụng phương pháp hệ thống, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, diễn giải và quy nạp để nghiên cứu đưa ra kết luận về vấn đề được xem xét
5 K ết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Tổng quan về thuế nhà, đất
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế nhà đất tại Cục thuế Phú Thọ Chương 3: Hệ thống các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế Nhà đất tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ, ĐẤT 1.1 Các vấn đề cơ bản về thuế
1.1.1 Các khái niệm về thuế
Để hiểu khái niệm về thuế một cách bao quát, chúng ta có thể xem xét
một số khái niệm trên các khía cạnh sau:
- Trên giác độ thu tài chính nhà nước: Thuế là hình thức thu chủ yếu
của ngân sách nhà nước Thuế là hình thức đóng góp nghĩa vụ theo luật định của các tổ chức kinh tế và dân cư cho nhà nước bằng một phần thu nhập của mình
- Trên giác độ pháp luật: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước, phát sinh trên cơ sở văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
- Một cách tổng hợp: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc
từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Trong xã hội có nhà nước không một thiết chế chính trị nào ngoài nhà nước có quyền quy định về thuế và thu thuế
Quan điểm hiện đại về thuế trong nền kinh tế thị trường:
- Quan điểm truyền thống (cổ điển) về thuế: Một cách truyền thống,
người ta thường quan niệm rằng, thuế là một biện pháp bắt buộc của nhà nước
do nhà nước có quyền lực trong tay và do yêu cầu tồn tại của nhà nước để
thực hiện các chức năng của mình nên có thể và phải đặt ra, buộc các tổ chức,
Trang 8cá nhân trích một phần thu nhập để nộp nhằm nuôi dưỡng và duy trì các hoạt động của nhà nước Do quan điểm này nên khi nói đến thuế là luôn chỉ nhấn
mạnh hai đặc trưng cơ bản đó là: tính bắt buộc cao và không có đối khoản trực tiếp của nhà nước cho người nộp, tức đó chỉ là động thái một chiều Cũng
từ quan điểm đó, đi đến nhận thức: Thuế là công cụ của giai cấp thống trị sử dụng để bóc lột nhân dân lao động và thuế là một công cụ trong chế độ người bóc lột người Ở nước ta, trong chế độ cũ càng thể hiện rõ điều này, cho đến sau cách mạng tháng 8 năm 1945 giành độc lập vẫn còn nặng tư tưởng ấy, đã gây ra những khó khăn nhất định cho các nhà nghiên cứu phát triển kinh tế nước nhà
- Quan điểm hiện đại về thuế: Dựa trên kinh tế thị trường, quan niệm
hiện đại về thuế nghiên cứu tính đối khoản của thuế một cách đúng đắn Kinh
tế thị trường cho phép ta xác định hàng hoá, dịch vụ và giá trị của chúng, đồng thời cho thấy chúng được trao đổi trên thị trường thông qua tiền tệ là vật ngang giá chung, cho nên mọi hàng hoá, dịch vụ đều vận động hai chiều và có tính thanh khoản Kinh tế công cộng đã chỉ rõ, xã hội muốn tồn tại và phát triển phải cần đến hai loại hàng hoá, dịch vụ là: hàng hoá, dịch vụ cá nhân (Private goods) và hàng hoá, dịch vụ công cộng (Publish goods)
Hàng hoá, dịch vụ cá nhân là loại hàng hoá, dịch vụ phục vụ riêng rẽ cho từng cá nhân, mang tính loại trừ cao, nói cách khác là có sự cạnh tranh rất
lớn trong sử dụng, do đó khi một người đã sử dụng thì người khác không thể
sử dụng được nữa
Hàng hoá, dịch vụ công cộng là loại hàng hoá, dịch vụ mà nhiều người
có thể cùng đồng thời sử dụng một lúc, việc sử dụng của người này hầu như không ảnh hưởng đến việc sử dụng của người khác, nói cách khác là không có tính cạnh tranh trong sử dụng, do đó khi một người đã sử dụng thì rất nhiều
Trang 9người khác cũng đồng thời sử dụng được Ví dụ: quốc phòng - an ninh là loại
dịch vụ công cộng điển hình (hàng hoá, dịch vụ công cộng thuần tuý), cùng
một lúc, tất cả mọi người trên lãnh thổ một quốc gia đều sử dụng - thụ hưởng nền hoà bình, chủ quyền do quốc phòng - an ninh mang lại Xét trên góc độ kinh tế thì hàng hoá, dịch vụ công cộng rất khó hoặc không thể loại trừ việc
sử dụng - thụ hưởng của một ai đó Ví dụ: không thể loại trừ một người nào
sống trên lãnh thổ Việt Nam để người đó không được hưởng nền hoà bình Điều này làm phát sinh hiện tượng người ăn không, nghĩa là họ không cần chi trả chi phí gì nhưng vẫn hoàn toàn có quyền sử dụng hàng hoá, dịch vụ bình thường mà không có cách gì loại trừ họ được Loại hàng hoá, dịch vụ công
cộng này không thể đưa ra trao đổi trên thị trường và người cung cấp chúng không thể thu hồi được chi phí đã hao tổn để tạo ra chúng Tuy nhiên nó lại rất cần thiết cho xã hội và chỉ có thể là nhà nước đứng ra đầu tư cung cấp cho
xã hội và cũng chỉ có nhà nước mới có cách thu hồi lại chi phí bằng việc quy định chế độ đóng góp bắt buộc đối với người được hưởng, đó là thuế Như trên đã nói nhà nước quy định được thuế vì nhà nước có quyền lực
Vậy, thuế - theo quan điểm hiện đại - thực chất là khoản thu vào những người đã sử dụng - hưởng thụ hàng hoá, dịch vụ do nhà nước cung cấp, là cái giá mà những người hưởng hàng hoá, dịch vụ công cộng thuần tuý trả cho người cung cấp là nhà nước Thuế hiển nhiên có đối khoản và có nội dung kinh tế của nó (sự đối khoản vô hình, trừu tượng), điều này chứng tỏ tính hợp
lý về lý thuyết kinh tế, là căn nguyên lý giải thực tiễn các tổ chức, cá nhân trong xã hội đã bằng lòng nộp thuế Với quan điểm này giúp cho nhà nước xây dựng chính sách thuế được phù hợp và đúng đắn, trong đó nhà nước là người cung cấp dịch vụ, coi người nộp thuế là khách hàng
Trang 10Khái niệm về hệ thống thuế:
- Khái niệm hệ thống: Hệ thống là một thực thể bao gồm nhiều bộ
phận, thành phần, các bộ phận có mối quan hệ mật thiết với nhau và phải đồng bộ
- Khái niệm hệ thống thuế: Hệ thống thuế được hiểu là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau do nhà nước quy định, giữa chúng có mối quan hệ
mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định Theo nghĩa rộng: hệ thống thuế bao gồm cả hệ thống pháp luật về thuế và cơ chế hành chính thuế tức là
cả tổ chức quản lý thuế Theo nghĩa hẹp: hệ thống thuế chỉ gồm hệ thống pháp luật về thuế trong đó là hệ thống các sắc thuế và mối quan hệ giữa chúng
1.1.2 Phân loại thuế
Thông thường có hai cách phân loại thuế
Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế:
Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực
sự phải gánh chịu thuế Theo tiêu thức này thuế được chia làm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu
- Thuế trực thu: là các loại thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập
của người nộp Nói cách khác, là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế là một, không có hiện tượng chuyển giao từ người nộp sang cho người khác gánh chịu
- Thuế gián thu: là các loại thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp thuế cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế Đặc điểm cơ bản của
loại thuế này là được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ để bán ra,
Trang 11người mua hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng phải trả theo giá cả bao gồm cả thuế, người bán hàng hoá, dịch vụ thu khoản tiền thuế đó từ người tiêu dùng
và nộp thuế thay cho người tiêu dùng Ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế theo luật định sang người tiêu dùng qua cơ chế giá cả
Phân loại theo đối tượng đánh thuế:
Dựa vào đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thì thuế được chia thành
- Thuế thu nhập, như thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
- Thuế về tài sản, bao gồm:
+ Thuế sử dụng tài sản Nhà nước như: thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên
+ Thuế chuyển nhượng tài sản như: thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuế mua bán các tài sản (nhà, xe cộ )
- Thuế tiêu dùng: đánh vào hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất, nhập khẩu (như: thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK )
Ngoài ra, còn phân biệt:
- Thuế luỹ tiến và thuế luỹ thoái: thuế luỹ tiến là thuế tăng lên cùng tỉ lệ tăng của thu nhập nhưng mức độ tăng của thuế nhanh hơn mức độ tăng của thu nhập Thuế luỹ thoái là thuế giảm đi khi thu nhập chịu thuế tăng lên
- Thuế danh nghĩa và thuế thực: Thuế danh nghĩa là các hình thức thuế
mà nhà nước chủ trương đặt ra cho những đối tượng chịu thuế nào đó để đạt mục tiêu điều chỉnh của mình, loại thuế này không dựa vào khả năng của người nộp thuế (có tính tương đồng với thuế gián thu) Do có sự di chuyển
Trang 12nặng thuế trên thực tế khác với thuế danh nghĩa, đó là thuế thực Thuế thực đánh vào khả năng của người nộp thuế (có tính tương đồng với loại thuế trực thu)
Hình 1 1- Sơ đồ phân loại thuế
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế
Bước vào thời kỳ đổi mới, hiện nay Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo đó, hệ thống thuế đã được cải cách một cách toàn diện và tiếp tục khẳng định vai trò trong
phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Hiện nay tổng thu ngân sách hằng năm được nâng lên, trong đó thuế chiếm hơn 90%; mức động viên
Trang 13bình quân hằng năm đã đạt trên dưới 20% GDP Trên cơ sở đó, thuế đã góp
phần bảo đảm Ngân sách quốc gia, góp phần tích cực vào việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế – xã hội Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng không chệch hướng xã hội chủ nghĩa Như chúng ta biết, để định hướng xã hội chủ nghĩa thì bên cạnh các mục tiêu về văn hoá - xã hội như: tiến bộ, công bằng xã hội, dân chủ, bình đẳng; sức khoẻ, thể chất , về kinh tế phải bảo đảm thành phần kinh tế Nhà nước giữ được vai trò chủ đạo, then chốt, cùng với kinh tế tập thể tạo thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân Sự chủ đạo của kinh tế Nhà nước trước tiên phải thể hiện chủ đạo về vốn, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực then chốt Thực tế đã chứng tỏ, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, toàn bộ kết cấu hạ tầng như: đường sá, cầu cống, sân bay, bến cảng; quốc phòng – an ninh ; các tài sản dự trữ, đất đai, hải đảo, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên đều thuộc sở hữu Nhà nước Các ngành sản
xuất, dịch vụ quan trọng, then chốt bao gồm: vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ; điện, viễn thông, xăng dầu; kim loại đen, kim loại màu, hoá chất cơ
bản, hoá dược, thuốc chữa bệnh; kinh doanh tiền tệ, vận tải hàng không, đường sắt, viễn dương Nhà nước đều nắm giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối Rõ ràng, vai trò tạo vốn từ thuế đã góp phần tích cực vào việc giữ
thế chủ đạo của kinh tế nhà nước, tạo nền tảng quan trọng cho định hướng xã
hữu hình” của mình, bảo đảm cho nền kinh tế không rơi vào tình trạng “vỗ tay
mà chỉ có một bàn tay” Bằng việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ
Trang 14giữa các loại thuế, xác định hợp lý biểu thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, hoàn thuế có thể điều tiết trên hai mặt: một mặt khuyến khích, nâng đỡ các
hoạt động kinh doanh cần thiết, có lợi; mặt khác thu hẹp, kìm hãm ngành hàng cần hạn chế Sở dĩ như vậy vì thuế có tác động hữu hiệu đối với bất cứ sản phẩm hàng hoá nào cả trên phương diện sản xuất và tiêu dùng
Thứ ba: Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội Hệ thống thuế cải cách trong cơ chế mới đã được áp
dụng thống nhất không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, điều đó thể hiện sự bình đẳng của thuế Với chính sách điều tiết vào thu nhập, người có thu nhập cao hơn phải chịu thuế cao hơn người có thu
nhập thấp, người thu nhập quá thấp thì không phải chịu thuế đã góp phần vào
việc thực hiện công bằng xã hội Đặc biệt, trong kinh tế thị trường, thuế điều tiết vào thu nhập là công cụ hữu hiệu để giảm khoảng cách giàu nghèo quá mức nhằm đạt các mục tiêu phát triển chung toàn xã hội
1.1.4 Các yếu tố cấu thành của thuế
Khái niệm, tên gọi của thuế:
Tên gọi của thuế: là tên được quy định gọi trong các văn bản chính sách thuế Khái niệm về một sắc thuế: là khái niệm được nêu trong các văn bản chính sách thuế để nhận biết cơ bản sắc thuế đó và có thể phân biệt với chính sách thuế khác
Người nộp thuế (NNT), Người chịu thuế; đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế:
- Người nộp thuế: là một pháp nhân hay thể nhân có nghĩa vụ phải nộp khoản thuế do luật thuế quy định
Trang 15- Người chịu thuế: là người phải trích một phần thu nhập của mình để gánh chịu khoản thuế của Nhà nước Nói cách khác, là người thực thụ phải gánh vác khoản thuế (chịu gánh nặng thuế) nộp vào Ngân sách Nhà nước
- Đối tượng chịu thuế (hay còn gọi là đối tượng đánh thuế): là những thu nhập, tài sản (của cải) mà một chính sách thuế nhất định tác động vào, điều tiết nó
- Đối tượng không thuộc diện chịu thuế: là đối tượng đáng lẽ thuộc diện
chịu thuế nhưng vì lý do nào đó (cần khuyến khích, thực thi một chính sách
xã hội) nên trong chính sách thuế quy định từng loại đối tượng không chịu thuế
Căn cứ tính thuế, đối tượng tính thuế; Biểu thuế, Thuế suất:
- Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế đưa vào đó để tính ra số thuế phải nộp
- Đối tượng tính thuế: là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản ánh
nội dung kinh tế - xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào
quỹ ngân sách nhà nước, thể hiện tính chất độc lập của một sắc thuế trong hệ
thống thuế
- Biểu thuế: là bảng liệt kê các loại thuế suất của một sắc thuế
- Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế Có nhiều cách quy định thuế suất khác nhau cho từng đối tượng đánh thuế khác nhau: Thuế suất tỉ lệ: là thuế suất được quy định theo tỉ lệ %
trên đối tượng đánh thuế Thuế suất cố định (thuế suất theo số tuyệt đối - định
suất thuế) hay gọi là mức thu cố định: là mức thuế được quy định bằng một lượng tuyệt đối trên đối tượng đánh thuế mà không tính tới độ lớn của đối tượng đánh thuế
Trang 16Đơn vị tính thuế và giá tính thuế:
- Đơn vị tính thuế: là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán
của đối tượng đánh thuế
- Giá tính thuế: là trị giá của đối tượng đánh thuế được xác định theo một tiêu thức nhất định Giá tính thuế liên quan mật thiết đến mức phải nộp
Khởi điểm đánh thuế (ngưỡng thuế):
Là mức của một đối tượng nào đó có liên quan đến đối tượng đánh thuế
mà bắt đầu hoặc trên mức đó phải đánh thuế, dưới hoặc bằng mức này thì không phải đánh thuế
Giảm thuế, Miễn thuế:
- Giảm thuế: là một hành động Nhà nước giúp đỡ những người nộp thuế khó khăn có mức độ hoặc những người được ưu đãi, theo đó cho phép giữ lại một phần thuế đáng lẽ phải nộp Đây cũng là một hình thức chi ngầm nhưng có mức độ
- Miễn thuế: là một hành động Nhà nước giúp đỡ những người nộp thuế khó khăn hoặc những người được ưu đãi, theo đó cho phép giữ lại toàn bộ thuế đáng lẽ phải nộp theo luật định Đây là một hình thức chi ngầm (cấp lại khoản thuế đó)
Kê khai; thu, nộp; thanh quyết toán thuế:
Là những quy định về những giấy tờ và trình tự công việc mang tính
chất hành chính để thi hành chính sách thuế:
- Kê khai thuế: là chế độ được quy định trong từng sắc thuế, thể hiện các quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc chấp hành chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và cung cấp tài liệu, sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn liên quan đến việc tính và thu thuế
Trang 17- Thu, nộp thuế: là chế độ bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ
của người nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thu, nộp thuế và phương thức thu, nộp
- Thời hạn nộp thuế: là thời hạn quy định trong chính sách thuế và được xác định phù hợp với nội dung, tính chất của từng sắc thuế Nếu quá thời hạn nộp thuế mà người nộp thuế chưa nộp thì coi là nộp chậm và bị phạt nộp chậm
- Thanh quyết toán thuế: là chế độ quy định xác định lại toàn bộ các chỉ tiêu thuế phải nộp, đã nộp còn phải nộp theo một chu kỳ nào đó (thường theo năm ngân sách hoặc theo mùa vụ)
1.2 Giới thiệu chung về thuế nhà, đất
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế nhà, đất
Thuế nhà, đất là sắc thuế có sơ sở tính thuế là giá trị tài sản nhà và đất Nhà và đất thường luôn gắn với nhau và có cùng chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng Chính vì vậy, ở một số nước trên thế giới và ở nước ta, thuế nhà và thuế đất được quy định trong cùng một sắc thuế Tuy nhiên, có thể thấy là cơ sở tính thuế của nhà và đất không phụ thuộc vào nhau
Thuế nhà là thuế tính trên giá trị nhà của các chủ sở hữu Nó động viên một phần thu nhập của chủ sở hữu nhà, một tài sản quan trọng thể hiện mức
độ giàu có và khả năng nộp thuế của các chủ thể trong xã hội
Trang 18Thuế đất là thuế thu vào các chủ thể có quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng đất vào mục đích xây dựng nhà ở và xây dựng công trình
Thuế nhà đất nói chung và thuế đất nói riêng thuộc loại thuế tài sản và
có tính trực thu Người chủ sở hữu nhà và người sử dụng đất là người nộp thuế nhà đất và cũng chính là người chịu khoản thuế này
Thuế đất thực chất là thuế đánh vào khả năng sinh lời của đất dùng vào
việc xây dựng nhà ở và xây dựng công trình Khả năng sinh lời của đất lại phụ thuộc vào vị trí của đất và những điều hưởng thụ phúc lợi xã hội Những điều kiện đó càng tốt thì khả năng sinh lời của đất càng cao Chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của đất là giá cả quyền sử dụng đất hình thành trên thị trường
bất động sản Như vậy, trị giá đất đai của chủ sở hữu có thể tăng lên nhờ sự đầu tư công cộng của Nhà nước Trị giá tăng thêm đó phần lớn là bộ phận địa
tô chênh lệch không phải do chủ sở hữu tạo ra Bộ phận này cần được điều tiết một phần cho Nhà nước bằng thuế đất
Thuế nhà đất được thu thường xuyên hàng năm căn cứ vào giá trị nhà
và giá trị đất thể hiện ở diện tích, vị trí đất chứ không căn cứ vào kết quả sinh lời qua giao dịch thực tế của chủ sở hữu và chủ sử dụng đất Nói cách khác, thuế nhà, đất được thu trong suốt quá trình chiếm giữ tài sản của các chủ thể nộp chứ không phải vào thời điểm mua, bán hay chuyển nhượng nhà đất
Thuế nhà đất gắn liên với việc quản lý đất đai và xây dựng của chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở Do đó, chính quyền địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, triển khai thu thuế nhà, đất Đồng thời, thuế nhà đất thường tạo thành nguồn thu chiếm tỉ
trọng lớn trong ngân sách của địa phương
Thuế đất hiện nay ở nước ta chỉ thu vào các chủ thể sử dụng đất vào
mục đích xây dựng công trình để ở và các công trình kiến trúc khác Phần lớn
Trang 19đất đai sử dụng cho sản xuất kinh doanh được áp dụng chế độ cho thuê đất và
phải nộp tiền thuê đất, còn đất dùng vào trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
sản thì chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp Trong điều kiện nước ta hiện nay,
để thuận tiện khi tính thuế, Pháp lệnh về thuế nhà, đất quy định lấy mức thuế
sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ để xác định thuế đất Từ mức thuế đó nhân với một hệ số tính thuế đất Quy định hệ số tính thuế nhằm mục đích nâng mức độ động viên thông qua thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình cao hơn mức động viên thông qua thuế sử dụng đất nông nghiệp Mục đích sử dụng thuế đất bên cạnh việc động viên một phần thu nhập của người sử dụng đất nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách còn thực hiện khuyến khích sử dụng
tiết kiệm, có hiệu quả quỹ đất ở, đất xây dựng công trình, hành chế việc chuyển quỹ đất sản xuất nông nghiệp sang xây dựng nhà ở
1.2.2 Nguyên tắc thiết lập thuế nhà, đất
- Chỉ đánh thuế nhà, đất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của tư nhân, không đánh vào nhà đất sử dụng vì mục đích công cộng Khi quy định về thuế nhà, đất cần loại trừ một số loại nhà, đất ra khỏi phạm vi đánh thuế Không nên thu thuế đối với nhà, đất được sử dụng không nhằm vào việc thoả mãn các nhu cầu và lợi ích cá nhân như: nhà, đất dùng vào các công việc quản lý của Nhà nước; nhà, đất sử dụng cho mục đích công cộng khác, sử dụng cho
mục đích không kinh doanh như từ thiện, sử dụng trực tiếp cho sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, ý tế, xã hội… Trong nhiều trường hợp, người trực tiếp quản lý loại đất này là các cơ quan hành chính, cơ quan sự nghiệp nhà nước, do đó, nếu đánh thuế vào loại đất này sẽ dẫn đến việc nhà nước sẽ thu thuế vào chính mình
- Thuế suất thuế nhà đất cần quy định ở mức thấp vì đây là loại thuế thu hàng năm trong suốt quá trình chiếm hữu, sử dụng tài sản của đối tượng nộp
Trang 20thuế Nếu quy định thuế suất cao thì chỉ sau một thời gian ngắn toàn bộ giá trị tài sản sẽ bị đánh thuế hết, điều này là bất hợp lý và gây phản ứng mạnh mẽ từ phía đối tượng nộp thuế Đồng thời khi xác định căn cứ tính thuế, phải tính đến hoàn cảnh của từng đối tượng nộp thuế để đảm bảo khả năng nộp thuế thực tế của họ bằng các quy định miễn giảm thuế phù hợp Bởi vì nhà, đất là loại tài sản có giá trị lớn, song không dễ dàng thường xuyên chuyển đổi ra
tiền được; quy định thuế suất cao cũng đồng nghĩa với việc vượt quá khả năng chi trả của đối tượng nộp thuế
- Đánh thuế trên cơ sở nhà, đất hiện hữu Về nguyên tắc, người nộp thuế nhà phải là chủ sở hữu nhà, người nộp thuế đất phải là người được giao quyền sử dụng đất Tuy nhiên, trong trường hợp có tranh chấp hoặc chưa xác định được chủ sở hữu, không tìm được chủ sở hữu hoặc trong một số trường hợp đặc biệt khác, cần xác định trách nhiệm nộp thuế của người trực tiếp sử dụng nhà, đất
1.2.3 Phạm vi áp dụng
Pháp lệnh về thuế nhà, đất năm 1992 quy định: “trong điều kiện hiện nay, tạm thời chưa thu thuế nhà và chưa quy định về thuế nhà” Vì vậy, những nội dung trong các quy định về thuế nhà, đất hiện nay đều là thuế đất
1.2.3.1 Đối tượng chịu thuế đất
Đối tượng chịu thuế đất là đất ở, đất xây dựng công trình (không phân
biệt đất có giấy phép hay không có giấy phép sử dụng)
- Đất ở là đất thuộc khu dân cư ở các thành thị và nông thôn bao gồm: đất đã xây cất nhà (kể cả mặt sông, hồ, ao, kênh rạch làm nhà nổi cố định), đất làm vườn, làm ao, làm đường đi, làm sân, hay bỏ trống quanh nhà, trừ diện tích đất đã nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp; kể cả đất đã được cấp giấy phép, nhưng chưa xây dựng nhà ở
Trang 21- Đất xây dựng công trình, là đất xây dựng các côgn trình công nghiệp, khoa học kỹ thuât, giao thông, thuỷ lợi, nuôi trồng thuỷ sản, văn hoá, xã hội,
dịch vụ, quốc phòng, an ninh và các khoảnh đất phụ thuộc (diện tích ao hồ, trồng cây, bao quanh công trình kiến trúc), không phân biệt công trình đã xây dựng xong đang sử dụng, đang xây dựng, hoặc đất đã được cấp giấy phép nhưng chưa xây dựng, hoặc dùng làm bãi chứa vật tư, hàng hoá, …
1.2.3.2 Đối tượng không chịu thuế đất
Không thu thuế đất ở, đất xây dựng công trình đối với:
- Đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận chuyên sử dụng
vì mục đích công công, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện chung không vì mục đích kinh doanh hoặc không dùng để ở, như: đất làm đường xá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê điều, công trình thuỷ lợi, trường học (bao gồm cả nhà trẻ, nhà mẫu giáo), bệnh viện (bao gồm cả bệnh xá, trạm xá, trạm y tế, phòng khám,…), nghĩa trang, nghĩa địa
- Đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận chuyên dùng vào việc thờ cúng chung của caá tôn giáo, của các tổ chức mà không vì mục đích kinh doanh hoặc không dùng để ở, như: các di tích lịch sử, đình, chùa, miếu, nhà thờ chung (kể cả nhà thờ họ) Riêng đền, miếu, nhà thờ tư vẫn phải nộp thuế đất
Trường hợp sử dụng đất thuộc diện không chịu thuế nêu trên vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, thì tổ chức quản lý đất phải nộp thuế phần diện tích đất sử dụng vào kinh doanh hoặc để ở
1.2.3.3 Đối tượng tạm thời chưa chịu thuế đất
Hiện nay, nhà nước tạm thời miễn thuế đất đối với các trường hợp sau:
Trang 22a) Đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước, tổ chức
xã hội, công trình văn hoá, đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng, an ninh
Đất thuộc diện tạm miễn thuế nếu sử dụng vào mục đích kinh doanh, hoặc để ở thì phải nộp thuế đất
b) Đất ở thuộc vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng
xa thuộc diện được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp (theo Luật thuế sử
dụng đất nông nghiệp quy định); vùng định canh, định cư
Đất ở đối với đồng bào xây dựng vùng kinh tế mới được miễn thuế đất trong 5 năm đầu kể từ ngày đến ở, từ năm thứ 6 trở đi phải nộp thuế đất
c) Đất ở của gia định thương binh hạng hạng 2/4; hộ gia định liệt sĩ có người được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước; đất xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách xã hội, đất ở của người tàn tật, sống độc thân, người chưa đến tuổi thành niên và người già cô đơn không nơi nương tựa không có khả năng nộp thuế Những đối tượng này chỉ được miễn thuế một nơi ở duy nhất do chính họ đứng tên Diện tích đất ở được miễn thuế căn cứ vào diện tích đất thực tế sử dụng của hộ để làm nhà ở, công trình phụ, chuồng trại chăn nuôi, đường đi, sân phơi,… nhưng không được quá mức quy định về hạn mức sử dụng trong Luật đất đai
Đất ở của hộ giai đình thương binh nặng hạng ¼ và các thương bệnh binh phải nằm điều trị dài ngày tại các trại an dưỡng thuộc Bộ Lao động – thương bình và xã hội quản lý mà không có hộ khẩu thường trú tại nhà cùng với Bố, mẹ, vợ, chồng hoặc
Trang 231.2.3.4 Đối tượng nộp thuế đất
Đối tượng nộp thuế đất là tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng
hoặc trực tiếp sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình, bao gồm:
- Đất được uỷ quyền quản lý, thì tổ chức cá nhân uỷ quyền phải nộp thuế;
- Đất bị tịch thu để xử lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng thì tổ chức, cá nhân quản lý đất này phải nộp thuế;
- Cán bộ công nhân viên chức, quân nhân (gọi chung là CBCNVC) mua nhà đất (hoá giá) từ các nguồn hoặc được cơ quan, xí nghiệp, đơn vị cấp đất (phân phối, trả tiền đền bù thiệt hai đất …) để tự làm nhà ở, nay nhà này thuộc sở hữu riêng của CBCNVC thì CBCNVC này phải nộp thuế đất;
- Các tổ chức, cá nhân có nhà đất cho thuê (kể cả nhà đất của các cơ quan, xí nghiệp và cơ quan quản lý nhà đất phối hoặc cho CBCNVC thuê) thì
tổ chức, cá nhân cho thuê nhà đất phải nộp thuế đất, còn người đi thuê hoặc người được phân phối nhà đất không phải nộp thuế đất, mà chỉ trả tiền thuê cho chủ cho thuê, Cụ thể:
+ Tổ chức, cá nhân cho tổ chức, cá nhân trong nước hay nước ngoài thuê nhà, đất (kể cả nhà trọ, nhà khách, nhà nghỉ, khách sạn) thì tổ chức, cá nhân cho thuê phải nộp thuế đất
+ Công ty, xí nghiệp quản lý nhà, đất cho thuê nhà đất, thì công ty, xí nghiệp này là đơn vị phải nộp thuế đất
+ Cơ quan, xí nghiệp, đơn vị lực lượng quốc phòng anh ninh quản lý
quỹ nhà đất cho CBCNVC thuê, thì các tổ chức này là đơn vị phải nộp thuế đất
Trang 24- Trong trường hợp có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền sử
dụng đất, kể cả trường hợp lấn chiếm trái phép (bao gồm cả phần diện tích lần chiếm thêm ngoài khuân viên của tổ chức, cá nhân quản lý cho thuê đã nộp thuế đất), thì tổ chức, cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất phải nộp thuế đất Việc nộp thuế đất trong trường hợp này không có nghĩa là thừa nhận tính hợp pháp về quyền sử dụng đất
- Trường hợp bên Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh được Nhà nước góp vốn pháp định bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 7 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì tổ chức hoặc người đại diện cho bên Việt Nam dùng đất để góp vốn theo hợp đồng đã ký kết là đối tượng nộp thuế đất
Đối với các hình thức đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thuê đất đã nộp tiền thuê vào NSNN do cơ quan thuế thu theo chế độ nhà nước quy định thì không phải nộp thuế đất nữa
- Các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tê, người nước ngoài sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình phải nộp thuế đất theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà đất, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
1.3 N ội dung công tác quản lý thuế nhà đất
Thuế nhà, đất hiện hành được áp dụng theo Pháp lệnh về thuế nhà, đất
do Chủ tịch Hội đồng nhà nước ký ngày 31/7/1992, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1992 Ngày 19/5/1994, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bàn hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nhà, đất 1992 (sửa Điều 7 và khoản 3 Điều 15), hiệu lực thi hành từ 01/01/1994
Các văn bản hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực là: Nghị định 94-CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế
Trang 25nhà, đất và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nhà, đất Thông tư số 83/TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 94-CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ Thông tư số 71/2002/TT-BTC ngày 19/8/2002 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 83/TC/TCT ngày 7/10/1994
1.3.1 Kê khai nộp thuế
Tổ chức cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất có trách nhiệm kê khai tình
trạng đất với cơ quan thuế, theo mẫu thống nhất do Bộ Tài chính phát hành
Tờ khai được lập thành 2 bản gửi cho Chi cục thuế nơi có đất chịu thuế vào tháng 1 hàng năm
Chi cục thuế có trách nhiệm tổ chức thu hồi tờ khai nhanh chóng, thuận
tiện và tính số thuế phải nộp cho từng tờ khai Sau khi được thủ trưởng cơ quan thuế phê duyệt mức thuế phải nộp, một bản tờ khai được gửi cho người
kê khai nộp thuế và coi là thông báo nộp thuế lần 1, 1 bản lưu tại cơ quan thuế làm căn cứ lập sổ thuế
Đối tượng nộp thuế đất phải chủ động liên hệ với chi cục thuế quận, huyện để nhận tờ khai và kê khai nộp thuế đất
Đối với một số trường hợp cụ thể khác:
- Một số tổ chức hoặc cá nhân đang trực tiếp có quyền sử dụng đất ở nhiều địa điểm khác nhau, thì phải lập tờ khai riêng cho từng lô đất ở từng địa điểm
- Tổ chức, cá nhân cho thuê nhà đất (kể cả trường hợp nhà đất do cơ quan phân phối cho cán bộ công nhân viên) thì tổ chức, cá nhân đó phải kể khai toàn bộ diện tích đất trong khuôn viên cho thuê
Trang 26- Tổ chức, cá nhân chiếm dụng đất ở, đất xây dựng công trình (bao gồm
cả trường hợp lấn chiếm đất ra ngoài khuôn viên của chủ cho thuê hoặc chủ phân phối nhà) thì người đang trực tiếp sử dụng đất phải kê khai nộp thuế đất Việc kê khai nộp thuế đất này không có nghĩa là thừa nhận tính hợp pháp về quyền sử dụng đất
- Đối với đất xây dựng nhà nhiều tầng hoặc đất trong khu tập thể do nhiều tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng, thì từng tổ chức, cá nhân phải tự kê khai nộp thuế Tờ khai phải ghi rõ phần diện tích được quyển sử dụng, diện tích lấn chiếm thêm, và phần diện tích đất sử dụng chung được phân bổ Riêng đối với nhà ở từ tầng 4 trở xuống ngoài việc phải kê khai như trên, còn
phải ghi rõ ở tầng nào (để áp dụng hệ số phân bổ giữa các tầng)
- Những đối tượng không phải nộp thuế đất chỉ phải kê khai nộp thuế phần diện tích đất sử dụng để kinh doanh hoặc để ở mà theo quy định phải nộp thuế đất
x
Định xuất thuế sử dụng đất NN quy định 10.000 m2
x
Hệ số tính thuế đất theo khu vực
x
Hệ số phân bổ thuế đất (nếu có)
x
Giá thóc thuế sử
dụng
Trang 27Diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất của tổ chức, cá nhân
quản lý dử dụng, bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình, diện tích đường đi lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, bao quanh công trình, diện tích ao hồ và các diện tích để trống trong phạm vi đất được phép sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trường hợp chưa có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thì theo diện tích thực tế sử dụng
Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn:
Diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế quản lý, sử dụng của tổ chức, cá nhân không thuộc diện nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: Diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình (chuồng trại, chăn nuôi, bếp, …), đất làm đường đi, diện tích để trống
Xác định diện tích tính thuế ở nông thôn phải căn cứ vào sổ địa chính nhà nước Ở những nơi chưa có sổ địa chính thì trên cơ sở tờ khai nộp thuế đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp và ý kiến của cán bộ địa chính, được Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra, xác nhận
Trường hợp hộ nộp thuế không kê khai hoặc kê khai không đúng thực
tế thì cơ quan thuế phối hợp với cơ quan địa chính có sự tham gia của Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra, xác định đúng diện tích chịu thuế
b) Mức thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Mức thuế sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ tính thuế đất thuộc vùng đô thị là mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng được áp dụng như sau:
+ Đối với thành phố trực thuộc Trung ương; thành phố, thị xã nơi có
trụ sở UBND cấp tỉnh đóng thì áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đó
Trang 28+ Các thị xã, thị trấn khác áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong huyện, trong thị xã đó
Riêng đối với thị xã, thị trấn miền núi, hải đảo quá nhỏ, mới hình thành, điều kiện sinh hoạt kém so với các thị trấn khác, có thể áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất ở tại khu vực thị xã, thị trấn đó
c) Hệ số tính thuế đất theo khu vực, vị trí
Hệ số thuế theo vị trí đất thể hiện số lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ để xác định hệ số là khu vực và vị trí đất
* Đối với khu vực đô thị: Hệ số tính thuế đất ở đô thị được quy định
văn cứ vào loại đô thị, loại đường phố và vị trí đất
- Loại đô thị: Việc phân loại đô thị được vận dụng bảng phân loại đô thị theo quy định hiện hành của Chính phủ Đối với các đô thị mới hình thành, chưa có tên trong bảng danh mục xếp hạng đô thị, thì tạm thời sắp xếp như sau:
+ Các đô thị nơi có trụ sở UBND tỉnh xếp vào đô thị loại IV
+ Các đô thị khác (trừ thị trấn) xếp vào đô thị loại V;
+ Thị trấn
- Loại đường phố hoặc khu phố: Trong mỗi loại đô thị được chia thành các loại đường phố (hoặc khu vực)
Tuỳ tình hình cụ thể, ở mỗi đô thị có thể phân số loại đường phố ít hơn
mức trong Bảng phân bổ các bậc thuế đất đô thị, nhưng phải xếp thừ loại đường phố bậc cao trở xuống theo thứ tự 1, 2, … Riêng đối với thị xã, thị trấn thuộc các tỉnh miền núi, hải đảo phía Bắc và Tây nguyên quá nhỏ, những thị
trấn mới hình thành trong điều kiện sinh hoạt kém sơ với các thị trấn khác trong địa phương có thể xếp loại đường phố từ bậc 2
Trang 29Căn cứ để phân loại đường phố dựa vào vị trí của đất ở, đất xây dựng công trình từng khu vực (là trung tâm, cận trung tâm hay ven đô) các điều
kiện thuận lợi trong SXKD, trong sinh hoạt v.v Cục thuế phối hợp với Sở xây dựng, cơ quan quản lý ruộng đất cùng cấp để phân các đường phố trong
đô thị ra các loại khác nhau, trình UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
- Vị trí đất:
Căn cứ vào loại đường phố đã được UBND tỉnh, thành phố quyết định, Chi cục thuế thực hiện phân loại vị trí đất cụ thể trong từng loại đường phố để xếp mức thuế đất trình UBND quận, huyện hoặc cấp tương đương quyết định
Mỗi loại đường phố được xếp tối đa theo 4 vị trí đất, cụ thể như sau:
Vị trí 1: Áp dụng đối với đất ở mặt tiền
Vị trí 2: Áp dụng đối với đất trong ngõ, hẻm của đường phố có điều kiện sinh hoạt thuận lợi (xe ô-tô hoặc xe ba bánh vào tận nơi v.v )
Vị trí 3: Áp dụng đối với đất của những hộ độc lập nhưng phải đi qua nhà mặt tiền, đất ở trong hẻm của đường phố có điều kiện sinh hoạt kém hơn
vị trí 2 (ô-tô hoặc xe 3 bánh không vào được )
Vị trí 4: Áp dụng đối với đất trong ngõ, trong hẻm của các ngõ, các hẻm thuộc vị trí 2, vị trí 3 nêu trên và các vị trí còn lại khác mà điều kiện sinh
hoạt rất kém
Trong mỗi loại đường phố, không nhất thiết phải xếp đủ 4 vị trí đất, mà phải văn cứ cụ thể vào từng đường phố để xếp, có thể xếp ít vị trí hơn, nhưng phải xếp từ vị trí 1 tương ứng với bậc thuế cao nhất trở xuống Trong cùng vị trí đất nhưng do điều kiện thuận lợi có khác nhau, thì có thể được hạ thấp mức
Trang 30thuế đất tối đa bằng 2 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định trong
biểu dưới đây đối với lô đất có điều kiện thấp hơn
Ví dụ: 2 lô đất được xếp cùng vị trí số 1 của đường phố loại 1, thuộc đô thị loại I, theo quy định phải chịu mức thuế đất bằng 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp, nhưng trong đó có một lô đất ở vị trí mức độ thuận tiện không bằng lô kia, thì có thể áp dụng mức thuế đất bằng 31 lần hoặc 30 lần
mức thuế sử dụng đất nông nghiệp
Đối với lô đất giáp ranh giữa các loại đường phố, đất góc của 2 loại đường phố, đất giáp ranh giữa vị trí mà có những bậc thuế cao thấp khác nhau, thì căn cứ vào mức độ thuận tiện của vị trí đất Chi cục trưởng Chi cục thuế được điều chỉnh và xếp vào bậc thuế phù hợp
Số lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng áp dụng đối với 6 loại đô thị (kể cả thị trấn) và 4 vị trí đất của từng loại đường phố theo các bậc thuế như sau:
Trang 31B ảng 1 1- Bảng phân bổ các bậc thuế đất đô thị theo vị trí của từng
(Nguồn:Thông tư Số 83-TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính)
* Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng ven đô thị, ven đầu mối giao thông và ven trục giao thông chính:
Trang 32- Phạm vi các loại đất này:
+ Đất khu dân cư ở các vùng ven đô thị bao gồm các xã hoặc thôn (ấp)
tiếp giáp với nội thành phố, nội thị xã
+ Đất khu dân cư ven đầu mối giao thông và trục đường giao thông chính không nằm trong đô thị bao gồm: đất ven ngã ba, ngã tư trục đường giao thông, bến phà, bến cảng, sân bay do Trung ương và tỉnh hoặc thành phố
trực thuộc Trung ương quản lý
+ Đất khu thương mại, khu du lịch không nằm trong đô thị là toàn bộ diện tích nằm trong khu thương mại, khu du lịch và khu dân cư gắn với khu thương mại, khu du lịch theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
+ Đất khu công nghiệp không nằm trong đô thị là đất có nhà máy, xí nghiệp và khu dân cư gắn với khu công nghiệp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Hệ số tính thuế đất được quy định như sau:
+ Đối với đất khu dân cư, đất xây dựng công trình vùng ven đô thị loại
I, là diện tích đất của toàn bộ xã ngoại thành có mặt tiếp giáp trực tiếp với đất nội thành Mức thuế đất bằng 2,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong xã
+ Đối với đất khu dân cư, đất xây dựng công trình thuộc vùng ven của
đô thị loại II, loại III, loại IV và loại V là toàn bộ diện tích của thôn, ấp có
mặt tiếp giáp trực tiếp với đất nội thị, mức thuế đất bằng 2 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong thôn, ấp
+ Đối với ven đầu mối giao thông, trục đường giao thông chính, đất khu thương mai, khu du lịch không nằm trong đô thị mức thuế đất bằng 1,5
lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng
Trang 33* Đối với đất ở vùng nông thôn
Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn đồng
bằng, trung du, miền núi, mức thuế đất bằng 1 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu bình quân trong xã
d) Phân bổ thuế đất đối với nhà nhiều tầng và khu tập thể thuộc nhiều
tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng
- Đối với đất xây dựng nhà nhiều tầng do một tổ chức hoặc cá nhân
quản lý sử dụng thì tổ chức hoặc cá nhân đó phải nộp thuế cho toàn bộ diện tích đất trong khuôn viên Trường hợp tổ chức hoặc cá nhân này cho một tổ chức hoặc cá nhân khác thuê, thì người thuê không phải nộp thuế đất
- Trong một khoảnh đất có nhiều tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng, nguyên tắc là: Tổng diện tích đất chịu thuế của các tổ chức cá nhân này phải bằng tổng diện tích đất của khoảnh đất đó Do vậy mỗi tổ chức, cá nhân ngoài việc phải kê khai diện tích đất thực tế sử dụng (bao gồm diện tích mặt đất, nhà
ở, công trình phụ, trồng rau kể cả diện tích đất lấn chiếm riêng) còn phải kê khai thêm phần diện tích đất sử dụng chung như: đất làm đường đi chung, sân chung, đất xây các công trình sử dụng chung (xây trạm bơm nước, ) kể cả diện tích bỏ trống
Việc phân chia phần diện tích đất sử dụng chung do các tổ chức cá nhân trong khu tập thể tự thoả thuận phân bổ Trường hợp các tổ chức, cá nhân này không tự thoả thuận được thì cơ quan thuế sẽ căn cứ vào tình hình thực tế sử dụng để phân bổ số thuế phải nộp cho từng tổ chức cá nhân phải nộp
- Đối với đất ở do nhiều tổ chức, cá nhân quản lý nhưng không thuộc
một khoảnh, thì các tổ chức cá nhân này phải nộp thuế đất phần diện tích đất
Trang 34thực tế sử dụng (kể cả diện tích lấn chiếm thêm để xây nhà, trồng rau, làm công trình phụ v.v )
- Đối với đất xây nhà nhiều tầng, do nhiều tổ chức cá nhân quản lý, sử dụng ở các tầng khác nhau, thì từ tầng 5 trở lên không phải nộp thuế đất Từ tầng 4 trở xuống, việc phân bổ phần diện tích đất sử dụng chung cũng xác định như hướng dẫn tại tiết b điểm này
Riêng hệ số phân bổ thuế đất cho các tầng đối với phần diện tích đất xây nhà nhiều tầng như sau:
Thuế đất thu bằng tiền theo giá thóc thuế sử dụng đất nông nghiệp của
vụ cuối năm liền trước năm thu thuế và báo cáo cho Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) biết
1.3.3 Miễn, giảm thuế
Thuế đất được xét giảm, miễn cho các đối tượng nộp thuế có khó khăn
về kinh tế do bị thiên tai, tai nạn bất ngờ Nếu giá trị thiệt hại về tài sản từ
Trang 3520% đến 50% tổng giá trị tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động có trên lô đất chịu thuế) thì được xét giảm thuế đất 50%, nếu giá trị thiệt hại trên 50% thì được xét miễn thuế đất
Hộ nộp thuế nhà đất trong năm bị Nhà nước thu hồi, phải giải toả nhà đất để phục vụ cho quy hoạch của cấp có thẩm quyền để chuyển đến nơi ở mới thì được miễn thuế nhà đất trong năm đó cho số thuế của diện tích đất bị
giải toả và diện tích đất nơi ở mới
1.3.3.1 Thủ tục xét miễn, giảm thuế đất
- Tổ chức cá nhân thuộc diện được tạm miễn thuế đất nêu tại điểm 1 mục IV, phải kê khai tổng diện tích đất thực tế quản lý sử dụng, diện tích đất
sử dụng theo từng mục đích (trụ sở, ở, kinh doanh v.v ) có xác nhận của UBND phường, xã nơi có đất chịu thuế hoặc của cơ quan quản lý cấp trên (nếu là tổ chức) gửi đến Chi cục thuế trực tiếp thu thuế, Chi cục thuế căn cứ vào tờ khai có xác nhận của các cơ quan trên, thực hiện kiểm tra, tính toán số thuế được miễn và số thuế còn phải nộp
- Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được xét giảm thuế, miễn thuế nêu tại điểm 2 mục này, ngoài việc phải kê khai như các đối tượng ở điểm 1 còn phải gửi kèm theo đơn đề nghị, giải trình lý do giảm hoặc miễn thuế, có xác nhận của UBND phường, xã nơi có đất chịu thuế
Chi cục thuế căn cứ tờ khai, đơn đề nghị giảm miễn thuế kiểm tra, xác minh, kiến nghị mức giảm, miễn thuế cho từng trường hợp trình UBND huyện, quận và cấp tương đương quyết định
1.3.3.2 Thẩm quyền xét miễn, giảm thuế đất
Thẩm quyền xét giảm thuế, miễn thuế do UBND huyện, quận và cấp tương đương quyết định theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục thuế Riêng
Trang 36việc xét giảm, miễn thuế đất đối với doanh nghiệp nhà nước Trung ương, doanh nghiệp nhà nước địa phương tỉnh, thành phố quản lý do Cục trưởng
Cục thuế tỉnh, thành phố quyết định theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục thuế
1.3.4 Tổ chức thu, nộp, quyết toán thuế
- Chi cục thuế căn cứ vào tờ khai đã được kiểm tra, tính thuế, chậm
nhất hết quý I hàng năm phải lập xong sổ thuế của từng phường, xã và phải được chi cục trưởng ký duyệt
- Căn cứ vào sổ thuế phải nộp ghi trong thông báo, đối tượng nộp thuế phải chủ động thực hiện việc nộp thuế tại nơi thu tiền thuế (theo hướng dẫn
của Chi cục thuế) Số thuế cả năm nộp làm 2 kỳ Kỳ đầu nộp 50% số thuế
phải nộp cả năm và nộp chậm nhất là ngày 30 tháng 4 Kỳ thứ 2 nộp hết số thuế còn lại, chậm nhất là ngày 31 tháng 10 Đối với trường hợp người nộp thuế tự nguyện nộp 1 lần thì thu vào kỳ đầu
- Riêng đất ở thuộc vùng nông thôn nộp thuế một lần, thời hạn nộp
chậm nhất ngày 31 tháng 10
- Khi thu nhận tiền thuế đất, người thu thuế (kho bạc, thuế vụ, hay uỷ nhiệm thu) phải sử dụng biên lai thuế nhà đất do Bộ Tài chính phát hành Biên lai thu thuế ghi thành 3 liên: liên 1 chuyển cho cơ quan thuế, liên 2 cấp cho người nộp thuế, liên 3 lưu tại người thu thuế
- Đối với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác, có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng đang thực hiện chế độ tự nộp thuế do Bộ Tài chính quy định, thì có thể đến kỳ hạn nộp thuế do Chi cục thuế thông báo, chủ động làm
giấy nộp tiền thuế đất vào kho bạc Nhà nước
Trang 37- Thuế đất nộp vào kho bạc quận, huyện nơi có đất chịu thuế, ghi vào chương, khoản, hạng tương ứng với từng đối tượng nộp thuế của mục lục NSNN quy định Số tiền thuế đất đối với đất dùng vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã nộp vào ngân sách Nhà nước được coi là yếu tố chi phí, được trừ khi xác định lợi tức chịu thuế
- Cục thuế có thể thoả thuận và quyết định uỷ nhiệm thu thuế đất Uỷ nhiệm thu phải thanh toán kịp thời tiền thuế đã thu theo đúng chế độ uỷ nhiệm thu Nghiêm cấm việc chiếm dụng xâm tiêu tiền thuế Uỷ nhiệm thu thuế đất được trích thù lao từ 5% đến 8% trên số thuế thực thu nộp vào kho bạc Nhà nước Trong đó ở nội thành thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chính Minh: 5%; các nơi khác: 8% và được trích trước khi nộp tiền thuế vào kho bạc Nhà nước
1.4 Quy trình quản lý thuế nhà đất
Hình 1 2- Qui trình qu ản lý thuế nhà đất (Mức tổng quát)
Trang 38(1) Người nộp thuế khi có phát sinh nghĩa vụ nộp thuế đến nhận mẫu tờ khai thuế tại Bộ phận Tuyên truyền của cơ quan thuế hoặc tự in theo mẫu
(2) Chậm nhất ngày 30/1 hằng năm hoặc 10 ngày kể từ ngày phát sinh trong năm(tăng, giảm), người nộp thuế phải kê khai và nộp tờ khai thuế đến
cơ quan thuế (Đội thuế) Các năm tiếp theo, nếu không có thay đổi bổ sung thì không phải nộp tờ khai thuế
(3) Bộ phận tiếp nhận tờ khai thực hiện kiểm tra, đối chiều tờ khai thuế
với số liệu do cơ quan Tài nguyên – môi trường, UBND xã phường hiện đang quản lý
(4) Bộ phận tính thuế thực hiện đăng ký, tính thuế, lập bộ thuế xong trước 31/3 hằng năm
(5) Tổng hợp kết quả lập bộ thuế, đối chiếu với số liệu do cơ quan Tài nguyên – Môi trường, UBND xã phường hiện đang quản lý Thực hiện điều chỉnh nếu có sai sót
(6) Kiểm tra hồ sơ đề nghị miễn giảm kèm theo tờ khai nộp thuế theo
từng trường hợp miễn, giảm và theo từng năm tính thuế
(7) Thực hiện tổng hợp miễn giảm, thông qua Hội đồng tư vấn thuế xã phường, trình UBND quận, huyện xét duyệt
(8) Hằng năm, căn cứ số liệu từ Sổ bộ thuế đã duyệt, Kết quả miễn
giảm và số thuế thừa (hoặc thiếu) từ năm trước chuyển sang Bộ phận tính thuế Thực hiện điều chỉnh thuế (nếu có sai lệch, nhầm lẫn) để mở sổ theo dõi thu nộp của năm hiện tại
(9) In sổ theo dõi thu nộp theo địa bàn từng tổ, phố gửi các đội thuế xã, phường làm căn cứ tổ chức thu thuế
Trang 39(10) Đội thuế xã phường phối hợp với Uỷ nhiệm thu, trưởng khu dân
cư gửi thông báo cho người nộp thuế về thời gian, địa điểm, số tiền thuế phải
nộp của năm
(11) Người nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào NSNN kỳ 1 chậm nhất ngày 30/4, kỳ 2 chậm nhất 31/10 hằng năm Nếu nộp một lần thì thu vào kỳ 1, riêng đất ở nông thôn, nộp 1 lần chậm nhất vào 31/10; đồng thời lưu Liên 2
của chứng từ nộp thuế
(12) Uỷ nhiệm thu sau khi thu thuế, định kỳ tổng hợp, thanh toán biên lai với Chi cục thuế Bộ phận kế toán thuộc Chi cục thuế tiến hành kiểm tra, chấm bộ thuế đồng thời in giấy nộp tiền cho Uỷ nhiệm thu nộp tiền vào Kho
bạc nhà nước (KBNN)
(13) Bộ phận Kế toán thực hiện nhập chứng từ nộp tiền vào KBNN (Liên 3); Thực hiện đối chiếu số phải thu, số đã thu và số đã nộp trong kỳ để tính toán ra số còn phải nộp cuối kỳ
1.5 Tổ chức quản lý thuế
1.5.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Số đối tượng nộp thuế nhà, đất thường rất lớn (thông thường mỗi hộ gia đình là một đối tượng nộp thuế) Vì vậy, quy định công tác tổ chức thu nộp
phải phối hợp chặt chẽ với việc quản lý dân cư để đảm bảo thu thuế được thuận tiện và giảm tối đa các chi phí hành thu
Đối tượng nộp thuế có phạm vi rất rộng và tính chất rất phức tạp vì nó liên quan đến hầu hết mọi tầng lớp xã hội, các khu dân cư, có khu ổn định, có khu thường xuyên thay đổi chỗ ở, dẫn đến việc quản lý hộ khẩu rất khó khăn
Với đặc điểm này, tình trạng bỏ sót hộ, tính thừa số hộ, tính trùng hộ nộp thuế
dễ xảy ra Vì vậy công tác quản lý đối tượng nộp thuế cần có sự phối hợp
Trang 40đồng bộ giữa đội thuế xã, phường, uỷ nhiệm thu, Uỷ ban nhân dân xã, phường, các thôn, xóm, các tổ dân phố và công an để nắm được các đối tượng
có sử dụng đất đưa vào diện quản lý thu thuế Ngoài ra, cần thường xuyên tuyên truyền, giải thích chính sách cho nhân dân hiểu và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Đồng thời, về lâu dài, Nhà nước cần khẩn chương chỉ đạo các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghiêm việc quản lý chính
chủ về quyền sử dụng đất
1.5.2 Quản lý căn cứ tính thuế
Quản lý căn cứ tính thuế đất là một công việc khó khăn, phức tạp vì trên thực tế, tính chất các diện tích chịu thuế là rất đa dạng, có diện tích được
cấp quyền sử dụng, có diện tích không được cấp quyền sử dụng, có diện tích
do dân lấn chiếm, có diện tích đất dân tự động chuyển từ đất nông nghiệp sang đất làm nhà ở, tự nhượng bán cho nhau không thực hiện các thủ tục pháp
lý
1.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế nhà đất
- Đánh giá chất lượng quản lý thuế nhà đất thông qua đánh giá kết quả triển khai thực hiện chính sách thuế nhà đất: Đây là một nội dung khá quan trọng trong việc đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thuế nhà đất,
bởi vì thuế nhà đất khác với các khoản thuế khác, nó không hoàn toàn phát sinh từ quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận mà phát sinh do người nộp thuế sử dụng đất được Nhà nước giao; đồng thời thuế nhà đất liên quan và có phạm vi điều chỉnh rộng đến tất cả người dân trong xã hội, vì vậy
để công tác quản lý thuế nhà đất đạt hiệu quả cao thì không những cơ quan thuế mà các cơ quan liên quan và mọi người dân phải hiểu và thực hiện tốt